Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình từng bước phát triển tiến tới một nền kinh tế thị trường và từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa. Quá trình này đã đặt ra những yêu cầu rất cấp bách đối với những doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực như vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, sức cạnh tranh. Bên cạnh đó các hoạt động sáp nhập, mua lại, hợp nhất hay thành lập các liên doanh... cũng diễn ra một cách thường xuyên. Nhất là trong bối cảnh nước ta hiện nay,tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Cơ sở nền tảng của các hoạt động này đều dựa vào các kết quả đánh giá và xác định giá trị doanh nghiệp. Khi nền kinh tế thị trường phát triển đến một trình độ nhất định, nhu cầu mua bán, đầu tư rộng rãi trên thị trường thì hoạt động thẩm định giá doanh nghiệp cũng ngày càng được chú trọng. Nhằm bắt nhịp và đáp ứng tốt nhất nhu cầu định giá trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển, ngay từ khi mới thành lập, công ty Cổ phần Thẩm định giá và dịch vụ Tài chính Hà Nội đã luôn chú trọng đến việc mở rộng và hoàn thiện chất lượng công tác định giá của mình, nhất là trong hoạt động thẩm định giá doanh nghiệp. Trong quá trình thực tập tại đây, với mục đích tìm hiểu thực tế về hoạt động định giá doanh nghiệp của công ty và những tồn tại của nó nhằm đưa ra giải pháp khắc phục, nâng cao chất lượng định giá cho công ty, em xin lựa chọn đề tài “ Hoạt động định giá doanh nghiệp bằng phương pháp tài sản tại Công ty cổ phần Thẩm định giá và dịch vụ tài chính Hà Nội” để làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình từng bước phát triển tiến tới mộtnền kinh tế thị trường và từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa Quá trình này đãđặt ra những yêu cầu rất cấp bách đối với những doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vựcnhư vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, sức cạnh tranh Bên cạnh đó các hoạt độngsáp nhập, mua lại, hợp nhất hay thành lập các liên doanh cũng diễn ra một cáchthường xuyên Nhất là trong bối cảnh nước ta hiện nay,tiến trình cổ phần hoá doanhnghiệp đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ Cơ sở nền tảng của các hoạt động này đềudựa vào các kết quả đánh giá và xác định giá trị doanh nghiệp Khi nền kinh tế thịtrường phát triển đến một trình độ nhất định, nhu cầu mua bán, đầu tư rộng rãi trênthị trường thì hoạt động thẩm định giá doanh nghiệp cũng ngày càng được chútrọng
Nhằm bắt nhịp và đáp ứng tốt nhất nhu cầu định giá trong bối cảnh nền kinh
tế thị trường phát triển, ngay từ khi mới thành lập, công ty Cổ phần Thẩm định giá
và dịch vụ Tài chính Hà Nội đã luôn chú trọng đến việc mở rộng và hoàn thiện chấtlượng công tác định giá của mình, nhất là trong hoạt động thẩm định giá doanhnghiệp Trong quá trình thực tập tại đây, với mục đích tìm hiểu thực tế về hoạtđộng định giá doanh nghiệp của công ty và những tồn tại của nó nhằm đưa ra giải
pháp khắc phục, nâng cao chất lượng định giá cho công ty, em xin lựa chọn đề tài “ Hoạt động định giá doanh nghiệp bằng phương pháp tài sản tại Công ty cổ phần Thẩm định giá và dịch vụ tài chính Hà Nội” để làm đề tài cho chuyên đề
thực tập tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm 3 mục tiêu cơ bản:
Thứ nhất: Tìm hiểu cơ sở lý luận về doanh nghiệp, thẩm định giá doanhnghiệp và hệ thống hoá các phương pháp thẩm định giá doanh nghiệp chủ yếu
Thứ hai: Tiếp cận việc ứng dụng mô hình định giá doanh nghiệp theophương pháp tài sản tại công ty cổ phần Thẩm định giá và dịch vụ tài chính HàNội (VFS)
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện và nâng cao công tác thẩmđịnh giá doanh nghiệp theo phương pháp tài sản tại công ty VFS
Trang 23 Đối tượng nghiên cứu:
Phương pháp tài sản trong thẩm định giá doanh nghiệp
4 Phạm vi nghiên cứu:
Chuyên đề tập trung nghiên cứu việc áp dụng phương pháp tài sản trongthẩm định giá doanh nghiệp tại công ty VFS
5 Kết cấu nội dung chuyên đề.
Cùng với Lời mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài gồm
Em xin được cám ơn sự giúp đỡ tận tụy của thầy TS Nguyễn Ngọc Quang,cùng các thầy cô giáo - giảng viên Bộ môn Thẩm định giá khoa Marketingtrường Đại học Kinh tế quốc dân; em xin chân thành cảm ơn anh Ngô GiaCường, trưởng Phòng Thẩm định giá 1 và các anh chị thẩm định viên trongPhòng Thẩm định giá 1- công ty cổ phần Thẩm định giá và dịch vụ tài chính HàNội đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề này
Với trình độ hiểu biết và thời gian thực tập có bạn, chuyên đề không tránhkhỏi những sai sót và hạn chế Em rất mong nhận được sự phê bình, nhận xét,đóng góp ý kiến từ thầy cô và bạn đọc để chuyên đề được hoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH
NGHIỆP BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÀI SẢN 1.Doanh nghiệp
1.1 Khái niệm về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinhdoanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp 2005 : “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theoquy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanhnghiệp tư nhân
1.2 Các đặc điểm của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế
Sự tồn tại của doanh nghiệp luôn được đặt trong mối quan hệ chung với cácphần tử khác của nền kinh tế, nó không chỉ được quyết định bởi các mối quan hệtrong nội bộ doanh nghiệp mà còn bởi các mối quan hệ với các yếu tố bên ngoàinhư: khách hàng, nhà cung cấp, tổ chức tài chính, pháp luật…Sự hoạt động củadoanh nghiệp thực chất là sự thích ứng của nó với môi trường hoạt động Do vậykhi nhìn nhận doanh nghiệp cần thấy được vị trí của nó trong nền kinh tế và quantrọng hơn là phải đánh giá được nó về mặt tổ chức cũng như sự thích ứng của nóvới môi trường
Doanh nghiệp là một tổ chức, một thực thể hoạt động chứ không phải là các tài sản rời rạc được tập hợp vào với nhau
Doanh nghiệp không phải là một kho hàng, doanh nghiệp không đơn giản làtập hợp của những tài sản vô tri vô giác, giá trị sử dụng của chúng bị giảm dần theothời gian Khi hoạt động, các tài sản trong doanh nghiệp gắn kết lại với nhau để tạo
ra giá trị và giá trị thặng dư cho doanh nghiệp Chỉ khi doanh nghiệp bị giải thể hayphá sản, những tài sản ấy mới được coi là những tài sản đơn lẻ, rời rạc, người ta cóthể đem bán nó như một loại hàng hóa thông thường với mức giá thấp hơn rất nhiều
Trang 4giá trị thực của nó Do vậy, giá trị doanh nghiệp là một khái niệm chỉ được dùngcho những doanh nghiệp đang hoạt động và sẵn sàng hoạt động.
Doanh nghiệp là một loại hàng hóa đặc biệt
Doanh nghiệp là một tổ chức được thành lập ra để thực hiện hoạt động sảnxuất kinh doanh chứ không phải là đối tượng để bán, tuy vậy giống như các hànghoá thông thường khác, doanh nghiệp cũng là đối tượng của các giao dịch: muabán, hợp nhất, chia nhỏ,… Quá trình hình thành giá cả và giá trị đối với loại hànghoá này cũng không nằm ngoài sự chi phối của các quy luật giá trị, quy luật cungcầu, quy luật cạnh tranh… Nhưng doanh nghiệp là một loại hàng hóa đặc biệt, bởi
nó là một hệ thống phức tạp của nhiều yếu tố cầu thành, ngoài việc được tạo nênbởi các tài sản hữu hình còn có các tài sản vô hình như: lợi thế thương mại, thươnghiệu…Hơn nữa, bản thân các yếu tố tạo nên giá trị của doanh nghiệp luôn có sựthay đổi, luôn có sự tăng lên hay giảm đi, có sự ra đời hay biến mất, chính vì vậygiá trị của một doanh nghiệp cũng thay đổi theo thời gian và giá trị doanh nghiệp làmột khái niệm động
Việc thành lập hay mua bán lại doanh nghiệp thực chất là nhằm tìm kiếm thu nhập từ quyền sở hữu đối với doanh nghiệp đó.
Con người muốn sở hữu doanh nghiệp là vì lợi nhuận Việc sở hữu các tài sản
cố định tài sản lưu động hay sở hữu một bộ máy kinh doanh, chỉ là cách thức, làphương tiện để đạt mục tiêu lợi nhuận mà thôi Tiêu chuẩn để nhà đầu tư đánh giáhiệu quả hoạt động, quyết định bỏ vốn và đánh giá giá trị doanh nghiệp là cáckhoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai
2 Thẩm định giá doanh nghiệp
2.1 Khái niệm về giá trị doanh nghiệp và thẩm định giá doanh nghiệp
2.1.1 Giá trị doanh nghiệp
Giá trị (value) là một khái niệm kinh tế có liên quan đến giá cả, chủ yếu do
người mua và người bán xác định Giá trị là mức giá dự tính sẽ phải trả đối vớihàng hoá hoặc dịch vụ tại một thời điểm nhất định
Giá trị của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền của các khoản thu nhập
mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đầu tư trong suốt quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để xác định được giá trị doanh nghiệp, có thể tiếp cận theo hai cách:
Trang 5 Tiếp cận trực tiếp: Trực tiếp đánh giá các tài sản của doanh nghiệp, bao gồm
cả tài sản hữu hình, tài sản vô hình và định lượng giá trị các yếu tố về tổchức, danh tiếng, thị phần của doanh nghiệp
Tiếp cận gián tiếp: Đánh giá doanh nghiệp thông qua việc lượng hóa cáckhoản thu nhập kỳ vọng mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tưtrong suốt thời gian hoạt động còn lại của doanh nghiệp
Với hai cách tiếp cận như vậy, trên thế giới hiện nay có nhiều phương phápxác định giá trị doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên kết quả xác định giá trị doanhnghiệp thường có sự chênh lệch lớn thậm chí ngay cả khi sử dụng cùng mộtphương pháp vì kết quả đó phụ thuộc rất lớn vào độ chính xác của các tham số tínhtoán Do vậy mỗi phương pháp đưa ra đều có những thích ứng đối với từng hoàncảnh cụ thể của mỗi doanh nghiệp và tầm nhìn của nhà đầu tư Không thể có mộtphương pháp chung phù hợp cho mọi doanh nghiệp nên việc lựa chọn phương phápnào đó để áp dụng thống nhất cho mọi doanh nghiệp là điều khó thực hiện và sẽnảy sinh nhiều mâu thuẫn Thẩm định giá là một môn khoa học có tính nghệ thuậtước tính cao chứ không hẳn là một khoa học chính xác Kết quả xác định giá trịdoanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của nhà thẩm định, điều quantrọng là quá trình định giá phải thực hiện một cách thống nhất và kết quả định giá
sẽ được sử dụng một cách hữu ích nhất
2.1.2 Thẩm định giá doanh nghiệp
Thẩm định giá doanh nghiệp: là việc ước tính giá trị của doanh nghiệp haylợi ích của nó theo một mục đích nhất định bằng cách sử dụng các phương phápthẩm định giá phù hợp
Nói cách khác, thẩm định giá doanh nghiệp là quá trình đánh giá hay ướclượng giá trị thị trường của các quyền và lợi ích mang lại từ sở hữu doanh nghiệp
cho chủ doanh nghiệp Quá trình này do thẩm định viên chuyên nghiệp tiến hành.
2.2 Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp
Xác định giá trị doanh nghiệp là sự ước tính với độ tin cậy cao nhất cáckhoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh,làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch thông thường của thị trường
Trang 62.2.1.Giá trị thị trường
Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trênthị trường vào thời điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn sàng mua
và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch mua bán khách quan vàđộc lập, trong điều kiện thương mại bình thường:
+ “Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bántrên thị trường ” là số tiền ước tính để tài sản có thể được mua, bán trên thị trườngtrong điều kiện thương mại bình thường mà sự mua bán đó thoả mãn những điềukiện của thị trường tại thời điểm thẩm định giá
+ “vào thời điểm thẩm định giá ” là ngày, tháng, năm cụ thể khi tiến hànhthẩm định giá, được gắn với những yếu tố về cung, cầu, thị hiếu và sức mua trên thịtrường khi thực hiện thẩm định giá trị tài sản
+ “giữa một bên là người mua sẵn sàng mua ” là người đang có khả năngthanh toán và có nhu cầu mua tài sản được xác định giá trị thị trường
+ “và một bên là người bán sẵn sàng bán ” là người bán đang có quyền sởhữu tài sản (trừ đất đai), có quyền sử dụng đất có nhu cầu muốn bán tài sản vớimức giá tốt nhất có thể được trên thị trường
+ “Điều kiện thương mại bình thường” là việc mua bán được tiến hành khicác yếu tố cung, cầu, giá cả, sức mua không xảy ra những đột biến do chịu tác độngcủa thiên tai, địch họa; nền kinh tế không bị suy thoái hoặc phát triển quá nóng…;thông tin về cung, cầu, giá cả tài sản được thể hiện công khai trên thị trường
Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường công khai vàcạnh tranh Thị trường này có thể là thị trường trong nước hoặc thị trường quốc tế,
có thể bao gồm nhiều người mua, người bán hoặc bao gồm một số lượng hạn chếngười mua, người bán
Giá trị thị trường thể hiện mức giá ước tính mà trên cơ sở đó, bên bán và bênmua thoả thuận tại một thời điểm sau khi cả hai bên đã khảo sát, cân nhắc đầy đủcác cơ hội và lựa chọn tốt nhất cho mình từ các thông tin trên thị trường trước khiđưa ra quyết định mua hoặc quyết định bán một cách hoàn toàn tự nguyện, khôngnhiệt tình mua hoặc nhiệt tình bán quá mức
Trang 72.2.2 Giá trị phi thị trường
Giá trị phi thị trường là số tiền ước tính của một tài sản dựa trên việc đánh giáyếu tố chủ quan của giá trị nhiều hơn là dựa vào khả năng có thể mua bán tài sảntrên thị trường
Cơ sở của việc đưa ra khái niệm giá trị phi thị trường cũng xuất phát trực tiếp
từ khái niệm giá trị tài sản: là biểu hiện bằng tiền về những lợi ích mà tài sản manglại cho chủ thể nào đó tại một thời điểm nhất định
Sau đây một số khái niệm giá trị phi thị trường thường dùng:
- Giá trị còn lại (salvage value): là giá trị của tài sản (bao gồm cả đất đai)
không còn được tiếp tục sửa chữa hay sử dụng nữa Giá trị này có thể coi như giátrị ròng của chi phí dỡ bỏ Trong mọi trường hợp, khi định giá tài sản cần xác định
rõ những bộ phận dỡ bỏ và những bộ phận còn lại của tài sản
- Giá trị tài sản bắt buộc phải bán (forcedsale value): là tổng số tiền hợp lý
có thể thu về từ bán tài sản trong phạm vị thời gian quá ngắn so với thời gian trungbình cần có để giao dịch mua bán theo giá trị thị trường Tại một số nước, giá trị tàisản bắt buộc phải bán có thể liên quan đến tình huống người bán tài sản chưa sẵnsàng bán và người mua tài sản biết rõ việc chưa sẵn sàng bán đó
- Giá trị đặc biệt (special value): là khái niệm có liên quan đến những yếu tố
đặc biệt có thể làm tăng giá trị tài sản lên vượt quá giá trị thị trường Giá trị đặc biệt
có thể nảy sinh khi một tài sản này có thể gắn liền với một tài sản khác về mặt kỹthuật hoặc kinh tế mà sự liên kết đó chỉ thu hút mối quan tâm đặc biệt của một số ítkhách hàng mà không thu hút sự quan tâm của nhiều người Các yếu tố của giá trịđặc biệt có thể nảy sinh khi xem xét yếu tố của giá trị tài sản đang quan tâm hoặcgiá trị đầu tư Thẩm định viên phải phân biệt rõ ràng những thông số và nguyênnhân để vận dụng các khái niệm giá trị nói trên thay vì sử dụng khái niệm giá trị thịtrường
- Giá trị có thể bảo hiểm (insurable value): là giá trị của tài sản quy định
trong hợp đồng bảo hiểm
- Giá trị có thể tính thuế (taxable value): là giá trị trong phạm vi luật pháp
liên quan đến việc thuê mướn hoặc thu thuế tài sản
- Giá trị đầu tư (investment value): là giá trị của một tài sản đối với một số
nhà đầu tư áp dụng cho một dự án đầu tư nhất định Khái niệm này liên quan đến những
Trang 8tài sản riêng biệt với những nhà đầu tư riêng biệt Không nên nhầm lẫn giữa giá trị đầu
tư và giá trị thị trường Giá trị đầu tư của một tài sản có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trịthị trường của tài sản đó
- Giá trị đang sử dụng (Value in use): là giá trị các tài sản khi nói đang được
một người cụ thể sử dụng cho một mục đích nhất định Vì vậy, tài sản đó khôngliên quan đến thị trường Loại giá trị này đóng góp vào một doanh nghiệp với tưcách là một bộ phận của tài sản doanh nghiệp, không tính đến giá trị sử dụng tốtnhất và hiêụ quả nhất của tài sản cũng như số tiền mà tài sản đó mang lại khi nóđược mang ra bán Xét trên góc độ kế toán, giá trị đang sử dụng là giá trị hiện tạicủa luồng tiền mặt ước tính có thể mang lại trong tương lai kể từ khi bắt đầu sửdụng tài sản đến khi thanh lý tài sản
Giá trị doanh nghiệp đang hoạt động (going concern): là giá trị toàn bộ của
một doanh nghiệp Khái niệm này liên quan đến định giá tài sản một doanh nghiệpđang hoạt động mà mỗi bộ phận tài sản cấu thành nên doanh nghiệp đó không thểtách rời và cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trị thị trường
2.3 Các nhân tố tác động tới giá trị doanh nghiệp
2.3.1.Các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh tổng quát:
- Môi trường kinh tế: Bối cảnh kinh tế được nhìn nhận thông qua hàng loạt
các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá cả, tỷ giá ngoại
tệ, tỷ suất đầu tư,…Mặc dù môi trường kinh tế mang tính chất như yếu tố kháchquan nhưng ảnh hưởng của chúng tới giá trị doanh nghiệp lại là sự tác động trựctiếp, mỗi sự thay đổi nhỏ của yếu tố này bao giờ cũng ảnh hưởng tới sự đánh giá vềdoanh nghiệp Ví dụ: Chỉ số giá chứng khoán phản ánh đúng quan hệ cung cầu,đồng tiền ổn định, tỷ giá và lãi xuất có tính kích thích đầu tư sẽ trở thành cơ hội tốtcho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất Ngược lại, sự suy thoái kinh tế, lạmphát phi mã là biểu hiện môi trường tồn tại của doanh nghiệp đang bị lung lay tậngốc
- Môi trường chính trị: Sản xuất kinh doanh chỉ có thể tồn tại và phát triển
trong môi trường có sự ổn định về chính trị nhất định Chiến tranh sắc tộc, tôn giáo,
và những yếu tố trật tự an toàn xã hội khác bao giờ cũng tác động xấu đến mọi mặtđời sống xã hội chứ không riêng gì với sản xuất kinh doanh
Trang 9Các yếu tố của môi trường chính trị có sự gắn bó chặt chẽ như:
+ Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng và chi tiết của hệ thống pháp luật
+ Quan điểm của nhà nước đối với sản xuất kinh doanh được thể hiệnthông qua các văn bản pháp quy như: luật cạnh tranh, sở hữu trí tuệ,…
- Môi trường văn hoá xã hội: Môi trường văn hoá được đặc trưng bởi những
quan niệm, hệ tư tưởng của cộng đồng về lối sống, đạo đức, thể hiện trong quanniệm về nhân cách, văn minh xã hội, thể hiện trong tập quán sinh hoạt và tiêu dùng.Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi, mật độ,
…
- Môi trường khoa học công nghệ: Sự tác động của kỹ thuật - công nghệ đang
làm thay đổi một cách căn bản các điều kiện về quy trình công nghệ và phương thức
tổ chức sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp Đây không chỉ là cơ hội màcòn là thách thức đối với sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp Những áp lực và đe dọa
từ môi trường công nghệ là sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăngcường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe dọa các sản phẩm truyềnthống Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện tại bị lỗi thời và tạo
ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năngcạnh tranh
Môi trường đặc thù
- Quan hệ doanh nghiệp với khách hàng: Thị trường đối với doanh nghiệp
thể hiện bằng yếu tố khách hàng, thông thường khách hàng sẽ chi phối hoạt độngcủa doanh nghiệp Nhưng cũng có trường hợp khách hàng lại bị lệ thuộc vào khảnăng cung cấp của doanh nghiệp Do vậy muốn đánh giá đúng khả năng phát triển
mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xác định tính chất, mức độbền vững và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng và đặc biệt làthị phần hiện tại, thị phần tương lai, doanh số bán ra và tốc độ tiến triển của các chỉtiêu đó qua các chu kỳ kinh doanh
- Quan hệ doanh nghiệp với nhà cung cấp: Doanh nghiệp thường phải trông
đợi sự cung cấp từ phía bên ngoài các loại hàng hoá, nguyên vật liệu, các dịch vụđiện, nước,… Tính ổn định đảm bảo cho sản xuất và tiêu thụ được thực hiện theođúng chỉ tiêu đã đề ra
Trang 10Để đánh giá khả năng đáp ứng các yếu tố đầu vào đảm bảo cho sản xuất kinh doanh
có thể ổn định phải xem xét đến: Sự phong phú của các nguồn cung cấp, số lượng,chủng loại các nguyên liệu có thể thay thế được cho nhau, khả năng đáp ứng lâudài, tính kịp thời, chất lượng và giá cả
- Các hãng cạnh tranh: Sự quyết liệt trong môi trường cạnh tranh được coi
là mối nguy cơ trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp Do đó, đánh giá năng lựccạnh tranh, ngoài việc xem xét 3 tiêu chuẩn: Giá cả, chất lượng sản phẩm và dịch
vụ hậu thương mại còn phải xác định được số lượng doanh nghiệp tham gia cạnhtranh, năng lực thực sự và thế mạnh của họ là gì
- Các cơ quan Nhà nước: Sự hoạt động của doanh nghiệp luôn phải được đặt
dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước như: cơ quan thuế, cơ quanthanh tra, các tổ chức công đoàn…Các tổ chức này có trách nhiệm kiểm tra, giámsát, đảm bảo cho sự hoạt động của doanh nghiệp không vượt ra khỏi những quyước xã hội thể hiện trong luật thuế, luật môi trường,…
Doanh nghiệp có quan hệ tốt đẹp với các tổ chức đó thường là những doanhnghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với xã hội, như nộp thuế đầy đủ, đúnghạn, chấp hành tốt luật lao động,… Đó cũng là biểu hiện của những doanh nghiệp
có tiềm lực tài chính vững mạnh Vì vậy, xác định sự tác động của yếu tố môitrường đặc thù đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn cần phải xem xétchất lượng và thực trạng của doanh nghiệp với các tổ chức đó
2.3.2.Các yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp
- Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp: Khi xác định giá trị doanh
nghiệp, bao giờ người ta cũng quan tâm ngay đến hiện trạng tài sản của doanhnghiệp, vì 2 lý do chủ yếu:
Thứ nhất: Tài sản của một doanh nghiệp là biểu hiện của yếu tố vật chất cầnthiết, tối thiểu đối với quá trình sản xuất kinh doanh Số lượng, chất lượng, trình độ
kỹ thuật và tính đồng bộ của các loạ tài sản là yếu tố quyết định đến số lượng vàchất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra
Thứ hai: Giá trị các tài sản của doanh nghiệp được coi là một căn cứ và làmột sự đảm bảo rõ ràng nhất về giá trị doanh nghiệp Vì thay cho việc dự báo cáckhoản thu nhập tiềm năng thì người sở hữu có thể bán chúng bất cứ lúc nào để nhận
về một khoản thu nhập từ những tài sản đó
Trang 11Chính vì vậy, người ta thường đánh giá cao các phương pháp có liên quantrực tiếp đến việc xác định giá trị tài sản doanh nghiệp
- Vị trí kinh doanh: Được đặc trưng bởi các yếu tố như: địa điểm, diện tích
của doanh nghiệp và các chi nhánh thuộc doanh nghiệp, yếu tố địa hình, thời tiết…
Vị trí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất kinh doanh Ví dụ:Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, được đặt gần
đô thị, các nơi đông dân cư, các trung tâm buôn bán lớn và các đầu mối giao thôngquan trọng có thể đem lại rất nhiều lợi thế cho doanh nghiệp như: Chi phí vậnchuyển, bảo quản, chi phí lưu kho, … Đồng thời doanh nghiệp có những thuận lợilớn để tiếp cận và nắm bắt nhanh chóng nhu cầu, thị hiếu của thị trường, thực hiệntốt các dịch vụ hậu thương mại… Tuy nhiên, với vị trí đó cũng có thể kéo theo sựgia tăng một số khoản chi phí như thuê văn phòng giao dịch thuê lao động…Vì vậy
vị trí kinh doanh cần được coi là một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu khi đưa
ra phân tích, đánh giá giá trị doanh nghiệp
- Uy tín kinh doanh: Uy tín kinh doanh là sự đánh giá của khách hàng về sản
phẩm của doanh nghiệp, nhưng nó lại được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau
từ bên trong doanh nghiệp, như: Do chất lượng sản phẩm cao, do trình độ quản lýkinh doanh giỏi, …
Khi sản phẩm của doanh nghiệp đã được khách hàng đánh giá cao, thì uy tíntrở thành một tài sản thực, chúng có giá và người ta gọi đó là giá trị của nhãn hiêụ.Trong nền kinh tế thị trường, người ta có thể mua bán quyền dán nhãn hiệu của sảnphẩm, quyền dán nhãn hiêụ nhiều khi được đánh giá rất cao Vì vậy, uy tín củadoanh nghiệp được đông đảo các nhà kinh tế thừa nhận là một yếu tố quan trọnggóp phần làm nên giá trị doanh nghiệp
- Trình độ kỹ thuật và tay nghề người lao động: Đây là một yếu tố có ý nghĩa
quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn có thể làm giảm chiphí sản xuất kinh doanh do việc sử dụng hợp lý nguyên liệu… trong quá trình sảnxuất, giảm được chi phí đào tạo, bồi dưỡng, góp phần nâng cao thu nhập cho doanhnghiệp
Đánh giá về trình độ kỹ thuật và tay nghề người lao động không chỉ xem ởbằng cấp, bậc thợ mà điều quan trọng là hàm lượng tri thức có trong mỗi sản phẩm
mà doanh nghiệp sản xuất ra Vì vậy đây cũng được coi là một yếu tố nội tại quyếtđịnh đến giá trị của doanh nghiệp
Trang 12- Năng lực quản trị kinh doanh: Trong điều kiện hiện nay, một doanh nghiệp
muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải có một bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh
đủ mạnh giúp để có thể sự dụng tốt nhất các nguồn lực cho quá trình sản xuất, biếttận dụng mọi tiềm năng và cơ hội nảy sinh, ứng phó một cách linh hoạt với nhữngbiến động của môi trường Vì lý do đó, năng lực quản trị kinh doanh luôn đượcnhắc tới như một yếu tố đặc biệt quan trọng tác động tới giá trị doanh nghiệp
Năng lực quản trị kinh doanh là một yếu tố định tính nhiều hơn là địnhlượng Vì vậy, khi đánh giá cần phải xem xét chúng dưới tác động của môi trường.Ngoài ra năng lực quản trị kinh doanh tổng hợp còn được thể hiện thông qua hệthống các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp Do đó, thực hiện phân tích một cách toàndiện tình hình tài chính trong những năm gần với thời điểm định giá cũng có thểcho phép rút ra những kết luận quan trọng về năng lực quản trị và sự tác động của
nó đến giá trị doanh nghiệp
2.4 Sự cần thiết phải xác định giá trị doanh nghiệp
Với sự phát triển của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán và các thịtrường tài sản khác thì thẩm định giá doanh nghiệp và các lợi ích của nó ngày càngđóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nó cung cấp bức tranh tổng quát về giátrị của một doanh nghiệp, là cơ sở quan trọng phục vụ cho đối tượng sử dụng kếtquả thẩm định giá đưa ra quyết định hợp lý trong các vấn đề chủ yếu sau:
2.4.1 Đối với bản thân doanh nghiệp được thẩm định giá
- Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bắt đầu từnhững năm 90 và đã cho những kết quả tương đối tốt, không ít các doanh nghiệpsau khi cổ phần hóa đã đi vào làm ăn hiệu quả, kinh doanh có lãi, vai trò của ngườilao động được nâng lên, quy mô sản xuất được mở rộng Tính hiệu quả của hoạtđộng này đã phát huy rất rõ và tiến trình đẩy nhanh cổ phần hóa ở nước ta vẫn đangtiếp tục diễn ra Tuy nhiên, vấn đề xác định giá trị phần vốn góp nhà nước tại doanhnghiệp hiện vẫn đang còn nhiều tranh cãi và là bước cản lớn nhất trong cả tiếntrình, do đó, việc nâng cao chất lượng công tác định giá sẽ tạo điều kiện thuận lợinhất cho hoạt động cổ phần hóa của doanh nghiệp diễn ra được nhanh chóng hơn
- Thẩm định giá doanh nghiệp xuất phát từ yêu cầu của hoạt động mua bán,sáp nhập, hợp nhất hoặc chia nhỏ các doanh nghiệp Đây là loại giao dịch diễn ra
có tính chất thường xuyên và phổ biến trong cơ chế thị trường, phản ánh nhu cầu vềđầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh, nhu cầu tài trợ cho sự tăng trưởng và phát
Trang 13triển bằng các yếu tố bên ngoài, nhằm tăng cường khả năng tồn tại trong môitrường tự do cạnh tranh Để thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏi phải có sự đánh giátrên một phạm vi rộng lớn các yếu tố tác động tới doanh nghiệp, trong đó giá trịdoanh nghiệp là một yếu tố có tính chất quyết định, là căn cứ trực tiếp để người tathương thuyết với nhau trong tiến trình giao dịch mua bán, sáp nhập, hợp nhất, chianhỏ doanh nghiệp.
- Thẩm định giá doanh nghiệp để vay ngân hàng: Nhu cầu mở rộng đầutư,mua sắm mới các trang thiết bị và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế hiện nay là rất lớn Để có được nguồn vốntài trợ cho các nhu cầu đó, doanh nghiệp thường tìm đến các ngân hàng, các tổchức tín dụng để vay Tuy nhiên một đòi hỏi tất yếu là khoản tiền cho vay cần đượcđảm bảo bởi chính tài sản của doanh nghiệp Từ đó nảy sinh nhu cầu thẩm định giátài sản, thẩm định giá trị doanh nghiệp để làm cơ sỏ cho việc vay vốn của ngânhàng
2.4.2 Đối với các nhà quản trị
Giá trị doanh nghiệp là loại thông tin quan trọng để các nhà quản trị phântích, đánh giá trước khi ra các quyết định về kinh doanh và tài chính có liên quanđến doanh nghiệp được đánh giá Giá trị doanh nghiệp phản ánh năng lực tổng hợp,phản ánh khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Căn cứ vào đây các nhàquản trị có thể thấy được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình, khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp khác Theo đó, giá trị doanh nghiệp là một căn cứthích hợp, là cơ sở để đưa ra các quyết định về kinh doanh, về tài chính… một cáchđúng đắn
2.4.3 Đối với các nhà đầu tư
Trong cách nhìn của các nhà đầu tư, của người cung cấp, thông tin về giá trịdoanh nghiệp cho người ta một sự đánh giá tổng quát về uy tín kinh doanh, về khảnăng tài chính và vị thế tín dụng để từ đó có cơ sở đưa ra các quyết định về đầu tư,tài trợ hoặc có tiếp tục cấp tín dụng cho doanh nghiệp nữa hay không
2.4.4 Đối với nền kinh tế nói chung
Trên phương diện quản lý nền kinh tế vĩ mô, thông tin về giá trị doanhnghiệp là một căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức, cáchiệp hội kinh doanh chứng khoán đánh giá tính ổn định của thị trường, nhận dạng
Trang 14hiện tượng đầu cơ, thao túng thị trường, thâu tóm quyền kiểm soát doanh nghiệp …
để từ đó có thể đưa ra các chính sách điều tiết thị trường một các phù hợp
Có thể nói, các hoạt động quản lý và những giao dịch kinh tế thông thườngtrong cơ chế thị trường đã đặt ra yêu cầu cần thiết phải xác định giá trị doanhnghiệp Chúng là mối quan tâm của cả ba loại chủ thể, đó là: Nhà nước, nhà đầu tư
và nhà quản trị doanh nghiệp Định giá doanh nghiệp vì vậy là một đòi hỏi tất yếuđối với các quốc gia muốn xây dựng và phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường.Đối với Việt Nam, nền kinh tế mới được chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tậptrung sang cơ chế thị trường, những nỗ lực cải cách nền kinh tế đã được thế giớicông nhận và đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thì nhu cầu xácđịnh giá trị doanh nghiệp và xác định giá trị doanh nghiệp như thế nào càng trở nêncấp thiết vì trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xác định giá trịdoanh nghiệp còn là một bước đi quan trọng để các quốc gia tiến hành cải cáchdoanh nghiệp Nhà nước, như: cổ phần hoá, sát nhập, hợp nhất hay giao, bán, khoán
và cho thuê nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp này, để
đủ sức đứng vững và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang hộinhập một cách mạnh mẽ, sức ép cạnh tranh ngày càng lớn
2.5 Thẩm định giá doanh nghiệp bằng phương pháp Tài sản
2.5.1 Cơ sở lý luận:
Phương pháp này còn gọi là phương pháp giá trị nội tại hay mô hình địnhgiá tài sản, được xây dựng dựa trên các nhận định:
- Doanh nghiệp về cơ bản giống như một loại hàng hoá thông thường
- Sự hoạt động của doanh nghiệp bao giờ cũng được tiến hành trên cơ sởmột lượng tài sản có thực Những tài sản đó là sự hiện diện rõ ràng và cụ thể về sựtồn tại của doanh nghiệp, chúng cấu thành thực thể của doanh nghiệp
- Tài sản của doanh nghiệp được hình thành bởi sự tài trợ vốn của các nhàđầu sản xuất kinh doanh từ ngay khi thành lập doanh nghiệp Cơ cấu nguồn tài trợ
để hình thành tài sản là sự khẳng định và thừa nhận về mặt pháp lý các quyền sởhữu và lợi ích của các nhà đầu tư đối với tài sản đó
Chính vì vậy, giá trị của doanh nghiệp được tính bằng tổng giá trị thị trườngcủa số tài sản mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào SXKD
2.5.2 Phương pháp xác định:
Trang 15Tổng giá trị tài sản trong doanh nghiệp thường không chỉ thuộc về người chủ
sở hữu doanh nghiệp mà chúng còn được hình thành trên các trái quyền khác, như:các trái chủ cho doanh nghiệp vay vốn, tiền lương chưa đến kỳ hạn trả, thuế chưađến kỳ hạn nộp, các khoản ứng trước của khách hàng, các khoản bán chịu của nhàcung cấp, các tài sản đi thuê…Do vậy, mặc dù giá trị doanh nghiệp được coi là tổnggiá trị các tài sản cấu thành, nhưng để thực hiện một giao dịch mua bán doanhnghiệp, người ta phải xác định giá trị tài sản thuần- thuộc chủ sở hữu doanh nghiệp
Theo đó, công thức tổng quát được xây dựng như sau:
V0 = Vt - VN (1.1)
Trong đó:
+ V0: Giá trị tài sản thuần thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp
+ Vt: Tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng vào SXKD.+ VN: Giá trị các khoản nợ
Dựa theo công thức (1.1), người ta suy diễn ra hai cách tính cụ thể về giá trịtài sản thuần( V0) như sau:
- Cách thứ nhất: Dựa vào số liệu về tài sản và cơ cấu nguồn vốn phản ánh
trên bảng cân đối kế toán tại thời điểm đánh giá để xác định bằng cách: lấy tổng giátrị tài sản trừ đi các khoản nợ phải trả bên nguồn vốn
+ Đây là một cách tính toán đơn giản, dễ dàng Nếu như việc ghi chép phảnánh đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, doanh nghiệp chấp hành tốt các quyđịnh của chế độ kế toán thì giá trị tài sản thuần tính toán được sẽ là số liệu có độ tincậy về số vốn theo sổ sách của chủ sở hữu đang được huy động vào sản xuất kinhdoanh Nó chỉ ra mức độ độc lập về mặt tài chính, khả năng tự chủ trong việc điềuhành sản xuất kinh doanh của chủ doanh nghiệp, là căn cứ thích hợp để các nhà tàitrợ đánh giá khả năng an toàn của đồng vốn đầu tư, đánh giá vị thế tín dụng củadoanh nghiệp
+ Mặc dù người ta có thể đánh giá giá trị doanh nghiệp theo nhiều cách khácnhau Song, theo cách này , các bên liên quan có thể thấy được rằng đầu tư vàodoanh nghiệp luôn luôn được đảm bảo bằng giá trị của các tài sản hiện có trongdoanh nghiệp
Tuy nhiên, giá trị doanh nghiệp xác định theo phương pháp này cũng chủyếu là những thông tin, số liệu mang tính lịch sử có tính chất tham khảo trong quá
Trang 16trình vận dụng các phương pháp khác nhằm tính toán và xác định ra giá trị doanhnghiệp một cách sát đúng hơn.
- Cách thứ hai: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường.
Ngay cả khi doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ kế toán do Nhà nước quyđịnh thì thì số liệu trên bảng cân đối kế toán được lập vào thời điểm nào đó cũngkhông phản ánh đúng giá trị thị trường của toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp vìcác lý do sau:
+ Toàn bộ giá trị của các tài sản phản ánh trên bảng cân đối kế toán là những
số liệu được tập hợp từ các sổ kế toán, các bảng kê…Các số liệu này phản ánhtrung thực các chi phí phát sinh tại thời điểm xảy ra các nghiệp vụ kinh tế trong quákhứ của niên độ kế toán Đó là những chi phí mang tính lịch sử, không còn phù hợp
ở thời điểm định giá doanh nghiệp, ngay cả khi không có lạm phát
+ Giá trị còn lại của tài sản cố định phản ánh trên sổ sách kế toán cao haythấp phụ thuộc vào việc doanh nghiệp sử dụng phương pháp khấu hao nào, phụthuộc vào thời điểm mà doanh nghiệp xác định nguyên giá và sự lựa chọn tuổi thọkinh tế của tài sản cố định Vì vậy, giá trị tài sản cố định phản ánh trên sổ kế toánthường không phù hợp với giá thị trường tại thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp
+ Trị giá hàng hoá vật tư, công cụ lao động…tồn kho hoặc đang dùng trongsản xuất, một mặt phụ thuộc vào cách sử dụng giá hạch toán là giá mua đầu kỳ,cuối kỳ hay giá thực tế bình quân Mặt khác, còn phụ thuộc vào sự lựa chọn cáctiêu thức phân bổ chi phí khác nhau cho số hàng hoá dự trữ Do vậy, số liệu kế toánphản ánh giá trị của loại tài sản đó cũng không được coi là không có đủ độ tin cậy
ở thời điểm đánh giá doanh nghiệp
Để xác định giá trị tài sản theo giá thị trường, trước hết người ta loại ra khỏidanh mục đánh giá những tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứngcác yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh Sau đó tiến hành đánh giá số tài sảncòn lại trên nguyên tắc sử dụng giá thị trường để tính cho từng tài sản hoặc từngloại tài sản cụ thể, như sau:
+ Đối với tài sản cố định và tài sản lưu động là hiện vật thì đánh giá theo giáthị trường nếu trên thị trường hiện đang có bán những tài sản như vậy Trong thực
tế, thường không tồn tại thị trường tài sản cố định cũ, đã qua sử dụng ở nhiều mức
Trang 17độ khác nhau Khi đó, người ta dựa theo công dụng hay khả năng phục vụ snả xuấtcủa tài sản để áp dụng một tỷ lệ khấu trừ trên giá trị của một tài sản cố định mới.
Đối với tài sản cố định không còn tồn tại trên thị trường thì người ta áp dụngmột hệ số quy đổi so với nhưng tài sản cố định khác loại nhưng có tính năng tươngđương
+ Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm quỹ, đối chiếu số dưtrên tài khoản Nếu là ngoại tệ sẽ được quy đổi về đồng nội tệ theo tỷ giá thị trườngtại thời điểm đánh giá Vàng, bạc, kim khí, đá quý…cũng được tính toán như vậy
+ Các khoản phải thu: Do khả năng đòi nợ của các khoản này có thể ở nhiềumức độ khác nhau Vì vậy, bao giờ người ta cũng bắt đầu từ việc đối chiếu công
nợ, xác minh tính pháp lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản phải thu nhằm loại ranhững khoản mà doanh nghiệp không có khả năng đòi được hoặc khả năng đòiđược là quá mong manh
+ Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp: Về mặt nguyên tắcphải thực hiện đánh giá một cách toàn diện về giá trị đối với các doanh nghiệp hiệnđang sử dụng các khoản đầu tư đó Tuy nhiên, nếu các khoản đầu tư này không lớn,người ta thường trực tiếp dựa vào giá thị trường của chúng dưới hình thức chứngkhoán hoặc căn cứ vào số liệu của bên đối tác liên doanh để xác định theo cách thứnhất đã đề cập ở trên
+ Đối với các tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản: tính theo phươngpháp chiết khấu dòng thu nhập trong tương lai
+ Các tài sản vô hình: Theo phương pháp này người ta chỉ thừa nhận giá trịcủa các tài sản vô hình đã được xác định trên sổ kế toán và thường không tính đếncác lợi thế thương mại của doanh nghiệp
Sau cùng giá trị tài sản thuần được tính bằng cách lấy tổng giá trị của các tàisản đã được xác định trừ đi các khoản nợ phản ánh ở bên nguồn vốn của bảng cânđối kế toán và khoản tiền thuế tính trên giá trị tăng thêm của tài sản được đánh giálại tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp
2.5.3 Quy trình tiến hành
Bước 1: Xác định và xây dựng bảng cân đối dựa trên chi phí
Bước 2: Xác định các loại tài sản và nguồn vốn cần phải định giá lại và điềuchỉnh
Trang 18Bước 3: Xác định các tài sản vô hình và các tài sản đặc biệt khác cần nhận diện
và định giá
Bước 4: Xác định các tài sản ngoài bảng cân đôi và cá nguồn vốn đặc biệt kháccần nhận diện và định giá
Bước 5: Xác định giá trị các tài sản và nguồn vốn đã được xác định ở trên
Bước 6: Xây dựng bảng cân đối định giá trên cơ sở giá trị được xác định trongcác bước trên
Trong quá trình xác định và điều chỉnh giá trị từng loại tài sản trong bảng cân đối
kế toán, thẩm định viên có thể áp dụng nhiều cách tiếp cận, phương pháp như: tiếpcận thu nhập, tiếp cận so sánh thị trường hay tiếp cận tài sản theo chi phí…
2.5.4 Ưu , nhược điểm của phương pháp Tài sản
* Ưu điểm của phương pháp Tài sản
Phương pháp tài sản đã chứng minh được: Giá trị doanh nghiệp là một lượngtài sản có thật, bao gồm các tài sản hữu hình là tổng tài sản như bất động sản, máymóc thiết bị, công cụ dụng cụ, hàng tồn kho,…mà doanh nghiệp đang sử dụng vàosản xuất kinh doanh và tài sản vô hình của doanh nghiệp như lợi thế kinh doanh,giá trị thương hiệu của doanh nghiệp…
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp nhỏ, ít tài sản vô hình
* Nhược điểm của phương pháp Tài sản:
Phương pháp tài sản đòi hỏi tiêu tốn nhiều thời gian , công sức, chi phí chothẩm định giá Nó cũng đòi hỏi có sự tham gia của nhiều chuyên gia, chuyên viênthẩm định giá của các lĩnh vực khác nhau, điều này làm tăng chi phí và thời gianthẩm định Hơn nữa, trong một số tình huống nhạy cảm, người ta hạn chế sự thamgia của quá nhiều người trong thẩm định giá
Phương pháp tài sản sử dụng trong xác định giá trị cả tài sản hữu hình và tàisản vô hình của doanh nghiệp Rất nhiều tài sản vô hình đòi hỏi sử dụng các tiếpcận thu nhập Bởi vậy, các giá trị ước tính của các tài sản này phụ thuộc vào cácbiến phản ánh thu nhập kinh tế được vốn hoá của nó
Phương pháp Tài sản áp dụng khi đánh giá giá trị doanh nghiệp trong trạngthái tĩnh, đồng thời cũng không xây dựng được những cơ sở thông tin đánh giá vềtriển vọng sinh lời của doanh nghiệp
Trang 191.1.1 Khái quát chung về công ty
Công ty cổ phần thẩm định giá và dịch vụ tài chính Hà Nội có tên giao dịchquốc tế là Hanoi Valuation and Finance services joint stock company (VFS) tiềnthân là Trung tâm tư vấn dịch vụ thẩm định giá và bán đấu giá tài sản, được UBNDthành phố Hà Nội và Sở kế hoạch đầu tư TPHN cấp giấy phép hành nghề,giấy chứngnhận đăng kí kinh doanh và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp VN từ ngày15/08/2008 Công ty đặt trụ sở tại số 37 Lý Thường Kiệt - Hoàn Kiếm - Hà Nội
VFS là công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, chuyên cung cấpcác dịch vụ về thẩm định giá tài sản, môi giới, bán đấu giá tài sản , tư vấn tàichính… Với đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, năng động, sang tạo, có nhiều kinhnghiệm trong lĩnh vực thẩm định giá, VFS luôn đứng trong nhóm đầu các công tythẩm định giá có uy tín và chất lượng trong địa bàn Hà Nội nói riêng và trên cả nướcnói chung, được Bộ Tài chính xác nhận
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Quá trình hình thành và phát triển của công ty được chia làm hai giai đoạn: Giaiđoạn đầu từ khi thành lập đến năm 2008, giai đoạn sau là từ cuối năm 2008 đếnnay
Giai đoạn đầu ( từ khi thành lập đến tháng 8 năm 2008)
Thực hiện chương trình cải cách hành chính, để tách bạch chức năng hoạt độngdịch vụ tài chính ra khỏi cơ quan quản lý Nhà nước; Sở Tài chính đã xây dựng đề ánthành lập Trung tâm tư vấn dịch vụ thẩm định giá và bán đấu giá tài sản và đã đựợcUBND thành phố Hà Nội phê chuẩn ban hành Quyết định số 40/2005/QĐ-UB ngày
Trang 2005/4/2005 về việc thành lập Trung tâm tư vấn dịch vụ thẩm định giá và bán đấu giátài sản Trực thuộc Sở Tài chính Hà Nội.
Trung tâm có chức năng giúp Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội trong lĩnh vựccung cấp thông tin; dịch vụ tư vấn về giá cả; thẩm định giá tài sản và bất động sản;đấu thầu, đấu giá các loại tài sản của các thành phần kinh tế; thẩm định, xác định gíatrị tài sản doanh nghiệp Nhà nước; tổ chức bán đấu giá tài sản, bất động sản của Nhànước và các tổ chức cá nhân
Trung tâm là đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí; Trungtâm có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và các ngânhàng; được sử dụng con dấu riêng theo quy định hiện hành của Nhà nước
Ngay từ những ngày đầu mới đựợc thành lập Trung tâm đã nhận được nhiềuhợp đồng dịch vụ thẩm định giá và bán đấu giá tài sản đối với các khách hàng thuộcmọi thành phần kinh tế Với lương tâm trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, bằngnhững kết quả hoạt động và những việc làm cụ thể, Trung tâm đã tạo được niềm tin
và sự tín nhiệm của khách hàng về chất lượng dịch vụ thẩm định giá và bán đấu giátài sản
Giai đoạn 2 ( từ cuối năm 2008 đến nay)
Thực hiện Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 3/8/2005 của Chính phủ vàThông tư số 67/2007/TT-BTC ngày19/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn chuyểnđổi các Trung tâm thẩm định giá, Trung tâm có chức năng thẩm định giá sang hoạtđộng theo hình thức doanh nghiệp thẩm định giá Trung tâm đã xây dựng phương ánchuyển đổi sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần và UBND Thành phố HàNội đã có Quyết định số 2263/QĐ-UBND ngày 10/6/2008 Phê duyệt giá trị doanhnghiệp và phương án chuyển đổi Trung tâm tư vấn dịch vụ thẩm định giá và bán đấugiá tài sản sang Công ty cổ phần thẩm định giá và dịch vụ tài chính Hà Nội
Ngày 30/7/2008, Trung tâm tư vấn dịch vụ thẩm định giá và bán đấu giá tàisản đã tổ chức thành công Đại Hội thành lập Công ty cổ phần thẩm định giá và dịch
vụ tài chính Hà Nội.Trung tâm đã báo cáo kết quả Đại hội thành lập Công ty cổ phầnthẩm định giá và dịch vụ tài chính Hà Nội về ban đổi mới và phát triển doanh nghiệpThành phố Hà Nội và ngày 15/8/2008 UBND Thành phố Hà Nội ban hành Quyết định
số 292/QĐ-UBND cho phép Trung tâm tư vấn dịch vụ thẩm định giá và bán đấu giá tàisản chuyển thành Công ty cổ phần Thẩm định giá và dịch vụ tài chính Hà Nội
1.2 Tổ chức bộ máy công ty
Trang 21Từ khi thành lập đến nay, công ty VFS luôn nỗ lực phát triển mở rộng mạnglưới hoạt động, kiện toàn bộ máy, đào tạo và tuyển dụng nhiều cán bộ trẻ năngđộng, nhiệt huyết, có trình độ Công ty quyết tâm phấn đấu để luôn cung cấp nhữngsản phẩm và dịch vụ tốt nhất đáp ứng yêu cầu của khách hàng Công ty coi chấtlượng là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình kinh doanh của mình.Sau 4 năm hoạt động, Ban giám đốc và toàn thể cán bộ công ty đã đoàn kết nhất trí,cùng nhau vượt qua khó khăn, chung sức xây dựng Công ty VFS ngày càng lớnmạnh Nguồn nhân lực của công ty được tăng lên cả về chất lượng và số lượng.Đến cuối năm 2011 số cán bộ và nhân viên của Công ty là 29 người, trong đó:
- số Cán bộ có thẻ thẩm định giá viên: 4 người
- số Cán bộ-công nhân viên có thẻ đấu giá viên: 09 người
Sơ đồ 1: Cơ cấu Bộ máy tổ chức của Công ty VFS.
1.3 Các dịch vụ thẩm định giá công ty cung cấp.
Là một trong những doanh nghiệp đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực thẩmđịnh giá, với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, nhiều năm kinh nghiệm, Công tyVFS hoạt động tư vấn tận tình, chu đáo các dịch vụ thẩm định, đảm bảo đáp ứng
Tổng Giám Đốc Chủ tịch hội đồng quản trị Hội Đồng Quản Trị
tổ chức
Phòng thẩm định giá 1
Phòng thẩm định giá 2
Phòng
kế toán tài vụ
Trang 22được mọi nhu cầu thẩm định và để có thể sử dụng kết quả thẩm định được đúngmục đích.
Hiện nay, Công ty VFS đáp ứng được các yêu cầu về thẩm định giá trị tàisản với những mục đích khác nhau của tất cả các khách hàng với điều kiện làkhông trái với quy định của pháp luật hay thuần phong mỹ tục của Việt Nam, cụthể công ty đang thực hiện cung cấp các dịch vụ về thẩm định giá như sau:
Thẩm định giá phục vụ chi tiêu của ngân sách như:
Xác định giá trị quyền sử dụng đất làm cơ sở cho các dự án đầu tư nộptiền sử dụng đất
Thẩm định giá dự toán xây dựng, mua sắm thiết bị bằng nguồn vốn đầutư
Thẩm định dự toán đầu tư, sửa chữa nhỏ, mua sắm bằng nguồn vốn chốngxuống cấp, chi thường xuyên, nguồn thu sự nghiệp, tự có, xã hội hoá
Tham khảo, làm cơ sở để thanh toán trực tiếp nếu không phải tổ chức đấuthầu theo Luật Đấu thầu
Làm giá trần để tổ chức đấu thầu mua sắm mới
Làm giá sàn để tổ chức bán đấu giá tài sản đã qua sử dụng
Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá
Tài sản của doanh nghiệp nhà nước cho thuê, chuyển nhượng, bán, gópvốn, cổ phần hóa, giải thể và các hình thức chuyển đổi khác theo quyđịnh của pháp luật
Tài sản của Nhà nước cho thuê, chuyển nhượng, bán, góp vốn và các hìnhthức chuyển quyền khác
Tài sản được mua bằng toàn bộ hoặc một phần từ nguồn ngân sách NN
Các yêu cầu thẩm định khác
Thẩm định giá phục vụ cho các doanh nghiệp:
Thẩm định giá trị doanh nghiệp để mua bán; góp vốn, liên doanh liên kết
Xác định giá trị tài sản, hàng hoá để làm cơ sở nộp các loại thuế như thuếnhập khẩu, trước bạ …
Trang 23 Xác định giá trị tài sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi chuyển đổi
mô hình từ hộ kinh doanh hoặc của hộ gia đình tham gia, đầu tư dưới cáchình thức theo Luật Doanh nghiệp trong trường hợp các tài sản gópkhông có hồ sơ gốc
Xác định giá trị tài sản trong các doanh nghiệp đang hoạt động nhưngkhông có hồ sơ gốc, thiếu cơ sở cho phép ghi tăng giá trị tài sản để tínhkhấu hao, hao mòn trong quá trình sản xuất, kinh doanh
Xác định năng lực tài chính cho tổ chức cá nhân khi thành lập các doanhnghiệp phải có đủ vốn pháp định
Thực hiện chức năng giám định tài chính trong xác định giá trị tài sảntranh chấp theo Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Thương mại, Luật Giải thể,Luật Phá sản, Luật Hợp tác xã …
Xác định giá trị tài sản đảm bảo thi hành án theo Luật Thi hành Án Dânsự
Xác định giá trị tài sản, hàng hoá đảm bảo sử dụng trong hoạt động tíndụng, ngân hàng
Xác định giá trị tài sản, hàng hoá đảm bảo để làm cơ sở tính bảo hiểm,cầm cố, thế chấp, bảo lãnh; giá trị thiệt hại đảm bảo bồi thường trong bảohiểm, tranh chấp thương mại
Thẩm định giá trị tài sản để vay vốn, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh…
Các yêu cầu thẩm định khác: Thẩm định giá các loại tài sản:
Tài sản hữu hình: Máy móc thiết bị, dây chuyền thiết bị công nghiệp; Thiết bị
y tế; Thiết bị truyền thông, truyền hình; Phương tiện vận tải; Vật tư thiết bị
Trang 24công nghiệp, dân dụng; Thiết bị trường học; hàng hoá, vật tư, công cụ dụng
Dự án đầu tư: Thẩm định giá trị dự toán, thẩm định giá trị quyết toán côngtrình, giá trị dự án, tư vấn đầu tư, tư vấn đấu thầu,
Bán các loại tài sản khác theo yêu cầu của mọi thành phần kinh tế
Trang 252.1.1 Căn cứ xác định giá trị doanh nghiệp
Tại VFS thì phương pháp áp dụng chủ yếu để xác định giá trị doanh nghiệp
là phương pháp tài sản theo giá thị trường có tính đến lợi thế kinh doanh dựa trêncác căn cứ:
- Căn cứ Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03/8/2005 của Chính phủ vềThẩm định giá;
- Căn cứ Thông tư số 17/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 của Bộ Tài chínhhướng dẫn thực hiện Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03/8/2005 của Chính phủ
về Thẩm định giá;
- Căn cứ các Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành
Trang 26- Căn cứ Hợp đồng thẩm định giá số /HĐ-TĐG-VFS ngày giữa Công
ty X với Công ty VFS về việc xác định giá trị doanh nghiệp Công ty X tại thờiđiểm Y
- Căn cứ Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ vềviệc chuyển Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty Cổ phần và các quyđịnh khác của Bộ ngành có liên quan đến công tác xác định giá trị doanh nghiệp
- Căn cứ Thông tư số 146/2007/NĐ-CP ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính
về hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển Doanhnghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ
- Và các văn bản, các tài liệu liên quan khác tuỳ vào từng loại hình, ngànhnghề kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.2 Trình tự tiến hành
Căn cứ vào tình hình của doanh nghiệp định giá, sau khi đi đến những thỏathuận và ký kết hợp đồng, công việc thẩm định sẽ được tiến hành như sau:
a Công tác chuẩn bị
- Xem xét việc chuẩn bị và giao nhận tài liệu tại văn phòng doanh nghiệp
- Kiểm tra, sắp xếp tài liệu liên quan
- Yêu cầu cung cấp tài liệu bổ sung (nếu thiếu)
b Các bước thực hiện
- Kiểm kê, xác định giá trị tài sản: Kiểm kê, xác định số lượng và chất lượngcủa tài sản đang sử dụng thực tế tại doanh nghiệp; Xác định tài sản thừa thiếu sovới sổ sách và bảng kê của doanh nghiệp; Đánh giá hiện trạng hoạt động, tìnhtrạng kỹ thuật và giá trị còn lại của tài sản; Tham khảo giá trị thực tế của tài sảntrên thị trường khu vực
- Làm rõ và thông qua với khách hàng các vấn để: Nhận giao hay thuê đất đốivới từng khu đất; Làm rõ các khoản đầu tư vào công ty con, liên doanh, liên kết,đầu tư dài hạn khác có tiếp tục được kế thừa và sử dụng…
- Xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp: Kiểm tra việc tổng hợp, phân loạitài sản đã kiểm kê theo các nhóm: Tài sản có nhu cầu sử dụng, Tài sản không cầndùng, Tài sản ứ đọng, Tài sản chờ thanh lý, Tài sản hình thành từ quỹ khen thưởng
Trang 27phân loại công nợ; Đánh giá và xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp có nhucầu sử dụng theo chế độ Nhà nước; Xem xét toàn bộ tình hình tài sản; Xem xét cáckhoản nợ phải thu khó đòi; Xem xét các khoản nợ phải trả; Xem xét các khoản dựphòng và lãi chưa phân phối; Xem xét tài sản vốn góp liên doanh, liên kết; Xemxét số dư bằng tiền của các quỹ; Tính toán giá trị quyền sử dụng đất…
- Tập hợp số liệu làm việc với doanh nghiệp và các đơn vị có liên quan
2.1.3 Kết thúc hợp đồng thẩm định giá
Đây là giai đoạn cuối của quá trình thẩm định và có ý nghĩa rất quan trọng đốivới cuộc thẩm định Trong giai đoạn này công ty thực hiện những công việc sau:
- Hoàn thiện giấy tờ : Sau khi hoàn thành công việc, các thành viên trongnhóm thẩm định phải hoàn thiện giấy tờ làm việc của mình Trưởng nhóm tiếnhành xoát xét, nếu có sai sót thì phải bổ xung để hoàn thiện hồ sơ định giá
- Dự thảo hồ sơ định giá: Thẩm định viên tiến hành lập hồ sơ thẩm định giá
Hồ sơ bao gồm: Báo cáo kết quả xác định doanh nghiệp ( phụ lục kèm theo báocáo như các bảng kiểm kê, bảng tổng hợp, biên bản xác định giá trị còn lại củatài sản của doanh nghiệp); Chứng thư thẩm định giá; các tài liệu văn bản kháckèm theo
Dự thảo này sẽ được soát xét cả về nội dung và hình thức trước khi gửi cho đơn
và người đọc có thể bao quát được
Theo tiêu chuẩn số 03 -“Những quy tắc đạo đức hành nghề thẩm định giá tài sản” trong hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam ban hành kèm theo quyết
Trang 28định số 24/2005/QĐ-BTC ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính thì vấn đề giữ bí mật thông tin, dữ liệu thực tế của khách hàng hay kết quả thẩm định giá rất quan trọng Nó là một trong 5 tiêu chuẩn về đạo đức đối với doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá và thẩm định viên phải tuân thủ Do vậy mà trong ví
dụ dưới đây thì em xin được thay đổi tên và số liệu công ty
Xác định giá trị doanh nghiệp bằng phương pháp Tài sản: Thẩm định giá công ty cổ phần Đại Thắng
2.2.1 Xác định tổng quan về Doanh nghiệp và phương pháp Thẩm định giá
a Xác định khách hàng
Khách hàng đề nghị thẩm định: Công ty Cổ phần Đại Thắng
Thời điểm thẩm định: ngày 08/01/2011
Mục đích thẩm định: Kết quả thẩm định giá để Công ty Cổ phần ĐạiThắng tham khảo, làm cơ sở xác định giá khởi điểm để bán đấu giá toàn bộ cổ phầnthuộc phần vốn Nhà nước
b Lập đề nghị cung cấp tài liệu
- Gửi bản đề nghị cung cấp tài liệu: Yêu cầu công ty Cổ phần Đại Thắng ( sau đâyđược gọi là Công ty Đại Thắng) cung cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, cácquyết định về cổ phần hóa, biên bản giao đất, báo cáo tài chính năm 2008, 2009,
2010, biên bản kiểm kê tài sản, biên bản đối chiếu công nợ…
- Lập biên bản giao nhận tài liệu
- Kiểm tra và sắp xếp tài liệu
c Cơ sở giá trị của thẩm định giá
Cơ sở giá trị thị trường: Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính
sẽ được mua bán trên thị trường là sô tiền ước tính để tài sản có thể được mua, bántrên thị trường trong điều kiên thương mại bình thường mà sự mua bán đó thoảnmãn những điều kiện của thị trường tại thời điểm thẩm định giá (TCTĐGVN01)
d Các nguyên tắc được sử dụng để thẩm định giá
- Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất
- Nguyên tắc đóng góp
Trang 29- Nguyên tắc thay thế
- Nguyên tắc dự tính lợi ích tương lai
e Phương pháp thẩm định giá
Dựa trên những tài liệu mà công ty Đồng Tháp cung cấp , dựa trên đặc điểmcủa công ty thì áp dụng phương pháp tài sản thuần theo giá thị trường có tính đếngiá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp là phù hợp nhất
2.2.2 Quy trình phân tích và sử lý thông tin
2.2.2.1 Đối với tài sản cố định (TSCĐ) :
Được xác định bằng giá trị còn lại theo tỷ lệ phần trăm so với nguyên giá của tàisản mới mua sắm hoặc mới đầu tư xây dựng :
a Giá trị còn lại được xác định trên cơ sở kết quả kiểm kê, đánh giá thực tếhiện trạng của từng tài sản, đồng thời tham khảo khung thời gian sử dụng tài sảntại Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính
b Nguyên giá mới được xác định như sau:
- Đối với TSCĐ là máy móc thiết bị: Nếu đầu tư trong năm 2010 được lấy theo
giá trị nguyên giá trên Báo cáo tài chính và sổ kế toán tại thời điểm 31/12/2010.Nếu đầu tư từ trước năm 2010 được xác định theo giá cả thực tế trên thị trườngcủa nhóm máy móc thiết bị cùng chủng loại, tham khảo giá mua bán thực tế củamột số Công ty chuyên kinh doanh đối với máy móc thiết bị cùng loại, cùngcông suất hoặc tính năng tương đương và chi phí lắp đặt vận hành thử, thuếnhập khẩu, các chi phí khác (nếu có) Trường hợp không có tài sản tương đương
và báo giá của nhà cung cấp thì tính theo giá tài sản ghi trên sổ kế toán
- Đối với TSCĐ là phương tiện vận tải : Được xác định theo giá cả thị trường tại
thời điểm định giá của những nhà cung cấp phương tiện vận tải theo từng chủngloại và lệ phí trước bạ (nếu có) Trường hợp trên thị trường không có bán sảnphẩm mới tương đương thì tính theo giá tài sản ghi trên sổ kế toán
- Đối với TSCĐ là máy móc thiết bị khác: Nguyên giá mới được xác định tương
tự như đối với TSCĐ là máy móc thiết bị
- Đối với các TSCĐ đã khấu hao thu hồi đủ vốn; công cụ dụng cụ lao động, dụng
cụ quản lý đã phân bổ hết giá trị vào chi phí kinh doanh nhưng Công ty cổ phần vẫn tiếp tục sử dụng : Kiểm kê, xác định lại hiện trạng hoạt động, tình trạng kỹ
Trang 30thuật, chất lượng thực tế của tài sản tại thời điểm định giá Xác định lại giá trịthực tế của tài sản trên cơ sở giá thị trường, tỷ lệ % giá trị còn lại so với nguyêngiá tài sản mới mua sắm nhưng không thấp hơn 20% nguyên giá mới hoặcnguyên giá ghi sổ kế toán Riêng đối với TSCĐ là phương tiện giao thông tiếptục sử dụng thì phải đảm bảo các điều kiện để lưu hành theo qui định của BộGiao thông vận tải.
2.2.2.2 Đối với chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang :
Được xác định theo số liệu trên Báo cáo tài chính và sổ kế toán tại thời điểm31/12/2010 của công ty Đại Thắng
2.2.2.3 Đối với tài sản bằng tiền và các khoản tương đương tiền :
- Đối với giá trị tiền mặt : Lấy theo giá trị trên Biên bản kiểm kê quỹ phù hợp
với số liệu trên Báo cáo tài chính và sổ kế toán tại thời điểm 31/12/2010
- Đối với giá trị tiền gửi Ngân hàng: Lấy theo giá trị trên Giấy báo số dư tiền gửi tại
các Ngân hàng , phù hợp với số liệu trên Báo cáo tài chính và sổ kế toán tại thờiđiểm 31/12/2010
2.2.2.4 Đối với các khoản công nợ phải thu :
Là các khoản nợ phải thu được thể hiện trên Báo cáo tài chính và sổ kế toán củaCông ty tại thời điểm 31/12/2010 đã được đối chiếu xác nhận tới từng đối tượng(nếu có) hoặc đang luân chuyển tại thời điểm định giá Bao gồm trả trước chongười bán, phải thu khác, thuế VAT được khấu trừ
- Thuế GTGT được khấu trừ: Là khoản thuế giá trị gia tăng đầu vào lớn hơn đầu
ra được tích luỹ đến thời điểm 31/10/2010 đang được thể hiện trên sổ chứng từliên quan của Công ty
- Trả trước người bán: Là các khoản Công ty ứng trước cho người bán phù hợp
với sổ kế toán
- Phải thu khác: Là các khoản tiền phải thu của các cá nhân Công ty và khách
hàng phù hợp với sổ kế toán
2.2.2.5 Đối với vật tư, hàng hoá tồn kho :
Được xác định theo Biên bản kiểm kê thực tế vật tư, hàng hoá tồn kho phù hợpvới Báo cáo tài chính và sổ kế toán của Công ty tại thời điểm 31/12/2010
Trang 31- Hàng tồn kho là Nguyên vật liệu: Được xác định theo số dư thực tế trên Báo cáo
tài chính và sổ kế toán của Công ty tại thời điểm 31/12/2010
- Hàng tồn kho là Công cụ, dụng cụ quản lý : Được xác định theo số dư thực tế
trên Báo cáo tài chính và sổ kế toán của Công ty tại thời điểm 31/12/2010
- Hàng tồn kho là hàng hoá : Được xác định theo số dư thực tế trên Báo cáo tài
chính và sổ kế toán của Công ty tại thời điểm 31/12/2010
2.2.2.6 Đối với tài sản ngắn hạn khác :
Là các khoản thuế GTGT được khấu trừ, thuế khác phải thu nhà nước, tạm ứng,các khoản ký cược ký quỹ được xác định theo số dư thực tế trên Báo cáo tài chính
và sổ kế toán của Công ty tại thời điểm 31/12/2010
2.2.2.7 Đối với các khoản công nợ phải trả :
Là các khoản nợ phải trả được thể hiện trên Báo cáo tài chính và sổ kế toán củaCông ty tại thời điểm 31/10/2010 đã được đối chiếu xác nhận tới từng đối tượng(nếu có) hoặc đang luân chuyển tại thời điểm định giá bao gồm: Thuế và các khoảnphải nộp Nhà nước và các khoản phải trả phải nộp khác Tuy nhiên đến thời điểmphát hành báo cáo xác định giá trị doanh nghiệp chúng tôi chưa thu thập được đầy
đủ các thư xác nhận đã gửi đi
- Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước: Được lấy theo số liệu trên báo cáo tài
chính và sổ kế toán tại thời điểm 31/12/2010
- Phải trả phải nộp khác : là các khoản phải trả khác phù hợp với Sổ kế toán của
đơn vị tại thời điểm 31/12/2010
2.2.2.9 Đối với giá trị lợi thế kinh doanh:
Giá trị lợi thế kinh doanh của Công ty được xác định theo 2 phương pháp
sau:
Phương pháp 1: Dựa trên tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
và lãi suất trái phiếu chính phủ
X [
Tỷ suất lợi nhuậnsau thuế trên vốn
NN bình quân 3năm trước thờiđiểm xác định giá
-Lãi suất của tráiphiếu chính phủ kìhạn 5 năm do BộTài chính công bốtại thời điểm gần
]
Trang 32trị doanh nghiệp nhất với thời điểm
xác định giá trịdoanh nghiệp
Trong đó:
Lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm: là 11,9% được lấy theo Thông báo
số 56/BC-SGDHN ngày 28/02/2011 của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội vềkết quả đấu thầu trái phiếu Chính phủ do Kho bạc Nhà nước phát hành, tính theotrái phiếu trả trước;
- Lợi nhuận sau thuế năm 2008, 2009 và năm 2010 để làm căn cứ xác định giá
trị lợi thế kinh doanh của Công ty là tổng lợi nhuận trước thuế trừ (-) thuế thunhập doanh nghiệp;
- Vốn chủ sở hữu bình quân trong 3 năm 2008, 2009 và năm 2010 được lấy theo
vốn chủ sở hữu ghi sổ kế toán và Báo cáo tài chính của Công ty năm 2008,
2009 và năm 2010 (không bao gồm quỹ khen thưởng phúc lợi)
Phương pháp 2: Xác định trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý và giá trị thương hiệu
Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp
=
=
Giá trịthương hiệu
++
Giá trị lợi thế
vị trí địa lý
2.2.3 Phân tích tình hình tài chính công ty Đại Thắng
Công ty Đại Thắng được cổ phần hóa từ Công ty Cổ phần Đại Thắng dướihình thức chuyển đổi (cổ phần hoá) từ doanh nghiệp Nhà nước thành mô hình Công
ty cổ phần theo Thông tư: 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004, hướng dẫn Nghịđịnh số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công tynhà nước thành công ty cổ phần
Tỷ suất lợi nhuận sau
X 100%
Trang 33Công ty Cổ phần Đại Thắng được chính thức chuyển đổi theo quyết định số2867/QĐ-UBND ngày 20/6/2006 của UBND Thành phố và hoạt động theo Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần số 0103013025 ngày 14/7/2006của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp trong đó đăng ký ngành nghềkinh doanh như sau :
- Sản xuất kinh doanh vật tư trang thiết bị phục vụ : công nghiệp cơ khí chế tạo, điện, giao thông vận tải, công nghiệp chế biến các ngành nông, lâm, thuỷ sản
và hàng tiêu dùng;
- Sản xuất kịnh doanh các sản phẩm phục vụ xây dựng và trang trí nội thất
và hàng tiêu dùng;
- Đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng;
- Kính doanh bất động sản, cho thuê văn phòng, nhà ở, và kho bãi (không bao gồm hoạt động tư vấn về giá đất;
- Kinh doanh du lịch, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ vui chơi, giải trí (không bao gồm kinh doanh quán Bar, phòng hát Karaoke, vũ trường);
- Xuất nhập khẩu, đại lý, ký gửi các loại hàng hoá được pháp luật cho phép./.
Lỗ luỹ kế lớn nên khả năng về đảm bảo chi trả lãi vay và nợ dài hạn đến hạntrả của công ty Đại Thắng chỉ đạt được ở mức thấp Nguồn vốn nhà nước trongcông ty được xác định không rõ ràng, do có sự quản lý lỏng lẻo và thiếu minh bạch
từ Hội đồng quản trị
Căn cứ vào Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của Công ty Hợp danh Kiểm toánViệt Nam qua các năm 2008, 2009, Báo cáo tài chính của Công ty Cổ Phần Đại Thắng
Trang 34năm 2010 Sau khi nghiên cứu tài liệu, số liệu được cung cấp, thẩm định viên đã tiếnhành điều chỉnh lại một bút toán đã hạch toán trong năm 2010, cụ thể như sau:
Bảng 2.2: KẾT QUẢ THẨM ĐỊNH BÁO CÁO TÀI CHÍNH NĂM 2010