Văn hóa kinh doanh trong ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế. Văn hóa kinh doanh trong ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế. Văn hóa kinh doanh trong ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế. Văn hóa kinh doanh trong ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế. Lời nói đầu Bất kỳ một hình thái kinh tế nào, việc phát triển nền kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi thúc đẩy xã hội đi lên, cũng như đảm bảo cho chế độ đó tồn tại và phát triển, do vậy mục tiêu phát triển của nền kinh tế là rất quan trọng. Việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế đã áp dụng trong nhiều năm qua đã làm cho Việt Nam ta ngày càng phát triển trên thị trường khu vực và thế giới. Đặc biệt là “Văn hóa kinh doanh trong ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế”. Mặc dù chúng em đã cố gắng học hỏi, nhưng do kiến thức có hạn nên không tránh khỏi còn có nhiều thiếu sót, mong các thầy cô và các bạn góp ý để việc nghiên cứu đề tài này của chúng em được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn Mục lục Lời nói đầu 1 Chương 1 Những vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế 3 1.1 Khái niệm 3 1.2 Vai trò của hợp đồng trong đời sống xã hội 3 2. Khái niệm chung về hợp đồng kinh tế 3 2.1 Khái niệm hợp đồng kinh tế 3 2.2 Đặc điểm hợp đồng kinh tế 3 3 Ký kết hợp đồng kinh tế 4 3.1 Nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế 5 3.2 Căn cứ để kí hợp đồng kinh tế 6 3.3 Thẩm quyền kí kết hợp đồng 6 3.4 Phân tích những điều khoản của hợp đồng kinh tế 7 Chương 2:Áp dụng văn hóa kinh doanh trong kí kết và thực hiện hợp đồng lao động 1. Phương thức kí kết 11 2. Nội dung áp dụng văn hóa kinh doanh 12 2.1. Nguyên tắc áp dụng VHKD 11 2.2 Nội dung áp dụng văn hóa kinh doanh 11 2.3 Thực tiễn thực hiện hợp đồng lao động trong thi công xây dựng 12 An toàn trong thi công lao động Tiền lương và thời gian lao động Tiến độ dự án và chất lượng công trình Bảo hiểm và an sinh xã hội 2.4 Kết quả áp dụng văn hóa kinh doanh trong kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế Chương 3: Làm thế nào để áp dụng tốt hơn văn hóa kinh doanh trong kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế 1Tránh các lỗi trong đàm phán kí kết hợp đồng 16 Yếu tố tổng thể xã hội 16 Yếu tố quan niệm tín ngưỡng, đức tín 16 Nhóm yếu tố văn hóa thẩm mỹ ……………………………………………………..16 2.Hiểu rõ đặc điểm văn hóa của các vung miền cũng như các quốc gia khác nhau 16 Kết luận 20 Tài liệu tham khảo 21 Chương 1 Những vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế 1. Khái niệm chung về hợp đồng 1.1 Khái niệm Hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hoặc nhiều bên bình đẳng với nhau làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong quá trình thực hiện một công việc hay một giao dịch nhất định. 1.2 Vai trò của hợp đồng trong đời sống xã hội Trong đời sống kinh tế xã hội hiện nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng của Nhà nước trong xây dựng và phát triển đời sổng xã hội , nó làm cho lợi ích của mỗi cá nhân, tập thể phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội. Nó xác lập và gắn chật mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân, đơn vị, tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý trong đời sống xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên ký kết, giúp đỡ các bên xây dựng kế hoạch một cách vững chắc, kế hoạch ấy chỉ trở thành phương án thực hiện khi nó được bảo đảm bằng những cam kết hợp đồng. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cụ thế đó chính là việc thực hiện từng phần kế hoạch. Trong pháp luật nước ta qui định gồm nhiều loại hợp đồng tồn tại thuộc lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau như: Hợp đồng dân sự, Hợp đồng kinh tế, Hợp đồng mua bán ngoại thương, Hợp đồng liên doanh, Hợp đồng hợp tác liên doanh, Hợp đồng lao động. 2. Khái niệm chung về hợp đồng kinh tế 2.1 Khái niệm hợp đồng kinh tế Theo điều 1 pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 2591989 thì hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, hay tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản suất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh và thực hiện kế hoạch của mình. 2.2 Đặc điểm hợp đồng kinh tế Về nội dung: Hợp đồng kinh tế được ký kết nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh. Đó là nội dung thực hiện các công việc sản suất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác do chủ thế tiến hành trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình tái sản suất, từ khi đầu tư vốn đến khi tiêu thụ sản phẩm hoặc hoàn thành dịch vụ nhằm sinh lợi hợp pháp. Về hình thức: Hợp đồng kinh tế phải được ký kết bằng văn bản. Đó là bản hợp đồng hay các tài liệu giao dịch mang tính văn bản có chữ ký của các bên xác nhận nội dung trao đối, thoả thuận như công văn, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, giấy chấp nhận... Hợp đồng kinh tế còn mang tính kế hoạch và phản ánh mối quan hệ giữa kế hoạch với thị trường. Hợp đồng kinh tế được ký kết dựa trên định hướng kế hoạch của Nhà nước, nhằm các việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của các đơn vị kinh tế. Trong đó có những hợp đồng kinh tế mà việc ký kết và thực hiện nó phải hoàn toàn tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước. Trong cơ chế quản lý theo phương pháp kế hoạch hoá tập trung thì tính kế hoạch là đặc tính số một của hợp đồng kinh tế. Những đặc điểm của hợp đồng kinh tế giúp ta phân biệt hợp đồng kinh tế và các loại hợp đồng khác như Hợp đồng dân sự, Hợp đồng ngoại thương, Hợp đồng lao động... 3.Ký kết hợp đồng kinh tế 3.1 Nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế Các nguyên tắc ký kết họp đồng kinh tế là những tư tưởng chỉ đạo, có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể khi khi ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế. Các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong Điều 3 pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Trang 1Lời nói đầu
Bất kỳ một hình thái kinh tế nào, việc phát triển nền kinh tế là một trong nhữngvấn đề cốt lõi thúc đẩy xã hội đi lên, cũng như đảm bảo cho chế độ đó tồn tại và pháttriển, do vậy mục tiêu phát triển của nền kinh tế là rất quan trọng
Việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế đã áp dụng trong nhiều năm qua đãlàm cho Việt Nam ta ngày càng phát triển trên thị trường khu vực và thế giới Đặc biệt
là “Văn hóa kinh doanh trong ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế”
Mặc dù chúng em đã cố gắng học hỏi, nhưng do kiến thức có hạn nên khôngtránh khỏi còn có nhiều thiếu sót, mong các thầy cô và các bạn góp ý để việc nghiêncứu đề tài này của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Mục lục
Lời nói đầu 1
Chương 1 Những vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Vai trò của hợp đồng trong đời sống xã hội 3
2 Khái niệm chung về hợp đồng kinh tế 3
2.1 Khái niệm hợp đồng kinh tế 3
2.2 Đặc điểm hợp đồng kinh tế 3
3 Ký kết hợp đồng kinh tế 4
3.1 Nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế 5
3.2 Căn cứ để kí hợp đồng kinh tế 6
3.3 Thẩm quyền kí kết hợp đồng 6
3.4 Phân tích những điều khoản của hợp đồng kinh tế 7
Chương 2:Áp dụng văn hóa kinh doanh trong kí kết và thực hiện hợp đồng lao động 1 Phương thức kí kết 11
2. Nội dung áp dụng văn hóa kinh doanh 12
2.1 Nguyên tắc áp dụng VHKD 11
2.2 Nội dung áp dụng văn hóa kinh doanh 11
2.3 Thực tiễn thực hiện hợp đồng lao động trong thi công xây dựng 12
An toàn trong thi công lao động Tiền lương và thời gian lao động Tiến độ dự án và chất lượng công trình Bảo hiểm và an sinh xã hội 2.4 Kết quả áp dụng văn hóa kinh doanh trong kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế
Chương 3: Làm thế nào để áp dụng tốt hơn văn hóa kinh doanh trong kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế
Trang 31Tránh các lỗi trong đàm phán kí kết hợp đồng 16
Yếu tố tổng thể xã hội 16
Yếu tố quan niệm tín ngưỡng, đức tín 16
Nhóm yếu tố văn hóa thẩm mỹ ……… 16
2.Hiểu rõ đặc điểm văn hóa của các vung miền cũng như các quốc gia khác nhau 16 Kết luận 20
Tài liệu tham khảo 21
1 Khái niệm chung về hợp đồng
1.1 Khái niệm
Hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hoặc nhiều bên bình đẳng với nhau làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong quá trình thực hiện một công việc hay một giao dịch nhất định
1.2 Vai trò của hợp đồng trong đời sống xã hội
Trong đời sống kinh tế xã hội hiện nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng của Nhà nước trong xây dựng và phát triển đời sổng xã hội , nó làm cho lợi ích của mỗi cá nhân, tập thể phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội Nó xác lập và gắn chật mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân, đơn vị, tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý trong đời sống xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên ký kết, giúp đỡ các bên xây dựng kế hoạch một cách vững chắc, kế hoạch ấy chỉ trở thành phương án thực hiện khi nó được bảo đảm bằng những cam kết hợp đồng Việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ cụ thế đó chính là việc thực hiện từng phần kế hoạch
Trong pháp luật nước ta qui định gồm nhiều loại hợp đồng tồn tại thuộc lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau như: Hợp đồng dân sự, Hợp đồng kinh tế, Hợp đồng mua bán ngoại thương, Hợp đồng liên doanh, Hợp đồng hợp tác liên doanh, Hợp đồng lao động
Trang 42 Khái niệm chung về hợp đồng kinh tế
2.1 Khái niệm hợp đồng kinh tế
Theo điều 1 pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 thì hợp đồng kinh tế là
sự thoả thuận bằng văn bản, hay tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thựchiện công việc sản suất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹthuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh và thực hiện kế hoạch của mình
2.2 Đặc điểm hợp đồng kinh tế
- Về nội dung: Hợp đồng kinh tế được ký kết nhằm phục vụ hoạt động kinhdoanh Đó là nội dung thực hiện các công việc sản suất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ,nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác do chủ thế tiến hànhtrong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình tái sản suất, từ khi đầu tư vốn đếnkhi tiêu thụ sản phẩm hoặc hoàn thành dịch vụ nhằm sinh lợi hợp pháp
- Về hình thức: Hợp đồng kinh tế phải được ký kết bằng văn bản Đó là bản hợpđồng hay các tài liệu giao dịch mang tính văn bản có chữ ký của các bên xác nhận nộidung trao đối, thoả thuận như công văn, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, giấy chấpnhận
Hợp đồng kinh tế còn mang tính kế hoạch và phản ánh mối quan hệ giữa kếhoạch với thị trường Hợp đồng kinh tế được ký kết dựa trên định hướng kế hoạch củaNhà nước, nhằm các việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của các đơn vị kinh tế.Trong đó có những hợp đồng kinh tế mà việc ký kết và thực hiện nó phải hoàn toàntuân theo các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước Trong cơ chế quản lý theophương pháp kế hoạch hoá tập trung thì tính kế hoạch là đặc tính số một của hợp đồngkinh tế
Những đặc điểm của hợp đồng kinh tế giúp ta phân biệt hợp đồng kinh tế và cácloại hợp đồng khác như Hợp đồng dân sự, Hợp đồng ngoại thương, Hợp đồng laođộng
3.Ký kết hợp đồng kinh tế
3.1 Nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế
Trang 5Các nguyên tắc ký kết họp đồng kinh tế là những tư tưởng chỉ đạo, có tính chấtbắt buộc đối với các chủ thể khi khi ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế Các nguyêntắc cơ bản được ghi nhận trong Điều 3 pháp lệnh họp đồng kinh tế.
Nguyên tắc tự nguyện
Khi xác lập quan hệ hợp đồng, các bên hoàn toàn tự do ý chí, tự nguyện trongviệc thoả thuận, bày tỏ ý chí và thống nhất ý chí nhằm đạt tới mục đích nhất định Cácbên có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điếm ký kết và các nội dung ký kết Mọi sựtác động làm tính tự nguyện của các bên trong quá trình ký kết như bị cưỡng bức, lừađảo, nhầm lẫn đều làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng kinh tế Nguyên tắc nàythể hiện quyền tự chủ trong tự do ký kết hợp đồng kinh tế của các chủ thể kinh doanhđược Nhà nước đảm bảo Ký kết hợp đồng kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế,quyền này phải gắn liền với những điều kiện nhất định, đó là:
- Không được phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật
- Đối với các đơn vị kinh tế có chức năng sản xuất kinh doanh trongcác thành phần kinh tế thuộc độc quyền của Nhà nước thì không được lợi dụngquyền ký kết hợp đồng kinh tế để đòi hỏi những điều kiện bất bình đẳng, épbuộc, cửa quyền, hoặc vì không đạt được những đòi hỏi bất bình đẳng đó
-Quyền ký kết hợp đồng kinh tế của các đơn vị kinh tế còn được thể hiệnqua việc các dơn vị kinh tế có quyền từ chối mọi sự áp đặt của bất cứ cơ quan,
tố chức, cá nhân nào trong việc ký kết hợp đồng kinh tế
Nguyên tắc tự nguyện trong ký kết hợp đồng kinh tế đánh dấu bước đối mới cănbản trong chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà nước ta, được ghi nhận trong Pháp lệnhhợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989
Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi
Nguyên tắc này là khi ký kết hợp đồng kinh tế, các chủ thể phải đảm bảo trongnội dung của hợp đồng có sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng lợi íchkinh tế của mỗi bên Bất kế các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế nào, do cấpnào quản lý, khi ký kết họp đồng đều bình đang về quyền và nghĩa vụ, cũng có lợi trên
cơ sở thoả thuận và phải chịu trách nhiệm vật chất nếu vi phạm họp đồng đã ký kết
Trang 6Không thế có một hợp đồng kinh tế nào chỉ mang lại lợi ích cho một bên hoặc một bênchỉ có quyền còn bên kia chỉ có nghĩa vụ Một hợp đồng kinh tế đã được ký kết viphạm nguyên tắc bình đẳng thì sẽ ảnh ưởng đến hiệu lực của hợp đồng kinh tế đó.
Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật:
Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản là các bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh tếphải dùng chính tài sản của đơn vị mình đế đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồngkinh tế Tuy nhiên, một chủ thể có thế ký kết hợp đồng kinh tế trong trường hợp đượcmột chủ thể khác đứng ra bảo lãnh về tài sản
Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đổi với việc thực hiện hợp đồng kinh tế vàviệc bảo vệ trật quản lý kinh tế của Nhà nước Một hợp đồng kinh tế chỉ có thể thựchiện một cách nghiêm chỉnh khi nó không trái pháp luật và các bên có khả năng thựchiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình
đế đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả trong việc xây dựng nội dung của hợpđồng kinh tế, khi ký kết hợp đồng các chủ thế cũng phải căn cứ vào các chính sách vàchế độ quản lý kinh tế của Nhà nước
Nhu cầu thị trường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng
Hợp đồng kinh tế phản ánh mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ, luôn gắn liền với sựvận động của thị trường, của quan hệ cung cầu Vì vậy, trong việc ký kết hợp đồngkinh tế, các chủ thế luôn luôn căn cứ vào nhu cầu của thị trường bao gồm các khả năngcung cấp hàng hóa, dịch vụ và nhu cầu cần đáp ứng về hàng hoá, dịch vụ của mình vàcủa bạn hàng
Trang 7 Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động của các chủ thế ký kết:
Khả năng phát triển của sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế là những khảnăng thực tế về tiền vốn, vật tư, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh.Chức năng hoạt động là phạm vi ngành nghề, lĩnh vục kinh tế mà đơn vị đó được tiếnhành hoạt động
Việc ký kết hợp đồng kinh tế không thể bỏ qua được căn cứ này bởi vì nó đảmbảo khả năng thực tế của việc thực hiện hợp đồng, đồng thởi đảm bảo tính cân đối giữakhả năng và nhu cầu, giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa giá trị và hiện vật
Tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng đảm bảo tài sản của các bên ký kết hợp đồng:
Khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, các đơn vị kinh tế phải căn cứ vào nhữngqui định của pháp luật, những yêu cầu khách quan và khả năng chủ quan để xác lậpmối quan hệ kinh tế một cách hợp pháp, có đầy đủ điều kiện đế thực hiện nhằm manglại hiệu quả kinh tế thiết thực cho đơn vị mình và cho xã hội
3.3 Thẩm quyền kí kết hợp đồng
Theo điều 2 pháp lệnh, hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các bên sau đây:
- Pháp nhân với pháp nhân
- Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.Pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ điều kiện sau đây:
- Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng các tài sản đó
- Tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật, có thể trở thành nguyênđơn, bị đơn trước toà án
- Tồn tại độc lập và được pháp luật công nhận là một tổ chức độc lập
- Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật, là người đã đăng
ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nước có thâm quyền theo đúng thủ tục pháp luật quiđịnh và đã được cấp giấy phép kinh doanh
Trang 8Ngoài ra, theo qui định tại Điều 42, Điều 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, nhữngngười làm khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cáthể, tố chức và cá nhân nước ngoài tại Việt Nam cũng được áp dụng các qui định củapháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Quy định trên đây có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc vì nó vừa giúp cho các đơn vịkinh tế có thể linh hoạt trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế lại vừa ràngbuộc trách nhiệm theo nguyên tắc “chịu trách nhiệm cá nhân”
3.4 Phân tích những điều khoản của hợp đồng kinh tế
Theo qui định tại điều 12 Pháp lệnh HĐKT thì nội dung của HĐKT bao gồmnhững điều khoản cụ thể sau:
Ngày tháng năm ký kết hợp đồng kinh tế.
- Tên, địa chỉ, số tài khoản, ngân hàng giao dịch của các bên
- Họ tên người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh doanh
Điều khoản đối tượng của hợp đồng
Tức là các bên trao đối mua bán, giao dịch về cái gì ? công việc gì ? Đối tượngcủa hợp đồng tính bằng khối lượng, số lượng hoặc giá trị quy ước đã thoả thuận
Điều khoản chất lượng
Tức là sự qui định thể hiện những đặc điểm, tính cách, của đối tượng họpđồng, các bên phải thoả thuận cụ thế về chủng loại, quy cách, cách tính, tính đồng bộ,mẫu mã, tiêu chuẩn của sản phẩm, hàng hoá hoặc những yêu cầu ký thuật của côngviệc giao dịch giữa các bên
Điều khoản giá cả
Các bên có thể thoả thuận xác định đơn giá, hoặc giá trị của toàn bộ công việc,thoả thuận những nguyên tắc xác định rõ giá cả
Điều khoản nghiệm thu, giao nhận
Các bên thoả thuận đặt ra các điều kiện để giao nhận sản phẩm, hàng hoá, điều
Trang 9kiện nghiệm thu đối tượng của hợp đồng.
Điều khoản phương thức thanh toán
Các bên được quyền lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp với hoạtđộng kinh doanh, nhưng không trái với qui định của pháp luật hiện hành
Điều khoản trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế
Các bên được thoả thuận trong khung phạt do pháp luật qui định đối với hành vi
vi phạm, hợp đồng kinh tế đối với từng chủng loại hợp đồng kinh tế
Điều khoán thời hạn có hiệu lực của hợp đồng
Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng
Các bên có thể thoả thuận các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng như: Thếchấp tài sản, cầm cổ, bảo lãnh tài sản theo qui định của pháp luật
Các bên có quyền xây dựng những điều khoản thế hiện sự thoả thuận về các vấn đề khác, không trái qui định của pháp luật
- Về phương diện pháp lý, căn cứ vào tính chất, vai trò của các điều khoản,nội dung của hợp đồng kinh tế được xác định thành ba loại với các điều khoản sau:
- Điều khoản chủ yếu: là những điều khoản cơ bản, quan trọng nhất của một hợpđồng bắt buộc phải có trong bất cứ một hợp đồng kinh tế nào, nếu không thì hợp đồng
sẽ không có giá trị pháp lý
Ngoài ra, hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các bên về việc thiết lập, thayđối hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh Do đó,nội dung của hợp đồng kinh tế trước hết là những điều khoản do các bên thoả thuận.Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước vẫn có quyền can thiệp vào nội dung của quan
hệ hợp đồng Chẳng hạn buộc các bên ký kết hợp đồng phải tuân theo những qui địnhbắt buộc về chất lượng sản phẩm để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng
- Điều khoản thường lệ: là những điều khoản đã được pháp luật ghi nhận, nếucác bên không ghi vào các văn bản hợp đồng thì coi như các bên đã mặc nhiên côngnhận và có nghĩa vụ thực hiện những qui định đó, nếu các bên thoả thuận ghi vào vănbản hợp đồng thì không được ghi trái với những điều đã qui định đó, nếu thoả thuận
Trang 10trái pháp luật thì những thoả thuận đó không có giá trị.
Trong mối quan hệ giữa các điều khoản chủ yếu và điều khoản thường lệ củahợp đồng kinh tế thì sự tồn tại của hợp đồng kinh tế không phụ thuộc vào các điềukhoản thường lệ mà chỉ phụ thuộc vào các điều khoản chủ yếu Hai bên không thoảthuận về những điều khoản thường lệ thì hợp đồng kinh tế vẫn cứ hình thành và làmphát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
- Điều khoản tuỳ nghi: là những điều khoản do các bên tự thoảthuận với nhau khi pháp luật cho phép Khi một quy phạm pháp luật qui địnhcác bên có thoả thuận về vấn đề này hay vấn đề khác thì các bên có thế thoảthuận hoặc không thoả thuận, nếu các bên thoả thuận đó là nội dung của hợpđồng các bên phải có trách nhiệm thực hiện
Theo pháp luật về hợp đồng kinh tế của nước ta hiện nay thì những thoả thuận vềbiện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng ( cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh tàisản ) là những điều khoản tuỳ nghi Những điều khoản này chỉ trở thành nội dung hợpđồng nếu các bên trực tiếp thoả thuận với nhau
Tóm lại: các điều khoản của hợp đồng là do các bên thoả thuận, pháp luật khônghạn chế các điều khoản mà các bên thoả thuận, miễn là những thoả thuận đó khôngphải là trái pháp luật Pháp luật chỉ qui định những điều khoản tối thiếu phải có đếchứng tỏ giữa các bên có quan hệ hợp đồng, những điều khoản tối thiểu đó là nhữngđiều khoản chủ yếu trong hợp đồng