1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hút vốn đầu t¬ư trực tiếp (FDI) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 2005- 2010

28 288 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 2005-2010
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 178 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trư¬ởng trong mọi quốc gia. Đối với Việt Nam để đạt đư¬ợc tốc độ tăng trư¬ơng cao và ổn định cần phải có một khối lư¬ơng vốn rất lớn. Vì thế trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, Khả năng tích luỹ còn thấp thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn nư¬ớc ngoài để bổ xung cho tổng vốn đầu từ phát triển có ý nghĩa rất quan trọng, trong đó phải kể đến vốn đầu tư nư¬ớc ngoài (FDI). FDI có vai trò hết sức quan trọng, nó là nguồn bổ xung vốn cho đầu tư¬, là một cách để chuyển giao công nghệ, là một giải pháp tạo việc làm và thu nhập cho ngư¬ời lao động, tạo nguồn thu ngân sách và thúc đẩy nhanh qua trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhận thức đúng vị trí vai trò to lớn của FDI, chính phủ Việt Nam đã cho ban hành chính sách khuyến khích đầu từ nư¬ớc ngoài vào Việt Nam, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư¬ nư¬ớc ngoài vào Việt Nam. Chúng ta thực hiện đa dạng hoá và đa ph¬ương hoá hợp tác đầu tư¬ với nư¬ớc ngoài hai bên cùng có lợi. Việt Nam coi vấn đề huy động và sử dụng có hiệu quả FDI trong tổng thể chiến l¬ược tăng trư¬ởng và phát triển kinh tế ở n¬ước ta hiện nay là một trong những nhiệm vụ chiến l¬ược trọng yếu nhất.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trưởng trong mọi quốc gia Đối vớiViệt Nam để đạt được tốc độ tăng trương cao và ổn định cần phải có mộtkhối lương vốn rất lớn Vì thế trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển,Khả năng tích luỹ còn thấp thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn nướcngoài để bổ xung cho tổng vốn đầu từ phát triển có ý nghĩa rất quan trọng,trong đó phải kể đến vốn đầu tư nước ngoài (FDI) FDI có vai trò hết sứcquan trọng, nó là nguồn bổ xung vốn cho đầu tư, là một cách để chuyển giaocông nghệ, là một giải pháp tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạonguồn thu ngân sách và thúc đẩy nhanh qua trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Nhận thức đúng vị trí vai trò to lớn của FDI, chính phủ Việt Nam đãcho ban hành chính sách khuyến khích đầu từ nước ngoài vào Việt Nam,đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào ViệtNam Chúng ta thực hiện đa dạng hoá và đa phương hoá hợp tác đầu tư vớinước ngoài hai bên cùng có lợi Việt Nam coi vấn đề huy động và sử dụng cóhiệu quả FDI trong tổng thể chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế ở n-ước ta hiện nay là một trong những nhiệm vụ chiến lược trọng yếu nhất Nó

đã góp phần thực hiện có hiệu quả kế hoạch 5 năm (2001- 2005), là bước mởđầu quan trong trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hôi 5năm 2005 – 2010 chiến lược đẩy manh công nghiệp hoá hiện đại hoá theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa

Nhận thấy vai trò quan trọng của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài ởViệt Nam đặc biệt là trong thời kỳ sắp gia nhập WTO, em đã mạnh dạn chọn

đề tài: “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 2005- 2010”.

Trong bài này em xin được trinh bày những vấn đề sau:

Chương I: Tổng quan về đầu từ trực tiếp nước ngoài

Chương II: Thực trạng của thu hút FDI đến phát triển kinh tế Việt

Nam Thời kỳ 2001 – 2005

Chương III: Một số phương hướng và biện pháp để thu hút FDI cho

phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 2005 – 2010

Trang 2

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TỪ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TỪ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1 Khái niệm chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Mọi quá trinh sản suất phải có hai yếu tố từ liệu sản suất và sức laođộng Thiếu

hai yếu tố đó thi sẽ không tồn tại quá trinh sản xuất hàng hoá Để có được haiyếu tố cơ bản đó vấn đề cần đặt ra là cần có vốn đầu từ và thực hiện hoạtđộng đầu tư Vốn đầu tư dùng để sản xuất hàng hoá, mua nhà xưởng muathiết bị v.v … Vốn có khác nhau về quy mô hay cơ cấu sông là điều cầnthiết đối với mọi quá trình sản xuất, mọi quốc gia nhất là đối với những cơ sởmới bắt đầu hình thành và với những quốc gia còn ở trình độ lạc hậu chưahoàn thành quá trinh công nghiệp hóa hiện đại hoá trong đó có Việt Nam

Vốn đầu từ trong nền sản xuất hàng hoá là vốn tiền tệ được tích luỹbằng nguồn vốn của các doanh nghiệp, tiết kiệm của dân và nguòn vốn huyđộng từ các nguồn vốn khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuấtkinh doanh, trong hoạt động kinh tế xã hội nhằm đạt hiệu quả kinh tế nhấtđịnh Vốn đầu tư có thể huy động từ trong nước cũng như có thể huy động từnứoc ngoài Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế được đẩy mạnh nhưthời đại ngày nay thì vốn nước ngoài ngày càng phổ biến và có vai trò khôngnhỏ Mặc dù đứng về lâu dài vốn trong nước luôn đống vai trò quyết định.Vốn đầu tư được sử dụng để phục vụ cho một mục đích nhất định căn cứ vàonhững tiêu thức nhất định người ta có thể phân chia đầu từ thành nhiều loạitrong đó có đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Đầu tư trực tiếp là đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia điềuhành quay trình thực hiện và có thể quyết định toàn bộ hoạt động nếu là xínghiệp 100% vốn của mình hoặc tham gia quyết định nếu là xí nghiệp liêndoanh Trong đầu tư trực tiếp người có vốn có thể bỏ vốn vào để tăng thêmnăng lực sản xuất mới song cũng có thể mua lại một số cổ phầm để hi vọngđược lợi từ cổ phần

Trong đầu tư trực tiếp người có vốn bỏ ra có thể là người trong nước

mà cũng có thể là người nước ngoài Trong trừờng hợp vốn và người có vốn

là người nước ngoài thì hoạt động đầu tư đó là đầu tư trục tiếp nước ngoài

Trang 3

Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư trực tiếp do nguồn vốn

từ nước ngoài mà chủ thể của nó là tư nhân hay nhà nước hoặc các tổ chứcquốc tế được nước chủ nhà cho phép đầu tư vào những ngành hoạc lĩnh vực

nà đó của một nước nhằm thực hiện mục tiêu nhất định

Ở Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên về đầu tư trực tiếp nước ngoài

là điều lện về đầu tư nước ngoài kèm theo nghị định số 115/CP ngày18/4/1977 Điều lện này không nếu định nghĩa cụ thể về đầu tư trực tiếp nướcngoài nhưng trong tư tưởng của các quy phạm thì khái niệm đầu tư trực tiếpnước ngoài cũng như khái niệm ghi nhận sau này trong luật đầu tư nướcngoài năm 1987: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nướcngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bằng bất kìtài sàn được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sỏhợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nướcngoài ”

1.1 Đặc điểm của FDI

Đầu từ trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm sau:

- Hoạt động FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu từ mà còn

có cả công nghệ kĩ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, trình độ quản lý…

- Chủ đầu tư nước ngoài phải đóng một lượng vốn tối thiểu vào vốnpháp định theo quy định của luật đầu tư nước ngoài từ ở tong nước, để họ cóquyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý Ví dụ luật đầu tư Việt Nam quyđịnh: “Số vốn góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn phápđịnh của dự án.”

- Quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoáiphụ thuộc vào nguồn góp, nếu góp 100% thì xí nghiệp hoàn toàn do chủ đầu

tư nước ngoài điều hành

- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quyết địnhmức lợi nhuận của nhà đầu tư Lời và lỗ được chia theo tỉ lệ góp vốn sau khi

đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ nhà

- Nguồn vốn FDI được sử dụng theo mục đích của chủ đầu tư nướcngoài theo khuân khổ luật đầu tư nước ngoài của nước sở tại Nước tiếp nhậnđầu tư chỉ có thể định hướng một cách gián tiếp, việc sử dụng vốn đó vàonhững mục đích mong muốn thông qua các công cụ: Thuế, giá thuế đất,chính sách để khuyến khích hay hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào mộtngành nào đó

Trang 4

- Việc góp vốn FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nướcchủ thể, bởi nhà đầu tư nước ngoài chị trách nghiệm trực tiếp trứơc hoạt độngsẩn xuất kinh doanh của họ

1.2 ưu điểm của hình thức đầu tư trục tiếp nước ngoài.

* Về giá đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Cho phép chủ đầu tư nước ngoài ở một mức độ nhất định(Phụ thuộcvào tỉ lệ góp vốn) tham gia đầu tư trực tiếp nước ngoài vào điều hành quătrình kinh doanh của xí nghiệp nên họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động vàđưa ra quyết định có lợi nhất cho vốn đầu tư mà họ bỏ ra Nếu môi trườngđầu tư ổn định các chủ đầu tư nước ngoài muốn bỏ 100% vốn đầu tư

- Giúp cho nhà đầu tư nước ngoài dễ chiếm linh thị trừờng tiêu thụ vànguồn cung cấp nguyên liệu của nước chủ nhà

- Tránh được hàng rào mậu dịnh vì thông qua đầu tư trực tiếp mà họtạo được các xí nghiệp năm bên “trong lòng” các nước thi hành chính sáchbảo hộ mậu dịch

* Về phía nước tiếp nhận đầu tư

- Giúp tăng cường khai thác vốn của tong chủ đầu tư nước ngoài.Nhiều nước thiếu vốn trầm trọng nên đối với hình thức đầu tư trực tiếp khôngquy định mức đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu tư, thậm chí đóng góp càngnhiều càng được hưởng những chính sách ưu đã về thuế của nước chủ nhà

- Giúp tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinhdoanh của các chủ đầu tư nứoc ngoài

- Nhờ có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép nước chủ nhà cóđiều kiện khai thác tôt nhất những lợi thế của mình về tài nguyên , vị trí, mặtnước…

1.3 Một số hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Bên cạnh những ưu điểm thì hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoàicũng có những hạn chế nhất định:

- Nếu đầu tư vào môi trừờng bất ổn định về kinh tế và chình trị thì chủđầu tư dễ bị mất vốn

- Nếu nước chủ nhà không có một quy định cụ thể và khoa học dẫn tơi

sự đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai trác qua mức

và nạn ô nhiễm mổi trường nghiềm trọng Vì hiện nay ở các nước tư bản phát

Trang 5

triển thực hiện kiểm soát gắt gao những dự án gây ô nhiễm môi trường, nên

xu thế nhiều nhà tư bản nước ngoài đã và đang chuyển giao những công nghệđộc hại sang các nước kém phát triển

- Mục đích của nhà đầu tư là lợi nhuận nên họ chỉ đầu tư vào nơi có lợinhất Vì thế nhiều khi lượng vốn nước ngoài đã làm gia tăng nên sự mất cânđối giữa các vùng nông thôn và thành thị Sự mất cân đối này sẽ gây nên sựbất ổn định về chính trị

- Nước chủ nhà có nguy cơ tiếp nhận những công nghệ cũ, lạc hậu củanước ngoài

2.Vị trí và tác động kinh tế của FDI.

* Đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong

quan hệ kinh tế quốc tế

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động kinh tế quốc tế, cùng với quátrinh phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài không ngừng mởi rộng và chiếm

vị trí ngày càng quan trọng trong quan hệ kinh tế – quốc tế Đến nay FDI đãtrở thành xu hướng của thời đạivà nhân tố quy định bản chất các quan hệ kinh

tế quốc tế

Thập kỷ 80 vừa qua đã chứng kiến bước phát triển của FDI trên thếgiới Khối lượng vốn tăng với tốc độ nhanh hơn nhiều so với sự gia tăng củasản xuất và buôn bấn quốc tế Những Năm 70 lượng vốn đầu tư trực tiếp toànthế giới bình quân hàng năm là 25 tỷ USD, con số này đã tăng gấp đôi trongthời kỳ 1980-1985 Năm 1986 lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trêntoàn thế giới là 78 tỷ USD, năm 1987 là 133 tỷ USD, 1990 là 185 tỷ USD.Tính bình quân hàng năm trong thời kỳ 1985-1990 đầu tư trực tiếp nướcngoài tăng khoảng 24% tốc độ này tăng hơn 4 lần so vời tốc độ tăng kinhngạch xuất khẩu cũng trong thời kỳ này là 6.1% Tình hình trên đây cho phépkhăng định rằng FDI đang trở thành xu hướng phát triển quan hệ kinh tế quốctế

Đầu năm 1989 tổng vốnđầu từ trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giớilên đến 200 tỷ USD, chiếm hơn 13% tổng vốn đầu tư trên thế giới là 1500 tỷUSD Bước sang thập kỷ 90 này đầu tư nước ngoài đã tăng nhanh trở thànhmột nhân tố gây ảnh hưởng to lớn đến sự tăng trưởng kinh tế của nhiều quốcgia Hiện nay khối lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các công ty xuyênquốc gia chiếm khoảng 80% tổng vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới

Trang 6

Đây là sự thay đổi trong chiến lược phát triển của công ty xuyên quốc gia.Trước xu thế hoá nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây các công tyxuyên quốc gia đặc biệt tập trung vào chiến lược cắm rễ ở nước ngoài nhằmphát triển các mạng lưới khu vực trên qui mô lớn.

Tình hình trên đây có những lý do chủ yếu sau:

* Sự phát triển các phương tiện giao thông liên lạc, Kỹ thuật bá dẫn đãđạt tới trình độ cho phép các chủ đầu tư có thể nắm bắt kịp thời chính chuẩnxác các thông tin cần thiết để có thể quyết định hợp lý, hạn chế được các tổnthất và rủi do trong kinh doanh Điều này cho phép các chủ thể đầu tư có thểđiều hành hoạt động kinh doanhcủa họ ở khắp mọi nơi trên thế giới một cáchnhanh chóng và chính xác Sự phát triển cho phép của các chủ đầu tư cungcấp hàng hoá, dịch vụ đún hạn, đáp ứng kịp thời nhu cầu thi trường

* Thể chế chính trị, kinh tế , xã hội của nhiều quốc gia trong nhữngthập kỷ qua đã có những thay đổi phù hợp với nền kinh tế thị trường mở cửa,với các thông lệ quốc tế bảo đảm lợi ích của chủ đầu tư nước ngoài

* Tình hình an ninh quốc tế ngày càng có xu thế ổn định hơn nhất làsau chiến tranh lạnh Thế giới đã chuyển từ trạng thái đối đầu xang đối thoạihoà bình hợp tác, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày càng phát triển

* Tác động kinh tế của FDI:

- Tạo nguồn vốn bổ xung quan trọng

- Tạo chuyển giao công nghệ

- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

II LÝ LUẬN VỀ VỐN FDI CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đống vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở Việt Nam

Việt Nam cũng như hầu hết các nước đang phát triển, trong giai đoạnđầu của sự phát triển kinh tễ, do mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng

và tích luỹ vốn đều rất hạn chế dẫn tới việc thu hút vốn đầu tư trong nướckhông đáng kể Trong khi đó nhu cầu của nền kinh tế phải cần những vốn lớn

để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình làm nền tảng cho suphát triển kinh tế Để bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn vốn đầu từ phát triển đấtnướcthì cần phải thu hút vốn đầu tư nước ngoài nói chung và FDI nói riêng

Trang 7

nhằm tăng dần khả năng đáp ứng vốn cho quá trình phát triển kinh tế Do đóviệc huy động vốn đầu tư trực tiếp tạo ra những lợi ích quan trọng trrong giaiđoạn hiện nay:

Một là: nó góp phần quan trọng trong việc khắc thiếu hụt về vốn ởnước ta

Đặc điểm của nền kinh tế nước ta ở vào thập kỷ 70 và thập kỷ 80 lànền kinh tế kế hoạch tập trung với nhiều nhược điểm Trong đó tỉ lệ đầu tư vàtiết kiệm rất thấp them chí còn âm Từ sau đổi mới tỉ lện này được tăng lênđáng kể, tuy nhiên nó vẫn còn rất thấp so với nhu cầu đầu tư Hơn nữa chúng

ta còn phải trả khá nhiều nợ nước ngoài trong khi thâm hụt ngân sách còn ởmức cao Vì vậy FDI trở thành một nguồn vốn cần thiết cho sự nghiệp đổimới của nhà nước,

Hai là: Thông qua việc chuyên giao công nghệ kỹ thuật, FDI đã đónggóp phần tăng năng xuất lao động, Khả năng sản xuất, Kinh nghiệm quản lýtrong một ngành

Việt Nam bước vào công cuộc hồi phục và phát triển kinh tế với xuấtphát điểm rất thấp về mặt công nghệ, do đó chất lượng sản phẩn thấp, kho cóthể tạo ra sức mạnh trên thị trường trong và ngoài nước,mặt khác trình độcông nghệ thấp còn dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường Sauk hi thực hiệnluật đầu tư nước ngoài , việc đổi mới công nghệ ở nước ta đã thực hiện so vớiquy mô và tốc độ nhanh hơn nhiều so với trước đó Nước ta đã tiếp nhận một

số kỹ thuật và công nghệ tién bộ của nhiều ngành kinh tế như: Thông tin viễnthông , Thăm dò dầu khí, công nghiệp điện tử sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy,hoá chất… Phần lớn thết bị đưa vào nước ta thuộc loại trung bình thế giớinhưng vẫn tiên tiến hơn thiết bị hiện có của ta Một số công nghệ chuyển giaotrong linh vực dầu khí, viễn thông thuộc loại hiện đại thế giới Đây là sự đónggóp khá quan trọng vủa FDI tại Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng sảnphẩn đa dạng hoá mẫu mã, từ đó nâng cao kinh ngạch xuất khẩu, cait thiệnmôi trường lao động

Ba là: Bước đầu tạo ra một số công ăn việc làm, góp phần giả quyếtkhó khăn về việc làm cho người lao động Tính đến năm 1997 các xí nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm trực tiếp việc làm cho hơn 13 vạnlao động và hơn 10 vạn lao động gián tiếp phục vụ cho hợp tác đầu tư Đồngthời đã thu hút hơn 4000 cán bộ Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp ngày

Trang 8

Nhiều cán bộ đã phát huy được năng lực, vươn lên đảm nhiệm những côngviệc quan trọng, có uy tín đối với các đối tác bên ngoài Sự đóng góp này tuycòn nhỏ bé song lại đáng quý trong điều kiện thiếu việc làm ở nước ta.

Bốn là: Tăng thếm nguồn thu nhập xuất khẩu, dịch vụ thu ngoại tệ vàđóng góp vào thu ngân sách nhà nước Trong suốt thời kỳ1988-1996 đã tạohơn 2 tỷ USD giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ đóng góp hơn 2 tỷ đồngcho ngân sách, tuy nhiên con số trên còn nhỏ bởi vì trong giai đoạn nàykhoảng 30% các dự án đầu tư đang trong thời gian được miễn thuế

2.Vai trò và ý nghĩ của FDI tại Việt Nam

Thực hiện hoạt động đầu tư trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã chothấy đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức to lớn đối với nước tiếpnhận đầu tư đặc biệt là ở những nước đang phát triển

Ngày ngay do vai trò quan trọng của FDI nên các nước đang phát triển

và cả những nước đang phat triển đều ra sức cạnh tranh để thu hút FDI

Trước hết FDI đóng vai trò là nguồn vốn cung cấp lớn, góp phần giảquyết tình trạng thiếu vốn đầu tư – Một căn bệnh kinh niên và phổ biến cúabất kỳ một quốc gia chậm phát triển nào ở indonesia sau khi ban hành luậtđầu tư nước ngoài đã cung cấp một nguồn vốn bình quân trong 27 năm(1967– 1994) là 1.15 tydr USD/năm

Những năm gần đây, Philipin đang trên đà tăng trưởng ở mức cao và

họ cho rằng nên sử dụng nguồn vốn nước ngoài hợp lý có thể khuyến khíchđược tính hiệu quả của nền kinh tế ở Tung Quốc, đầu tư trực tiếp nước ngoài

đã cung cấp cho đất nước rộng lớn này 87 tỷ USD/năm trong 15 1994)

năm(1979-ở Việt Nam tính đến hết năm 1995, vốn FDI đã thu hút là 19.353 tỷUSD với mức thực hiện khoảng 30% Tốc độ thu hút vốn FDI ở Việt Nam từnăm 1988-1995 bình quân 50% / năm

Bên cạnh vai trò cung cấp vốn, đầu tư nước ngoài còn mang lại chonước tiếp nhận đầu tư công nghệ kỹ thuật tiên tiến góp phần phát triển lượctượng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế Thực tế cho they răng kỹ thuật và côngnghệ dã đã giúp cho Malaysia từ chỗ moat nước cơ cấu lạc hậu, kỹ thuật thủcông, phân tán lực lượng sản xuất kém phát triển, đến năm 1980 đã trở thànhnước xuất khẩu lớn nhất thế giới về găng tay, cao su, thứ hai trên thế giới vềchất bán dẫn và tinh thể sơ đồ this phân và thứ ba trên thế giới là máy điều

Trang 9

hoà nhiệt độ Tõ ràng chỉ có đầu tư nước ngoài với trình độ kỹ thuật caophương pháp sản xuất tiên tiến và khả nămg thâm nhập thị trường trên thếgiới của các công ty xuyên quốc gia mới tạo ra được những thành công nóitrên.

Một thực tế cần đề cập là nước phát triển muốn lợi dụng đầu tư nướcngoài để chuyển giao những thiết bị, kỹ thuật lạc hậu cho các nước chậm pháttriển, biến các nước này thành “ bãi rác” của minh như một số bài báo đãviết, hay như các nhà kinhtế đã phân tích đó là “kết cấu hai tầng” của ngườiNhật hay thuyết về “quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi” của Bắc Mỹ và tây

âu nhằm khai thác và sử dụng tối đa công nghệ của mình Tuy nhiên quan hệ

về đầu tư trực tiếp nước ngoài là “quan hệ tự nguyện” hoàn toàn theo cơ chếthị trường nên việc chấp nhận hay không chấp nhận là quyền của nước tiếpnhận đầu tư ở Việt Nam để hạn chế các thiết bị lạc hậu nhà nước đã quy địnhnhiều biện pháp để kiểm tra giám sát như định giá đấu thầu chỉ định tiêuchuẩn kỹ thuật ở Trung Quốc có luật quy định về khoảng trênh lệch giữathời gian sản xuất và thời gian nhập máy móc đó vào Trung Quốc

Cúng phải kể đến một xu hướng nữa trong đầu tư trực tiếp nước ngoài

là trong nhiều trường hợp các nước phát triển cần mang vào các nước chậmphát triển những công nghệ tiên tiến hơn cả mình Ví dụ ở Nhật Bản do đồngyên dtăng giá nên ngày càng nhiều các công ty nhật bản mang nhiều côngnghệ tiên tiến ra nước ngoài để sản xuất hàng hoá rồi nhập khẩu trở lại NhậtBản nhắm thu lợi nhuận cao

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức đào tạo giúp các nướctiêp nhận đầu tư kiến thức sử dụng công nghệ hiện đại và học tập kinhnghiệm quản lý của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độsản xuất kinh doanh của đất nước, hoà nhấp vào sự phân công lao động quốctế

Hơn thế nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần đào tạo ra độingũ công nhân có trình độ kỹ thuật cao Bên cạnh đó đầu tư trực tiếp nướcngoài còn có vai trò rất fquan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm, hạnchế tình trạng thất nghiệp nâng cao thu nhập của người lao động

Ở Việt Nam, số lao động người Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng từ 65000 năm 1994 lên 90000 vàocuối năm 1995 Ngoài ra đầu tư trực tiếp nước ngoài còn dán tiếp tạo việc

Trang 10

làm và thu nhập cho hàng chục vạn lao động làm các công ty dịch vụ có liênquan Về cơ bản tiền lương được giả quyết phù hợp với quy định, cao hơnmức lương của các doanh nghiệp cùng loại thuộc các thành phần kinh tếkhác.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớnđối với sự phát triển kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư Người Malayxianhận xét rằng: Trong một trừng mực nhất định đầu tư trực tiếp nước ngoài từchỗ là “ nhân tố bên ngoài ” chuyển thành “ nhân tố bên trong ” quyết địnhphần lớn thị trường kinh tế, cơ cấu kinh tế Theo tạp trí Kinh Tế viễn đông thìsau khi có chính sách mở cửa và luật đầu tư nước ngoài, nền kinh tế củainđonesia được coi như “ người khổng lồ ” của Đông Nam á đang ngủ đã tỉnhdậy trở thành một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh

Ở Việt Nam hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vừa qua đã gópphần làm chuyển biến nền kinh tế Việt Nam theo hướng của một nền kinh tếcông nghiệp hoá Đối với Việt Nam vốn FDI đóng vai trò như lực khởi động,như một trong những điều kiện đảm bảo cho sự thành công của công cuộcCNH-HĐH Một số dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần làm vực dậy một sốdoanh nghiệp Việt Nam đang trong điều kiện khó khăn, sản xuất đình đốn cónguy cơ phá sản Không những thế, nó còn góp phần hình thành nhiều ngànhnghề sản xuất mới, Cũng như nhiều sản phẩm mới Vì khả năng thu hồi vốn

và có lãi phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả sản xuất kinh doanh nên các nhàđầu tư nước ngoài thường tính toán cân nhắc kỹ lưỡng khi đưa vào Việt Namnhững thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiên hiện đại hoặc ở mức thấp nhấtcũng có khả năng phát huy được hiệu quả nhất định FDI là một trong nhữngkênh đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới tương đối có hiệu quả Làkhu vực hấp dẫn tạo nhiều việc làm và nâng cao năng lực cho người lao độngViệt Nam Là môi trường lý tưởng để chúng ta học hỏi, tiếp thu kinh nghiệmquản lý, khả năng tổ chức kinh doanh của nền kinh tế thị trường hiện đại Làđiều kiện tốt để Việt Nam mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước

Tóm lại hoạt động FDI đã góp phần thức đẩy nhanh tốc độ tăng trưởngkinh tế của đất nước, khai thác tài nguyên, tạo việc làm góp phần dịch chuyển

cơ cấu kinh tế, sản xuất nhiều hàng hoá và dịch vụ có hàm lượng kỹ thuậtcao, đẩy mạnh vào xuất khẩu đưa nước ta vào phân công lao động quốc tế,tạo hình ảnh và vị thế mới uy tín ngày càng tăng của Việt Nam trên trường

Trang 11

quốc tế, đặc biệt là xu thế hội nhập khu vực toàn cầu, yếu tố quyết định đểViệt Nam rút ngắn con đường hội nhập khu vực và thế giới đó là mở rộng vàthu hút FDI.

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THU HÚT FDI CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1991-2005

I.ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VỐN FDI Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 1991-2005 1.Thực trạng thu hút vốn FDI trong giai đoạn 1991-2005

1.1 Quy mô vốn FDI thực hiện

Trong giai đoạn này, do khung hoảng kinh tế khu vực nên việc thu hút cácnguồn vốn nước ngoài nói chung và vốn FDI nói riêng đều giảm sút Cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á tháng 7/1997 đã tác động đến FDI vàoViệt Nam Sau thời kỳ luồng vốn FDI đạt bình quân 2 tỷ USD hàng năm,Trong giai đoạn 3 năm trước 1997, vốn FDI thực hiện năm 1998 đã giảm40% so với năm 1997 và Năm 1999 đã giảm khoảng 23% so với năm 1998

Sự giảm sút này nhiều nhất từ các nhà đầu tư Nhật Bản và Đông á, nhữngnước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực.Chính vì vậy vốn FDI thực hiện chỉ chiếm 45,8% so với vốn đăng ký theo dự

án Suy thoái kinh tế cũng như tâm lý do dự của các nhà đầu tư đã tạo sựgiảm sút liên tục trong giải ngân các khoản FDI Với đà giảm sút mạnh mẽ

Trang 12

của vốn FDI cam kết như hiện nay thì mức giải ngân trong tương lai còn cótriều hướng xấu hơn nữa.

So với thời kỳ 1995-1996, Thời kỳ này đã thu hút được vốn FDI nhiềuhơn là 3011 triệu USD chiếm 47,9% Tuy nhiên so với mục tiêu kế hoạch đề

ra thì đến nay vẫn chưa đạt được SO với kế hoạch (12450 tr.USD) thì thực tếmới thu hút được 9352 tr.USD, cón thiếu 3098 tr.USD Đây là một trongnhững nguyên nhân làm mức độ tăng trưởng kinh tế trong năm 1998 - 2003

đã đem lại chỉ đạt 5 - 5,5%/năm

1.2 Cơ cấu FDI theo ngành và vùng khinh tế

* Cơ cấu FDI theo ngành kinh tế: trong giai đoạn này, đầu tư cho côngnghiệp và xây đựng vẫn tiếp tục chiếm ưu thế, tỷ trọng đầu tư cho côngnghiệp dã bước đầu được cải thiện, tỷ trọng đầu tư cho dịch vụ có sự giảmnhẹ

* Cơ cấu FDI đầu tư theo vùng kinh tế: nhìn chung cơ cấu FDI theovùng kinh tế vẫn chưa được cải thiện, FDI lại chư yếu thu hút vào ba vùngkinh tế trọng điểm Trong ba vùng đó, FDI lại chủ yếu tập trung vào cácthành phố lớn như: Hà Nội, Đà Nẵng, T.P.HCM Còn các tỉnh khác đặc biệt

là các tỉnh miền núi và tây nguyên vẫn còn quá ít các dự án đầu tư bằng FDI.Điều này sẽ tiếp tục gây ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các vùng kinh

tế, giải quyết việc làm và xoá đối giảm nghèo

1.3 Về đối tác đầu tư nước ngoài

* Đầu tư trực tiếp nước của cá nước ASEAN ở ViệT Nam

- Số lượng dự án và vốn đầu tư

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của hiệp hội ASEANnăm 1995, đầu tư trực tiếp của các nước này vào Việt Nam đã tăng vọt lên tới

244 dự án với 3265 tr.USD vào đầu năm 1996, Chiếm 14% tổng số sự án và17,9% tổng vốn FDI của cả nước Đến cuối năm 1996, các nước ASEAN đãđầu tư vào Việt Nam 292 dự án với số vốn 4666 tr.USD Đến tháng f12/1997,FDI của các nước ASEAN đã lên tới 362 dự án với 8634 tr.USD

Tuy nhiên bước sang năm 1998 do tác động của cuộc khủng hoảng tàichính khu vực, FDI của các nước ASEAN vào Việt Nam không những giảm

mà còn bị giảm tiến độ nhiều dự án đang thực hiện hoặc đã được cấp phép.Theo số liệu thống kê của bộ kế hoạch đầu tư cho they, trong 9 tháng đầunăm 1998, chỉ có 15 dự án của nước ASEAN được cấp phép với 803 tr.USDvốn đầu tư, trong đó 17 tr của Xingapo mặc dù đã được chứng nhận nhưngvân chưa muốn nhận giấy phép đầu tư

Trang 13

- Cơ cấu lĩnh vực và các hình thức đầu tư

Nhằm khai thác lợi thế của mình, các nước ASEAN chủ yếu đầu tư vàocác ngành công nghiệp chế biến và lắp ráp, khai thác đầu khí, khách sạn dulịch, dịch vụ tài chính và xây dựng cơ sở hạ tầng Trogn đó Xingapo có nhiều

dự án đầu tư với quy mô lớn, tập trung nhiều vào kĩnh vực xây dựng cơ sở hạtầng, trong khi các nước khác lại quan tâm nhiều đến lĩnh vực công nghiệp,khách sạn và nông lâm nghiệp với quy mô vừa và nhỏ Thật vậy theo kết quảtính toán từ số liệu thống kê của vụ dự án đầu tư (MPI) cho thấy trong tổng

số 377 dự án đầu tư của các nước ASEAN đang triển khai ở Việt Nam, chỉ có

136 dự án với 3725 tr.USD đầu tư vào ngành công nghiệp, chiếm 36% tổng

dự án và 39.5% tổng vốn đầu tư của ASEAN ở Việt Nam Trong khi đó, các

tỉ lệ tương tự các dự án đầu tư vào các ngành nông nghiệp là 61,6% tổng dự

án và 46,5% tổng vốn FDI của các nước Số dự án còn lại chủ yếu đầu tư vàocác lĩnh vực khách sạn, xây dựng và dịch vụ

Các dự án đầu tư của các nước ASEAN chủ yếu tập trung dưới hìnhthức liên doanh, sau đó dến xí nghiệp 100% sở hữu nước ngoài và vốn dự ánhợp doanh rất nhỏ Đặc điểm này các nhà đầu tư ASEAN còn sợ mạo hiểm,

vì thế họ muốn chia sẻ dui do với các đối tác Việt Nam Tuy nhiên gần đây

do các nhà đầu tư ASEAN đã quen với môi trường đầu tư ở Việt Nam nên tỷ

lệ dự án 100% vốn nước ngoài tăng lên và hình thức liên doanh giảm dần.Hình thức hợp doanh vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng dự án Trong khi đó loại

dự án quy mô trung bình lại chiếm tỷ lệ cao, 48,2% trong hình thức liêndoanh Đặc điểm này phản ảnh các nhà đầu tư ASEAN muốn chia rủi do vớicác đối tác Việt Nam

Bảng 1: Vốn thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp ASEAN ở

Trang 14

Bảng 2: Cơ cấu hình thức đầu tư trực tiếp của các nớc ASEAN

Malaixia

Philipin

inđonexia

Tổng1.Xí nghiệp 100%

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Qua thực trạng thu hút FDI thời kỳ 1996-2005, có thể rút ra nhữngnhận xét như sau:

- Quy mô vốn FDI được thực hiện tuy có cao hơn so với thời kỳ

1991-1995, nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu của nền kinh tế trong những năm1998-2005 Nói cách khác, mức độ đảm bảo vốn từ nguồn FDI còn thấp sovới kế hoạch đề ra

Ngày đăng: 24/07/2013, 17:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Vốn thực hiện của các dự  án đầu tư trực tiếp ASEAN ở - Thu hút vốn đầu t¬ư trực tiếp (FDI) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 2005- 2010
Bảng 1 Vốn thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp ASEAN ở (Trang 13)
Bảng 2: Cơ cấu hình thức đầu tư trực tiếp của các nớc ASEAN - Thu hút vốn đầu t¬ư trực tiếp (FDI) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 2005- 2010
Bảng 2 Cơ cấu hình thức đầu tư trực tiếp của các nớc ASEAN (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w