Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quang Tính và sự tiếp nhận của chủ
Trang 1NÔNG THỊ HOÀI THU
Tên đề tài
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG Ở LỢN CON VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ BỆNH TẠI TRẠI LỢN TUẤN HÀ THÔN MAI THƯỞNG XÃ YÊN SƠN, HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn Nuôi Thú Y
Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2NÔNG THỊ HOÀI THU
Tên đề tài
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG Ở LỢN CON VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ BỆNH TẠI TRẠI LỢN TUẤN HÀ THÔN MAI THƯỞNG XÃ YÊN SƠN, HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn Nuôi Thú Y
Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Quang Tính
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, và sau gần 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trang trại lợn Tuấn Hà thôn Mai Thưởng xã Yên Sơn Huyện Lục Nam Tỉnh Bắc Giang cùng với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và dìu dắt em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Em xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo xã cùng toàn thể cán bộ Xã Yên Sơn Huyện Lục Nam đã tiếp nhận và tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại xã
Em xin trân trọng cảm ơn chủ trại lợn Tuấn Hà cùng toàn thể các
công nhân tại trang trại đã giúp đỡ em tận tình và tạo điều kiên giúp em hoàn thành quá trình thực tập tại trại
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quang Tính đã quan tâm giúp đỡ em nhiệt tình trong suốt quá trình thực tập cũng như hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân đã động viên tạo mọi điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian em học tập và trong thời gian thực tập vừa qua
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nông Thị Hoài Thu
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên trước khi ra trường, nhằm giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa kiến thức đã học được, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thực tiễn sản xuất Qua đó giúp sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững được phương pháp nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, tính sáng tạo để sau khi ra trường về cơ sở sản xuất, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp nước ta
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quang Tính và sự tiếp nhận của chủ trang trại lợn Tuấn Hà tất cả cán
bộ thôn Mai Thưởng, xã Yên Sơn, Huyện Lục Nam Tỉnh Bắc Giang, em đã
tiến hành thực hiện đề tài: “Bệnh phân trắng ở lợn con và biện pháp điều trị tại Trại lợn Tuấn Hà, thôn Mai Thưởng, xã Yên Sơn Huyện, Lục Nam Tỉnh Bắc Giang”
Do thời gian có hạn, trình độ chuyên môn còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên khóa luận của em còn nhiều thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp, phê bình của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 36 Bảng 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại một số chuồng điều tra 37 Bảng 4.3 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo các lứa tuổi 39 Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng 42 Bảng 4.5 Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh 44 Bảng 4.6 Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng hai loại thuốc norfloxacin 5% và colistin 45
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại một số chuồng
điều tra 37 Hình 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo lứa tuổi 39 Hình 4.3 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng 42 Hình 4.4 So sánh tỷ lệ khỏi bệnh của 2 loại thuốc norfloxacin 5% và colistin 46
Trang 8MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1.Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức ở trại 3
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 4
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại, 5
2.2 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 6
2.2.1 Đặc điểm của lợn con theo mẹ 6
2.2.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con 11
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 25
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 3.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 27
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Công tác phu ̣c vu ̣ sản xuất 30
Trang 94.1.1 Công tác chăn nuôi 30
4.1.2 Công tác thú y 32
4.1.3 Công tác khác 35
4.2 Kết quả thực hiện đề tài 37
4.2.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại trại lợn Tuấn Hà thôn Mai Thưởng, Xã Yên Sơn, huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang 37
4.2.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo các lứa tuổi tại trại lợn Tuấn Hà thôn Mai Thưởng, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang 38
4.2.3 Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con qua các tháng tại trại lợn Tuấn Hà thôn Mai Thưởng xã Yên Sơn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang 42
4.2.5 Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng hai loại thuốc norfloxacin 5% và colistin 45
4.3 Đề xuất cách phòng trị bệnh phân trắng cho lợn con 46
4.3.1 Cách phòng bệnh 46
4.3.2 Trị bệnh 47
4.3.3 Công tác thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con tại trang trại 47
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là mô ̣t nước thuô ̣c khu vực Đông Nam của châu Á Đất nước được hưởng nhiều điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi từ tự nhiên , nơi đây những con người chăm chỉ, cần cù và sáng ta ̣o trong lao đô ̣ng , họ đang từng ngày tạo ra cho nền nông nghiê ̣p Viê ̣t Nam mô ̣t diê ̣n ma ̣o mới với những bước nhảy vo ̣t đáng khâm phu ̣c Nền nông nghiê ̣p Viê ̣t Nam đang vững bước đi trên đôi chân của chính mình đó là hai ngành trực thuộc cây và con Cây là đa ̣i diê ̣n cho ngành trồng tro ̣t, con đa ̣i diê ̣n cho ngành chăn nuôi
Hòa theo sự phát triển của các ngành kinh tế thì hiện nay chăn nuôi cũng là một trong các ngành đang có xu hướng phát triển đi lên Mô ̣t trong số đó là ngành chăn nuôi lợn
Song song với việc phát triển chăn nuôi thì dịch bệnh cũng nảy sinh nhiều, một trong những dịch bệnh xảy ra là bệnh phân trắng lợn con giai đoạn từ 1 - 3 tuần tuổi Bệnh phân trắng là bệnh khá phổ biến, xuất hiện từ lâu trên thế giới và ở Việt Nam, gây thiệt hại không nhỏ trong ngành chăn
nuôi Bệnh chủ yếu do nhóm vi khuẩn đường ruột E coli gây ra Vi khuẩn E coli tiết ra độc tố nhiễm vào máu phá hủy nội mạc, thành mạch gây tăng tính
thấm thành mạch, từ đó gây phù thũng lợn đi lại chậm chạp, tiêu chảy, phân lỏng màu trắng, lợn mất nước nhiều do tiêu chảy, khát nước dẫn đến rối loạn hấp thu và trao đổi chất trong cơ thể, làm lợn gầy yếu hốc hác Nếu không tác động kịp thời tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn, bởi vậy việc nghiên cứu để tìm ra biện pháp phòng trị bệnh thích hợp để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi lợn là một vấn đề được nhiều người quan tâm
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, để hạn chế mức thấp nhất tỷ lệ lợn nhiễm bệnh, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y -
Trang 11trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy
giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện đề tài: “Bệnh phân trắng Ở lợn con Và Biện Pháp Điều Trị Tại Trại Lợn Tuấn Hà, thôn Mai Thưởng,
Xã Yên Sơn ,huyện Lục Nam Tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
- Nắm bắt được tình hình phát triển chăn nuôi, phương thức chăn nuôi, công tác phòng, chống dịch bệnh của địa phương
- Điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con tại trại lợn Tuấn
Hà thôn Mai Thưởng, Xã Yên Sơn, Huyện Lục Nam Tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con
- Xác định hiệu lực của một số loại thuốc trị bệnh phân trắng lợn con
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Bổ sung thêm các thông tin khoa học về tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng nuôi tại trại lợn Tuấn Hà thôn Mai Thưởng, xã Yên Sơn Huyện Lục Nam, Tỉnh Bắc Giang
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất được biện pháp phòng và trị bệnh lợn con phân trắng đạt hiệu quả trong chăn nuôi lợn con theo mẹ
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1.Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại lợn Tuấn Hà được xây dựng năm 2013 là trại lợn nuôi gia
công với quy mô hơn 600 lợn nái trại được xây dựng tại thôn Mai Thưởng,
Xã Yên Sơn, huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang
Xã Yên Sơn nằm trải dài bên cạnh con đê thống nhất uấn cong theo dòng sông Lục Nam Đây là xã thuộc vùng chiêm trũng nằm ở phía tây nam của tỉnh Lục Nam, phía nam giáp với xã Vũ Xã, phía nam giáp hai xã Khám Lạng, Bắc Lũng ,phía bắc giáp với xã Lan Mẫu, phía tây giáp xã Trí Yên của huyện Yên Dũng, xã
có diện tích là tự nhiên là 1,883 ha, toàn xã có 16 thôn 2276 hộ và dân số là 9608 người Điều kiện địa lý của xã rất thuận lợi cho việc giao thông đi lại thuận lợi cho việc đi lại vận chuyển thức ăn của trang trại
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Huyện Lục Nam là một huyện thuộc tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc một năm có bốn mùa rõ rệt,mùa đông lạnh mùa hè nóng mùa xuân và mùa thu khí hậu ôn hòa lượng mua hằng năm
đủ cung cấp cho nhu cầu sản xuất và đời sống của huyện
Nhiệt độ trung bình từ 22-23oC, độ ẩm dao động lớn từ 73-87% nắn trung bình hằng năm từ 1.500-1.700 giờ thuận lợi cho phát triển cây trồng và nghành chăn nuôi
2.1.3 Cơ cấu tổ chức ở trại
Trại gồm có 17 người trong đó
- 1 quản lý và 1 kỹ thuật trại
- 5 sinh viên
- 1 cấp dưỡng
Trang 13- 9 công nhân
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại
Trại mới xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng luôn được quan tâm và chú trọng
+ Trong chuồng đều có các cũi sắt(đối với chuồng bầu) và giường nằm(đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy
+ Có hệ thống điện hệ thống quạt và hệ thống uống nước tự động cho lợn + Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn vào mùa đông
+ Ngoài ra trại còn có hệ thống máy phát điện với công suất lớn phục
vụ sản xuất khi có sự cố mất điện
Trang 14+ Trại có một kho là nơi chữa thức ăn cho lợn và nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc vắc xin dụng cụ kỹ thuật để tiện lợi cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng của trang trại
- Hệ thống chuồng nuôi
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dụng trên một chỗ cao ráo dễ thoát nước và bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân và sinh viên gồm 3 chuồng đẻ 1 chuồng bầu đằng sau chuồng bầu là chuồng giành cho lợn đực và lợn cách ly chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông- Tây, Nam- Bắc Đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp vào mùa đông chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái trong đó có một dãy chuồng đẻ với 48
ô chuồng sàn chuồng lợn bầu gồm 2 dãy chuồng kiểu cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống camera và hệ thống đèn điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống ở mỗi ô chuồng nuôi mùa Hè lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và hệ thống vòi phun sương, mùa Đông hệ thống làm ấm bằng bóng đèn hồng ngoại
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại,
Trang 15- Khó khăn
+ Trại nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức
tạp nên khâu phòng và điều trị bệnh gặp nhiều khó khăn
+ Trang thiệt bị vật tư hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng ảnh hưởng đến công tác sản xuất
2.2 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.2.1 Đặc điểm của lợn con theo mẹ
* Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh
Theo Trần Văn Phùng,Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo, (2004) [7], so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc
60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh
Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa
là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ
Trang 16* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức
ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất
Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác
Trang 17dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2005) [12] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein
Theo Trần Văn Phùng và Phan Đình Thắm (2004) [7], vì thiếu HCl tự
do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh phân trắng lợn con Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa
có thể kích thích vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym,
sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi
Trang 18lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
* Đặc điểm của cơ năng điều tiết của lợn con
Theo nhóm tác giả Hội chăn nuôi Việt Nam (2000) [4] ở lợn con sơ sinh,
tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm 82% Vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thể giảm nhanh, 30 phút sau khi sinh lượng nước giảm 1,5 - 2 % kèm theo giảm thân nhiệt 5 - 100C, lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫn đến dễ
bị chết non
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng
lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)
Theo Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) [2] ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời
bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi
và giai đoạn sau cai sữa
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng
Trang 19Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết
Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn còn bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hoá
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất
lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng,
do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá
và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai
đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo, (2004) [7], trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày
Trang 20đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu - globulin kém hơn, hàm lượng - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con
Bệnh lợn ỉa phân trắng có tên khoa học là: “Neonatal di ar hoea” Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [5], bệnh này là bệnh đặc trưng
đối với lợn con ở giai đoạn từ 1 - 3 tuần tuổi Bệnh phát triển mạnh mẽ và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất khi lợn con ở độ tuổi 10 - 20 ngày tuổi Bệnh này xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới Đối với Việt Nam từ những năm trước cho tới nay bệnh phân trắng lợn con vẫn phổ biến và xảy ra nhiều
Là đất nước có khí hậu nhiệt đới cận nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ chệnh lệch gữa các thời gian trong năm là cao…) Đây là điều
Trang 21kiện lý tưởng cho các nguyên nhân gây bệnh phát triển làm bùng phát dịch và
sự kiểm soát bệnh này theo đó cũng khó khăn hơn
Đặc điểm dễ nhận thấy khi lợn con mắc bệnh này là lợn đi ỉa phân có màu đặc trưng: Trắng đục, xám, vàng lẫn bọt khí… , phân rơi vãi khắp chuồng, phân dính ở hậu môn, chân sau lợn bệnh Lợn bệnh biểu hiện giảm
bú, còi cọc, lông xù, thể nặng dẫn đến tử vong Nếu qua khỏi thì cũng để lại hậu quả thiệt hại về kinh tế, sức khỏe, ảnh hưởng đến năng suất chất lượng đàn lợn sau này
* Nguyên nhân gây bệnh
Do bộ máy tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện nên ở giai đoạn sau thời kỳ bú sữa đầu, lợn con có thể mắc nhiều bệnh, đặc biệt là bệnh phân trắng - một bệnh khá phổ biết thường gặp ở lợn con theo mẹ
Theo Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phương, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn
Kháng (1996) [1], bệnh lợn con ỉa phân trắng do trực khuẩn E coli gây ra là
bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí chỉ vài giờ Có đến
48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do E coli gây ra
E coli là loại phổ biến nhất trong đường ruột, nó xuất hiện và sống
trong đường ruột của động vật chỉ vài giờ sau khi sinh Khi điều kiện chăm
sóc, nuôi dưỡng kém sức đề kháng của con vật giảm thì E coli cường độc và
có khả năng gây bệnh, chúng sản sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy tổ chức thành ruột làm thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây bệnh tiêu chảy
Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E coli là vệ sinh
chuồng trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không
Trang 22hợp vệ sinh, E coli xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể Ngoài ra, trong
dịch vị thiếu HCl tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa
Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh, thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh phân trắng
Theo Sử An Ninh (1981) [6] cho biết: Nguồn gốc sinh bệnh lợn con phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu: Đường huyết, cholesteron, kẽm, kali, natri
Chăm sóc lợn mẹ (đặc biệt là thời gian mang thai) không đúng kỹ thuật: Thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh, khẩu phần không đủ dinh dưỡng, thiếu các yếu tố đa lượng, vi lượng làm cho lợn con sinh ra còi cọc, thiếu sắt, Vitamin B12 khiến cơ thể lợn suy yếu do thiếu máu, khả năng chống đỡ với môi trường kém nên dễ mắc bệnh
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [13], sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng và khă năng chống đỡ bệnh tật, ở động vật 1/2 lượng sắt cho
cơ thể nằm ở hemoglobin, một lượng ít nằm ở myoglobin và một số enzym Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, dẫn đến cơ thể suy nhược, không hấp thu được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh
Mặt khác, lượng sữa mẹ giảm dần và đến ngày thứ 20 giảm đột ngột, trong khi đó nhu cầu về dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng cao Đến ngày thứ 20 nếu dinh dưỡng của lợn mẹ không đảm bảo, lợn con càng thiếu sữa, chúng gặm, liếm nền chuồng và thành chuồng nên dễ phát sinh bệnh đường tiêu hóa
* Những hiểu biết về trực khuẩn Escherichia coli
Trang 23Trực khuẩn ruột già Escherichia coli (E coli) còn có tên khác là Bacterium coli commune, Bacillus communis, do Escherich phân lập năm
1885 từ phân trẻ em E coli thường sinh sống ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ
dày hay phần trước ruột của các loài gia súc, gia cầm và cả người
- Đặc điểm hình thái
E coli là một trực khuẩn hình gậy kích thước từ 2 - 3 x 0,6 µm, trong
cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Trong canh trùng gà, vi khuẩn dài 4 - 8 µm
Phần lớn E.coli di động tự do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số
không di động Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô
- Đặc tính nuôi cấy
E coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể phát triển ở
nhiệt độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp 7,2 - 7,4, vi khuẩn phát triển được ở pH 5,5 - 8
E coli phát triển dễ dàng trong các môi trường nuôi cấy thông thường:
- Trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển thấp, môi trường rất đục có máu tro nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi trường, môi trường có mùi phân thối
- Trên môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy hình thành nên khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi,
có đường kính 2 - 3 mm Nuôi lâu khuẩn lạc trở thành gần như nâu nhạt
và mọc rộng ra Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R và khuẩn lạc dạng M
- Môi trường Istrati: Khuẩn lạc có màu vàng tươi
- Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng
- Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh
- Môi trường EMB (Eosin - Methylen - Blue): Khuẩn lạc có màu đen tím
Trang 24- Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc
- Môi trường thạch SS (Salmonella - Shigella): E coli có khuẩn lạc màu đỏ
- Môi trường Endo: E coli có khuẩn lạc màu đỏ
- Đặc tính sinh hóa: E coli lên men sinh hơi từ các loại đường fructoze,
glucoze, galactoze, lactoze, mannit, dextroze Lên men không chắc chắn các loại đường dulcitol, saccharose
Các phản ứng khác: H2S, VP, urea: Âm tính
MR, Indol: Dương tính
Sữa đông sau 24 - 72 giờ ở 370C
Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông
E coli có khả năng khử Nitrat thành Nitrit, khử Cacbocyl trong môi
bị phá huỷ bởi formol 0,5%
+ Kháng nguyên H:
Kháng nguyên được cấu tạo bởi thành phần lông của vi khuẩn, có bản chất
là protein giống như chất myosin trong cơ, nó có đặc tính sau: Bị phá huỷ ở 600
C trong 1 giờ, bị cồn 500
và các enzym phân giải protein phá huỷ, bền vững với formol 0,5%
Trang 25+ Kháng nguyên K:
Kháng nguyên K hay còn gọi là kháng nguyên bề mặt Chúng bao quanh tế bào vi khuẩn có bản chất là polysaccharide Có ý kiến cho rằng kháng nguyên K có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trước các yếu tố phòng bệnh của vi khuẩn
- Độc tố: Vi khuẩn E coli tạo ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại độc tố
+ Ngoại độc tố: Là một chất không chịu được nhiệt dễ bị phá huỷ ở 560C trong vòng 10h30 phút dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố, ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử
Theo Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phương, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng, (1996) [1] hiện nay việc chiết xuất ngoại độc tố chưa thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới phân lập được khả năng tạo độc
tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng
+ Nội độc tố: Là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực khuẩn đường ruột
E.coli, chúng có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội độc
tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoặc chiết suất bằng phenol dưới tác dụng của enzym
khô chúng có độ nhạy cảm cao với nhiều loại kháng sinh
Theo Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu, (1995) [14], khi nghiên cứu về
tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E coli được phân lập từ các ổ lợn con
bị bệnh phân trắng ở nước ta đã cho biết, hiện nay những thuốc có tác dụng
Trang 26tốt trong điều trị bệnh phân trắng lợn con do E coli gây ra gồm norfloxacin,
furazolidon, trimetho brom và colistin, còn các thuốc streptomycin,
sunphonamid ít có tác dụng với E coli vì tỷ lệ E coli kháng lại chúng cao từ
70 - 80% Theo các tác giả, những thuốc này đã dùng để điều trị thường xuyên, đôi khi dùng sai nguyên tắc
* Đường nhiễm bệnh
Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống Khi bị nhiễm E coli phát
triển nhanh chóng trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng Limpho do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết Từ khi mới sinh ra hệ sinh vật phát triển trong đường tiêu hoá rất
đa dạng, tỷ lệ số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau
* Qúa trình sinh bệnh
Theo Nguyễn Hữu Vũ (2000) [16], đối với lợn con khoẻ mạnh vi khuẩn
E coli và vi khuẩn khác chỉ cư trú ở đoạn ruột già và phần cuối của ruột non,
phần đầu, phần giữa hầu như không có Chỉ có rất ít liên cầu khuẩn, tụ cầu
khuẩn, Lactobacilus
Quá trình sinh bệnh liên quan đến nhiều đặc điểm sinh lý của cơ thể lợn con, hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thành thục Việc điều khiển thần kinh hầu như bằng phản xạ không điều kiện Ngoài ra có những đặc điểm đáng chú ý như: Độ toan của dịch vị dạ dày thấp, độ thẩm thấu của biểu bì thành ruột cao, chức năng điều tiết của gan kém, chức năng thu nhận của tế bào nội võng quá dễ dàng Sự thu nhận quá dễ dàng qua hàng
rào bảo vệ đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập của vi khuẩn E coli và độc tố
của chúng sinh ra vào các cơ quan như mô chính, đó là điều kiện gây nên bệnh
Việc bú sữa đầu không kịp thời, chất lượng sữa đầu kém, thiếu chất và
Globulin miễn dịch cũng là điều kiện để phát bệnh Như vậy để gây ra Coli Bacilosis rõ ràng phải có chủng E coli cường độc và đều sản sinh ra một hoặc
Trang 27một số yếu tố bám dính lên tế bào biểu bì của màng niêm mạc và vào lớp
niêm mạc kế tiếp Những lợn con mắc bệnh phân trắng do E coli thường sốt,
lông xù, biếng ăn, kém bú, thường nằm một chỗ ở góc chuồng
* Triệu chứng lâm sàng
Lứa tuổi mà bệnh thường gặp: Ở lợn con theo mẹ dưới 2 tháng tuổi, và nhất là ở giai đoạn lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi, mắc một vài con hoặc cả đàn, thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến một ngày
Lợn con bị nhiễm E coli yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít khi tăng
cao Cá biệt có trường hợp nhiệt độ tăng 40,50
C - 410C, nhưng sau 1 ngày lại
hạ xuống ngay, lợn ỉa nhiều lần trong ngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân có mùi tanh đặc biệt, bụng tóp lại da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, hai chân sau dúm lại
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào Đông Xuân, khi độ ẩm môi trường cao Bệnh thường gặp ở lợn con 1 - 21 ngày tuổi Mắc một vài con hoặc cả đàn có khi khỏi bệnh lại tái nhiễm
Thể bệnh gây chết nhanh: Những lợn từ 4 - 15 ngày tuổi thường mắc thể này, sau 1 - 2 ngày đi ỉa phân trắng lợn gầy sút nhanh, lợn bú kém rồi bỏ
bú hẳn, đi đứng xiêu vẹo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh có con hay đứng riêng một chỗ, thở nhanh Tiêu hoá kém, số lần ỉa chảy tăng từ 1 - 2 lần,
có khi 4 - 5 lần trong ngày, phân lỏng màu trắng đục, trắng hơi vàng, mùi tanh khắm, phân dính vào hậu môn và đuôi Bệnh thể kéo dài 2 - 4 ngày trước lúc chết cơ thể suy nhược co giật hoặc run rẩy, tỷ lệ chết 50 - 80% số con ốm
Thể bệnh kéo dài: Lợn 20 ngày tuổi bệnh kéo dài 7 - 10 ngày, lợn vẫn bú nhưng bú kém dần đi, phân màu trắng đục, trắng hơi vàng Những lợn đã được
40 - 50 ngày tuổi thì khi ỉa phân trắng hoạt động vẫn bình thường, ăn bú đi lại
Trang 28nhanh nhẹn, phân hơi nhão với màu trắng xám, nếu bệnh kéo dài lợn còi cọc chậm lớn
* Bệnh tích
Lợn chết do hiện tượng mất nước nghiêm trọng nên khi quan sát thấy xác con vật gầy còm, da khô thô, lông bẩn, da lông xám không bóng như con lợn khoẻ mạnh, khi mổ khám thấy gan màu nâu đen và sưng túi mật, trong chứa nhiều dịch mật loãng, lá lách không sưng, bóc lớp vỏ thấy xuất huyết, rạch dạ dày thấy trong dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu Quan sát niêm mạc thành dạ dày thấy những nốt đen trên thành do những đám nhồi máu gây nên Ruột non thì trương nhão giãn to và xuất huyết niêm mạc, ruột bị hoại tử từng đám Trong ruột già có thể thấy từng đám máu, viêm ruột là hiện tượng phổ biến, viêm thành ruột, xuất huyết ở màng treo, dạ dày chứa một ít sữa bị đông đặc, vón, cá biệt có máu, mùi tanh, ruột có chứa phân màu vàng hay xám, hạch màng treo ruột sưng
Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm phân thải ra của con bệnh, một phỏng đoán được thực hiện để xác định pH của phân nghiên cứu cho thấy nếu lợn con mắc bệnh phân trắng thì dịch tiêu chảy có pH hoàn toàn kiềm, do trong dạ
Trang 29dày lợn con sự phân tiết ra HCl là rất ít hoặc không có ở những ngày đầu tiên, thêm vào đó là sự đào thải các chất điện giải từ ống ruột có tính kiềm chiếm
đa số
Ngược lại bệnh do Rostavirus gây nên thì xét nghiệm phân thấy phân
mang tính axit nhiều hơn
Chẩn đoán bệnh do nhiễm E coli đường ruột dựa trên các triệu chứng
lâm sàng, các tổn thương tế bào mô, và sự hiện diện của những vi khuẩn nhuộm màu Gr (-) thường bám sát vào niêm mạc ruột
Ngoài ra còn có thể dựa vào những triệu chứng và bệnh tích điển hình
để kết luận bệnh Bệnh phân trắng lợn con do Rostavirus gây ra đặc trưng bởi
hiện tượng nôn mửa, đi phân lỏng màu vàng hoặc vàng kem, có lẫn bọt khí và chất nhầy, mổ khám thấy phần đỉnh nhung mao ruột bị bào mòn không gây xuất huyết hoặc loét ở ruột
Lợn con có thể bị nhiễm một loại mầm bệnh nhưng có thể bị nhiễm nhiều loại mầm bệnh khác nhau Cùng một lúc nhiều nghiên cứu cho thấy
việc nhiễm E coli và Rostavirus thường xảy ra cùng một lúc, tạo điều kiện
cho sự phát triển và phân tiết ra độc tố của mầm bệnh làm vật bị bệnh trở nên trầm trọng Vì vậy, khi điều trị cần có phương pháp phối hợp thuốc có khoa học để công tác điều trị bệnh đạt hiệu quả cao
y cần phải là một quy trình khép kín, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong
vệ sinh thú y, bởi trong môi trường chăn nuôi không hợp vệ sinh là điều kiện
Trang 30vô cùng thuận lợi cho mầm bệnh cư trú và phát triển đặc biệt là vi khuẩn E coli tác nhân gây bệnh phân trắng ở lợn con Do vậy yêu cầu người chăn nuôi
luôn phải vệ sinh chuồng trại chăn nuôi thật tốt đảm bảo cho vú của lợn mẹ cũng như các vật dụng mà lợn con thường xuyên tiếp xúc phải luôn sạch sẽ, chuồng nuôi được thiết kế đúng kỹ thuật đảm bảo độ thông thoáng, giữ môi trường chuồng nuôi thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông
Tiếp theo, cần chú ý công tác chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con trước và sau khi sinh, đòi hỏi người chăn nuôi có những hiểu biết nhất định về công tác chăn nuôi, điểm cần chú ý là việc cung cấp dinh dưỡng cho lợn nái chửa một cách phù hợp, tăng thức ăn thô giảm thức ăn tinh vào giai đoạn cuối của kỳ chửa song vẫn đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng và các loại khoáng
đa lượng, Vitamin cho lợn mẹ, để phòng hiện tượng thiếu hụt dinh dưỡng cho đàn lợn con, ta có thể tập cho lợn con ăn sớm, chuồng nuôi lợn nái và lợn con cần được giữ khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát hợp vệ sinh
Biện pháp phòng bệnh bằng thuốc là phương pháp phòng bệnh có thể nói là có hiệu quả Chúng ta có thể sử dụng một số loại kháng sinh có tác dụng tiêu diệt mầm bệnh cho lợn ngay sau khi sinh
Có thể phòng bệnh lợn con ỉa phân trắng bằng cách cho mỗi lợn con sơ sinh uống 2 - 3ml spectinomycin 5% càng sớm ngay sau khi sinh càng tốt hoặc uống 3 ml trimethoprim 24%
Cũng có thể sử dụng Fe dextran - B12 10% tiêm cho lợn con vào ngày thứ
3 và ngày thứ 10 sau khi sinh với liều 2ml/con, cũng cho hiệu quả phòng bệnh cao
Tiêm multivit - forte hay b.complex với liều 3 - 5 ml/con nhằm cung cấp khoáng và vitamin, tăng cường sức đề kháng cho lợn con giúp lợn con tăng cường sức chống chịu với bệnh tật nhất là bệnh lợn con ỉa phân trắng
Hiện nay người chăn nuôi cũng có thể sử dụng vaccine phòng bệnh
E.coli được chiết xuất từ con vật đã khỏi bệnh để dùng phòng và điều trị bệnh
Trang 31lợn con ỉa phân trắng do E coli, sản phẩm có tên là kháng thể E coli do
Hanvet sản xuất
* Điều trị
Trên thực tế có rất nhiều loại thuốc kháng sinh được dùng để điều trị bệnh phân trắng lợn con Nhưng ở đây em tiến hành điều tra hiệu lực điều trị bệnh của 2 loại thuốc norfloxacin 5% và nolistin tại trại lợn Tuấn Hà thôn Mai Thưởng ,xã Yên Sơn huyện, Lục Nam Tỉnh Bắc Giang
- norfloxacin 5% (Hanvet)
Thành phần: norfloxacin hyđrochlorie 5000mg
norfloxacin là thuốc hoá trị liệu có cơ chế tác dụng giống như kháng sinh artiborometics được tổng hợp bằng cách gắn thêm fluoro vào mạch vòng pipezazin của nhân chung quinolon Như thế, ta sẽ được quinolon mới thuốc thế hệ thứ 2 hoặc fluoroquinolone Thuốc có hoạt phổ rộng tác dụng với trực khuẩn Gr (-), tụ cầu khuẩn Thuốc được hấp thụ tốt qua ống tiêu hoá
Phân phối khắp nơi trong cơ thể, thuốc có thể tiêm hoặc uống
Cơ chế tác dụng: Tất cả các thuốc là dẫn xuất của quinolon có tác dụng
ức chế tổng hợp ADN của vi khuẩn, cụ thể gắn vào Enzym DNA - gyzase Men này tham gia tạo dây xoắn ADN Thuốc tạo phức với ADN hoặc với một Protein tham gia vào việc nhân đôi ADN Thuốc còn ức chế tổng hợp RNA đến huỷ hoại sự tổng hợp Protein của vi khuẩn
Tác dụng: Có tác dụng mạnh đặc trị các bệnh nhiễm khuẩn đơn hoặc
ghép gây bởi vi khuẩn Gr (-), Gr (+) như E coli, pasteurella, pseudomonas, streptococcus…
Liều lượng: 1ml/5 - 10 kg thể trọng
- colistin (pharmachemie)