1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại Trại lợn Ngô Hồng Gấm, xã Hợp Thanh huyện Lương Sơn tỉnh Hòa bình.

58 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở các nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa và đang phát triển như Việt Nam các bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột lạnh, ẩm, gió lùa kết hợp với điều ki

Trang 1

NÔNG THỊ TRANG

Tên chuyên đề:

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON

TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN NGÔ HỒNG GẤM,

XÃ HỢP THANH, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÕA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính Quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

NÔNG THỊ TRANG

Tên chuyên đề:

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON

TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN NGÔ HỒNG GẤM,

XÃ HỢP THANH, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÕA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính Quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thu Trang

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành bản khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn trại lợn Ngô Hồng Gấm cùng toàn thể cán bộ

kĩ thuật, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn chân thành đến cô giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Thu Trang đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận thực tập tốt nghiệp của mình

Tôi cũng xin cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ở bên động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập

Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của tôi ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này

Tôi xin chân thành cảm ơn

Thái nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Nông Thị Trang

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn tại trại qua 3 năm gần đây (2014 - 2016) 8Bảng 4.1 Tình hình đẻ của đàn lợn nái 34Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu số lượng lợn con của các loại lợn nái 35Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu về khối lượng lợn con của các loại lợn nái (kg) 36Bảng 4.4 Lịch sát trùng trại lợn nái 39Bảng 4.5 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con 40Bảng 4.6 Tình hình cảm nhiễm bệnh sinh sản sau đẻ của các loại lợn nái 41Bảng 4.7 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo các tháng 42

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 5

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 7

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài 9

2.2.1 Cơ sở khoa học 9

2.2.1.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái 9

2.2.1.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ 20

2.2.1.3 Một số bệnh thường gặp ở lợn 23

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 29

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH30 3.1 Đối tượng 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung tiến hành 30

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

Trang 7

3.4.2 Phương pháp theo dõi 30

3.4.3 Phương pháp xử lí số liệu 31

3.4.4 Một số công thức tính 31

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 32

4.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái 32

4.1.2 Đối với đàn lợn con theo mẹ đến 21 ngày tuổi 33

4.2 Kết quả theo dõi về tình hình đẻ của đàn lợn nái 34

4.3 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu về số lượng và khối lượng lợn con của các loại lợn nái 35

4.3.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu về số lượng lợn con của các loại lợn nái 35 4.3.2 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu về khối lượng lợn con của các loại lợn nái 36

4.4 Công tác phòng bệnh 36

4.4.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 36

4.4.2 Công tác phòng bệnh 40

4.5 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn 41

4.5.1 Kết quả theo dõi về tình hình cảm nhiễm bệnh sinh sản sau đẻ của các loại lợn nái 41

4.5.2 Tình hình lợn con mắc hội chứng tiêu chảy 41

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

I Tiếng Việt 46

II Tiếng Anh 48

PHỤ LỤC

Trang 8

mô lớn Trong đó chăn nuôi thú y là ngành đang có tiềm lực phát triển mạnh ở nước ta, do có vị trí địa lí thuận lợi, có khí hậu ôn hòa và tài năng trí tuệ của con người đã cho phép và hứa hẹn một mạng lưới chăn nuôi thú y lớn mạnh mang lại giá trị kinh tế cao Nhằm phục vụ ngành chăn nuôi phát triển, số lượng và chất lượng đàn gia súc, gia cầm hiện nay ngày càng được mở rộng, nâng cao và hoàn thiện Các trang trại chăn nuôi, các công ty, các xưởng ấp

nở gia cầm, các lò mổ ngày càng được mở rộng và có quy mô lớn để thúc đẩy ngành chăn nuôi thú y phát triển

Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì một số bệnh xảy ra ở lợn con giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình chăn nuôi gây thiệt hại cho các cở sở chăn nuôi lợn sinh sản Ở các nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa và đang phát triển như Việt Nam các bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột ( lạnh, ẩm, gió lùa) kết hợp với điều kiện chăm sóc không đảm bảo vệ sinh, lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa đầu kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng Khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như

Trang 9

khả năng tăng trọng của chúng, gây tổn thất lớn về kinh tế Do đó phòng bệnh cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo cung cấp con giống có chất lượng tốt

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với

sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, chúng tôi thực hiện

đề tài: "Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại Trại lợn Ngô Hồng Gấm, xã Hợp Thanh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa bình”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Có số liệu về tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản tại trại để từng bước hoàn thiện quy trình chăn nuôi

- Nắm được tình hình lợn con mắc bệnh tiêu chảy để đưa ra các biện pháp phòng trị thích hợp

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau - xã Hợp

Thanh - huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình Trại được xây dựng xa khu dân

cư, cách quốc lộ 21 khoảng 3km,trại luôn đảm bảo độ thông thoáng, không ảnh hưởng tới môi trường

Trong trại có hệ thống ao hồ nuôi trồng thuỷ sản, lượng nước được cung cấp chủ yếu thông qua lượng nước mưa tự nhiên Mặt khác qua đánh giá

sơ bộ cho thấy trại có trữ lượng nước ngầm khá phong phú, lượng nước ngầm nông, khả năng khai thác và sử dụng tương đối dễ dàng Hiện nay đã được trại khai thác và sử dụng để phục vụ cho sinh hoạt và chăn nuôi

- Vị trí địa lý

Hợp Thanh là một xã thuộc huyện Lương Sơn, thành phố Hòa Bình Xã nằm ở phía Nam của huyện Lương Sơn, cách trung tâm huyện Lương Sơn 40km Xã có tổng diện tích tự nhiên 17,76 km²; dân số năm 1999 là 3372 người, mật dộ dân số đạt 197 người/km²

Trại có vị trí tương đối thuận lợi cách quốc lộ 21 khoảng 3km về phía Đông,

xa trường, xa chợ, nhưng thuận tiện giao thông

- Lãnh thổ của trại chạy dọc dài theo hướng Đông Tây

- Phía Bắc giáp xã: Long Sơn Phía Nam giáp xã: Thanh Nông Phía Đông giáp xã: Thanh Lương Phía Tây giáp xã: Nam Thượng

Trang 11

Tổng diện tích của trang trại khoảng 5 ha, trong đó 1 ha dùng để chăn nuôi; 2,5 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại

- Thời tiết, khí hậu trong khu vực trại

Trại mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa không điển hình, một năm có bốn mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Nhiệt độ: trại có nhiệt độ cao, độ chênh lệch nhiệt độ giữa mùa Đông

và mùa Hạ khá lớn.Nhiệt độ trung bình hàng năm là: 23 - 240C

Mùa Đông: trời rét và khô, nhiệt độ xuống thấp, bình quân từ 10 -

180C, nhiệt độ thấp nhất (tháng 12) là: 8,30

C

Mùa Hạ nắng nóng và mưa nhiều có khi lên tới 400C (tháng 6), tháng

có nhiệt độ trung bình lớn nhất là tháng 7 với nhiệt độ đến 34,60

C Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là: 166 giờ

Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1400 - 1700mm nhưng lượng mưa phân bố không đều trong năm, phân thành hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô

+ Mùa mưa: từ tháng 4 - tháng 10, lượng mưa chiếm từ 80 - 82% tổng lượng mưa của cả năm Lượng mưa bình quân là 75mm/tháng

+ Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô trùng với các tháng có nhiệt độ thấp trong năm Lượng mưa bình quân là 25mm/tháng

Độ ẩm không khí ở trại tương đối cao, trung bình từ 83 - 85%, tháng cao nhất là 88% (tập trung vào các tháng 3 và tháng 4) tháng thấp nhất là: 65% (tập trung vào tháng 12)

- Giao thông thủy lợi

Đoạn đường liên thôn chạy qua trại được đổ hết đường bê tông, lòng đường rộng thuận lợi cho ô tô có thể ra vào vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư thú y cũng như các sản phẩm chăn nuôi

Trang 12

Trại có hệ thống ống thoát nước thải đã qua xử lý xuống ao thả cá để kết hợp nuôi lợn với nuôi cá, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế của trại và hạn chế chất thải trong chăn nuôi thải ra ngoài đồng ruộng ảnh hưởng đến người dân và môi trường xung quanh

2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại

- Quá trình thành lập

Trại lợn giống bố mẹ Ngô Thị Hồng Gấm là trại lợn gia công của Công

ty Chăn nuôi CP Việt Nam Trang trại do bà Ngô Hồng Gấm làm chủ và được cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại

- Cơ cấu tổ chức

Trại có đội ngũ cán bộ kĩ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực tế và có ban lãnh đạo năng động nhiệt tình và giàu năng lực Hơn nữa, trại còn có nhiều công nhân giỏi, có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề

Cơ cấu lao động của trại gồm: 27 người

Chủ trại: 1 người

Quản lý trại: 1 người

Kỹ sư chăn nuôi: 2 người

Kế toán: 1 người

Phục vụ: 1 người

Thợ điện: 1 người

Công nhân: 10 người

Sinh viên thực tập: 10 người

- Cơ sở vật chất của trang trại

Trang trại nằm trên địa bàn xã chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển

Trang 13

Để đảm bảo công tác chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:

Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, nhà bếp, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng ra, cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho

1200 nái cơ bản bao gồm:

+ 3 chuồng nái đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu có

2 dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ

+ 2 chuồng nái chửa: chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 8 dãy mỗi dãy có 75 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau Riêng chuồng 1 dãy 1 được thiết kế

để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu để làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái

+ 1 chuồng đực giống: bao gồm 24 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh

+ 2 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, trong thời gian

3 tháng sau khi đã làm vacxin đầy đủ và trước khi được đưa lên giống mỗi chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng

Trang 14

mát về mùa hè ấm áp vào mùa đông bằng cách điều chỉnh quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng làm tinh lợn, với đầy đủ tiện nghi như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường

đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn cho các dãy chuồng

Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi trại có xây dựng 5 phòng tắm sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vacxin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài

chuồng nuôi

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở

* Đối tượng: Lợn nái, lợn hậu bị, lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

* Kết quả sản xuất của cơ sở

Tình hình chăn nuôi: Hiện nay, trại có 1439 đầu nái và 120 hậu bị, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,47 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,23 con/lứa, số con cai sữa là 10,7 con/lứa, lợn con theo mẹ được nuôi đến

21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các Trại chăn nuôi lợn hậu bị của Công ty CP Ngoài ra trại có 24 con lợn đực Pi -

Du 31 (Pietrain - Duroc), các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo

Trang 15

Hoạt động chăn nuôi của trại là chỉ chăn nuôi lợn nái sinh sản và bán con giống, cơ cấu đàn lợn của trại được biểu thị qua bảng dưới đây:

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn tại trại qua 3 năm gần đây (2014 - 2016)

Năm Số lƣợng lợn của các năm (con)

(Nguồn: Cán bộ kĩ thuật trại cung cấp)

- Qua bảng chúng tôi thấy:

Số lượng lợn tăng đều qua các năm, điều đó cho thấy tình hình chăn nuôi của trang trại khá ổn định và không ngừng tăng lên về số lượng đầu nái cũng như số lượng lợn con được xuất đi trong 1 năm Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì Trại hoạt động vào mức khá, tháng 5/2016 kết quả của trại đứng thứ 1 toàn miền Bắc của công ty

- Thức ăn: các loại thức ăn trong trại cho lợn ăn theo khẩu phần, Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại Điều này đảm bảo cung cấp đầy đủ cho tất cả các con lợn trong một ô được ăn và phát triển đồng đều Thức ăn do công ty CP cung cấp được đưa về từ nhà máy ở Xuân Mai - Hà Nội hoặc có thể lấy từ nhà máy cám của công ty tại Hà Nam và Hải Dương Các loại cám cho lợn ăn của trại bao gồm các loại sau:

- Thức ăn cho lợn hậu bị, lợn nái chửa, và lợn nái nuôi con và lợn nái chờ phối: Cám 566F và 567F

- Thức ăn cho lợn con tập ăn và cai sữa: Cám 550S

Trang 16

- Thức ăn cho lợn đực: Cám 567SF

- Hàng tháng trang trại thường nhập thuốc và vacxin của công ty CP Việt Nam

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài

2.2.1 Cơ sở khoa học

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18], cơ sở khoa học của kỹ thuật chăn nuôi lợn nái và chăn nuôi lợn con theo mẹ được thể hiện dưới đây:

2.2.1.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái

- Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa

+ Phương pháp phát hiện lợn có chửa:

Phát hiện lợn nái có chửa có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất Nếu phân biệt được lợn nái có chửa một cách chính xác, kịp thời ngay sau khi phối giống sẽ tác động các biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc phù hợp với qui luật phát triển của bào thai để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái Còn những lợn nái không có chửa có kế hoạch phối giống kịp thời

Có nhiều phương pháp phát hiện lợn có chửa, nhưng trong thực tế phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái vẫn được áp dụng phổ biến tức là sau khi phối giống cho lợn nái 21 ngày mà lợn nái không có biểu hiện động dục thì có thể coi là lợn nái đó đã có chửa Nhưng trên thực tế khi chẩn đoán bằng phương pháp này cần kết hợp với những quan sát các biểu hiện bên ngoài của lợn nái sau khi phối giống, ở những lợn nái sau khi phối giống thấy có những biểu hiện như mệt mỏi, thích ngủ, từ kém ăn chuyển sang phàm ăn, lông da ngày càng bóng mượt, tính tình thuần hơn, dáng đi nặng nề thì đó là những lợn nái đã có chửa Ngược lại khi quan sát thấy lợn nái sau khi ăn không chịu nằm, tai cúp, đuôi luôn ve vẩy, âm hộ có hiện tượng hơi xung huyết thì có thể lợn nái đó chưa có chửa, cần theo dõi để phối giống kịp thời

Trang 17

+ Quy luật sinh trưởng phát dục của bào thai lợn:

Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày): Đặc điểm của giai đoạn này là hợp tử bắt đầu phân chia nhanh chóng từ một khối tế bào thành các lá phôi Đồng thời ở thời kỳ này nhau thai chưa hình thành, nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ hợp tử Cho nên ở giai đoạn này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản

lý đầy đủ, khoa học

Giai đoạn tiền thai (23 - 38 ngày): Ở giai đoạn này bắt đầu hình thành các

cơ quan bộ phận của cơ thể Thời kỳ này nhau thai đã được hình thành, nên đã

có sự liên hệ giữa cơ thể mẹ và con, lợn mẹ đã có thể bảo vệ được cho phôi thai Giai đoạn thai nhi (ngày thứ 39 - đẻ): Đây là giai đoạn bào thai phát triển nhanh nhất về thể tích và khối lượng, hình thành đầy đủ các cơ quan bộ phận

và hình thành đầy đủ đặc điểm của giống

+ Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa:

Trong quá trình có chửa, sự tổng hợp vật chất của cơ thể mẹ được đẩy mạnh, còn quá trình oxi hóa giảm tương đối Quá trình trao đổi chất và năng lượng tăng lên do sự đẩy mạnh các quá trình này ở cả cơ thể mẹ cũng như phôi thai

Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là sự tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mẹ tăng dần Trong thời gian lợn nái chửa, cơ thể trao đổi chất rất mạnh, quá trình đồng hóa lớn hơn quá trình dị hóa Trung bình khối lượng lợn nái tăng lên 15 - 20%, khoảng 60% khối lượng bào thai được tăng lên ở

20 - 30 ngày cuối của thời kỳ có chửa Qua nghiên cứu cho thấy rằng, điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể lợn nái có chửa như nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh dưỡng,… + Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái chửa:

Nuôi dưỡng lợn nái chửa chúng ta cần cung cấp dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ,

Trang 18

một phần tích lũy cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với nái hậu bị

đẻ lứa đầu thì cần thêm dinh dưỡng cho bản thân tiếp tục lớn lên nữa

Giai đoạn chửa kỳ 1, 2 dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14 %, năng lượng trao đổi không dưới 2900Kcal/kg thức ăn Nhưng ở giai đoạn 2, mức ăn cần phải tăng từ 15 - 20 % so với giai đoạn chửa kỳ 1 Giai đoạn chửa

kỳ 1, bào thai chưa phát triển, vì vậy nhu cầu dinh dưỡng chủ yếu cho lợn nái giai đoạn này là để duy trì cơ thể lợn mẹ, một phần không đáng kể để nuôi thai Giai đoạn chửa kỳ 2, tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, vì vậy cần cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bào thai phát triển ở giai đoạn cuối để lợn con sinh ra đạt được khối lượng sơ sinh theo yêu cầu của từng giống

Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa/ngày chúng ta cần chú ý đến các yếu tố sau: giống và khối lượng nái chửa, giai đoạn chửa, thể trạng của lợn nái, tình trạng sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể cho ăn tăng từ 10 - 15%,

vì ngoài cung cấp dinh dưỡng cho bào thai còn cần cho sự phát triển của cơ thể lợn mẹ

Lợn chửa cần hạn chế thức ăn nhiều tinh bột và cho ăn thêm rau xanh Cho lợn ăn thêm rau xanh ngoài việc bổ sung thêm vitamin còn có tác dụng tăng hệ số choán để lợn không có cảm giác đói Trong trường hợp không có điều kiện cho ăn rau xanh (trong chăn nuôi công nghiệp) thì cần phải bổ sung đầy đủ các nguyên tố khoáng và vitamin để tăng cường quá trình chuyển hóa thức ăn và chống táo bón Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm thức ăn đạm đề phòng bệnh sưng vú do căng sữa sau khi đẻ

Số bữa cho ăn/ngày: ngày cho ăn 2 bữa (sáng, chiều), cho ăn thức ăn tinh trước, ăn rau xanh sau Cần cung cấp đủ nước uống sạch cho lợn nái chửa Nguồn thức ăn sử dụng cho lợn nái chửa: Nếu là chăn nuôi công nghiệp chúng ta sử dụng thức ăn hỗn hợp và bổ sung thêm rau xanh càng tốt, một ngày từ 3 - 4 kg rau xanh/ nái (cho nái chửa kỳ I), và từ 2 - 3 kg/con/ngày

Trang 19

(chửa kỳ II) Đối với lợn nái nuôi theo phương thức nhỏ, tận dụng (lợn nái nội) có thể cho ăn các thức ăn địa phương có sẵn như ngô, cám gạo, bột sắn, đậu tương, hoặc trộn phối các loại thức ăn đậm đặc theo tỷ lệ quy định

Thức ăn của lợn nái chửa có nhu cầu phối hợp nhiều loại thức ăn, mùi vị phải thơm ngon, không bị hôi thối, hư hỏng, thức ăn có phẩm chất tốt

Trước lúc lợn nái đẻ cần giảm số lượng thức ăn, nhưng cần duy trì đủ các chất dinh dưỡng bằng cách cho ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao Không cho lợn nái ăn quá nhiều thức ăn vào 35 ngày đầu sau khi phối giống có chửa, kể cả lợn nái gầy

+ Kỹ thuật chăm sóc, quản lý lợn nái có chửa:

Vấn đề quan trọng trong công tác chăm sóc quản lý lợn nái chửa là phòng bệnh sảy thai, nghĩa là cần phải làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát triển bình thường, tránh các tác động cơ giới gây đẻ non hoặc gây sảy thai nhất là trong giai đoan chửa kỳ 2 Những nguyên nhân gây sảy thai có thể là nền chuồng hoặc sân chơi không bằng phẳng, mấp mô, làm cho lợn bị trượt ngã, cửa ra vào chuồng quá nhỏ làm cho lợn chen lấn xô nhau, do đánh đuổi lợn quá gấp, do tắm nước quá lạnh hoặc quá đột ngột Tắm chải cho lợn chửa là điều rất cần thiết, có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để làm tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, tạo cảm giác

dễ chịu, lợn cảm thấy thoải mái, kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Ngoài ra còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái khi đẻ Việc tắm cho lợn chửa cần tiến hành hàng ngày, đặc biệt là mùa hè nóng bức, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn chửa

Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông

Cần tạo không khí yên tĩnh, thoái mái cho lợn chửa nghỉ ngơi, dưỡng thai, không gây tiếng ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng xấu đến lợn

Trang 20

Mỗi nái chửa cần có một phiếu theo dõi về hình thức chửa như thời gian chửa, những biến cố xảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai, tỷ lệ chết thai… để có biện pháp xử lý đề phòng

Bên cạnh đó thì chúng ta phải chú trọng đến công tác thú y đối với lợn nái chửa Trước khi chuyển lợn nái sang chuồng đẻ, ô chuồng cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng omnicide 5% hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác

Trước khi đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng cho lợn nái Hàng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe,

đo thân nhiệt xem có nóng, sốt không để có biện pháp can thiệp kịp thời

Cần tiêm vacxin E.coli cho lợn nái chửa vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước

khi đẻ, liều lượng: 2 ml/con, tiêm bắp

Lợn nái được đưa từ chuồng bầu sang chuồng đẻ từ 5 - 7 ngày so với ngày đẻ dự kiến

- Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái đẻ

+ Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái đẻ:

Thức ăn dùng cho lợn nái ở giai đoạn này phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chén ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt

Một tuần trước khi lợn nái đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước khi đẻ 2 -

3 ngày giảm ½ lượng thức ăn Đới với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh( 0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh, nhưng cho uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không

Trang 21

cho lợn nái ăn mà chỉ cho uống nước ấm có pha muối hoặc cho ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng

từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn

+ Kỹ thuật đỡ đẻ cho lợn:

Công tác chuẩn bị trước khi đỡ đẻ cho lợn:

Căn cứ vào lịch phối giống để dự kiến ngày đẻ của lợn 1 cách chính xác,

để phân công người trực đẻ, theo dõi đỡ đẻ cho lợn và can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh thiệt hại có thể xảy ra

Chuẩn bị chuồng cho lợn nái đẻ:

Trước khi lợn để 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa

vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh và tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi cho lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần trải đệm lót, có phên che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông

Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ Lợn nái được lau rửa sạch đất hoặc phân bám dính trên thân, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Tránh nguy cơ con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có chứa các vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch

sẽ, vận chuyển nhẹ nhàng lợn nái từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Chuẩn bị ô úm cho lợn con: quan trọng với lợn con, có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt vào mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của con

Trang 22

Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

Chuẩn bị dụng cụ:

Cần chuẩn bị đầy đủ các loại dụng cụ sau: Dao, kéo, cồn sát trùng, kìm bấm nanh, kìm bấm số tai, cân để cân khối lượng sơ sinh, khăn mặt hoặc vải màn, đèn thắp sáng, khay đựng dụng cụ, thùng hoặc thúng có lót thảm hay rơm để chứa lợn con, xô hoặc chậu, sổ sách ghi chép Các loại thuốc như thuốc trợ đẻ, thuốc trợ sức, kháng sinh

Trực và đỡ đẻ cho lợn:

Trực đẻ rất cần thiết để có thể hỗ trợ cho lợn nái trong những trường hợp bất thường Quan sát được những biểu hiện của lợn nái khi có hiện tượng sắp

đẻ, để có kế hoạch trực và đỡ đẻ cho lợn nái

Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ:

Khi lợn sắp đẻ bụng đặc biệt to, khi lợn nằm thai cử động nhiều Đến lúc sắp đẻ bầu vú to căng hướng ra phía ngoài, có màu đỏ hồng Trước khi đẻ 3 -

5 ngày bầu vú bắt đầu cứng Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, nếu vắt thấy có sữa, bộ phận sinh dục bên ngoài dãn lỏng, 2 bên gốc đuôi lõm xuống, gọi là hiện tượng sụt mông Khi thấy lợn có hiện tượng cắn ổ, đi lại không yên, có hiện tượng đái són là lúc lợn sắp đẻ, thời gian này đến lúc đẻ khoảng 10 giờ ( đối với lợn chửa lứa đầu), và 5 - 6 giờ đối với lợn đẻ nhiều lứa Khi lợn tìm chỗ nằm, âm hộ chảy nước nhờn là lợn bắt đầu đẻ, cần bố trí theo dõi, đỡ đẻ kịp thời

Những biểu hiện khi lợn đẻ:

Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai

ra ngoài, lợn đẻ từng con một, khoảng cách 10 - 15 phút hoặc 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu qua 6 giờ mà thai chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay

Trang 23

Khi lợn đẻ, lợn con tự làm rách nhau thai để ra, nhưng cũng có khi cả màng thai và lợn con ra cùng 1 lúc, gọi là hiện tượng đẻ bọc, lúc này cần nhanh chóng xé bọc để tách màng thai ra tránh hiện tượng lợn con bị ngạt Lợn đẻ ở trạng thái bình thường là đầu ra trước cùng với 2 chân trước úp xuống hoặc ngửa lên

Khi lợn nái đẻ hay nằm, nhưng cá biệt có con đứng và đi lại, trong trường hợp này chúng ta phải tác động cho lợn nằm xuống như có thể xoa nhẹ vào mông, bụng để lợn đẻ nằm xuống đẻ

Kỹ thuật đỡ đẻ và chăm sóc khi lợn con sinh ra:

Người đỡ đẻ cần cắt ngắn móng tay và rửa tay sạch trước khi đỡ đẻ, khi thai ra tiến hành thao tác các công việc như sau:

Một tay cầm chắc mình lợn con, 1 tay dùng khăn khô lau sạch dịch nhờn

ở mồm, mũi và toàn thân cho lợn để cho lợn hô hấp thuận lợi và tránh lợn bị cảm lạnh Các động tác cần nhẹ nhàng, khéo léo để lợn con không kêu nhiều ảnh hưởng đến lợn mẹ

Cắt rốn: chỉ cắt rốn lợn con trong trường hợp rốn quá dài, nên dùng chỉ thắt lại chỗ cắt, độ dài rốn để lại là 4 - 5cm rồi cắt bằng kéo đã sát trùng cách chỗ thắt 1cm, sau khi cắt rốn dùng cồn iôt sát trùng vết cắt

Bấm nanh: dùng kìm bấm nanh hoặc cắt móng tay loại to để bấm răng nhanh, số răng nanh phải bấm là 8 cái, trong đó gồm 4 răng nanh và 4 răng cửa sau Không bấm nanh quá nông vì bấm nông thì răng vẫn còn nhọn dễ làm tổn thương vú lợn mẹ khi bú, bấm quá sâu dễ gây viêm lợi cho lợn con Cắt đuôi: trong chăn nuôi công nghiệp, do diện tích sàn chuồng hẹp chỉ

đủ chỗ cho lợn ở, không có chỗ cho lợn con vận động, nên lợn con hay cắn nhau trong ô chuồng Sử dụng kéo bấm đã sát trùng hoặc kéo điện để cắt đuôi lợn con cách khớp đuôi nối với cơ thể khoảng 2,5cm Để lại không quá một nửa tới ba phần tư đuôi, bôi thuốc sát trùng vào vết thương Đuôi sẽ lành

Trang 24

trong 7 - 10 ngày Không dùng các dụng cụ quá sắc như lưỡi dao mổ sẽ mất nhiều máu Cắt đuôi quá ngắn có thể đụng chạm đến hoạt động của cơ xung quanh hậu môn ở lợn và sau này có thể là yếu tố gây hiện tượng lòi dom, nếu

để đuôi quá dài có thể vẫn xảy ra hiện tượng cắn đuôi nhau

Bấm số tai: là phương pháp thông dụng nhất để đánh dấu trong việc theo dõi và quản lý lợn, nên bấm ngay sau khi sinh để đánh dấu nhận dạng ngay lập tức Mỗi con cần có số tai duy nhất trong ổ, đó là yêu cầu của lí lịch giống

và ghi chép sổ sách năng suất

Cần giữ yên tĩnh ở khu vực lợn đẻ, tránh ồn ào, xáo trộn khi lợn đang đẻ Khi lợn đẻ con cuối cùng trong vòng 2 - 3 giờ thì nhau thai sẽ ra hết, cần phải chú ý nhặt nhau thai ngay, tránh để lợn mẹ ăn nhau thai sống sẽ gây thói quen

ăn thịt hoặc gây mất sữa Sản dịch sẽ ra từ từ trong vòng 4 - 6 ngày sau Trong trường hợp sót nhau, viêm nhiễm đường sinh dục thì sản dịch ra nhiều, có máu màu đen, có mùi hôi thối Nếu có biểu hiện như vậy cần điều trị kịp thời

Xử lý những trường hợp bất thường khi lợn nái đẻ

Các biện pháp can thiệp khi lợn đẻ khó:

Những trường hợp này lợn mẹ thường có biểu hiện: nước ối thường có lẫn màu đỏ, sau 2 - 3 giờ rặn đẻ mà thai không ra, thai ra nửa chừng không ra hết vì con to, thai ra 1 - 2 con sau đó không ra tiếp được vì lợn mẹ yếu Trong trường hợp lợn đẻ lâu, nên cho lợn mẹ uống nước ấm có pha muối, đồng thời dùng tay hỗ trợ động tác đẻ cho lợn Hoặc có thể cho lợn con đẻ trước vào bú lợn mẹ để kích thích lợn mẹ đẻ

Trong trường hợp can thiệp bằng các biện pháp trên không có kết quả thì

ta có thể tiêm oxytocin cho lợn nái, với liều 20 - 40 đơn vị/lần Một điều hết sức lưu ý là không tiêm oxytocin khi cổ tử cung chưa mở và trong trường hợp quan sát thấy lợn nái rặn nhiều lần và kèm theo co chân mà không đẻ được, những trường hợp như vậy là khả năng có lợn con nằm ngang bịt kín đường

Trang 25

đẩy ra Trường hợp như vậy phải can thiệp bằng cách cho tay vào trong để xoay lợn con trở lại tư thế thuận và cẩn thận, nhẹ nhàng lôi lợn con ra ngoài,

có như vậy quá trình đẻ mới tiếp tục được Trước khi tiến hành thao tác này cần phải dùng khăn và xà phòng để rửa sạch bộ phận sinh dục ngoài và phải dùng găng tay đã được bôi trơn để giữ cho đường sinh dục của lợn nái không

bị nhiễm khuẩn

- Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con

+ Nuôi dưỡng lợn nái nuôi con:

Thức ăn cho lợn nái nuôi con, phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non nhu các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ Các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin

Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%,

Ca 0,9% - 1%, Phospho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con:

Trong quá trình nuôi con, lợn nái được chăn như sau:

Đối với lợn nái ngoại:

Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

Sau ngày đẻ thứ 1 và thứ 2 và thứ 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức

Trang 26

Lượng thức ăn/ nái/ ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều)

Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ ngày Một ngày trước khi cai sữa, cho lợn mẹ ăn giảm đi 20 - 30 % Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn

Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ ngày cho lợn mẹ

Đối với lợn nái nội:

Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/ 1 ngày đêm: Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô: 0,4 đơn vị

Kỹ thuật cho ăn:

Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa các bữa nên chia đều nhau

Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con

Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần.Chú ý

Trang 27

theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời

+ Kỹ thuật chăm sóc và quản lý:

Chuồng trại: Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Vì vậy hàng ngày phải

vệ sinh chuồng trại, máng ăn sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 20°C, ẩm độ là 70 - 75% Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con

Diện tích chuồng cho lợn nái nuôi trên nền cứng là: Đối với lợn công nghiệp nuôi trên chuồng sàn thì kích thước 2,4 m x 1,6 m, với mỗi cũi cho lợn

mẹ trong chuồng có kích thước từ 2,2 - 2,4m x 0,7 m

Kỹ thuật cho lợn con bú: là lợn con sau khi đẻ 1-2 giờ đã biết tìm đến vú

mẹ, nên sau khi lợn đẻ phải nhanh chóng cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt

2.2.1.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ

Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp

- Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp

Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai đoạn này để giảm tỷ lệ chết

- Thời kỳ 3 tuần tuổi:

Trang 28

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn

mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi

đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi

- Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu

là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp

Chú ý: Trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiến hành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con

- Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau: + Cho bú sữa đầu

+ Bổ sung sắt cho lợn con

+ Tập cho lợn con ăn sớm

Cho bú sữa đầu:

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con cùng

bú Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước

Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm

Trang 29

lượng γ -globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++

trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai,

để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy với tỷ lệ chết cao

Bổ sung sắt cho lợn con:

Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bủ sung thêm sắt

Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở 30 ngày đầu sau đẻ là 210 mg/ngày Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 - 2 mg/ngày, lượng sắt thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200mg Tập cho lợn con ăn sớm:

Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách

dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)

Thường bắt đầu tập ăn từ 5 - 7 ngày tuổi, với lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ Với chuồng lợn nái đẻ cũi, máng tập ăn để ở ngăn lợn con Rắc thức ăn vào máng ít một và nhiều lần trong ngày để thức ăn luôn mới, mùi thơm hấp dẫn cho lợn con ăn

Ngày đăng: 01/12/2017, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Tuấn Anh (2010), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp trọng hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp trọng hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trịnh Tuấn Anh
Năm: 2010
2. Nguyễn Xuân Bi ̀nh (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t , Nxb Nông nghiê ̣p Hà Nô ̣i, tr 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t
Tác giả: Nguyễn Xuân Bi ̀nh
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p Hà Nô ̣i
Năm: 2000
3. Đoàn Thị Kim Dung (2004), Sự biến động của một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con, các phác đồ điều trị, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến động của một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con, các phác đồ điều trị
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Năm: 2004
4. Trần Tiến Du ̃ng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc , Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Du ̃ng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
5. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1995), “Bệnh đường tiêu hóa ở lợn”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bệnh đường tiêu hóa ở lợn”
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
6. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
7. Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình (2002), “Chế tạo thử nhiệm một số chế phẩm sinh học phòng và trị bệnh tiêu chảy ở lợn con do E.coli và Clostridium perfringens”, Tạp chí khoa học kỹ thuật, Tập 4, số 1 - 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Chế tạo thử nhiệm một số chế phẩm sinh học phòng và trị bệnh tiêu chảy ở lợn con do "E.coli" và "Clostridium perfringens”, Tạp chí khoa học kỹ thuật
Tác giả: Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình
Năm: 2002
8. Phan Xuân Hảo (2006). “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái ngoại Landrace, Yorkshire và F1(Landrace x Yorkshire) đời bố mẹ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I. Số 2/2006, tr 120-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái ngoại Landrace, Yorkshire và F1(Landrace x Yorkshire) đời bố mẹ”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Phan Xuân Hảo
Năm: 2006
9. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc gia cầm
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
10. Lê Văn Hiệp (1995), Đặc điểm sinh học của chủng Baccilus subtilis, Hội thảo quốc gia khu vực nhân năm Luis Pasteus Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh học của chủng Baccilus subtilis
Tác giả: Lê Văn Hiệp
Năm: 1995
11. Phạm Khắc Hiếu , Bùi Thị Tho (1996), “Kết qua ̉ kiểm tra tính kháng kháng sinh của E. coli phân lâp ̣ tư ̀ lơn ̣ con bi ̣phân trắng tai ̣ các tỉnh phía Bắc trong 20 năm qua (1975 - 1995)”, Tạp chí KHKT Thú y , Tập III, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả kiểm tra tính kháng kháng sinh của "E. coli" phân lâp ̣ từ lơn ̣ con bi ̣phân trắng tai ̣ các tỉnhphía Bắc trong 20 năm qua (1975 - 1995)”, "Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu , Bùi Thị Tho
Năm: 1996
12. Phạm Sỹ Lăng (2009), “Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng trị”, Tạp chí khoa học thú y, Tập XVI, Tr. 80-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng trị”", Tạp chí khoa học thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2009
13. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Văn Diên, Tạ Thúy Hạnh, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Hữu Hưng, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Năm, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thọ (2014), Bệnh của lợn tại Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của lợn tại Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Văn Diên, Tạ Thúy Hạnh, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Hữu Hưng, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Năm, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2014
14. Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung (1997), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
15. Phan Văn Lục, Phạm Văn Khuê (1996), Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Văn Lục, Phạm Văn Khuê
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
16. Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương (1998), Hướng dẫn phòng và điều trị bệnh ở lợn con cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng và điều trị bệnh ở lợn con cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
17. Trịnh Thái Nguyên (1994), “So sánh hiệu quả dung thuốc nam và thuốc tân dược Chloramphenicol để phòng trị bệnh phân trắng”, Tạp chí khoa học thú y, tập 5, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh hiệu quả dung thuốc nam và thuốc tân dược Chloramphenicol để phòng trị bệnh phân trắng”, "Tạp chí khoa học thú y
Tác giả: Trịnh Thái Nguyên
Năm: 1994
18. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2004
19. Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Quang Tuyên (1993), Giáo trình chăn nuôi lợn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 1993
20. Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lê Hoa (2000), Chế phẩm sinh học để điều trị hội chứng tiêu chảy lợn con ở một số tỉnh miền núi phía bắc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế phẩm sinh học để điều trị hội chứng tiêu chảy lợn con ở một số tỉnh miền núi phía bắc
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lê Hoa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm