mắc các bệnh về sinh sản như viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó, thai chết lưu … Lợn bị các bệnh về đường sinh dục sẽ làm giảm sức đề kháng, giảm tỷ lệ thụ thai, mất sữa ảnh hưởng đến thế hệ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NÔNG THỊ MAI
Tên chuyên đề:
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ MẮC MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN Ở LỢN NÁI NGOẠI
VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NÔNG THỊ MAI
Tên chuyên đề:
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ MẮC MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN Ở LỢN NÁI NGOẠI
VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Lớp : K45 - CNTY- N01
Giảng viên hướng dẫn:TS Trần Văn Thăng
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tại trường, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong trường, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đến nay tôi đã hoàn thành chương trình học tập và thực tập tốt nghiệp
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơn sâu sắc tới Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầyTS Trần Văn Thăng, giảng viên Khoa Chăn Nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân viên trại chăn nuôi Công ty TNHH Phương Hà - Hương Lung - Cẩm Khê- Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài trong quá trình thực tập tại cơ sở
Tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ
sở để tôi có đủ ý trí và nghị lực hoàn thành chương trình học và khóa luận tốt nghiệp đại học này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng Khóa luận tốt nghiệp đại học này không tránh khỏi những thiếu sót.Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô, bạn bè, để bản Khóa luậnđược hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng5 năm 2017
Sinh viên
Nông Thị Mai
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1.Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm 7
Bảng 3.1 Hai phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung 35
Bảng 3.2 Hai phác đồ điều trị bệnh viêm vú 36
Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 38
Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng vắc-xin trong trại 39
Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 46
Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh sinh sản của đàn lợn nái ngoại 47
Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 49
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái ngoại theo tháng theo dõi 51
Bảng 4.7 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn nái ngoại mắc một số bệnh sinh sản 53
Bảng 4.8 Kết quả điều trị thử nghiệm bệnh viêm tử cung 54
Bảng 4.9 Kết quả điều trị thử nghiệm bệnh viêm vú 56
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 7
2.2 Tổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 9
2.2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 9
2.2.2 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái 12
2.2.3 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái 25
2.2.4 Tình hình nghiên trên thế giới và trong nước 25
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31
3.1.Đối tượng và phạm vi tiến hành 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.3 Nội dung tiến hành 31
3.4 Phương pháp tiến hành và các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.2 Phương pháp tiến hành 32
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 37
4.1.1 Công tác vệ sinh thú y 37
Trang 74.1.2 Công tác tiêm vắc-xin phòng bệnh 39
4.1.3 Công tác điều trị bệnh 40
4.1.4 Các công tác khác 45
4.2 Kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu 47
4.2.1 Tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái ngoại của trại lợn nái Công ty TNHH Phương Hà 47
4.2.2 Tỷ lệ nái mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 49
4.2.3 Tỷ lệ nái mắc bệnh sinh sản theo tháng theo dõi 51
4.2.4 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn nái ngoại mắc một số bệnh sinh sản 53
4.2.5 Kết quả thử nghiêm một số phác đồ điều trị bệnh sinh sản 54
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA CHUYÊN ĐỀ
Trang 8Xã hội ngày càng phát triển, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao Do vậy nhu cầu thực phẩm của con người bây giờ không chỉ đòi hỏi đáp ứng đủ về số lượng mà còn cả về chất lượng Trên thực tế, nhu cầu sử dụng thịt lợn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thịt tiêu thụ trên toàn thế giới, điều này chứng tỏ tính ưu việt của thịt lợn trong cuộc sống của con người Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu tư phát triển đàn lợn để tăng cả chất lượng và số lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu dùng
Nước ta đã nhập một số giống lợn nái ngoại như Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain… về để nuôi thuần, lai kinh tế và tạo giống mới nhằm nâng cao số lượng và chất lượng đàn lợn Việt Nam và đã thu được kết quả cao Kết quả cho thấy các giống lợn ngoại có tính thành thục sớm, tăng trọng nhanh, chất lượng thịt tốt và có giá trị kinh tế cao
Tuy nhiên, hạn chế của việc phát triển đàn lợn nái ngoại chính là yêu cầu cao về kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng Đặc biệt lợn nái ngoại vẫn hay
Trang 9mắc các bệnh về sinh sản như viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó, thai chết lưu … Lợn bị các bệnh về đường sinh dục sẽ làm giảm sức đề kháng, giảm tỷ lệ thụ thai, mất sữa ảnh hưởng đến thế hệ con từ đó làm giảm năng suất sinh sản Nếu bệnh nặng có thể gây mất khả năng sinh sản, làm tăng tỷ lệ loại thải dẫn đến làm giảm số lượng đàn lợn nái gây thiệt hại cho người chăn nuôi
Trước tình hình thực tế đó , chúng tôi thực hiện đề tài: “Xác định tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái ngoại và thử nghiệm một số phác đồ điều trị.”
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
- Xác định được tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại Công ty TNHH Phương Hà, xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị để tìm ra được phác đồ điều trị hiệu quả nhất
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1.Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại chăn nuôi công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Phương Hà đóng trên địa bàn xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Vị trí địa lý của huyện Cẩm Khê được xác định như sau:
- Phía Đông giáp huyện Thanh Ba với ranh giới là dòng sông Thao quanh năm nước đỏ phù sa
- Phía Tây giáp huyện Yên Lập với ranh giới là dãy núi vòng cung thuộc dãy Hoàng Liên Sơn chạy dọc từ Tây Bắc xuống Đông Nam
- Phía Nam giáp huyện Tam Nông, ranh giới là dòng sông Bứa chảy từ Tây sang Đông đổ ra sông Thao
- Phía Bắc giáp huyện Hạ Hòa, ranh giới là ngòi Giành - một chi lưu nhỏ của dòng sông Thao
Huyện Cẩm Khê có 31 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn Sông Thao và
30 xã: Cấp Dẫn, Cát Trù, Chương Xá, Điêu Lương, Đồng Cam, Đồng Lương, Hiền Đa, Hương Lung, Ngô Xá, Phú Khê, Phú Lạc, Phùng Xá, Phượng Vĩ, Phương Xá, Sai Nga, Sơn Nga, Sơn Tình, Tạ Xá, Tam Sơn, Thanh Nga, Thụy Liễu, Tiên Lương, Tình Cương, Tùng Khê, Tuy Lộc, Văn Bán, Văn Khúc, Xương Thịnh, Yên Dưỡng, Yên Lập
Dân số huyện Cẩm Khê là gần 13 vạn người
2.1.1.2 Điều kiện địa hình,đất đai
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Cẩm Khê là 234.55 km²
Trang 11-Với địa hình bán sơn địa, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, miền đất hiền hòa này được hình thành bởi hai vùng khá rõ rệt: vùng đồi núi và ven sông
-Theo các tài liệu địa lý - địa chất, có thể khẳng định nơi đây là vùng đất cổ, có kiến tạo địa chất khá đa dạng với nhiều loại đất và thổ nhưỡng khác nhau, điển hình như than nâu (Tiên Lương); quặng sắt (Tam Sơn, Phượng Vỹ, Hương Lung, Tiên Lương); quắc zít (Tam Sơn, Hương Lung, Tạ Xá);cao lanh (Phượng Vỹ, Ngô Xá, Tiên Lương, Văn Bán); đá vôi (Xương Thịnh, Sơn Tình, Hương Lung, Phượng Vỹ)
2.1.1.3 Điều kiện về khí hậu và thời tiết
- Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oC, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 đến 1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 – 87% Nhìn chung, khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng và vật nuôi
2.1.1.4 Điều kiện giao thông
-Với tuyến đường Cao tốc Nội Bài - Lào Cai (đường cao tốc dài nhất Việt Nam) và Quốc lộ 32C bên hữu ngạn sông Hồng cùng tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai bên tả ngạn sông Hồng kết nối Cẩm Khê với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh thành khác một cách thuận lợi Ngoài ra, các tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộđã được thảm nhựa kết nối dễ dàng với các địa phương trong vùng Đường liên thôn, liên xã đang ngày càng được bê tông hóa
Đường sắt: Gần ga đường sắt Phú Thọ (TX Phú Thọ) và ga đường sắt Chí Chủ (huyện Thanh Ba) Đường thủy: quãng đường vận chuyển ra sông Hồng ngắn, có lợi thế về vận chuyển đường thủy Đường hàng không: cách sân bay quốc tế Nội Bài 80 km
Trang 122.1.1.5 Cở sở vật chất của cơ sở nơi thực tập
Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của bà Hiền nằm trên địa phận xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Trại được thành lập năm 2009,
là trại lợn gia công của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động chăn nuôi theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, cònCông ty đầu tưgiống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do bà Hiền làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại
Tổng diện tích cho trang trại là 5ha, trong đó 2,5 ha là để chăn nuôi,1ha dùng để nuôi cá,diện tích còn lại để xây dựng công trình xung quanh trại:Nhà điều hành(phòng làm việc, phòng ở cho công nhân) và các công trình phụ trợ khác
- Hệ thống chuồng trại:
Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1.200 lợn nái bao gồm: 3 chuồng đẻ, mỗi chuồng có 120 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô; 1 chuồng bầu có 1056 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô; 3 chuồng cách ly với 40 con/ôvà 1 chuồng đực giống với 20 ô chuồng, mỗi chuồng đều có lối đi ở giữa Một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín hoàn toàn.Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ và 12 quạt thông gió đối với các chuồng bầu và 6 quạt đối với chuồng cách ly, 4 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần đươc lắp
hệ thống chống nóng bằng nhựa
Trang 13Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng bầu Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới các chuồng
Hệ thống điện được dẫn từ trạm biến áp 110KV của trại đầu tư, phục vụ cho chăn nuôi và cho bà con thôn lân cận có nhu cầu sử dụng điện Ngoài ra, trại còn chuẩn bị máy phát điện dự phòng để cung cấp điện cho toàn bộ trang trại nếu mất điện
- Các cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ khác:
Nằm trong khu vực sản xuất của trại là phòng làm việc của cán bộ kỹ thuật, một nhà kho và phòng trực của cán bộ công nhân viên Trong phòng kỹ thuật được trang bị tương đối đầy đủ dụng cụ chăn nuôi thú y thông dụng như: Xilanh, panh, dao mổ, kim tiêm, kìm bấm số tai, kìm cắt đuôi, kìm bấm nanh, bình phun thuốc sát trùng, tủ thuốc thú y và tủ lạnh đựng vắc xin
Nhà kho là nơi chứa thức ăn hàng ngày cho lợn, trại xây dựng 2 bể chứa nước cùng 4 máy bơm nước phục vụ cho cấp nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
- Cơ cấu tổ chức của trại gồm 31 cán bộ và nhân viên Trong đó, lao động gián tiếp 5 người gồm: một Giám đốc công ty, một kế toán, một thủ kho, hai người làm vườn và nấu ăn Lao động trực tiếp 26 người, gồm 2 kỹ sư chăn nuôi, 24 công nhân (8 người làm việc tại chuồng bầu, 3 người luôn phiên trực đêm, 11 người làm việc tại chuồng đẻ và 2 người luân phiên nghỉ)
Trang 142.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)
2.1.2.1 Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật.Tại trại, lợn con đƣợc nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất
là 28 ngày tuổi thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của Công ty
Số lợn đực giống cũng tăng từ 20 lên 23 con là do số lợn nái tăng khiến nhu cầu về khai thác tinh dịch để phối giống cho lợn nái tăng.Số lƣợng lợn nái sinh sản năm 2016 giảm so với năm 2015 là do trong thời gian thực tập tại trại có xảy ra
sự cố mất điện 1 ngày làm chết 81 con lợn nái, tuy công ty CP đã kịp thời bổ sung đàn hậu bị về thay thế, nhƣng do điều kiện phải cách li nên số lƣợng lợn nái sinh sản tăng chậm Số lƣợng lợn con năm 2016 chỉ tính đến tháng 11 nên số lƣợng ít hơn năm 2014 và 2015 Số lƣợng lợn hậu bị của trại dao động từ 120-150 con
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lƣợng cao, đƣợc Công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tƣợng lợn của trại
Cơ cấu đàn lợn của trại đƣợc trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1.Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm
(Nguồn: Cán bộ kĩ thuật trại cung cấp)
Trang 152.1.2.2 Công tác thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn được thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên Công
ty chăn nuôi CP Việt Nam
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo đúng quy định
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện ra vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100 %
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90 % trong một thời gian ngắn Vì vậy, khônggây thiệt hại lớn về kinh tế do lợn ốm chết và lợn bệnh
Trang 162.1.2.3 Thuận lợi và khó khăn
2.2 Tổng quan tàiliệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1.Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.2.1.1 Cấu tạo cơ quansinh dục của lợn cái
a) Bộ phận sinh dục bên ngoài
*Âm môn hay còn được gọi là âm hộ Nó nằm ở dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có 2 môi Nối liền 2 môi là 2 mép Trên 2 môi âm môn có sắc
tố đen và nhiều tuyến tiết Tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi
*Âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng Trên âm vật có các nếp da tạo
ra mũ âm, ở giữa âm vật gấp xuống dưới
Trang 17* Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh Phía trước màng trinh là âm đạo Phía sau là âm môn Sau màng trinh là
lỗ niệu đạo Tiền đình có một số tuyến hướng quay về âm vật
b) Bộ phận sinh dục bên trong
* Âm đạo
Phía trước âm đạo là cổ tử cung Phía sau là tiền đình có màng trinh che lỗ âm đạo Âm đạo là lỗ tròn để chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối Đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ, kích thước
âm đạo của lợn là 10 - 12 cm
* Tử cung
Tử cung là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung
- Ngoài cùng là lớp tương mạc được nối với dây chằng rộng Lớp cơ:
cơ trơn rất phát triển dày, khỏe có cấu tạo với chức năng chứa thai phát triển
và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong Cơ vòng phát triển mạnh
ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt Lớp niêm mạc trong cùng có màu hồng nhạt,
có nhiều nếp gấp, trong niêm mạc có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn Niêm mạc đến cổ tử cung thì thắt tùy thuộc vào từng loại gia súc
- Mạch quản thần kinh: Động mạch đến từ động mạch tử cung - buồng trứng và động mạch tử cung Thần kinh đến từ đám rối treo đằng sau và đám rối hạ vị Sừng tử cung của lợn dài ngoằn nghèo như ruột non dài từ 0,5 - 1m Dây chằng rộng dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng tử cung Cổ tử cung không có nếp gấp hoa
nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau
Trang 18* Buồng trứng
Có hai buồng trứng treo ở cạnh trước dâychằng rộng và nằm trong xoang chậu Bên ngoài là một màng liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn Bên trong buồng trứng chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, được cấu tạo bởi lớp mô liên kết sợi xốp tạo cho buồng trứng một chất đệm
* Ống dẫn trứng
Là một ống nhỏ ngoằn ngoèo nằm ở màng treo buồng trứng
Cấu tạo gồm 3 phần: ngoài cùng là sợi liên kết được kéo dài từ màng treo buồng trứng Giữa là lớp cơ trơn Trong cùng là niêm mạc được cấu tạo bằng tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết dịch Bề ngoài niêm mạc được phủ một lớp nhung mao, luôn rung động để đẩy tế bào trứng hoặc hợp
tử xuống tử cung làm tổ
Thời gian trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Ống dẫn trứng được chia làm hai đoạn:đoạn ở phía trước buồng trứng và đoạn ở gần sừng tử cung
2.2.1.2 Cấu tạo giải phẫu tuyến vú
Tuyến vú phát triển ở con cái khi đến tuổi thành thục về tính và nó phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ Thời kỳ con vật đẻ tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc còn non
- Cấu tạo: Tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành Lợn
có từ 6 - 10 đôi vú xếp thành 2 hàng từ vùng ngực tới vùng bẹn, vú gồm có bầu vú và núm vú
+ Bầu vú: Là nơi sản sinh và chứa sữa,ngoài cùng là lớp da mỏng mịn, tiếp đến là lớp cơ, trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn,xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây vàchia vú thành nhiều thùy nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi
Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo 3 loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và
Trang 19thông ra ở đỉnh đầu vú Mao mạch bao quanh tuyến dày đặc, hệ thống tĩnh mạch phát triển hơn động mạch tạo nên mạch lớn nổi dưới lớp mỏng của da
Thần kinh chi phối là nhánh thần kinh động vật từ chậu hạ vị, chậu bẹn thần kinh thẹn Thần kinh thực vật xuất phát từ đám rối chậu - hạ vị
+ Núm vú: Một bầu vú là một núm vú Cấu tạo từ ngoài vào trong: da,
tổ chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa Lợn có từ 2 - 3 ống dẫn sữa Ở đầu núm vú sợi cơ xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa
- Sinh trưởng và phát dục của tuyến vú
Động vật còn non, tuyến vú chưa phát triển Đến tuổi thành thục, hệ thống ống dẫn bắt đầu sinh trưởng và hình thành hệ thống ống dẫn nhỏ, phân nhánh phức tạp, thể tích tuyến vú tăng lên, đoạn cuối ống dẫn hình thành bao tuyến
Đến thời kỳ chửa, nuôi con, ống dẫn tăng lên không ngừng Qua một thời gian tiết sữa thể tích bao tuyến nhỏ dần,ống dẫn teo đi, lượng sữa giảm đến ngừng, bầu vú nhỏ lại
2.2.2 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái
2.2.2.1 Bệnh viêm tử cung
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ sảy ra
Viêm tử cung thường xuất hiện trên nái sau khi sinh từ 2 - 3 ngày Trong quá trình đẻ dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung sây sát, vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung (Đặng Thanh Tùng, 1999) [23]
Trang 20a Nguyên nhân
Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai khôngra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [16], lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [23], mầm bệnh có mặt trong một tuyến qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính là sự kém nhu động của ruột nhất là táo bón Vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu
Kết quả của Nguyễn Hữu Phước (1982) [16], tỷ lệ các loại vi khuẩn
gây viêm tử cung ở lợn như sau: E coli chiếm27%; Proteus vulgaris chiếm16%; Klebsiellachiếm10,2%; Steptococcus chiếm34,5%;
Staphylococcus chiếm11,2%; Còn lại các loài vi khuẩn khác chiếm 2 - 7%
Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như: Bilken (1996) [2],
cho biết: Viêm tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli dung huyết, Staphylococcus spp và Staphylococcus aureus, đó là nguyên nhân
chính gây bệnh (Nguyễn Như Pho, 2002) [14]
Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái
Trang 21Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
b Triệu chứng
Triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặc xám và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ
Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ và
có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [13], viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nô ̣i ma ̣c tử cung, niêm ma ̣c tử cung bi ̣ thấm di ̣ch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhâ ̣p và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm ma ̣c bi ̣ phân giải, thối rữa gây tổn thương cho ma ̣ch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và mô ̣t ít lớp tương ma ̣c của tử cung bị hoại tử
Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rấtcao, dịch viêm có mầu nâu rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm theo triệu chứng viêm phúc mạc,phản ứng co bóp tử cung mất hẳn
* Hậu quả:
Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục Quá trình viêm tạo độc tố có hại cho tinh trùng như : Spermiclysin (độc tố tiêu diệt vi trùng ) Hoặc niêm mạc tử cung bị tổn thương sẽ cản trở sự di chuyển của tinh trùng Nếu có thụ thai được cũng dễ bị chết con , khi bệnh nặng dẫn đến sẩy thai , tiêu thai, vô sinh (Lê Văn Năm, 1997) [12]
2.2.2.2 Bệnh viêm vú
a Nguyên nhân
Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú là các hệ vi khuẩn gây bệnh như: trực khuẩn đường ruột, liên cầu khuẩn dung huyết và các loại trực khuẩn gây thối khác Chúng xâm nhập vào tuyến vú qua vết thương, vết sây sát trên bầu vú hoặc qua lỗ núm vú
Trang 22Theo Muirhead and Alexander (2010) [36], nguyên nhân gây viêm một hay nhiều vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ bệnh khác, xảy ra lác đác ở từng cá thể hoặc cả đàn Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến 12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm vú do trầy xước (do răng của lợn con hay nền chuồng
cứng).Nhómvi khuẩn gây viêm vú gồmColiform, Klebsiella, Staphylococcus,
Streptococcus,Miscellaneous.Trong đó vi khuẩn Staphylococcusvà Streptococcuschỉ gây viêm từng tuyến vú, Klebsiella spp gây viêm vú cấp
tính và nhóm vi khuẩn E coli với nhiều type khác nhau đã được phân lập ở hầu hết các trường hợp viêm vú, độc tố củaE coli sinh ra là nguyên nhân gây
viêm vú, mất sữa
Theo White (2013) [39]nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính do
các loại vi khuẩn;E coli, Klebsiella,đôi khi Pseudomonasnhiễm qua núm vú
từ phân và nền chuồng Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh
Theo Phạm Tiến Dân (1998) [5] nghiên cứu xác định vi khuẩn gây
viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm: E coli chiếm 18,2%; Staphylococcus chiếm19%; Streptococcus chiếm27,18%; Klebsiella chiếm14,7%
Theo Christensen và cs , (2007) [26].Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là
Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [13] vi khuẩn gây bệnh viêm vú thường là: liên cầu trùng: 86%; tụ cầu trùng: 5,4%; trực
trùng sinh mủ: 2,7%; E coli: 1,2%; các loại vi khuẩn khác: 3,7% Loại gây bệnh phổ biến nhất là liên cầu trùng Agalactiac
- Corynebacterium chiếm: 12,2%
- Pseudomonas alruginosa chiếm: 9,5%
Trang 23- Các loại vi khuẩn khác chiếm: 3 - 5%
Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau khi đẻ, viêm bàng quang, viêm thận Khi lợn nái bị bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây bệnh
Lợn nái tốt sữa, lợn con bú sữa không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa, lợn con bú làm sây sát bầu vú hoặc lợn con
bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều, bầu vú căng dễ dẫn đến viêm vú (Trương Lăng, 2000) [7]
Do quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú Thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn tới viêm vú
b Triệu chứng
Viêm vú chia thành các thể như sau:
- Viêm vú thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch viêm tiết ra nhiều Nước viêm thải ra thấm vào các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và mạch lâm ba bị trở ngại Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú sưng Lúc đầu sữa biến đổi không rõ về sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm, sờ tay vào con vật cảm giác đau
- Viêm vú thể cata: Trong nang sữa chứa rất nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Cơ thể bình thường không có triệu chứng toàn thân, lúc đầu sữa loãng, có nhiều gạch vón, lượng sữa giảm vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng
- Viêm vú thể fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng fibrinogen và tế bào chết fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa fibrin và cục casein bị đóng vón Nhiệt độ cơ thể 40 - 410C, vú viêm cứng, sưng to, sờ thấy đau
Trang 24- Viêm vú thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, bạch cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Sờ con vật thấy đau, vắt sữa thấy loãng, sữa đóng vón, có mủ, máu Con vật có triệu chứng toàn thân: Sốt cao, kém ăn, hô hấp và tuần hoàn tăng
- Viêm vú thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ
ở dưới da Vật ngừng tiết sữa và trong sữa vắt ra có đầy mủ và máu, casein
- Viêm vú thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá vú Thường do kế phát từ viêm cata và viêm có mủ Lượng sữa ít có nhiều gạch nhỏ, sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, tim mạch rối loạn
- Viêm vú thể có màu: Là loại viêm cấp tính Thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hoặc do viêm phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa bị thấm dịch và hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40 - 410C, bỏ ăn
- Theo White (2013) [39] biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn
mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con
bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
Trang 25Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [3] cho biết: Mất sữa sau khi đẻ là do
kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm, cơ thể thường sốt cao liên tục từ 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm, ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng hồi phục chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc Sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái sẽ bị chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau
Nếu phát hiện và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
2.2.2.3 Bệnh đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả mẹ lẫn con có thể chết Do đó đẻ khó gây thiệt về kinh tế cho ngành chăn nuôi
Theo Nguyễn Ngọc Phu ̣c (2005) [15] thông thường thai chết lưu ở các tra ̣i chăn nuôi nái sinh sản chiếm khoảng 4 - 10% tổng số lợn con chết trong giai đoa ̣n từ sơ sinh đến cai sữa, trong đó khoảng 70% các trường hợp được coi là thai chết lưu đã từng sống sót khi mới sinh
Trang 26a Nguyên nhân
- Đẻ khó nguyên nhân do cơ thể mẹ:
Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ bị suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn của lợn yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài
Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Các nghiên cứu cho thấy độ dầy mỡ lưng ở vị trí P2 ở heo nái tốt, diễn biến ở các lứa đẻ tăng dần đến giai đoạn đậu thai, giai đoạn đẻ, thì giảm dần xuống đến cai sữa, sau đó lại tăng dần ở lứa tiếp theo đến giai đoạn đẻ Sự mập ốm của lợn nái phụ thuộc vào điểm P2 Lợn nái tốt có P2 từ 19 - 22 mm nếu lợn nái lớn hơn
23 mm là lợn mập gây ra đẻ khó do mỡ bao quanh buồng trứng và tử cung làm khả năng co thắt tử cung và cơ bụng yếu (Nguyễn Văn Thanh, 2002) [17]
Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn
nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra được Khi quá trình rặn
đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con làn lợn con bị chết
Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái : kích tố nhau thai Relaxin lúc
đẻ tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở khớp bán động háng , không giãn dây chằng xương chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp tử cung nên không tống thai ra ngoài được
- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai:
Chiều, hướng, tư thế thai lúc đẻ không bình thường
Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ
Thai bị dị hình hay quái thai
Trang 27Hiện tượng đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4 Những nguyên nhân và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế của thai không bình thường khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra ngoài được
b Triệu chứng
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs, (2016) [19] cho biết: lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu, nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt) Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi thò tay vào thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to
c Hậu quả
- Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn dẫn đến lợn con
bị chết
- Nếu mổ để lấy bào thai ra ngoài lợn mẹ hay bị chết
- Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục
- Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây sây sát niêm mạc
tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một
số bệnh : viêm tử cung , viêm vú , sẩy thai truyền nhiễm khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai , thai làm tổ dẫn đến sẩy thai, tiêu thai, đẻ non thậm trí là vô sinh
Trang 28b Phân loại hiê ̣n tượng sẩy thai
Căn cứ vào các điều kiê ̣n , nguyên nhân, triê ̣u chứng và quá trình bê ̣nh
lý, hiê ̣n tượng sẩy thai gồm các loa ̣i sau:
- Căn cư ́ vào thời gian xuất hiê ̣n của bê ̣nh gồm 2 loại:
+ Loại sẩy thai : Loại này thường xuất hiện vào thời kỳ có thai kỳ I và
II Hiện tượng này dẫn đến bê ̣nh lý ở cơ quan sinh du ̣c và cơ thể me ̣
+ Loại đẻ non: Triệu chứng lâm sàng gần giống như sinh đẻ bình thường (Bầu vú căng , xung huyết, âm hô ̣ có hiê ̣n tượng xung huyết và phù thũng ) sau khi đẻ non nếu con me ̣ được chăm sóc tốt thì cơ thể phu ̣c hồi nhanh Gia súc sơ sinh bi ̣ đẻ non có phản xạ bú chậm và nhiệt độ thường thấp
- Căn cư ́ vào triê ̣u chứng , mức độ biểu hiê ̣n và quá trình bê ̣nh lý sẩy thai gồm:
+ Sẩy thai hoàn toàn : Loại này thường gặp ở gia súc đơn thai Toàn bộ thai không được phát triển và bi ̣ tống ra ngoài khỏi tử cung gia súc me ̣
+ Sẩy thai không hoàn toàn: Thường gă ̣p ở các loài gia súc đa thai Mô ̣t số bào thai bi ̣ chết , số còn la ̣i được phát triển bình thường Trong trường hợp này số bào thai chết có thể được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ
+ Tiêu thai : Thườ ng xảy ra ở thời kỳ đầu của quá trính có thai , khi hợp tử chưa phát triển thành bào thai Tất cả các tổ chức tế bào được cơ thể
mẹ hấp thu , không để la ̣i vết tích gì trong tử cung Bê ̣nh thường gă ̣p ở bò , lợn, ngựa
Nguyên nhân : do hợp tử phát triển không bình th ường, sức sống bào thai quá yếu hoặc do tế bào trứng và tinh trùng phát triển không hoàn toàn Ngoài ra còn giao phối cận thân
+ Thai bi ̣ chết và chưa biến đổi : Bê ̣nh thường xảy ra ở thời kỳ có thai
kỳ I và đầu kỳ II , khi bào thai chết trở thành di ̣ vâ ̣t trong tử cung từ đó kích thích tử cung co bóp cho nên bào thai , nhau thai và các sản phẩm trung gian bi ̣ đẩy ra ngoài
Trang 29+ Sẩy thai do thói qu en: Là hiện tượng s ẩy thai có quy luật , sau mô ̣t thời gian có thai , tùy thuộc vào loài gia súc khác nhau tất cả các lần có thai đều xảy ra hiện tượng sẩy thai
Nguyên nhân: do màng treo rô ̣ng của tử cung bi ̣ ngắn la ̣i , tử cung phát triển không hoàn toàn hay tử cung bi ̣ di ̣ da ̣ng, niêm ma ̣c tử cung bi ̣ thoái hóa
+ Thai khô: Sau khi bào thai chết tất cả các di ̣ch ở trong tế bào tổ chức của thai được cơ thể mẹ hấp thu hoàn toàn , những phần khác trở thành khô cứng và được lưu la ̣i trong tử cung
Triê ̣u chứng: Qua thời gian sinh đẻ bình thường mà cơ thể me ̣ không có biểu hiê ̣n quá trình sinh đẻ Kiểm tra qua trự c tràng thấy tử cung nh ỏ và rắn hơn bình thường, xoa bóp nhe ̣ tử cung phát hiê ̣n những cu ̣c thai khô ở trong
+ Nhuyễn thai: Sau khi bào thai chết , do cổ tử cung mở vi khuẩn sinh
mủ xâm nhập gây viêm tử cung tích mủ, các phần mề m của bào thai bi ̣ lên men và phân giải Quá trình lên men phân giải bắt đầu từ các màng thai đến các phần mềm của thai tạo ra hỗn dịch màu nâu hoặc đỏ nhạt và thải ra ngoài , còn những mảnh xương to và lớp sụn được giữ lại trong tử cung
Triê ̣u chứng: Hỗn di ̣ch từ tử cung thải ra màu nâu hoă ̣c đỏ nha ̣t sau đó biến thành màu nâu lẫn mủ cuố i cùng toàn mủ chảy ra Khám qua trực tràng, xoa bóp tử cung có thể phát hiện được tiếng cọ sát của xương thai
+ Thai bị chương to và thối rữa : Sau khi bào thai chết vi khuẩn xâm nhâ ̣p, các tổ chức dưới da bị phân giải , các loại khí được sản sinh và tích lại dưới da bu ̣ng , ngực và âm môn các khí H 2S, NH3, C02 được tích la ̣i ở dưới
da vì vâ ̣y thai chương to lên và làm cho thành tử cung giãn ra Bê ̣nh thường xuất hiê ̣n vào thời kỳ có thai kỳ II gă ̣p nhiều ở trâu, bò, lợn
Triê ̣u chứng : Hỗn di ̣ch màu nâu lẫn tổ chức hoa ̣i tử và được thải ra ngoài có mùi hôi thối Con vâ ̣t sốt, bỏ ăn, đau đớn, bụng chướng to ảnh hưởng
Trang 30đến hô hấp và tiêu hóa Khi khám qua âm đa ̣o thấy cổ tử cung mở rô ̣ng , thành tử cung căng và bao kín chă ̣t lấy bào thai đã chương to và thủy thũng dưới da
- Căn cư ́ vào điều kiê ̣n, nguyên nhân gây bê ̣nh chủ yếu gồm các loại sau :
+ Loại sẩy thai có tính chất truyền nhiễm : Hiện tượng này chủ yếu do
mô ̣t số loa ̣i vi khuẩn , siêu vi khuẩn hoă ̣c đô ̣c tố của chúng và do mô ̣t số loa ̣i
ký sinh trùng gây nên Trong các bê ̣nh truyền nhiễm gây sẩy thai , thường gă ̣p
nhất là: Brucellosis, Vibriosis Ngoài ra cũng có thể do kế phát từ một số bệnh
truyền nhiễm khác : Bê ̣nh lở mồm long móng , xoắn khuẩn, dịch tả lợn , đóng dấu lợn, tụ huyết trùng , phó thương hàn lợn Loại sẩy thai do ký sinh trùng
chủ yếu do: Trichomonas, ký sinh trùng đường máu, sán lá gan
+ Loại sẩy thai không có tính chất truyền nhiễm:
Sẩy thai do nuôi dưỡng:
Chất lượng, số lượng thức ăn , nước uống không đầy đủ , chế đô ̣ nuôi dưỡng, khai thác không hợp lý khi gia súc có thai , ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, sức đề kháng của con me ̣, rối loa ̣n mối quan hê ̣ giữa rau thai và niêm ma ̣c tử cung gây ra hiê ̣n tượng sẩy thai Sẩy thai do nuôi dưỡng thường
gă ̣p khi cơ thể thiếu đa ̣m, khoáng và một số vitamin cần thiết
Khi thiếu Vitamin A cơ năng giữa màng nhung của nhau thai và niêm mạc tử cung bị rối loạn , bào thai sẽ bị chết , trường hợp này xảy ra vào giai đoa ̣n có thai kỳ III
Thiếu Vitamin E ở giai đoa ̣n có thai kỳ đầu thì bào thai dễ bi ̣ chết , bị tiêu thai, khô thai
Thiếu Vitamin D trở nga ̣i đến quá trình trao đổi và duy trì cân bằng Ca
và P, bất lợi cho sự phát triển của bô ̣ xương
Mă ̣t khác trong thức ăn có nấm mốc , bị ôi thiu gây cho gia súc mẹ bị ngô ̣ đô ̣c cũng dẫn đến tình tra ̣ng sẩy thai
Sẩy thai do tổn thương:
Trang 31Nguyên nhân : Gia sú c được nuôi nhốt qu á đông trong chuồng , nền chuồng dốc, trơn gia súc bi ̣ ngã Gia súc vâ ̣n đô ̣ng ma ̣nh Từ những nguyên nhân trên gây chấn thương, làm vỡ mạch máu ở thành tử cung, màng thai, mă ̣t khác gây ra những phản xạ co bóp mạnh và đột ngột ở tử cung làm cho bào thai bi ̣ chết và bi ̣ đẩy ra khỏi cơ thể me ̣
Sẩy thai do gia sú c me ̣ bi ̣ bê ̣nh:
Nguyên nhân: Cơ quan sinh dục cơ thể me ̣ xuất hiê ̣n tình tra ̣ng bê ̣nh lý: Viêm nô ̣i ma ̣c tử cung, viêm tử cung tích mủ, tử cung bi ̣ dị dạng, u tử cung
Bê ̣nh ở hê ̣ tim ma ̣ch : Làm rối loạn hệ thống tuần hoàn ở nhau thai và niêm ma ̣c tử cung, bào thai bị đói dinh dưỡng
Bê ̣nh ở gan gây nên tình tra ̣ng bào thai bi ̣ nhiễm đô ̣c
Bê ̣nh ở hê ̣ tiêu hóa: Chướng bu ̣ng đầy hơi, viêm da ̣ dày, ruô ̣t, liê ̣t da ̣ cỏ gây cho tử cung xuất hiê ̣n những cơn co bóp, cơn ră ̣n làm thai bi ̣ chết
Do cơ thể me ̣ bi ̣ ngô ̣ đô ̣c qua thức ăn, nước uống
Do cơ thể me ̣ sử du ̣ng thuốc gây mê toàn thân , uống nhiều thuốc lợ i tiểu, thuốc tẩy, thuốc kích thích cơ trơn co bóp
Sẩy thai do bệnh ở rau thai: Do các nguyên nhân sau:
Bào thai phát triển không bình thường- thai di ̣ hình
Phù thũng bào thai
Dây rốn bi ̣ di ̣ da ̣ng hay phát triển quá ngắn, quá dài
Màng thai bị phù hoặc bị viêm
Rau thai bi ̣ di ̣ da ̣ng
Dịch thai quá nhiều hoặc quá ít
- Hậu quả: Hiê ̣n tượng này gây ra nhiều hâ ̣u quả nghiêm tro ̣ng như : sức khỏe gia súc mẹ bị giảm sút , sản lượng sữa giảm , cơ quan sinh du ̣c bi ̣ bê ̣nh , giảm số lượng đầu gia súc
Trang 322.2.3 Phương pha ́ p chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái
Dùng phương pháp:
- Quan sát (Inspectio)
Quan sát là phương pháp khám bệnh đầu tiên, đơn giản nhưng rất có hiệu quả Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong thú y Quan sát trạng thái gia súc, cách đi lại, tình trạng niêm mạc, da, lông và các triệu chứng bệnh
- Sờ nắn (Palpatio)
Người khám dùng tay sờ nắn vào các bộ phận cơ thể gia súc bị bệnh để biết nhiệt độ, độ ẩm, độ cứng và độ mẫn cảm của tổ chức cơ thể gia súc Sờ nắn để bắt mạch, đo huyết áp, khám trực tràng là phương pháp thường dùng trong thú y
- Gõ (Percussino)
Các khí quan, tổ chức trong cơ thể động vật có cấu tạo về mặt giải phẫu
và tổ chức khác nhau Vì vậy khi gõ vào các cơ quan tổ chức đó âm hưởng thu được cũng khác nhau Lúc có bệnh, tính chất của tổ chức thay đổi thì âm hưởng phát ra lúc gõ cũng thay đổi
- Nghe (Ausaltatio)
Phương pháp nghe dùng để khám hoạt động của các khí quan trong cơ thể như tim, phổi, dạ dày, ruột để biết được hoạt động của các tổ chức trên
Có hai phương pháp nghe là nghe trực tiếp và nghe gián tiếp
2.2.4 Tình hình nghiên trên thế giới và trong nước
2.2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Martineau (2011) [37], có nhiều bệnh nguyên học và sinh lý bệnh
có thể được đề cập trong hội chứng rối loạn tiết sữa và viêm vú ở lợn nái sau
đẻ do dùng những tên khác nhau: phức hợp viêm vú - viêm tử cung - mất sữa (MMA), hội chứng mất sữa, hội chứng rối loạn tiết sữa, phù thũng vú, hội chứng giảm tiết sữa, ngộ độc máu mất sữa và viêm vú sau đẻ
Theo Shrestha (2012) [38], hội chứng MMA gây chết khoảng 2% lợn nái nhưng tỷ lệ chết ở lợn con lên tới 80% do đói, ỉa chảy Nguyên nhân: (a)
Trang 33do dinh dưỡng: cho lợn ăn quá nhiều trong thời gian mang thai, lợn quá béo; thay đổi thức ăn đột ngột, hàm lượng vitamin E và Ca trong khẩu phần ăn thấp, thiếu xơ và nước uống; (b) do quản lý chăm sóc: lợn ít được vận động, lợn nái không được vệ sinh, vô trùng trước khi đẻ, không được quan tâm khi đẻ, thời gian đẻ kéo dài; (c) do chuồng trại: chật chội, nền chuồng không bằng phẳng, nhiệt độ môi trường cao, bầu vú lợn quánóng do đặt đèn sưởi không thích hợp;
(d) do bản thân lợn nái: đẻ nhiều con, dạ con lớn và nhão Chẩn đoán lâm sàng:
lợn sốt (40 - 410C), bỏ ăn, táo bón, bầu vú sưng cục bộ, nóng, đau
Theo Kemper và cs ,(2013) [30] tại 6 đàn nái hạt nhân ở Đức (2008 - 2010), 99,1% các mẫu sữa phân lập được vi khuẩn chủ yếu thuộc
họEnterobacteriaceae,Staphylococcaceae, Streptococcaceae và
Enterococcaceae.Trong đó,E coli chiếm nhiều hơn cả và những loài này
cũng được tìm thấy trong sữa lợn khỏe, còn Staphylococcus spp, Lactococcus
lactis được tìm thấy trong sữa lợn mắc hội chứng MMA
Theo Maes và cs , (2010) [32]thuật ngữ Metritis, Mastitis, Agalactia (MMA) được dùng rất thường xuyên trong các bài báo khoa học trước đây, ngày nay được xemnhưmộtloại PDS(hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ lợn nái),MMA có tỷ lệ lưu hành 6,9% trong tổng số 16.450 lợn nái đẻ trong hơn
01 năm tại 31 đàn ở Illinois; trong 27.656 lợn nái đẻ của một nghiên cứu được tiến hành tại bang Missouri có tới 13% nái bị mắc hội chứng MMA; tỷ lệ mắc hội chứng MMA theo đàn ở Thụy Điển biến động từ 5,5% ở đàn quy mô nhỏ
và tới 10,3% ở đàn quy mô lớn Ông cũng cho biết, một nghiên cứu mới đây ở
110 đàn lợn tại Bỉ cho thấy 34% số đàn có liên quan đến hội chứng MMA Theo Kemper và Gerjets (2009) [29] để chẩn đoán sớm hội chứng MMA, người ta thường dựa vào một số triệu chứng lâm sàng: (1) thân nhiệt lợn nái sau đẻ 12 - 48 giờ (nếu > 39,40C thì điều trị dự phòng), sự thay đổi hình dạng tuyến vú, giảm tiết sữa (hoặc mất sữa hoàn toàn), giảm tính thèm ăn (ăn ít
Trang 34hoặc bỏ ăn hoàn toàn), lượng tế bào soma trong sữa >107/ml, pH sữa > 6,7; tăng hàm lượng các interleukin trong máu (tăng lượng IL-1P, IL-6, IL-8 và TNFa (2) các yếu tố ảnh hưởng đến hội chứng MMA: thời gian mang thai dài (> 116 ngày), thời gian đẻ dài (> 3 giờ), can thiệp bằng dụng cụ sản khoa khi
đẻ, nhiều con (> 11con/ổ) nhiễm trùng đường sinh dục, táo bón, sự tăng đàn, chuyển đàn, trong đàn có nhiều nái mới, ảnh hưởng của mùa vụ, thiếu protein thô trong khẩu phần ăn, thay đổi thức ăn đột ngột, lợn nái thiếu vận động
Theo Preibler vàKemper (2011) [33] trong nghiên cứu về lợn nái mắc MMA, có 16,6% bị sốt < 39,50C, 28,8% sốt > 400C, lợn kém ăn, sản lượng sữa giảm hoặc rối loạn tiết sữa
Theo Heber và cs,(2010) [27] lợn được coi là mắc hội chứng MMA khi
có một hoặc bao gồm các biểu hiện sau: viêm tử cung, dịch tiết âm đạo có pH
> 8, lười vận động, thân nhiệt > 39,40
C, viêm vú Theo Arut Kidcha-orrapin (2006) [35] tại Thái lan hội chứng MMA
là một vấn đề lớn ở các trang trại chăn nuôi lợn, đặc biệt vào mùa hè (giữa tháng 3 và tháng 5), ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái Biện pháp tốt nhất để phòng bệnh là quản lý tốt đàn nái, đặc biệt là trước khi đẻ Cụ thể như sau:
- Thứ c ăn cho lợn nái chờ đẻ không vượt quá 18% protein; chất xơ > 4,5%; cung cấp nướ c uống đầy đủ
- Tránh gây stress cho nái sau đẻ: không chuyển nái sang chuồng đẻ trong thời tiết nóng, những ngày nắng nóng tốt nhất di chuyển trước 07 giờ sáng; thời gian nuôi thích nghi tại chuồng đẻ thích hợp nhất là 05 ngày; giữ cho lợn nái yên tĩnh
- Vệ sinh chuồng đẻ bằng các thuốc sát trùng , để trống chuồng ít nhất
01 tuần, sau khi vệ sinh mới chuyển lợn vào
Trang 35- Dùng thuốc điều trị ký sinh trùng; thuốc điều trị E coli: tiêmenrofloxacin; thuốc điều trị Streptococcus spp: tiêm amoxicillin 01 ngày
trước đẻ
- Bổ sung các vitamin A, D, E, K và khoáng chất để tăng khả năng miễn dịch cho lợn
Waller và cs, (2002) [34]cho biết khi lợn mẹ bị viêm đường sinh dục có tỷ
lệ thụ thai và số con sinh ra ở lứa sau thấp hơn so với lợn mẹ không bị viêm
Tỷ lệ viêm tử cung của lợn nái tại Anh được cho là biến động từ 1,1 – 37,2% (Kirwood, 1999) [31] Theo Ivashkevich và cs, (2011) [28] tỷ lệ viêm
tử cung ở lợn nái ở Belarus vào khoảng 33,6 – 55,0%
2.2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Bùi Thị Tho và cs, (1995) [21] cho biết: phần lớn những trường hợp lợn đẻ khó đều dẫn tới viêm tử cung
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [8] bệnh viêm vú thường xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có trường hợp đến một tháng
Theo Trịnh Đình Thâu và cs, (2010) [20] lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam có tỷ lệ mắc hội chứng MMA dao động từ 47,39% đến 53,33%
Theo Chu Thi ̣ Thơm và cs , (2005) [22] chữa bê ̣nh viêm vú , sưng vú, tắc tia sữa bằng: Bồ công anh 50g rửa sa ̣ch, giã nát cho thêm ít muối, ít nước, chắt lấy nước cho uống, phần bã đắp phần vú bi ̣ sưng
Theo Trần Tiến Dũng (2004)[6] bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm
tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung
Theo Nguyễn Xuân Bình (2005)[4]cho biết: ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)
Trang 36Theo Trần Ngọc Bích và cs, (2016) [1] đã khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh và phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục,chiếm tỷ lệ 74,13 %
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [18] lợn nái ở lứa đẻ 1 và lứa ≥ 8 có
tỷ lệ mắc viêm tử cung sau đẻ cao hơn ở các lứa đẻ khác Tác giả cho rằng ở lứa 1 do xoang chậu còn nhỏ nên lợn thường đẻ khó dẫn đến phải can thiệp và sây sát Mặt khác, lứa đẻ ≥ 8 do trương lực của cơ tử cung đã giảm nên lợn gặp khó khăn trong việc đẩy thai và các sản dịch ra khỏi tử cung sau khi đẻ Các nguyên nhân trên làm cho tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ của lứa 1 và lứa ≥ 8 cao hơn các lứa đẻ khác
Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [23] nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung
Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016) [11] cho biết tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ của lợn nái là 76,38%, biến động từ62,10 – 86,96% Hầu hết lợn nái phải can thiệp bằng tay khi đẻ đều bị viêm tử cung (96,47%) Trong khi đó lợn không cần sự can thiệp bằng tay khi đẻ có tỷ lệ viêm tử cung
là 69,06% Tỷ lệ viêm tử cung của lợn nái có thai chết lưu và lợn nái không
có thai chết lưu lần lượt là 81,63% và 73,91% Ở lợn nái lứa đẻ từ 1-6, tỷ lệ viêm tử cung biến động từ 70,07 – 93,33%
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2000) [9] điều trị bệnh viêm tử cung bằng cách dùng Benzil penicillin (Procain) 1.000.000 UI tiêm bắp Dùng Gentamycin Sulfate 200.000 UI tiêm bắp Điều trị 5 - 7 ngày
Trang 37Theo Nguyễn Văn Thanh (2002) [17] lợn nái sau khi sinh bị viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,40% Viêm tử cung trên nhóm thuần chiếm 25,48%, trên nhóm lai chiếm 50,84% Viêm tử cung xảy ra cao nhất ở lứa 1 và lứa 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không bị viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs, (2016) [19]đưa ra bốn phương pháp điều trị viêm tử cung ở lợn nái:
+ Phương pháp 1:Thụt rửa tử cung bằng dung dịch rivanol 0,1% hay
thuốc tím 0,1% ngày 1 lần, sau khi thụt rửa đợi hay kích thích cho dung dịch thụt rửa đẩy ra hết ra ngoài hết, sau đó thụt kháng sinh vào tử cung ngày 1 lần
liệu trình điều trị từ 3 – 5 ngày
+ Phương pháp 2: Dùng PGF2α hay các chế phẩm của nó như etrumat,
oestrophan, prosolvin, hanprost, lutalyse,…tiêm dưới da theo liều chỉ dẫn, tiêm 1 lần, sau đó thụt vào tử cung 200 – 500ml dung dịch lugol ngày 1 lần,
liệu trình điều trị từ 3 – 5 ngày
+ Phương pháp 3: Oxytocin 6 – 8ml tiêm dưới da, lugol 200 – 500ml
kết hợp với kháng sinh bơm vào tử cung đồng thời dùng kháng sinh thích hợp
tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần, liệu trình điều trị từ 3 – 5 ngày
+ Phương pháp 4: Dùng PGF2α hay các chế phẩm của nó tiêm dưới da
theo liều chỉ dẫn, tiêm 1 lần, lugol 200 – 500ml kết hợp với kháng sinh thụt vào tử cung đồng thời dùng kháng sinh thích hợp tiêm bắp hay tĩnh mạch tai
ngày 1 lần, liệu trình điều trị từ 3 – 5 ngày