1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp

112 248 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 667,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất...

Trang 1

phần thứ nhất Phân tích tài chính doanh nghiệp

Chương 1 Những vấn đề chung củaNhững vấn đề chung của phân tích

phân tích tài chính doanh nghiệptài chính doanh nghiệptài chính doanh nghiệp

1.1 Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp được quan niệm như là một tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá được thực trạng tình hình tài chính hiện tại và quá khứ của Doanh nghiệp, thông qua đó cung cấp những thông tin cần thiết cho những

đối tác khác nhau để họ có nhưng quyết định phục vụ cho những mục tiêu và lợi ích khác nhau Trong điều kiện hiện nay, phân tích tài chính không còn bị giới hạn ở các dữ liệu tài chính nữa mà đ= có thêm các dữ liệu kinh tế và thị trường chứng khoán, do vậy

số đối tác quan tâm, sử dụng các báo cáo tài chính và thông tin từ kết quả phân tích tài chính doanh nghiệp cũng ngày càng mở rộng và tăng lên Ngoài đối tượng quan trọng là chủ doanh nghiệp, họ bao gồm

- Các cơ quan chức năng của nhà nước, cơ quan thuế;

- Các nhà cho vay, như các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính, những người mua tín phiếu, các doanh nghiệp khác, các công ty mẹ v.v ;

- Các cổ đông hiện tại và cổ đông tương lai;

- Những người tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả những người làm công ăn lương;

- Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp v.v

Trang 2

* Phân tích tài chính đối với các chủ doanh nghiệp

Là chủ doanh nghiệp, hơn ai hết họ là người rất quan tâm đến những thông tin được cung cấp thông qua kết quả của phân tích tài chính doanh nghiệp (được gọi là phân tích tài chính nội bộ), như kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh, kết quả của việc quản lý và

sử dụng vốn, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, rủi ro tài chính doanh nghiệp v.v Những thông tin nói trên sẽ là cơ sở để các chủ doanh nghiệp lựa chọn, cân nhắc để đưa ra các quyết định đúng đắn về quản lý trong tương lai, như quyết định về đầu tư, về tài trợ, về phân bổ vốn và sử dụng vốn, về giải quyết tình hình công nợ, về phân chia và sử dụng lợi nhuận, điều chỉnh cơ cấu sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, liên doanh liên kết v.v

* Phân tích tài chính đối với các cơ quan chức năng của nhà nước, cơ quan thuế: Theo chế độ tài chính hiện hành, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp liên doanh, cổ phần có vốn của nhà nước đều quản lý và sử dụng một lượng tài sản và tiền vốn nhất định thuộc sở hữu nhà nước, do đó các cơ quan chức năng của nhà nước, như cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản đều quan tâm đến những thông tin về tình hình phân bổ

và sử dụng vốn, tình hình đầu tư, khả năng tạo vốn, khả năng sinh lời, tình hình bảo toàn vốn v.v ; Với cơ quan thuế, vấn đề quan tâm với họ còn rộng hơn, cụ thể như kết quả hoạt

động kinh doanh, việc thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước, như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập, thuế vốn, thuế đất, thuế tài nguyên và các khoản phải nộp khác

* Phân tích tài chính đối với các nhà cho vay, các chủ nợ của doanh nghiệp, các cổ đông hiện tại và cổ đông tương lai:

Hiện nay, vốn vay và nợ phải trả chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp Do vậy các nhà cho vay, như các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính, những người mua tín phiếu, trái phiếu, các nhà bán chịu cho doanh nghiệp đều rất quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, khả năng trả nợ vay, hiệu quả sử dụng vốn, thu nhập của cổ phiếu, tỉ suất lợi nhuận trên vốn

cổ đông, tỉ lệ trả l=i cổ phần, tỉ giá thị trường trên thu nhập của mỗi cổ phiếuv.v

* Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với những người tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả những người làm công ăn lương: Là những người trực tiếp

Trang 3

tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, do đó quyền lợi của họ gắn liền và tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Họ quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời, tình hình đầu tư, khả năng thanh toán (đặc biệt là thanh toán nhanh) v.v Đối với các doanh nghiệp cổ phần, người hưởng lương cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn cổ đông cũng giống với sự quan tâm của cổ đông của doanh nghiệp

* Phân tích tài chính đối với các đối thủ cạnh tranh:

Hoạt động trong điều kiện của kinh tế thị trường, đặc biệt trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt Trên cùng một thị trường, nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất và kinh doanh mặt hàng (sản phẩm) giống nhau, ví dụ

xe máy, ôtô, bia, đồ dùng gia dụng v.v , do đó các đối thủ cạnh tranh rất muốn biết những thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp khác, như kết quả sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tình hình đầu tư, tình hình

và khả năng tạo vốn thông qua phát hành tín phiếu, trái phiếuv.v

Từ những vấn đề phân tích ở trên, có thể rút ra kết luận rằng, có rất nhiều đối tượng quan tâm đến các báo cáo tài chính và những thông tin được rút ra từ phân tích tài chính của doanh nghiệp Những thông tin có được qua phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để họ

sử dụng trong việc đưa ra các quyết định có liên quan tới những mục đích khác nhau, như:

- Quyết định có liên quan đến yêu cầu quản lý doanh nghiệp;

- Quyết định chấp nhận hay từ chối cho vay, bán chịu;

- Quyết định mua hay bán tín phiếu của doanh nghiệp;

- Quyết định chuyển đổi quyền sở hữu doanh nghiệp (sát nhập, cổ phần, liên doanh, giải thể v.v ) v.v

Chính vì những ý nghĩa tác dụng nói trên nó đ= khẳng định sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp

Để thực hiện được mục đích của việc phân tích tài chính doanh nghiệp, nội dung chủ yếu của nó bao gồm:

- Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh;

Trang 4

- Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp;

1.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

Để thực hiện được các mục đích, phân tích tài chính thường sử dụng một hệ thống các phương pháp khác nhau, như phương pháp đánh giá các kết quả kinh tế, phương pháp tính (xác định) mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế, phương pháp tương quanv.v

1.3.1 Phương pháp đánh giá các kết quả kinh tế

Để đánh giá các kết quả kinh tế cũng như kết quả của việc thực hiện các mục tiêu do chính doanh nghiệp đặt ra, phân tích có thể sử dụng phương pháp phân chia các hiện tượng và kết quả kinh tế, phương pháp so sánh, phương pháp đồ biểu, đồ thịv.v trong đó chủ yếu là phương pháp so sánh

* Về phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp so sánh, người ta sẽ đạt được các mục đích sau đây:

- Thứ nhất, qua so sánh, người ta biết được mức độ (kết quả) của việc thực hiện các mục tiêu do chính doanh nghiệp đặt ra Muốn vậy, cần tiến hành so sánh giữa kết quả thực tế đạt được với mục tiêu hay kế hoạch đặt ra

- Thứ hai, qua so sánh, người ta biết được tốc độ, xu hướng phát triển của các hiện tượng và kết quả kinh tế; Muốn vậy cần so sánh giữa kết quả của kì này với kết quả của các kì trước

- Thứ ba, qua so sánh sẽ biết được mức độ tiên tiến hay lạc hậu của từng đơn vị trong quá trình thực hiện mục tiêu của mình Để đạt được mục đích này, cần tiến hành

so sánh giữa kết quả của đơn vị này với kết quả của đơn vị khác có cùng loại hình và qui mô hoạt động, đồng thời so sánh giữa kết quả của từng đơn vị với kết quả trung bình của tổng thể

Tiến hành việc so sánh nói trên, có thể so sánh bằng số tuyệt đối, có thể so sánh bằng số tương đối (thông qua các tỉ lệ), đồng thời phải có hai điều kiện:

Trang 5

- Một là phải có (tồn tại) ít nhất hai chỉ tiêu hoặc hai đại lượng thì mới có thể so sánh được;

- Hai là các chỉ tiêu, các đại lượng khi so sánh với nhau phải có cùng một nội dung kinh tế và cùng một tiêu chuẩn biểu hiện

1.3.2 Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế

Như người ta biết, các hiện tượng và kết quả kinh tế thường chịu tác động bởi rất nhiều các nhân tố khác nhau Các nhân tố có thể làm tăng, có thể làm giảm các kết quả kinh tế; nó có thể là nhân tố khách quan, có thể là nhân tố chủ quan; có thể là nhân tố chủ yếu và có thể là nhân tố thứ yếu v.v Việc nhận thức được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng và tính chất ảnh hưởng của các nhân tố là vấn đề bản chất của phân tích

Để xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế, phân tích có thể sử dụng một hệ thống các phương pháp khác nhau, như phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp cân đối, phương pháp chỉ số v.v 1.3.2.1 Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp thay thế liên hoàn (còn gọi là phương pháp thay thế kiểu mắt xích)

được sử dụng để xác định (tính) mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết qủa kinh tế khi các nhân tố ảnh hưởng này có quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế Nội dung và trình tự của phương pháp này như sau:

- Trước hết, phải biết đựơc số lượng các nhân tốt ảnh hưởng, mối quan hệ của chung với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính của chỉ tiêu

- Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định: Nhân tố số lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng cùng

ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo lộn trình

tự này

Trang 6

- Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên - Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn các nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch - Thay thế xong một nhân tố, phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó, lấy kết quả này so với (trừ đi) kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố vừa

được thay thế

- Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch hoặc kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích)

Để làm rõ các vấn đề lý luận ở trên, có thể lấy một số ví dụ khái quát như sau:

Ví dụ 1: Giả định chỉ tiêu A cần phân tích; A tuỳ thuộc vào 3 nhân tố ảnh hưởng, theo thứ tự a, b và c; các nhân tố này có quan hệ tích số chỉ tiêu A, từ đó chỉ tiêu A được xác định cụ thể như sau:

A = a.b.c

Ta quy ước thời kỳ kế hoạch được ký hiệu là số 0 (số không) còn kỳ thực tế được

ký hiệu bằng số 1 (số một) - Từ quy ước này, chỉ tiêu A kỳ kế hoạch và kỳ thực tế lần lượt được xác định như sau:

A0 = a0 b0 c0 và

A1 = a1 b1 c1

Đối tượng cụ thể của phân tích được xác định là:

A1 - A0 = ∆A

Chênh lệch nói trên có thể được giải thích bởi ảnh hưởng của ba nhân tố cụ thể là

a, b và c; bằng phương pháp thay thế liên hoàn, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lần lượt được xác định như sau:

- Thay thế lần 1: Thay thế nhân tố a:

a1 b0 c0 - a0 b0 c0 = ∆a

Trang 7

∆a lµ ¶nh h−ëng cña nh©n tè a

- Thay thÕ lÇn 2: Thay thÕ nh©n tè b

a1b1c0 - a1b0c0 = ∆b ∆b lµ kÕt qu¶ ¶nh h−ëng cña nh©n tè b

- Thay thÕ lÇn 3: Thay thÕ nh©n tè c

a1 b1 c1 - a1b1c0 = ∆c ∆c lµ nh©n tè ¶nh h−ëng cña nh©n tè c

Trang 8

Cụ thể, bằng phương pháp nói trên, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố ở ví dụ 1 lần lượt được xác định như sau:

- Do ảnh hưởng của nhân tố a:

∆a = (a1 - a0)b0c0

- Do ảnh hưởng của nhân tố b:

Trang 9

Cụ thể, để tính mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đó, chỉ cần tính ra chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch (kỳ gốc) của bản thân nhân tố đó và không cần quan tâm đến các nhân tố khác

Ví dụ:

Chỉ tiêu E cần phân tích: E chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố a, b, c và các nhân tố này có quan hệ tổng với chỉ tiêu E Chỉ tiêu E được xác định như sau:

E = a + b - c Cũng qui ước như ở phần trước, ta có:

E0 = a0 + b0 - c0

E1 = a1 + b1 - c1

Tiến hành so sánh giữa chỉ tiêu kỳ thực tế với kỳ kế hoạch ta có:

Trang 10

Như người ta biết, giữa các hiện tượng và kết quả kinh tế thường tồn tại những mối quan hệ tác động qua lại mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau Đặc trưng cơ bản của các mối quan hệ này là sự thay đổi của hiện tượng hoặc kết quả kinh tế này sẽ xác định (kéo theo) sự thay đổi của các hiện tượng hoặc kết quả kinh tế khác Nếu xét theo quan điểm triết học, giữa chúng tồn tại mối quan hệ nhân quả, còn xét theo quan điểm toán học, giữa chúng có mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc và nó có thể được biểu hiện qua những hàm tương quan khác nhau - Vấn đề đặt ra là lựa chọn phương trình tương quan nao để biểu thị tốt nhất sự phụ thuộc lẫn nhau hay là mối liên hệ chặt chẽ giữa các hiện tượng và kết quả kinh tế - Đây cũng là vấn đề bản chất khi sử dụng các hàm tương quan trong phân tích

Mối tương quan giữa các hiện tượng và kết quả kinh tế có thể tồn tại dưới hai dạng: Tương quan tỉ lệ thuận và tương quan tỉ lệ nghịch

Trang 11

Trường hợp tương quan tỉ lệ thuận - Trong trường hợp này, việc tăng của hiện tượng hay kết quả kinh tế này sẽ kéo theo (xác định) việc tăng của hiện tượng hay kết quả kinh tế khác và ngược lại Người ta có thể gọi là mối tương quan đồng biến Ví dụ, mối quan hệ giữa khối lượng sản phẩm sản xuất với tổng số chi phí sản xuất có tính chất biến đổi - trong điều kiện các nhân tố khác không đổi (điều kiện yếu tố sản xuất không

đổi), khi khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên thì tổng số chi phí sản xuất biến đổi cũng tăng lên và ngược lại Nếu biểu hiện và theo dõi sự biến thiên của hai hiện tượng nói trên trong nhiều năm liên tục (ít nhất là 5 năm) trên cùng một hệ trục toạ độ XOY - trong đó OX là trục hoành, biểu thị khối lượng sản phẩm sản xuất, còn OY là trục tung, biểu thị tổng số chi phí sản xuất biến đổi, người ta nhận thấy rằng đường biểu diễn của

nó có dạng đường thẳng, gần trùng với đường biểu diễn của hàm số mà phương trình của nó có dạng:

Y = a + bx

điều đó có nghĩa là, có thể sử dụng hàm hồi quy mà phương trình của nó có dạng y = a +

bx để biểu thị mối tương quan giữa khối lượng sản phẩm sản xuất với tổng số chi phí sản xuất biến đổi; trong đó:

Ox là trục biểu hiện giá trị khối lượng sản phẩm

Oy là trục biểu hiện tổng số chi phí biến đổi

Trang 12

- Trường hợp tương quan tỉ lệ nghịch - Trường hợp này ngược lại với trường hợp trên, nghĩa là việc tăng của hiện tượng hay kết quả kinh tế này sẽ xác định (kéo theo) việc giảm của hiện tượng hay kết quả kinh tế khác và ngược lại Có thể gọi nó là mối tương quan nghịch biến Ví dụ mối tương quan giữa giá trị khối lượng sản phẩm sản xuất với tỉ suất chi phí sản xuất có tính chất cố định: Trong điêu kiện của nhân tố khác không đổi, nếu khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên thì tổng số chi phí cố định không biến động, còn tỉ suất của nó thì giảm và ngược lại Cũng theo dõi sự biến động của hai hiện tượng trên cùng một hệ trục tọa độ xOy, trong đó Ox là trục hoành, biểu thị khối lượng sản phẩm sản xuất, còn Oy là trục tung, biểu thị tỉ suất chi phí cố định, khi đó

đường biểu diễn của nó có dạng đường cong gần giống với đường cong hypecbol ứng với hàm hồi quy mà phương trình của nó có dạng:

b

y a x

= +

Trang 13

Các kết quả thu dược khi sử dụng các hàm hồi quy thông qua ngoại suy chủ yếu phục vụ cho phân tích dự đoán để lập các chỉ tiêu cho các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Nhưng khi sử dụng các kết quả đó phải lưu ý rằng chúng được tính toán dựa trên các hiện tượng và kết quả kinh tế đ= xẩy ra trong quá khứ và lại được sử dụng cho hiện tại và tương lai gần, trong đó chúng còn chịu tác động bởi nhiều nhân tố khác Do đó, cần phải tính đến sự tác động của các nhân tố đó để tiến hành điều chỉnh phù hợp với tình hình biến động của thực tế, đảm bảo tính hiện thực, tính khoa học của các chỉ tiêu, giúp cho công tác quản lý đạt được hiệu quả cao nhất

1.4 Tổ chức công tác phân tích và các loại phân tích Cũng như bất kì công tác nào của doanh nghiệp, công tác phân tích tài chính cũng cần được tổ chức một cách có hệ thống và khoa học để thực hiện được các mục tiêu của nó Cụ thể tổ chức công tác phân tích thường bao gồm 4 khâu (giai doạn) cơ bàn sau đây:

- Khâu lập kế hoạch: Nội dung cơ bản của khâu này bao gồm: Nội dung, chỉ tiêu cần phân tích; khoảng thời gian mà các nội dung, chỉ tiêu đó phát sinh (trong quí, năm v.v ); thời hạn bắt đầu và kết thúc và cuối cùng là người, đơn vị thực hiện

- Khâu sưu tầm, lựa chọn kiểm tra tài liệu số liệu Tuỳ thuộc vào nội dung và chỉ tiêu phân tích mà tiến hành sưu tầm, lựa chọn và kiểm tra số liệu, tài liệu sau đây:

+ Tài liệu kế hoạch, bao gồm hệ thống các định mức kinh tế kĩ thuật hiện hành,các mục tiêu, chỉ tiêu dài hạn và ngắn hạn do chính doanh nghiệp tự xác định

+ Tài liệu hạch toán, bao gồm tài liệu của hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê

và hạch toán kế toán, trong đó chủ yếu là hạch toán kế toán Cụ thể để phân tích tài chính doanh nghiệp cần sử dụng số liệu, tài liệu được rút ra từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (mẫu số B02 - DN), Bảng cân đối kế toán (mẫu số B01-DN), thuyết minh Báo cáo tài chính - mục chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính (mẫu số B09-DN)

+ Tài liệu ngoài hạch toán, bao gồm các biên bản thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, các báo cáo tổng kết hoạt động của doanh nghiệpv.v Vì các số liệu, tài liệu được sưu

Trang 14

tầm lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau nên cần kiểm tra để xác định tính chính xác, tính thống nhất của chúng

- Khâu xử lý, tính toán chỉ tiêu và tiến hành phân tích Đây là khâu quan trọng nhất của công tác phân tích, do đó cần được tiến hành theo phương pháp phù hợp để đảm bảo kết quả của công tác phân tích

- Khâu lập báo cáo phân tích: Kết thúc công tác phân tích, cần lập báo cáo phân tích Nội dung chủ yếu của báo cáo phân tích bao gồm:

+ Những kết luận được rút ra từ công tác phân tích

+ Những nguyên nhân chủ yếu đ= ảnh hưởng đến các kết quả kinh tế của doanh nghiệp;

+ Những biện pháp cơ bản cần áp dụng để khắc phục được những tồn tại đ= qua,

động viên và khai thác khả năng tiềm tàng của kì sắp tới

* Các loại phân tích: Tuỳ theo mục đích và phạm vi khác nhau, phân tích tài chính có thể được phân thành phân tích thực hiện và phân tích dự đoán; Trong phân tích thực hiện có thể bao gồm phân tích toàn diện và phân tích chuyên đề Nói chung, phân tích chuyên đề thường tiến hành thường xuyên (hoặc định kì), còn phân tích toàn diện chỉ có thể tiến hành theo định kì Để nâng cao được giá trị của những kết luận được rút

ra từ phân tích, cần kết hợp sử dụng các kiến thức của các môn học có liên quan, như thống kê, kinh tế, tài chính doanh nghiệp, kế toánv.v và áp dụng những thành tựu của các phương tiện kĩ thuật tính toán hiện đại sao cho kết quả thu được ngày càng cao hơn, phục vụ tốt nhất cho các mục tiêu của quản lý doanh nghiệp

Trang 15

Chương 2

Phân tích kế

Phân tích kết quả hoạt động kinh doanht quả hoạt động kinh doanht quả hoạt động kinh doanh

Như người ta biết, có rất nhiều đối tác quan tâm và sử dụng các số liệu được phản ánh trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, trong đó có báo cáo "kết quả hoạt

động kinh doanh" - mẫu số B02-DN

* Với các nhà đầu tư, vì mục tiêu của họ là lợi nhuận, do đó họ rất quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp để quyết định tiếp tục hay ngừng việc đầu tư vào doanh nghiệp (ví dụ tiếp tục mua hay quyết định bán tín phiếu của doanh nghiệp)

* Với các nhà cho vay, họ quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để quyết định cho vay hay từ chối tín dụng, bởi vì kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là cơ sở để đảm bảo hoàn trả cả vốn và l=i tiền vay cho họ

* Với các nhà cung cấp, dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh, họ đánh giá

được khả năng thanh toán, khả năng trả nợ của doanh nghiệp, do vậy nó là cơ sở để họ quyết định có tiếp tục hay ngừng việc cung cấp (bán hàng) thiết bị, vật tư cho doanh nghiệp;

* Với cơ quan thuế, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là cơ sở để cơ quan thuế xác định được các khoản thu từ doanh nghiệp, trong đó có thuế thu nhập doanh nghiệp; Với các cơ quan chức năng của nhà nước, thông qua kết quả hoạt động kinh doanh, họ có các quyết định điều chỉnh các cơ chế chính sách tài chính, cơ chế quản lý sao cho phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ví dụ chính sách ưu đ=i về Tài chính - Tín dụng, việc sát nhập, cổ phần, bán, cho thuê, giải thể doanh nghiệpv.v Với những người tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, đương nhiên kết quả hoạt động kinh doanh trực tiếp liên quan đến thu nhập của họ v.v

* Với bản thân doanh nghiệp:

Trong điều kiện hiện nay, đương nhiên để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải bán được sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra Việc bán được sản phẩm có nghĩa

Trang 16

là sản phẩm do doanh nghiệp làm ra đ= được thị trường chấp nhận, do đó doanh nghiệp

sẽ thực hiện được giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, từ đó mới có điều kiện để bù

đắp được những chi phí đ= bỏ ra, tiếp tục quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Mặt khác, để tồn tại và phát triển, số tiền thu về do bán sản phẩm phải lớn hơn số tiền mà doanh nghiệp đ= bỏ ra để sản xuất và bán được sản phẩm đó Nói cách khác, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả tức là phải thu được lợi nhuận Như vậy, lợi nhuận phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có được lợi nhuận, doanh nghiệp mới thực hiện được việc bổ xung thêm vốn, từ

đó mới có điều kiện để mở rộng hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư phát triển, tạo ra những tiền đề cơ bản để tiếp tục nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh, đồng thời không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, thực hiện được các nghĩa vụ với nhà nước, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của ngành nói riêng, của đất nước nói chung Với tất cả những ý nghĩa nói trên, người ta thấy rằng cần thiết phải tiến hành phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp

* Nội dung chủ yếu của phân tích kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm:

- Phân tích môi trường kinh doanh và tác động của nó đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Phân tích, đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận bán hàng

* Tài liệu chủ yếu dùng để phân tích:

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (mẫu số B.02-DN)

- Thuyết minh báo cáo tài chính (mẫu số B.09-DN)

- Báo cáo chi tiết về kết quả sản xuất, chi phí và giá thành sản phẩm, và tiêu thụ sản phẩm v.v

Sau đây sẽ lần lượt tiến hành phân tích các nội dung nói trên

Trang 17

2.1 Phân tích môi trường kinh doanh và tác động của

nó đến các quyết định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Môi trường kinh doanh là tập hợp những lực lượng "ở bên ngoài" mà các doanh nghiệp đều phải tính đến khi xác định chiến lược kinh doanh, vì các doanh nghiệp không thể là một thực thể cô lập và hoạt động của nó không thể tự đóng kín với môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp thường đa dạng, sinh động và sự biến động của nó có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy cần thiết phải phân tích môi trường kinh doanh để thông qua đó giúp cho các nhà quản lí có thể dự đoán được khả năng có thể xảy ra để hướng cho doanh nghiệp ứng phó được kịp thời, tránh được những rủi ro không cần thiết cho hoạt

động sản xuất kinh doanh của mình

Như người ta biết, câu hỏi đầu tiên đặt ra với các nhà quản lí là về chiến lược sản phẩm Cụ thể trong giai đoạn hiện tại, đâu là sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp và trong tương lai, hướng phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp như thế nào Để trả lời câu hỏi đó, cần thiết phải nghiên cứu, phân tích các vấn đề sau đây:

- Vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp;

- Đối thủ cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp;

- Quan hệ với các nhà cung cấp;

- Các yếu tố về chính trị, kinh tế, tự nhiên, x= hội, văn hoá, khoa học kĩ thuật v.v

* Trước hết là vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trước khi quyết định về qui mô, khối lượng, chất lượng, chủng loại, mẫu m= sản phẩm cần sản xuất kinh doanh thì phải biết rõ khách hàng của doanh nghiệp là ai (đối tượng phục vụ của doanh nghiệp) Ví dụ nếu người tiêu dùng thuộc các khu đô thị có thu nhập cao thì vấn đề chủ yếu đối với họ là mẫu m=, chất lượng và tính năng của sản phẩm, còn giá cả của sản phẩm có cao hơn, họ vẫn chấp nhận được Trong trường hợp này, các doanh nghiệp cần phải đầu tư chiều sâu, hiện đại hoá thiết bị, sử dụng công nghệ cao, tìm nguồn cung cấp nguyên liệu đúng chủng loại đảm bảo chất lượng, sử dụng đội ngũ lao động có tay nghề

Trang 18

để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, mẫu m= đẹp, chủng loại phong phú Trường hợp người tiêu dùng thuộc vùng nông thôn, miền núi, kinh tế chậm phát triển, thu nhập tiền

tệ thấp, khi đó họ quan tâm chủ yếu đến giá bán của sản phẩm Trường hợp người tiêu dùng là các cơ quan, tổ chức, tập thể thì các yếu tố giá cả, thị hiếu không phải là trọng yếu; Trường hợp người tiêu dùng là các nhà buôn, nhu cầu của họ thường rất lớn vì họ mua để bán kiếm lời, do đó họ quan tâm đến tất cả các yếu tố có liên quan nói trên Trường hợp doanh nghiệp sản xuất sản phẩm để xuất khẩu thì yêu cầu về chất lượng, qui cách, mẫu m=, bao bì đóng gói và thời hạn giao hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hợp đồng đ= kí kết Cuối cùng nếu người tiêu dùng là các doanh nghiệp khác, sản phẩm của ta lại là nguyên liệu của họ thì cái họ quan tâm lại là số lượng, chất lượng và giá cả của sản phẩm Như vậy tuỳ thuộc vào đối tượng phục vụ mà doanh nghiệp có các quyết định thích ứng kịp thời, sao cho vừa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, vừa tăng được lợi ích cho bản thân doanh nghiệp

* Về đối thủ cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là xu thế tất yếu mà các doanh nghiệp

đều phải chấp nhận Đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp hiện tại cùng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cùng loại và các doanh nghiệp sẽ hình thành tương lai gần, bao gồm cả doanh nghiệp trong và ngoài nước Số lượng các doanh nghiệp cùng loại hình sản xuất càng nhiều, qui mô càng lớn thì mức độ cạnh tranh càng khốc liệt, vì thế người ta mói nói "thương trường là chiến trường"

Sức mạnh của cạnh tranh được thể hiện thông qua chất lượng, mẫu m=, giá trị sử dụng, giá bán của sản phẩm cũng như thông qua phương thức bán, hình thức bán, phương pháp tiếp thị, quảng cáo v.v Hoạt động trong môi trường cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm biện pháp để giảm chi phí, nâng cao chất lượng, thường xuyên cải tiến mẫu m=, thay đổi cơ cấu mặt hàng, tìm kiếm thị trường mới và cuối cùng để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, cần xây dựng và bảo vệ được thương hiệu của doanh nghiệp

* Về quan hệ với các nhà cung cấp: Để tiến hành sản xuất (để đáp ứng đầu vào), doanh nghiệp cần xác lập mối quan hệ thường xuyên tin cậy với các nhà cung cấp, bao gồm các nhà cung cấp thiết bị, vật tư, lao động, tiền vốn, thông tin v.v Mối quan hệ càng rộng,

Trang 19

mức độ càng bền vững thì tính ổn định của đầu vào càng cao và do đó nó là tiền đề rất quan trọng đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ổn định và phát triển

* Về các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:

- Yếu tố chính trị: Tuy tiến hành hoạt động kinh doanh, nhưng kết quả của hoạt

động kinh doanh lại tuỳ thuộc không nhỏ vào yếu tố chính trị Đó là sự ổn định về chính trị, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, các quan điểm, các chính sách, chế

độ của nhà nước về hội nhập, về đầu tư của nước ngoài, về tài chính, tín dụng, giá cả, thuế v.v Nhận thức được các yếu tố nói trên sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được giới hạn của hành lang pháp lí, từ đó đưa ra được các quyết định thích hợp cho hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Ví dụ khi nhà nước đưa ra các biện pháp

đảm bảo an toàn giao thông, giảm lượng xe máy lưu thông trên đường thì các nhà sản xuất xe máy cần xác định lại qui mô sản xuất và cơ cấu mặt hàng cho phù hợp)

- Yếu tố kinh tế: Vì sức mua có tác động rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh, do

đó khi quyết định mở rộng hay thu hẹp qui mô sản xuất kinh doanh, quyết định đầu tư chiều sâu hay quyết định thay đổi cơ cấu mặt hàng sản xuất kinh doanh, các nhà quản lí doanh nghiệp đều phải tính đến yếu tố kinh tế hiện thời, như tốc độ tăng trưởng của ngành, của toàn

bộ nền kinh tế, chính sách l=i suất ngân hàng, chính sách khuyến khích hay hạn chế đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, việc đổi mới cơ chế quản lí đối với doanh nghiệp nhà nước v.v

- Yếu tố tự nhiên: Tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm, các nhà quản lý phải tính

đến nguồn lực và tài nguyên thiên nhiên vì nó là yếu tố cơ bản để đảm bảo cung cấp đầu vào, như điện nước, dầu mỏ, quặng, rừng, đất đaiv.v Mặt khác, để bảo vệ môi trường sinh thái, các doanh nghiệp cần có quyết định lựa chọn thiết bị, công nghệ sản xuất phù hợp để trong quá trình sản xuất nó đảm bảo được các tiêu chuẩn do vệ sinh môi trường qui định

- Yếu tố văn hoá, x# hội: Vì đối tượng phục vụ của doanh nghiệp suy đến cũng

đều là nhu cầu tiêu dùng của con người, do vậy các quyết định liên quan đến sản xuất

đều phải tính đến yếu tố văn hoá và x= hội Yếu tố này bao gồm: sự gia tăng về dân số, cơ cấu và việc phân bổ dân cư, thói quen, truyền thống văn hoá và tiêu dùng, vấn đề thị hiếu tiêu dùng, nhận thức, thái độ của con người trước cuộc sống hiện tại, các quan niệm, lối sống và các giá trị văn hoá, đạo đức x= hội v.v Các yếu tố nói trên sẽ ảnh

Trang 20

hưởng không nhỏ đến các quyết định sản xuất về số lượng cơ cấu, chất lượng, mẫu m= của sản phẩm

- Yếu tố khoa học kĩ thuật: Ngày nay, khoa học kĩ thuật đang phát triển với tốc

độ rất nhanh, do vậy để không bị lạc hậu, để tăng khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến yếu tố khoa học kĩ thuật để có quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn thiết bị, công nghệ, việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học kĩ thuật vào sản xuất để tạo ra bước thay đổi cơ bản về chất lượng, mẫu m=, tăng năng suất lao động, giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp

2.2 Phân tích, đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nó

2.2.1 Đánh giá chung kết quả hoat động kinh doanh

Theo chế độ qui định hiện hành, các chỉ tiêu chủ yếu của báo cáo kết quả hoạt

động kinh doanh của các doanh nghiệp bao gồm:

- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ;

- Chi phí quản lý doanh nghiệp;

- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh;

- Thu nhập khác;

Trang 21

- Chi phí khác;

- Lợi nhuận khác và cuối cùng là;

- Tổng lợi nhuận trước thuế

Dựa vào mẫu sổ báo cáo nói trên, người ta nhận thấy rằng, tổng số lợi nhuận trước thuế tuỳ thuộc vào 9 nhân tố ảnh hưởng, trong đó nhân tố doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập khác, là những nhân tố ảnh hưởng (tác động) thuận chiều, còn các nhân tố: các khoản giảm trừ, giá vốn của hàng xuất bản, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính, chi phí khác

đều tác động ngược chiều đến tổng số lợi nhuận trước thuế

* Trước hết là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phản ánh số tiền thu được hoặc sẽ thu

được về bán sản phẩm hàng hoá và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp cho khách hàng, bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có)

Như ở trên đ= chỉ rõ, nhân tố này ảnh hưởng thuận chiều đến tổng lợi nhuận trước thuế, do vậy doanh nghiệp cần tìm mọi biện pháp để tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Như người ta biết, doanh thu tuỳ thuộc vào khối lượng hàng hoá (dịch vụ) bán ra

và giá bán của nó Trong điều kiện hiện nay, khi cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt thì trừ những hàng hoá và dịch vụ do nhà nước qui định giá bán, nói chung giá bán biến

động là tuỳ thuộc vào thị trường và có xu hướng giảm Do vậy để tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các doanh nghiệp chỉ có thể áp dụng những biện pháp chủ yếu để tăng được khối lượng của hàng hoá (dịch vụ) bán ra Việc tăng hay giảm khối lượng hàng hoá (dịch vụ) bán ra nó lại tuỳ thuộc vào việc tăng hay giảm khối lượng, chất lượng của sản xuất và tuỳ thuộc vào kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp

* Đối với các khoản giảm trừ:

Các khoản giảm trừ, theo qui định hiện hành bao gồm:

- Chiết khấu thương mại;

Trang 22

lý bán hàng nói riêng Nói cách khác, để tăng doanh thu bán hàng, cần khuyến khích người mua với khối lượng lớn, do đó chiết khấu thương mại sẽ có xu hướng tăng lên + Đối với giảm giá hàng bán: Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt, để chiếm lĩnh được thị trường nhằm tăng được doanh thu, các doanh nghiệp thường sử dụng giá bán như là một công cụ quan trọng Do vậy xu hướng thực tế là cạnh tranh càng khối liệt, giá bán của sản phẩm cạnh tranh càng có xu hướng giảm Nói cách khác, trong điều kiện hiện nay, để tăng doanh thu, không thể áp dụng biện pháp tăng giá bán mà ngược lại, cần thực hiện chính sách giảm giá Đối với hàng bán bị trả lại, đây là những hàng hoá không thoả tm=n được nhu cầu của người tiêu dùng, không phù hợp với những điều khoản trong hợp đồng, như chất lượng không đảm bảo, mẫu m= không phù hợp, giao hàng không đúng thời hạn v.v Nói chung trong kinh doanh, cần hạn chế, loại trừ phát sinh của yếu tố nói trên vì nó làm giảm uy tín của doanh nghiệp trên thương trường + Đối với các loại thuế: Theo luật định, nộp thuế là nghĩa vụ của doanh nghiệp

đối với nhà nước, do đó không thể trốn lậu thuế để tăng doanh thu

Qua phân tích chi tiết ở trên, có thể rút ra kết luận rằng không thể đưa ra các quyết định giảm các khoản giảm trừ (trừ trị giá hàng bán bị trả lại) để tăng doanh thu bán hàng cho doanh nghiệp

* Đối với giá vốn của hàng xuất bán: ảnh hưởng của nhân tố này là ngược chiều

đến lợi nhuận bán hàng Trong các doanh nghiệp sản xuất, giá vốn của hàng xuất bán chính là giá thành sản xuất của sản phẩm xuất kho Như vậy, đây là nhân tố chủ yếu làm tăng (giảm) lợi nhuận bán hàng của doanh nghiệp, do đó nó là trọng điểm của công tác

Trang 23

quản lý sản xuất kinh doanh nói chung, quản lý lợi nhuận nói riêng Nhân tố này sẽ

được phân tích chi tiết và cụ thể hơn khi phân tích chỉ tiêu lợi nhuận bán hàng

* Đối với doanh thu hoạt động tài chính: Việc phát sinh doanh thu hoạt động tài chính sẽ làm tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, do đó nó là yếu tố làm tăng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh

Trong điều kiện hiện nay, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thu nhập hoạt

động tài chính còn chiếm tỉ trọng nhỏ và nó có xu hướng tăng dần trong tương lai

* Đối với chi phí tài chính: Việc phát sinh chi phí tài chính là ngược chiều với nội dung phát sinh doanh thu hoạt động tài chính, nghĩa là nếu hoạt động tài chính bị lỗ thì đó chính là các khoản chi phí tài chính và nó sẽ làm giảm lợi nhuận thuần từ hoạt

động kinh doanh

* Đối với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là yếu tố cấu thành giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ Đối với các doanh nghiệp có hoạt động tài chính và hoạt động khác thì chi phí quản lý doanh nghiệp

có liên quan đến các hoạt động nói trên và khi cần phân bổ cho từng hoạt động, có thể dựa vào doanh thu của từng hoạt động Các loại chi phí nói trên khi phát sinh đều làm giảm kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

* Đối với thu nhập khác: Việc phát sinh thu nhập khác sẽ là điều kiện để tăng lợi nhuận khác, nó bao gồm thu từ nhượng bán, thanh lí tài sản cố định, thu tiền phạt, thu nợ khó đòi, thuế được hoàn lại, tiền thưởng, quà biếu, thu nhập kinh doanh bị bỏ sót hoặc chưa ghi sổ kế toán của năm trước Thực tế các khoản thu nói trên cũng chiếm tỉ trọng không

đáng kể của các doanh nghiệp, do đó không phải là trọng điểm của công tác quản lý

* Đối với chi phí khác: Đây là những chi phí của các hoạt động ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh, như lỗ do các sự kiện hay nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp, chi phí bị bỏ sót của kì trướcv.v và nói chung nó phát sinh ngược chiều với sự phát sinh của thu nhập khác Nhân tố này ảnh hưởng ngược chiều

đến kết quả kinh doanh

Trang 24

* Về ví dụ phân tích: Giả định tại Công ty X có các số liệu nh− sau:

(Đơn vị: 1 triệu đồng)

Chỉ tiêu

Dự kiến (kế hoạch)

2.500 2.500

Trang 25

Dựa vào số liệu của Bảng 2.1 ta có thể lập bảng phân tích như sau:

(Bảng 2.2.)

Chênh lệch (+ -) Chỉ tiêu

Dự kiến (Kế hoạch)

Thực hiện Số tiền

Làm tăng (+) giảm (-) lợi nhuận

1 Doanh thu bán hàng và cung cấp

2.500 2.500

+ 500 + 500

+ 25 (+25)

- 500 (- 500)

Căn cứ vào các số liệu của bảng 2.2 ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- So với mục tiêu đặt ra (dự kiến), tổng số lợi nhuận trước thuế trong kì đ= tăng

100 triệu đồng, với tỉ lệ tăng là 1,92% Việc tăng được tổng số lợi nhuận trước thuế sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đơn vị thực hiện các mục tiêu kinh tế x= hội khác, như nộp

Trang 26

ngân sách, trích lập các quỹ, bổ xung thêm vốn, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá cho người lao động Để đánh giá chính xác, cụ thể kết quả nói trên, cần dựa vào mức độ

và tính chất ảnh hưởng của từng nhân tố

- Trước hết, việc tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kì 2000 triệu đồng, điều kiện các nhân tố khác không đổi đ= làm tăng tương ứng tổng lợi nhuận trước thuế là 2000 triệu đồng Xét về mức độ thì đây là nhân tố chủ yếu làm tăng lợi nhuận trong kì Xét về tính chất, ta thấy việc tăng doanh thu phản ánh kết quả tăng cả số lượng và chất lượng của sản xuất, đồng thời đơn vị đ= tổ chức tối công tác bán hàng, do

đó nó là tác động của nhân tố chủ quan

- Các khoản giảm trừ trong kì tăng 500 triệu đồng đ= làm giảm lợi nhuận tương ứng là 500 triệu đồng Theo tài liệu cho thì đây là số tăng của chiết khấu thương mại, chứng tỏ khối lượng hàng hoá bán buôn trong kì đ= tăng và do đó việc giảm lợi nhuận nói chung, lợi nhuận bán hàng nói riêng là đương nhiên

- Giá vốn của hàng xuất bán trong kì tăng 1500 triệu đồng đ= làm giảm tương ứng lợi nhuận trong kì là 1500 triệu đồng Xét về mức độ thì đây là nhân tố chủ yếu làm giảm lợi nhuận của đơn vị Thực chất ảnh hưởng của nhân tốt này là ảnh hưởng của giá thành sản xuất; như vậy có thể suy ra rằng giá thành sản xuất trong kì đ= tăng hay là đơn vị đ= quản lý,

sử dụng chưa hợp lí lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất Để có đánh giá chính xác, cụ thể hơn, cần thiết phải đi sâu phân tích đối với giá thành theo từng khoản mục, qua

đó mới biết được nguyên nhân nào đ= làm tăng giá thành, từ đó mới có các quyết định thích hợp của quản lý Việc phân tích nói trên sẽ được tiến hành ở nội dung tiếp theo

- Doanh thu hoạt động tài chính tăng 200 triệu đồng đ= làm tăng lợi nhuận tương ứng 200 triệu đồng; Để đánh giá được cụ thể, chính xác tác động của nhân tố này, cần dựa vào tài liệu hạch toán chi tiết để xác định được nội dung cấu thành của chỉ tiêu nói trên, vì doanh thu hoạt động tài chính như đ= đề cập ở phần trước nó bao gồm rất nhiều các yếu tố có nguồn gốc phát sinh khác nhau, do đó việc đánh giá cũng khác nhau, ví dụ l=i tiền vay, l=i tiền gửi, l=i bán hàng trả chậm, thu nhập do cho thuê tài sản, lợi tức, cổ tức được chia, thu nhập về hoạt động đầu tư, chênh lệch tỷ giá

Trang 27

- Chi phí tài chính trong kỳ tăng 100 triệu đồng đ= làm giảm lợi nhuận tương ứng

100 triệu đồng Nếu so với thu nhập từ hoạt động tài chính thì kết quả của hoạt động tài chính vẫn mạng lại lợi ích cho doanh nghiệp, cụ thể làm tăng tổng số lợi nhuận là 100 triệu đồng (100trđ = + 200 trđ - 100 trđ) Như vậy xu hướng trên cần tiếp tục động viên

và khai thác trong kì tới

- Chi phí bán hàng trong kì tăng 50 triệu đồng, chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng 50 triệu đồng đ= làm lợi nhuận giảm tương ứng 100 triệu đồng; Việc tăng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng phản ánh việc quản lý sử dụng lao

động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh nói chung, quá trình bán hàng nói riêng là chưa hợp lý Phải dựa vào tài liệu hạch toán chi tiết của các yếu tố nói trên

để biết được cụ thể chi phí đ= tăng ở nội dung nào, ví dụ chi phí tiền lương, chi phí quảng cáo, chi phí văn phòng v.v , từ đó mới có kết luận chính xác và cụ thể hơn và mới có các quyết định quản lý thích hợp

- Trong kì phát sinh thu nhập khác là 250 triệu đồng, chi phí khác là 150 triệu

đồng, từ đó làm tổng lợi nhuận trước thuế tăng 100 triệu đồng; Đây cũng là xu hướng tích cực cần được chú ý để động viên và khai thác trong kì tới

Tóm lại, qua phân tích chi tiết ở trên, có thể đi đến kết luận như sau:

Việc tăng được tổng lợi nhuận trước thuế trong kì tới chủ yếu là do đơn vị đ= tăng

được doanh thu bán hàng Để đánh giá chính xác tác động của nhân tố này, cần tiếp tục đi sâu phân tích để làm rõ, trong tổng số tăng đó thì bao nhiêu đó là tăng khối lượng, bao nhiêu là do điều chỉnh giá bán, từ đó mới có các quyết định quản lý thích hợp để tăng

được kết quả kinh doanh một cách tích cực và bền vững Mặt khác, nhân tố chủ yếu làm giảm lợi nhuận trong kì lại là việc tăng giá vốn của hàng xuất bán, cũng chính là giá thành sản xuất thực tế đ= tăng, do vậy cũng cần tiếp tục đi sâu phân tích để làm rõ trong tổng số tăng của giá thành thì tăng cụ thể ở khoản mục chi phí nào và vì sao khoản mục đó lại tăng, từ đó mới có các biện pháp thích hợp, cần thiết để hạn chế, loại trừ được tác động của các nhân tố tiêu cực (làm tăng giá thành) động viên và khai thác được tác động của các nhân tố tích cực (làm giảm gía thành) với mục đích cuối cùng là tăng được lợi nhuận cho đơn vị Những vấn đề nêu ở trên sẽ được nghiên cứu, phân tích ở nội dung tiếp theo

Trang 28

2.2.2 Phân tích các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh 2.2.2.1 Phân tích doanh thu bán hàng

Doanh thu về bán hàng (kí hiệu là D) là doanh thu mà doanh nghiệp được hưởng (sau khi đ= loại trừ các khoản giảm trừ ra khỏi doanh thu bán hàng) Nói một cách cụ thể hơn, đây là số tiền mà doanh nghiệp đ= thu được (hoặc sẽ thu được) do bán những sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, do đó nó có thể được xác định như sau:

- Số lượng (khối lượng) hàng hoá bán ra

- Giá bán bình quân đơn vị của hàng bán ra

Như vậy, để tăng doanh thu, người ta có thể áp dụng các biện pháp để tăng được

số lượng hàng hoá bán ra và tăng giá bán của hàng hoá bán ra

Nhưng trong điều kiện hiện nay, khi cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt thì giá bán của hàng hoá cạnh tranh lại có xu hướng giảm và thực tế cho thấy, để chiếm lĩnh thị trường, các doanh nghiệp thường sử dụng giá bán như là một công cụ chủ yếu Họ dụa vào tâm lí của người tiêu dùng, sử dụng chiêu bài "hạ giá" nhân các "ngày nọ", "ngày kia" để khuyến mại và đôi khi họ thực hiện sự cạnh tranh không lành mạnh bằng chiều dài "hạ giá" không phù hợp với thực tế Như vậy, trong điều kiện như phân tích ở trên, các doanh nghiệp không thể áp dụng biện pháp tăng giá để tăng doanh thu bán hàng mà biện pháp chủ yếu cần áp dụng chỉ có thể là tăng được số lượng (khối lượng) hàng hoá bán ra

Để tăng được số lượng (khối lượng) hàng hoá bán ra, vấn đề cơ bản đặt ra phải nắm được việc tăng (giảm) số lượng hàng hoá bán ra tuỳ thuộc chủ yếu vào những nguyên nhân nào, trên cơ sở xác định được những nguyên nhân chủ yếu làm tăng (giảm)

số lượng hàng hoá bán ra, người ta mới đưa ra được các quyết định điều chỉnh thích hợp, kịp thời để hạn chế, loại trừ được tác động của nguyên nhân, nhân tố làm giảm, động

Trang 29

viên và phát huy được tác động của nguyên nhân, nhân tố làm tăng, thông qua đó mà làm tăng được doanh thu bán hàng cho doanh nghiệp

* Phân tích những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến số lượng (khối lượng) hàng hoá bán ra

Sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra bán được hay không bán được là tuỳ thuộc vào tác động của rất nhiều các nguyên nhân khác nhau và có thể khái quát lại thành 3 loại (nhóm) nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Một là thuộc về bản thân doanh nghiệp (kẻ bán)

- Hai là tuỳ thuộc vào người mua (thị trường)

- Ba là tuỳ thuộc vào tác động của Nhà nước

Sau đây sẽ lần lượt phân tích nhóm các nguyên nhân chủ yếu làm tăng (giảm) số lượng hàng hoá bán ra

* Trước hết là những nguyên nhân thuộc về bản thân doanh nghiệp

- Thuộc về bản thân doanh nghiệp, trước hết là tuỳ thuộc vào kết quả của khâu sản xuất cả về số lượng, chất lượng của sản phẩm, chủng loại mặt hàng, mẫu m= sản phẩm và thời hạn của sản xuất

- Thứ hai: Khi đ= có đủ lực lượng hàng hoá bán ra với chất lượng cao, chủng loại phong phú, mẫu m= đẹp thì việc bán được sản phẩm hay không bán được là tuỳ thuộc vào các phương tiện vật chất đảm bảo cho công tác bán hàng, như hệ thống kho, cửa hàng, đại lí, phương tiện vận chuyển, bao bì đóng gói, phương tiện cân, đong, đếm v.v )

Thứ ba là tuỳ thuộc vào phương thức bán, hình thức bán và đi theo nó là đội ngũ những người làm công tác bán hàng;

- Cuối cùng, tuỳ thuộc vào bản thân doanh nghiệp đó là công tác thông tư, quảng cáo, tiếp thị v.v

Trang 30

* Những nguyên nhân chủ yếu thuộc về người mua:

- Nguyên nhân đầu tiên thuộc về người mua là sức mua của dân cư mà sức mua của dân cư lại tuỳ thuộc vào thu nhập của họ Như ở phần trước đ= chỉ rõ, doanh nghiệp phải xác định trước đối tượng phục vụ của doanh nghiệp là ai (bán cho ai) để quyết định

đầu tư đúng hướng và mang hàng đến đúng địa chỉ

- Nguyên nhân thứ hai thuộc về người mua là thói quen, truyền thống và thị hiếu tiêu dùng của từng vùng dân cư, của từng tầng lớp x= hội Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng tầng lớp x= hội, của từng vùng dân cư và tuỳ thuộc vào trình độ phát triển về kinh tế - x= hội, thông qua công tác bán hàng, người bán (doanh nghiệp) có thể thay đổi được thói quen tiêu dùng cũ, tạo ra thói quen mới và hướng thị hiếu tiêu dùng phù hợp hơn với thực tế của x= hội

* Những nguyên nhân chủ yếu thuộc về Nhà nước:

Như ta đều biết, dù thực hiện cơ chế quản lý nào thì Nhà nước vẫn có vai trò rất quan trọng, tác động tích cực hoặc tiêu cực đến cả người bán và người mua thông qua các chính sách đ= ban hành Cụ thể tác động của Nhà nước bao gồm:

Trang 31

2.2.2.2 Phân tích giá vốn hàng xuất bán

* Đối với doanh nghiệp sản xuất

Như người ta biết, thực chất ảnh hưởng của giá vốn hàng xuất bán chính là ảnh hưởng của giá thành sản xuất sản phẩm bán ra, do đó việc tăng (giảm) giá vốn hàng xuất bán là do việc tăng (giảm) giá thành sản xuất tạo ra, cho nên thực chất của phân tích giá vốn lại là phân tích giá thành sản xuất Đối với các nhà quản lý, những câu hỏi đặt ra cần

được làm rõ là:

- Một là trong kì, giá thành thực tế tăng hay giảm (so với kì trước, so với sự kiến)

- Hai là giá thành thực tế tăng (giảm) là ở loại sản phẩm (mặt hàng) nào?

- Ba là ở loại sản phẩm (mặt hàng) đó, giá thành tăng (giảm) cụ thể ở khoản mục nào và nguyên nhân nào; nhân tố nào đ= làm tăng (giảm) khoản mục đ= nêu v.v , có vậy người quản lý mới đưa ra được các quyết định điều chỉnh thích hợp, kịp thời để hạn chế, loại trừ được tác động của các nhân tố làm tăng, động viên và phát huy ảnh hưởng của nhân tố làm giảm, thông qua đó mà tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành, giảm giá vốn của hàng xuất bán và tăng được lợi nhuận bán hàng cho doanh nghiệp

Qua nghiên cứu, người ta thấy rằng để trả lời câu hỏi một và câu hỏi hai, chỉ cần

so sánh giữa giá thành thực tế kì này với giá thành thực tế kì trước (hoặc dự kiến - kì kế hoạch) của toàn bộ sản phẩm, của từng loại sản phẩm và thông qua đó sẽ biết được tác

động cụ thể của nó đến lợi nhuận bán hàng, nghĩa là việc tăng giá thành sẽ làm giảm tương ứng lợi nhuận và ngược lại Nhưng để đáp ứng yêu cầu của quản lý giá thành nói chung, quản lý việc sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất nói riêng, cần phải trả lời cụ thể câu hỏi thứ ba Muốn vậy cần thiết phải phân tích chi tiết giá thành theo khoản mục Nói cách khác, việc phân tích giá thành sản xuất sản phẩm xuát bán chỉ tập trung và giới hạn ở việc phân tích giá thành theo khoản mục

Theo qui định hiện hành, nếu phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí thì chi phí sản xuất được phân thành 3 khoản mục:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Trang 32

- Chi phí nhân công trực tiếp và

- Chi phí sản xuất chung

(Đối với doanh nghiệp xây lắp, do đặc thù của nó, ngoài 3 khoản mục nói trên, giá thành sản phẩm xây lắp còn bao gồm khoản mục chi phí sử dụng máy thi công) Như vậy 3 khoản mục nói trên có mục đích, công dụng, nguồn gốc phát sinh khác nhau, do đó yêu càu quản lý đối với từng khoản mục cũng không giống nhau Trong tổng giá thành cũng như trong giá thành đơn vị của sản phẩm, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỉ trọng lớn nhất, do đó việc tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu sẽ góp phần quyết định đến việc tiết kiệm toàn bộ chi phí sản xuất nói chung và hạ giá thành sản phẩm nói riêng Do vậy quản lý chi phí nguyên vật liệu trở thành trọng

điểm của công tác quản lý giá thành và khi tiến hành phân tích giá thành theo khoản mục, trước hết cần tiến hành phân tích chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm 2.2.2.2.1 Phân tích chi phí nguyên vật liệu trong giá thành

* Mục đích phân tích:

Đối với các nhà quản lý, mục đích của phan tích chi phí về nguyên vật liệu là trong thực tế sản xuất sản phẩm, đơn vị đ= quản lý, sử dụng nguyên vật liệu tiết kiệm hay l=ng phí, nguyên nhân, nhân tố nào đ= ảnh hưởng đến kết quả nói trên, từ đó người

ta có căn cứ khoa học để đưa ra các quyết định quản lý thích hợp kịp thời nhằm tiết kiệm

được chi phí về nguyên vật liệu nói riêng, chi phí sản xuất nói chung

Như người ta biết, mỗi loại sản phẩm (mặt hàng) thường được chế tạo từ những loại vật liệu khác nhau, với mức tiêu hao và giá xuất dùng khác nhau; mỗi doanh nghiệp lại sản xuất nhiều loại sản phẩm (mặt hàng) khác nhau, do đó không thể tiến hành phân tích cùng một lúc tất cả chi phí nguyên vật liệu của toàn bộ sản phẩm mà phải tiến hành phân tích chi phí nguyên vật liệu trong giá thành của từng sản phẩm (mặt hàng), sau đó mới tổng hợp lại thành toàn bộ chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

* Chỉ tiêu phân tích

Đối với từng loại sản phẩm (mặt hàng), chi phí vật liệu tính trong giá thành được

kí hiệu là Cv và nó được xác định theo công thức tổng quát sau đây

Trang 33

- mi là mức tiêu hao bình quân của từng loại vật liệu cho một loại sản phẩm;

- gi là giá bình quân của từng loại vật liệu xuất dùng;

- F là giá trị tự phế liệu thu hồi (nếu có)

* Trình tự và phương pháp phân tích: Tiến hành phân tích chi phí vật liệu trong giá thành theo các bước cụ thể sau đây:

* Bước 1: Xác định chỉ tiêu kế hoạch (kì gốc)

Từ công thức tổng quát của chỉ tiêu, nếu thay kì kế hoạch sẽ xác định chỉ tiêu kế hoạch; nhưng trong thực tế, người ta không sử dụng khoản chi kế hoạch để làm chuẩn cho việc so sánh mà lại sử dụng khoản chi kế hoạch đ= điều chỉnh theo sản lượng thực tế của sản phẩm nhập kho Bởi vì như mục đích của phân tích đ= chỉ rõ, người ta muốn biết trong thực tế sản xuất, đơn vị đ= sử dụng tiết kiệm hay l=ng phí nguyên vật liệu, nguyên nhân nào đ= dẫn đến hiện tượng nói trên và bằng cách nào để khắc phục được hiện tượng đó Việc sử dụng l=ng phí hay tiết kiệm nguyên vật liệu sẽ được phản ánh ở

sự biến động của mức tiêu hao về nguyên vật liệu mà theo công thức tính chi phí nguyên vật liệu tính trong giá thành thì mức tiêu hao là nhân tố chất lượng, còn sản lượng sản phẩm sản xuất và nhập kho lại là nhân tố số lượng, do vậy như nội dung ở chương 1 đ=

đề cập, khi nghiên cứu sự biến động của nhân tố chất lượng (mức tiêu hao) thì nhân tố số lượng (sản lượng sản phẩm nhập kho) đ= cố định ở kì thực tế

Khoản chi vật liệu kì kế hoạch điều chỉnh theo sản lượng nhập kho thực tế - kí hiệu là Cđ

Vk được xác định như sau:

F g m Sl

Trang 34

Trong đó: Fk là giá trị phế liệu thu hồi kế hoạch cũng được điều chỉnh theo sản lượng thực tế

i n

k ki

ki n

i i i n

- Mức tiêu hao về nguyên vật liệu;

- Giá của vật liệu xuất dùng và

- Giá trị phế liệu thu hồi (nếu có)

Mặt khác người ta nhận thấy rằng, trong thực tế vì nhiều nguyên nhân khác nhau,

để tiến hành sản xuất, doanh nghiệp phải sử dụng vật liệu thay thế Mỗi loại vật liệu khi

đưa vào sản xuất có mức tiêu hao và giá xuất dùng khác nhau, do đó nếu dùng vật liệu có mức tiêu hao thấp, giá rẻ hơn để thay thế trong sản xuất thì khoản chi vật liệu trong kì sẽ

Trang 35

giảm và ngược lại Như vậy trong thực tế, khoản chi của vật liệu trong kì tăng lên hay giảm đi là tuỳ thuộc vào tác động của 4 nhân tố như đ= nêu ở trên Các nhân tố ảnh hưởng này có mối quan hệ khác nhau với chỉ tiêu phân tích, do đó bằng các phương pháp thích hợp, người ta có thể xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố Cụ thể ta có:

- Do ảnh hưởng của mức tiêu hao :

i

1 1

- Đối với nhân tố mức tiêu hao về nguyên vật liệu:

+ Xét về mức độ: Quan hệ của nhân tố mức tiêu hao với khoản chi vật liệu trong giá thành là quan hệ tích số, do vậy nhân tố này ảnh hưởng tỉ lệ thuận đến chỉ tiêu phân tích + Xét về tính chất: Mức tiêu hao về nguyên vật liệu thay đổi có thể do tác động của nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan

Trường hợp thiết kế sản phẩm làm thay đổi mẫu m= sản phẩm (thay đổi quy mô kích thước, khối lượng, kiểu dáng của sản phẩm ), từ đó có thể làm tăng hoặc giảm mức tiêu hao về nguyên vật liệu thì đó là tác động cua nhân tố khách quan

Trường hợp thiết kế sản phẩm không đổi, mẫu m= sản phẩm không đổi, việc thay

đổi mức tiêu hao về nguyên vật liệu có thể tuỳ thuộc vào chất lượng của công tác sản

Trang 36

xuất nói chung, chất lượng của sản phẩm nói riêng, tuỳ thuộc vào kết quả của việc quản

lý, sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất v.v thì những tác động nói trên lại

là tác động của nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp

+ ý nghĩa của việc phân tích: Qua phân tích thực chất ảnh hưởng của nhân tố mức tiêu hao về nguyên vật liệu, ta có thể rút ra kết luận như sau: việc giảm được mức tiêu hao

về nguyên vật liệu là biện pháp quan trọng của quản lý để giảm chi phí về nguyên vật liệu nói riêng, giảm giá thành sản phẩm nói chung Muốn vậy, các doanh nghiệp cần thường xuyên nghiên cứu để cải tiến mẫu m= sản phẩm sao cho vừa thoả m=n được thị hiếu của người tiêu dùng, vừa tạo điều kiện để giảm được mức tiêu hao về nguyên vật liệu, giảm chi phí sản xuất, hạ được giá thành sản phẩm; Mặt khác cần chú trọng nâng cao chất lượng của sản xuất nói chung, chất lượng của sản phẩm nói riêng, quản lý và sử dụng hợp lí, tiết kiệm nguyên vật liệu xuất dùng trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp

- Đối với nhân tố giá vật liệu xuất dùng:

+ Xét về mức độ: Cũng giống như nhân tố mức tiêu hao, ảnh hưởng của nhân tố giá vật liệu xuất dùng đến khoản chi của vật liệu tính trong giá thành là ảhh hưởng tỉ lệ thuận vì nó cũng có quan hệ tích số với chỉ tiêu phân tích

+ Xét về tính chất: Nhân tố giá vật liệu xuất dùng là một nhân tố rất phức tạp vì bản thân nó lại tuỳ thuộc vào tác động của rất nhiều các nhân tố khác nhau; Trong đó có nhân tố mang tính chất khách quan, có nhân tố mang tính chất chủ quan Do vậy cần đề cập và phân tích chi tiết nội dung cấu thành của giá vật liệu xuất dùng và thông qua đó mới đánh giá được thực chất ảnh hưởng của nó đến khoản chi vật liệu trong giá thành Như người ta biết, giá của vật liệu xuất dùng trước hết tuỳ thuộc vào giá mua và chi phí mua của nguyên vật liệu

Trước hết, giá mua nguyên vật liệu lại tuỳ thuộc vào nguồn mua, vào phương thức mua (mua nhiều hay mua ít, mua trả tiền ngay hay trả chậm) và trong một số trường hợp, nó còn tuỳ thuộc vào chính sách giá do Nhà nước qui định (Đối với một số loại nguyên vật liệu, do tầm quan trọng của nó mà Nhà nước vẫn còn khống chế giá bán cho các đối tượng sử dụng khác nhau)

Trang 37

Đối với chi phí mua, bản thân nó lại tuỳ thuộc vào rất nhiều các nhân tố khác, như chi phí vận chuyển, chi phí bốc xếp, chi phí thuê kho b=i, chi phí của bộ phận hay cán bộ, nhân viên đi mua hàng v.v nếu tiếp tục đi sâu phân tích thì từng yếu tố nói trên lại tuỳ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác, ví dụ chi phí vận chuyển tuỳ thuộc vào loại

đường vận chuyển, phương tiện vận chuyển, giá cước vận chuyển; chi phí của bộ phận, nhân viên mua hàng lại tuỳ thuộc vào chi phí đi, chi phí ở (công tác phí) v.v Do tính phức tạp của nhân tố giá vật liệu xuất dùng như trình bày ở trên, để đánh giá được tính chất ảnh hưởng của nó, cần phải dựa vào tài liệu hạch toán chi tiết về giá mua, về chi phí mua mới có được các kết luận chính xác và cụ thể hơn

+ Xét về ý nghĩa: Thông qua việc phân tích thực chất ảnh hưởng của nhân tố giá vật liệu xuất dùng, người quản lý có thể rút ra kết luận như sau: Cần khai thác được nguồn cung cấp nguyên vật liệu hợp lí, ổn định, lựa chọn phương tiện vận chuyển, phương tiện bốc xếp hợp lí, cố gắng xắp xếp để tổ chức vận chuyển hợp lí, khoa học, xác định mức chi phí thu mua hoặc khoán chi phí cho bộ phận, nhân viên mua hàng, quản lí giám sát kiểm tra các hoá đơn, chứng từ có liên quan đến nghiệp vụ mua hàng v.v nhằm đích cuối cùng là giảm được giá vật liệu xuất dùng, giảm chi phí nguyên vật liệu nói riêng, giá thành sản phẩm nói chung cho doanh nghiệp

- Đối với nhân tố giá trị phế liệu thu hồi

+ Xét về mức độ ảnh hưởng: Từ quan hệ của nhân tố với chỉ tiêu phân tích, ta nhận thấy rằng nhân tố giá trị phế liệu thu hồi ảnh hưởng ngược chiều đến khoản chi vật liệu trong giá thành, nghĩa là việc tăng giá trị phế liệu thu hồi sẽ làm giảm chi phí vật liệu tính trong giá thành và ngược lại

+ Xét về tính chất: ảnh hưởng của nhân tố giá trị phế liệu thu hồi cũng được đánh giá là ảnh hưởng của nhân tố phức tạp, bởi vì trong một số trường hợp, giá trị phế liệu thu hồi tăng làm khoản chi vật liệu trong giá thành giảm chưa hẳn đ= được đánh giá là yếu tố tích cực Ví dụ, do áp dụng công nghệ mới, tại công ty In "X" đ= giảm giấy lề sinh ra trong quá trình cắt giấy, đóng vở, do đó giá trị phế liệu thu hồi từ giấy lề sẽ giảm so với kì trước, trong trường hợp đó việc giảm tuyệt đối nói trên không thể được đánh giá là yếu tố tiêu cực trong công tác quản lý mà phải đánh giá ngược lại Với tính chất phức tạp nói trên, để đánh

Trang 38

giá chính xác được tính chất ảnh hưởng của nhân tố này, cần kết hợp với sự biến động của chỉ tiêu tỉ lệ thu hồi phế liệu - kí hiệu là Tf và nó được xác định như sau: Tf =

Ft

F

x 100 Trong đó: Ft là trị giá phế liệu thải ra

Tỉ lệ phản ánh mối tương quan giữa giá trị phế liệu thu được so với trị giá phế liệu thải ra, do đó tỉ lệ bày càng cao và xu hướng càng tăng, chứng tỏ đơn vị đ= làm tốt công tác quản lý vật liệu nói chung, thu hồi phế liệu nói riêng và ngược lại

* ý nghĩa của phân tích: Qua nghiên cứu, phân tích thực chất ảnh hưởng của nhân tố giá trị phế liệu thu hồi, người quản lý rút ra được kết luận như sau: cần áp dụng các biện pháp kĩ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế và loại trừ sản phẩm hỏng, giảm lượng phế liệu thải ra trong quá trình sản xuất, làm tốt công tác tận thu phế liệu để giảm chi phí vật liệu, hạ giá thành sản phẩm cho doanh nghiệp

- Đối với nhân tố vật liệu thay thế

+ Xét về mức độ: Việc phát sinh vật liệu thay thế có thể theo hai xu hướng khác nhau Nếu thực tế đơn vị sử dụng vật liệu rẻ tiền thay thế cho vật liệu đắt tiền (mức tiêu hao không đổi hoặc thay đổi không đáng kể) thì chi phí vật liệu trong giá thành sẽ giảm đi và ngược lại

+ Xét về tính chất: Trong thực tế, việc sử dụng vật liệu thay thế là do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau; Ví dụ do nguồn cung cấp vật liệu thay đổi, đặc biệt là đối với vật liệu nhập từ nước ngoài, do thay đổi công nghệ, điều chỉnh thiết kế mẫu m= sản phẩm,

do khâu tổ chức cung ứng nguyên vật liệu của bản thân doanh nghiệp v.v Do vậy, để đánh giá được tính chất ảnh hưởng của nhân tố này, cần phải xác định được nguyên nhân cụ thể nào đ= dẫn đến đơn vị phải sử dụng vật liệu thay thế để tiến hành sản xuất và chính nguyên nhân đó sẽ giải thích được tính chất chủ quan hay khách quan của nhân tố vật liệu thay thế + ý nghĩa của phân tích

Từ việc phân tích thực chất ảnh hưởng của nhân tố vật liệu thay thế, các nhà quản lý nhận thấy rằng, có thể sử dụng vật liệu ở trong nước thay thế cho vật liệu phải nhập từ nước ngoài để chủ động hơn về nguồn cung cấp, dùng vật liệu rẻ tiền hơn thay thế cho vật liệu đắt tiền để phấn đấu giảm chi phí về vật liệu v.v nhưng cần tuân theo

Trang 39

một yêu cầu của quản lý, đó là việc thay thế vật liệu không được làm giảm chất lượng của sản phẩm sản xuất trong kì của doanh nghiệp

* Ví dụ phân tích Để minh hoạ, giải thích cụ thể cho những vấn đề lí luận được

đặt ra ở trên, có thể lấy ví dụ phân tích như sau:

Giả định tại công ty X, để tiến hành sản xuất sản phẩm M, người ta có các tài liệu, số liệu như sau

Tình hình sản xuất sản phẩm M

Bảng 2.3

2 Khối lượng vật liệu xuất trong kì (kg)

Tài liệu bổ sung: Cuối kì vật liệu a nhập lại kho 18kg; vật liệu d nhập lại kho 155kg Căn cứ vào các số liệu của bảng 2.3, ta lần lượt tính toán các chỉ tiêu cần thiết sau đây

- Bước 1: Xác định các chỉ tiêu kế hoạch

Từ số liệu của bảng 2.3 ta có:

;10500

kg

kg

nd x

;

%80100000.50

000.40

Trang 40

510

480.24

;5,19510

155100.10

Căn cứ vào các kết quả tính được ở trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

So với mục tiêu đặt ra, chi phí thực tế về vật liệu tính trong giá thành sản phẩm trong kì đ= giảm được là 170.344 ngàn đồng Việc giảm chi phí vật liệu nói trên sẽ làm giá thành giảm tương ứng và đương nhiên sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Để

có kết luận chính xác cụ thể hơn, cần dựa vào mức độ và tính chất ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả nói trên

Ngày đăng: 01/12/2017, 22:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w