1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và phòng trị một số bệnh sinh sản của lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường thành phố Cẩm phả tỉnh Quảng Ninh.

62 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 816,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NÔNG THỊ THƯƠNG Tên khóa luận ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG LỢN NÁI VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN THIÊN TH

Trang 1

NÔNG THỊ THƯƠNG

Tên khóa luận

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG LỢN NÁI VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI CÔNG

TY CỔ PHẦN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN THIÊN THUẬN TƯỜNG, TP.CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 2

NÔNG THỊ THƯƠNG

Tên khóa luận

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG LỢN NÁI VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI NUÔI

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN

THIÊN THUẬN TƯỜNG, TP.CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành/Ngành: Chăn nuôi Thú y Lớp: CNTY45NO1

Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THU QUYÊN

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực tập, để hoàn thành khóa luận của mình, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y, và trang trại chăn nuôi lợn của công ty CP Thiên Thuận Tường, TP.Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh

Em cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp

đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình

Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo

TS Nguyễn Thu Quyên đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đề tài

và hoàn thành khóa luận này

Em xin cảm ơn ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép em thực hiện đề tài tốt nghiệp đại học

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường, TP.Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh, chủ trang trại, cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại về sự hợp tác giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại trại, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn tất cả!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Nông Thị Thương

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 lịch sát trùng trại lợn nái 30

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn chăn nuôi tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường năm 2015 và năm 2016 35

Bảng 4.2 Khẩu phần ăn cho lợn nái nuôi tại trại 46

Bảng 4.3 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 38

Bảng 4.4: Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại Công ty CP Thiên Thuận Tường, Cẩm Phả, Quảng Ninh 38

Bảng 4.5: Kết quả thực hiện các khâu trong quy trình đơ đẻ cho lợn 39

Bảng 4.6: Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 43

Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 44

Bảng 4.8: Kết quả trực tiếp điều trị bệnh sinh sản cho đàn lợn nái 46

Bảng 4.9: Kết quả trực tiếp điều trị bệnh cho đàn lợn thịt 48

Hình 4.1 Biểu đồ Kết quả điều trị bệnh sinh sản cho đàn lợn nái nuôi tại trại 47

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập 3

2.1.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập 4

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 2 năm) 5

2.1.2.1 Công tác chăn nuôi 5

2.1.2.2 Công tác thú y 6

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 7

2.2.1.1 Sự thành thục về tính 7

2.2.1.2 Sự thành thục về thể vóc 9

2.2.1.3 Chu kỳ động dục 9

2.2.1.4 Sinh lý quá trình mang thai và đẻ 11

2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 11

2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục 11

2.2.2.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa 12

Trang 7

2.2.2.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con 13

2.2.3 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nuôi tại cơ sở 15

2.2.3.1 Bệnh ở lợn nái sinh sản 15

2.2.3.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 20

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 24

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 24

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 26

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28

3.1 Đối tượng 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung thực hiện 28

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 28

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4.2 Phương pháp thực hiện 28

3.4.2.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 28

3.4.2.2 Quy trình vệ sinh chuồng nuôi hàng ngày 29

3.4.2.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại 30

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 34

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường năm 2015 và năm 2016 35

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 36

4.2.1 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 36

4.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng lợn nái chửa giai đoạn chửa kỳ cuối và lợn nái

nuôi con 36

4.2.1.2 Quy trình chăm sóc lợn nái chửa và lợn nái nuôi con 37

4.2.1.3 Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại 38 4.2.1.4 Kết quả thực hiện các khâu trong quy trình đỡ đẻ cho lợn 39

Trang 8

4.2.2 Kết quả thực hiện biện pháp phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con

theo mẹ 43

4.2.2.1 Kết quả thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 43

4.2.2.2 Kết quả điều trị bệnh sinh sản cho đàn lợn nái nuôi tại trại công ty CP Thiên Thuận Tường, TP.Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh 45

4.2.2.3 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn thịt nuôi tại trại công ty CP Thiên Thuận Tường, TP.Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh 47

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

I Tài liệu tiếng việt 51

II Tài liệu tiếng anh 53

III Tài liệu internet 54

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay đang được chú trọng và phát triển Sự phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hóa càng tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy chăn nuôi lợn phát triển Do vậy, chăn nuôi lợn có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng như đối với nền kinh tế nói chung

Hiện nay, cùng với sự hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam với các nước trên thế giới, ngành chăn nuôi nước ta càng đóng vai trò quan trọng đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn Sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn mang lại giá trị lớn cho con người, đó là nguồn cung cấp thực phẩm với số lượng lớn, chất lượng tốt cho chúng ta Bên cạnh đó, nghề chăn nuôi lợn cũng cung cấp một lượng không nhỏ phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ như: da, lông, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến

Chăn nuôi lợn không chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp thịt trong nước mà còn xuất khẩu ra thế giới mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi, ngoài ra nghề chăn nuôi lợn còn tận dụng được sức lao động nhàn rỗi, tận dụng được phế phẩm cho nông nghiệp, chính vì vậy lợn được nuôi nhiều ở hầu hết các tỉnh trên toàn quốc

Trong những năm gần đây, nhờ việc áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đang phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng và số lượng Phương thức chăn nuôi lợn đã và đang chuyển dịch theo hướng tích cực từ nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình, nhỏ lẻ mang tính tự cung tự cấp sang quy mô trang trại, tập chung mang tính thị trường Nhờ đó việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, tốt hơn và tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn Bên cạnh đó, để đáp ứng được nhu cầu càng cao của người tiêu dùng về chất lượng thịt, ngoài việc nuôi các giống lợn nội có sức chống chịu tốt, chúng ta còn nhập nhiều giống lợn ngoại tốt để lai tạo với các giống nội và nuôi thuần Do vậy, có rất

Trang 10

nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô từ vài trăm lợn nái đến vài nghìn con lợn nái đã phát triển ở khắp nơi trong cả nước

Để chăn nuôi lợn ngoại thực sự hiệu quả ngoài các yếu tố chuồng trại, kĩ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng bệnh, thì con giống tốt cũng là một yếu tố quan trọng.Để có con giống tốt thì cần sự tổ hợp các biện pháp kĩ thuật trong từng khâu trong quá trình chăn nuôi nhất là đối với các đàn lợn ngoại nhập tại các cơ sở, trang trại giống là cực kỳ quan trọng

Với mục đích góp phần nâng cao năng suất sinh sản cho đàn lợn nái ngoại nhập, đồng thời bổ sung thêm tài liệu nguyên cứu về lĩnh vực sinh sản của giống

lợn ngoại nhập, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và phòng trị một số bệnh sinh sản của lợn nái ngoại nuôi tại công

ty CP khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, TP.Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh.”

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại công ty CP KTKS Thiên Thuận

Tường, TP Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh

- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái mang thai

- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái mang thai

- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở

- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập

* Vị trí địa lý

Trang trại sản xuất lợn hướng nạc trực thuộc Công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường nằm trên địa bàn hành chính của phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

Phường Cửa Ông có đ ịa hình khá phức tạp, phía Bắc là những dải núi cao

Độ cao trung bình 600m, thuộc cánh cung bình phong Đông Triều - Móng Cái Phía Đông giáp sông Mông Dương - Huyê ̣n Vân Đồn Phía Tây giáp phường Cẩm Phú,

xã Dương Huy Phía Nam giáp biển Phía Bắc giáp Phường Mông Dương

* Điều kiện địa hình, đất đai

Trang trại được xây dựng trên khu đất rộng hơn 6ha Khu đất có dạng đồi núi thấp, bị chia cắt bởi nhiều khe và sông nhỏ Địa hình cao hơn ở phía Tây và phía Bắc, thấp hơn ở phía Đông và Nam Độ dốc bình quân 15 -200 Với địa hình này thích hợp cho việc canh tác nhiều loại cây ăn quả, cây lấy gỗ và nuôi trồng thủy sản

* Điều kiện khí hậu

Trại chăn nuôi nằm trong địa bàn của phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả

vì vậy điều kiện khí hậu mang đặc trưng khí hậu của thành phố Cẩm Phả Khí hậu của thành phố Cẩm Phả là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 22,7 -24,10C; Lượng mưa trung bình 1.297=1910.5mm; Độ ẩm trung bình 81,3 %; Số giờ nắng trong năm từ 1530-1776 giờ

Gió chủ đạo là gió đông Nam và đông Bắc Hàng năm có gió bão, mưa to, và cũng bị ảnh hưởng bởi các cơn bão xảy ra trong năm

Trang 12

2.1.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập

* Quá trình thành lập và phát triển của công ty cổ phần KTKS Thiên Thuận Tường Trang trại sản xuất lợn hướng nạc nằm trên địa phận phường Cửa Ông - thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh Trại được thành lập năm 2007, là trại lợn tư nhân do ông Trần Hòa làm chủ đầu tư và là giám đốc công ty

* Cơ sở vật chất của trang trại

- Trại lợn của công ty cổ phần KTKS Thiên Thuận Tường có khoảng 6 ha đất để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

- Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió; nhà ở được lợp ngói

đỏ, có hai dãy nhà ở, một dãy nhà năm phòng và một dãy nhà ba phòng

- Khu nhà ăn xây dựng khang trang, sạch sẽ Khu nấu ăn được trang bị tủ lạnh, bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn

- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 400 nái bao gồm: hai chuồng đẻ mỗi chuồng có 50 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, hai chuồng bầu mỗi chuồng có 250 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, một chuồng đực giống + nái hậu bị có 20 ô kích thước 5m × 6m , sáu chuồng thương phẩm mỗi chuồng có 20 ô kích thước 5m × 6m, và một chuồng úm có 20 ô kích thước 5m × 6m Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc

- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có ba quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; bốn quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng nái hậu bị + đực giống

và chuồng úm Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính; mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m²; cách nền 1,2m; mỗi cửa sổ cách nhau 0,8m Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng bằng thép Ngoài ra, mỗi chuồng thương phẩm còn được trang bị hệ thống cho

ăn tự động hiện đại nhất hiện nay, với 100% thiết bị và dây chuyền nhập khẩu từ Đan Mạch

Trang 13

- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng mua từ bên ngoài về (do trại xây dựng gần biển nên không thể khoan giếng lấy nước ngọt được) Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau

* Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:

01: Chủ trại là giám đốc công ty

01: Trưởng trại

01: Kỹ thuật trại

02: Kế toán

10: công nhân và 10 sinh viên thực tập

02: bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng

đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng lợn thương phẩm Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 2 năm)

2.1.2.1 Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật Trại lợn của công ty nuôi cả lợn nái sinh sản và lợn thương phẩm, gồm các giống lợn khác nhau như: Yorkshire, Landrace, Pietrain, Hampshire, Duroc Ngoài ra trại còn nuôi 2 giống lợn khác là: Meishan và lợn Móng Cái làm dự

án với số lượng nhỏ

Trang 14

Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,0 - 2,3 lứa/năm Số con

sơ sinh là 11,15 con/đàn, số con cai sữa: 9,9 con/đàn

Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa, sau đó được chuyển sang chuồng úm

Lợn thương phẩm tại trại được nuôi từ lúc sau cai sữa đến lúc xuất bán khoảng 4 đến 5 tháng với khối lượng trung bình từ 90 đến 105kg/con

Trong trại có 28 lợn đực giống các loại, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo, một số cho phối giống trực tiếp Tinh lợn được khai thác chủ yếu từ hai giống lợn Landrace và Yorkshire Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực

Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao của công ty

cổ phần GreenFeed Việt Nam cho từng đối tượng lợn của trại

2.1.2.2 Công tác thú y

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam

- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa

hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

- Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện ra vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng Với phương

châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc,

tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm

Trang 15

riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100 %

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90 % trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về

số lượng đàn lợn

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính

- Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục

đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết, con vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ

Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại

+ Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4-5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 - 25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6-7 tháng khi lợn

có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý

mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu

Trang 16

vào 4-5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace)

có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12giờ mỗi ngày

Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính

sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và

sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hoocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của hoocmon trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi lợn cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu của Hughes và James (1996) [29], cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại

sự thành thục về tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu

tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu lợn cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh

Trang 17

động dục hơn lợn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống Theo Hughes và James (1996) [29], lợn cái hậu bị ngoài 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc

2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83 % lợn cái hậu bị động dục lần đầu

- Tuổi thành thục về tính của gia súc:

Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

2.2.1.2 Sự thành thục về thể vóc

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [11], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi

có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể

mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời

cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg mới nên cho phối

2.2.1.3 Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao

Trang 18

thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ

cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [27] Lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15-16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ

Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [25], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19-21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3- 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)

+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35-40h, với lợn nội là 25-30h

+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28-30h

+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực

- Thời điểm phối giống thích hợp

Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [25], trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3h và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối

Trang 19

chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

2.2.1.4 Sinh lý quá trình mang thai và đẻ

Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng

và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (Jose Bento và cs, 2013) [33]

2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục

* Sinh trưởng là một quá trình sinh lý hóa phức tạp, duy trì từ khi phôi thai được hình thành đến khi thành thục về tính Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa; là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước Thực chất sinh trưởng là sự tăng trưởng và sự phân chia các tế bào trong cơ thể

Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12 lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần (Nguyễn Quang Linh, 2005) [15]

Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng lượng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [14]

Trang 20

Theo Trần Thị Dân (2004) [3]: lợn con mới đẻ trong máu không có glubulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang con qua sữa đầu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu, được tổng hợp còn

ít khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh

* Khái niệm phát dục

Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức trong cơ thể luôn hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các

cơ quan, bộ phận trong cơ thể nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của

cơ thể sống và tăng trọng lượng theo tuổi giảm

* Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con

Lợn con giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục nhanh Trần Văn Phùng và cs (2004) [21] cho biết: Tốc độ sinh trưởng của lợn không đồng đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc

50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và vào lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu lợn con thấp Do lợn có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh Lợn con 21 ngày tuổi có thể tích lũy 9 -14 g protein/1 kg khối lượng cơ thể Trong khi đó lợn trưởng thành tích lũy được 0,3 - 0,4 kg protein Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể lợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn thấp vì khối lượng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1 kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn sản xuất ra 1 kg thịt mỡ

2.2.2.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa

Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh: Trọng lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 - 15 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều dài ruột già tăng lên từ 40 - 50 lần Lúc đầu trọng

Trang 21

lượng dạ dày chỉ là 6 - 8g và chứa được 35 - 50 g sữa nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và đến lúc lợn con dạt 60 ngày tuổi đã nặng 150 g và chứa được 700 -

1000 g sữa (Nguyễn Quang Linh, 2005) [15]

Qua nghiên cứu trên cho thấy, lợn là loài sinh trưởng và phát triển nhanh, nhưng để khai thác hết khả năng sản xuất thịt của chúng thì người chăn nuôi cần nắm vững đặc điểm tiêu hóa của lợn để tác động đúng lúc và thu được hiệu quả kinh

tế cao

2.2.2.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản

ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)

Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [8] ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất

và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh

Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất

dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Trang 22

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá

Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai đoạn này mầm bệnh

(Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh

Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm

18 - 19%, trong đó lượng  - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng  - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử  - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian

Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi

đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu  - globulin kém hơn, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần

Trang 23

tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém,

dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

2.2.3 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nuôi tại cơ sở

2.2.3.1 Bệnh ở lợn nái sinh sản

* Đẻ khó

Rặn đẻ yếu: Đặc trưng các cơn co thắt cơ tử cung và thành bụng của gia súc

mẹ vừa yếu vừa ngắn Có 3 dạng cơn co thắt và rặn đẻ yếu:

- Cơn co thắt yếu nguyên phát bắt đầu từ khi mở cổ tử cung và xảy ra trùng với cơn rặn đẻ nguyên phát

- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra sau khi co thắt và rặn đẻ mạnh nhưng không có kết quả

- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di chuyển được Các cơn co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường, quan sát thấy khi vi phạm chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu vận động, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ Cần can thiệp để cứu lợn con và mẹ (Trần Văn Bình, 2010) [37]

* Khô âm đạo: Đẻ kéo dài do co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát hoặc thứ phát, mà trước đó dịch ối và nước tiểu đã chảy ra hết, hoặc do nhân tạo làm vỡ bào thai trước khi cổ tử cung mở hết, thường dẫn đến khô đường sinh dục

Xương chậu hẹp bẩm sinh, thai quá to: vì chế độ ăn uống cho lợn nái khi có chửa không đúng quy trình kỹ thuật Khi lợn chửa bị sốt cao do mắc các bệnh truyền nhiễm đã điều trị trong thời gian khá dài

* Bệnh viêm tử cung

Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ sảy ra

Trang 24

Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [5]

Theo Pha ̣m Sỹ Lăng và cs (2002) [13], Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường

Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

- Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm

- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn

- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái

- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài

- Lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

Theo Lê Thị Tài và cs (2002) [22] đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái

Trang 25

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], Trần Thị Dân (2004) [3]: Khi lợn nái

bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảy thai, bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng

dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs, 1999) [19]

* Triệu chứng:

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua

3 thể viêm:

- Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có màu trắng hoặc xám

và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ

- Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có màu hồng hoặc nâu đỏ và

có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nô ̣i m ạc tử cung , niêm ma ̣c tử cung bi ̣ thấm di ̣ch thẩm xuất , vi khuẩn xâm nhâ ̣p và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho ma ̣ch quản và lâm ba quản , từ đó làm lớp cơ và mô ̣t ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử

- Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có màu nâu rỉ sắt

và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn

* Bệnh viêm vú

- Nguyên nhân:

Christensen và cs (2007) [28] khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ

mẫu mô vú bị viêm cho thấy: vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và

Arcanobacterium pyogenes

Trang 26

Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn

Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một

trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không

bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm

Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh

Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm

Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm

- Triệu chứng

Theo White (2013) [36], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ

ăn, sốt cao 40 - 41,50C

Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [24], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30

- 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [17] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh casein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

Trang 27

- Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [16], bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con

Nguyễn Xuân Bình (2000) [1] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục

2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng

đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

- Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày

bằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các

phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị sưng (Duy

Hùng, 2011) [10]

Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [12] cho biết: trước khi đẻ cần lau vú, xoa vú, tắm cho lợn nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên tục trong 3 ngày

Trang 28

Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm Tiêm thuốc chống viêm như prednizolon, hydro - cortizone (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2004) [18]

Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày

Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin… liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong 3 - 5 ngày

2.2.3.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con

* Bệnh phân trắng lợn con

Bệnh phân trắng lợn con là bệnh của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa Bệnh xảy

ra quanh năm, tùy theo ảnh hưởng của thời tiết mà phát sinh, phát triển Bệnh thường phát sinh vào mùa mưa khi thời tiết ẩm thấp hay thay đổi đột ngột, lứa tuổi mắc bệnh trầm trọng nhất là lợn từ 1 - 21 ngày tuổi

Nguyên nhân được xác định là do điều kiện vệ sinh dinh dưỡng cho lợn con không đảm bảo Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ không đầy đủ, nhất là giai đoạn lợn mẹ mang thai bị thiếu chất dinh dưỡng, khoáng, nhất là sắt , cô ban, can xi, vitamin B12 làm bào thai phát triển kém, do đó lợn con sơ sinh dễ bị bệnh phân trắng Bên cạnh đó, lợn con ỉa phân trắng còn do rối loạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất dinh dưỡng, nhất là thiếu sắt lại không bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cho lợn con và cũng bởi trong giai đoạn còn bú mẹ, lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng sẽ uống nước bẩn dẫn đến mắc các chứng về đường ruột

Khi sức đề kháng của lợn con giảm, các vi khuẩn có sẵn trong đường ruột phát triển nhanh chóng gây bội nhiễm, tăng độc lực gây bệnh

Nguyên nhân khiến lợn con mắc bệnh còn là do đặc điểm sinh lý của lợn con Khi mới sinh hệ điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, sẽ không thích nghi với sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu và lượng mỡ dưới da của lợn con lúc mới sinh chỉ có khoảng 1% Bởi vậy, nếu khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt, khi khí hậu thời tiết thay đổi thất thường sẽ khiến lợn mắc bệnh

Trang 29

- Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi theo

mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0-5 ngày tuổi và 7-14 ngày tuổi(Nagy và Fekete , 2005) [31]

- Theo Lê Thị Hoài (2008) [9], tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố Vì vậy, việc phân biệt giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn Môi trường ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi có sự thay đổi các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, mưa, nắng, điều kiện chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn đặc biệt là lợn con theo mẹ, do cấu tạo và chức năng sinh lý chưa ổn định và hoàn thiện, khi gặp các yếu tố bất lợi dễ gây stress dẫn đến nhiều bệnh trong đó có tiêu chảy

Triệu chứng:

Lợn con bú ít, rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo

Tiêu chảy, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, lợn gầy sút rất nhanh, hậu môn thường dính bết phân

Niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh Màu phân lúc đầu trắng sữa sau đó chuyển sang trắng đục, có mùi tanh, khắm đặc trưng Phân dính nhiều vào hậu môn, vào khoeo

* Viêm phổi

Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra trên lợn

con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng

có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi…, do sức

đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung với con nhiễm bệnh

Bệnh xảy ra chủ yếu ở thể mãn tính với triệu trứng như ho kéo dài nhiều ngày, có thể hàng tháng, ho khan, ho chủ yếu vào sáng sớm và về đêm, con vật vẫn

ăn uống bình thường nhưng sinh trưởng chậm Vì thế rất dễ kết hợp với các vi trùng gây viêm phổi khác sẽ tạo nên tình trạng viêm phổi nặng với triệu chứng sốt cao, ho nhiều, khó thở

Trang 30

Bệnh viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra đối với lợn thường

không hoặc chỉ làm chết với tỷ lệ rất thấp, nhưng nếu có sự bội nhiễm của các vi khuẩn khác thì sẽ làm cho lợn bị bệnh trầm trọng hơn và bị chết với tỷ lệ cao hơn

* Viêm khớp

Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis

gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng, qua

vết thiến

Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau (Nguyễn Ánh Tuyết, 2015) [10]

* Dịch tiêu chảy cấp (PED): Mọi loại lợn đều nhiễm bệnh

Qua khảo sát các ổ dịch tiêu chảy cấp, tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết xuất hiện trên lợn con theo mẹ là rất cao (tương ứng là 93,94 %) Hai tỷ lệ này giảm dần theo lứa tuổi Các yếu tố liên quan đến việc lan truyền dịch bệnh giữa các trại phụ thuộc vào : khoảng cách giữa các trại lợn (trại càng gần có nguy cơ lây bệnh càng cao), quy

mô chăn nuôi (tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở trại có quy mô chăn nuôi nhỏ, dưới 50 lợn nái), vệ sinh chăn nuôi (thực hiện 2 tuần một lần có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn so với

1 tuần một lần), và nguồn nước sử dụng (tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở trại có nguồn nước chưa qua xử lý) Triệu chứng lâm sàng đặc trưng của dịch tiêu chảy cấp trên lợn là tiêu chảy phân lỏng (100 %), nôn mửa (90,33 %), sau đó suy nhược, mất nước, chết nhanh (Nguyễn Tất Toàn và Đỗ Tiến Duy, 2013) [26]

Nguyễn Văn Điệp và cs (2014) [7]: điều tra bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn tại 6 tỉnh: Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội Kết quả điều tra cho thấy có tới 83,9 % lợn mang virus PED trong 31 trại nghiên cứu

Nguyên nhân:

Trang 31

- Do 1 loại ARN virus sợi đơn thuộc họ Coronavirus gây ra Với kích thước

thuộc loại khá lớn so với nhiều virus khác từ 27 đến 30 kb Virus có 2 type chính, type 1 thường gây bệnh cho lợn sau cai sữa, type 2 gây bệnh cho lợn con lợn mẹ và lợn hậu bị

Khi lợn khỏe mạnh tiếp xúc với các nguồn gây bệnh tiêu chảy cấp (PED) như: lợn mang mầm bệnh, phân, tinh lợn, vật dụng chăn nuôi có mầm bệnh,

xe tải, con người, nguồn nước…Virus sẽ từ các nguồn đó xâm nhập vào cơ thể lợn chủ yếu thông qua đường tiêu hóa (VietDVM team, 2014) [39]

Triệu chứng:

* Với lợn con: Tiêu chảy quá nhiều kết hợp với nôn làm cho những lợn con này mất nước nặng → lợn lạnh, nằm chồng lên nhau và nằm lên bụng lợn mẹ Phân lợn con màu vàng nhạt chứa sữa chưa tiêu hóa hết Chúng sẽ chết trong vòng 3 - 4 ngày do mất nước Khi chết, xác gầy kèm các triệu chứng như mắt lõm sâu, nếu mổ khám ta sẽ thấy các bệnh tích rất đặc trưng của bệnh tiêu chảy cấp như:

- Thành ruột rất mỏng, trong suốt và có thể nhìn thấy chất chứa bên trong do lớp lông rung trên niêm mạc bị phá hủy và bào mòn

- Dạ dày có chứa nhiều sữa bị đóng vón

- Hạch màng treo ruột sưng to

- Xuất hiện các tia tĩnh mạch sữa song song với tĩnh mạch màng treo ruột

* Với lợn choai hay lợn nái, sức đề kháng cao hơn đồng thời hệ thống lông rung trên niêm mạc ruột cũng khó bị phá hủy hơn nên tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ chết không cao như lợn con Những lợn trong hệ tiêu hóa có rất nhiều loại chất chứa (không chỉ có mỗi sữa như lợn con) nên khi hệ thống lông rung ruột bị phá hủy, thức ăn không được tiêu hóa triệt để, các chất chứa trong ống tiêu hóa lên men làm cho phân tiêu chảy có màu xám, hay xám đen giống như xi măng hoặc có màu vàng (chủ yếu lợn choai)

Đối với những lợn choai và lợn nái không chết, triệu chứng tiêu chảy sẽ biến mất sau 3 đến 4 tuần và đàn lợn bắt đầu phục hồi Một thời gian sau, lợn nái hình thành miễn dịch và truyền sang sữa cho lợn con

Ngày đăng: 01/12/2017, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bi ̀nh (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t, Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội, tr. 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t
Tác giả: Nguyễn Xuân Bi ̀nh
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội
Năm: 2000
2. Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2016), “Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XXIII (số 5), tr. 51 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh
Năm: 2016
3. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản lợn nái và sinh lý lợn con, Nxb Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản lợn nái và sinh lý lợn con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Nguyễn Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Văn Điền
Năm: 2015
7. Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hòa, Yamaguchi (2014), “ Một số đặc điểm dịch tễ và bệnh lý của bệnh tiêu chảy thành dịch trên lợn ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XXI (số 2), tr. 43 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ và bệnh lý của bệnh tiêu chảy thành dịch trên lợn ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hòa, Yamaguchi
Năm: 2014
8. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán (2001), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng học gia súc - gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng học gia súc - gia cầm
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
9. Lê Thị Hoài (2008), Xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli, C. Perfringens trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại tỉnh Hưng Yên và thử nghiệm phác đồ điều trị, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, tr4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli, C. "Perfringens trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại tỉnh Hưng Yên và thử nghiệm phác đồ điều trị
Tác giả: Lê Thị Hoài
Năm: 2008
10. Duy Hùng (2011), “Bệnh viêm vú ở lợn nái”, Báo nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm vú ở lợn nái
Tác giả: Duy Hùng
Năm: 2011
12. Hội chăn nuôi Việt Nam (2002), Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
13. Phạm Sỹ Lăng , Phan Đi ̣ch Lân , Trương Văn Dung (2002), “Bê ̣nh phổ biến ở lơ ̣n và biê ̣n pháp phòng trí” , Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi tâ ̣p II, tr. 44 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bê ̣nh phổ biến ở lơ ̣n và biê ̣n pháp phòng trí” ," Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng , Phan Đi ̣ch Lân , Trương Văn Dung
Năm: 2002
14. Phạm Sỹ Lăng, Phan Đình Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Đình Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
15. Nguyễn Quang Linh (2005), Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Quang Linh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
16. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
17. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
18. Lê Hồng Mâ ̣n, Bùi Đức Lũng (2004), Kỹ thuật chăn nuôi lợn , Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Lê Hồng Mâ ̣n, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Lê Văn Năm (1999), Phòng và trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh ở lợn
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
20. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), Bệnh sản khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
37. Trần Văn Bình (2010), http://pharmavet.vn/?tab=forum&id=1350 38. Nguyễn Ánh Tuyết (2015), Bệnh viêm khớp trên lợn con Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w