Những năm gần đây, sự phát triển kinh tế- xã hội của nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Các đô thị, các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, một mặt đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước, mặt khác tạo ra lượng lớn chất thải rắn bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải bệnh viện. Theo số liệu điều tra, mỗi năm nước ta có khoảng 15 triệu tấn chất thải phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó 80% là chất thải sinh hoạt, 17% là chất thải công nghiệp. Với tỉ lệ thu gom như hiện nay mới đạt khoảng 70% thì lượng rác còn tồn đọng trong môi trường khoảng 40- 60 triệu tấn/năm. Điều này dẫn đến sự suy giảm chất lượng môi trường sống và phát triển không bền vững về mặt môi trường. Hà Đông là một trong những quận lớn của thành phố Hà Nội, giữ vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của thành phố. Trong những năm gần đây, do tác động của nền kinh tế thị trường, các chính sách mở cửa cùng với vị trí giao lưu buôn bán thuận tiện dẫn đến tốc độ đô thị hóa của quận ngày càng cao. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa cùng với việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, xây dựng nhiều khu đô thị mới, sự gia tăng các ngành dịch vụ công cộng, du lịch, thương mại dẫn đến lượng rác thải ra môi trường xung quanh ngày càng nhiều. Lượng rác thải không được thu gom, xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, suy giảm sức khỏe của cộng đồng dân cư trong quận và các vùng lân cận. Trong những năm qua, quận Hà Đông đã phối hợp với các ngành, các cấp có liên quan của thành phố giải quyết vấn đề rác thải, thu gom, vận chuyển và xử lý lượng rác thải trên địa bàn quận. Tuy nhiên, đầu tư tài chính cho hoạt động xử lý rác thải và ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường còn hạn chế nên lượng rác thải trên địa bàn quận vẫn chưa được mang được hiệu quả tích cực. Xuất phát từ thực trạng đó, chuyên đề nghiên cứu: “Hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” sẽ đánh giá hiệu quả của mô hình quản lý và lựa chọn được phương án thích hợp cho sự phát triển của quận.
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài chuyên đề này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy côgiáo khoa Môi trường - đô thị đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập vàviết chuyên đề Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn TS Đinh Đức Trường đã tận tìnhhướng dẫn và chỉ bảo giúp tôi hoàn thiện bài chuyên đề này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Hoàng Đức- Cục kiểm soát ô nhiễm
đâ tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Trang 3Lời cam đoan
không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai phạm tôi xin chịu kỷ luật với Nhà trường”
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2011
Ký tên
Họ tên: Nguyễn Hồng Ngọc
Trang 4MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, sự phát triển kinh tế- xã hội của nước ta đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể Các đô thị, các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được mởrộng và phát triển nhanh chóng, một mặt đóng góp tích cực cho sự phát triển của đấtnước, mặt khác tạo ra lượng lớn chất thải rắn bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thảicông nghiệp, chất thải bệnh viện Theo số liệu điều tra, mỗi năm nước ta có khoảng
15 triệu tấn chất thải phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó 80% là chất thảisinh hoạt, 17% là chất thải công nghiệp Với tỉ lệ thu gom như hiện nay mới đạtkhoảng 70% thì lượng rác còn tồn đọng trong môi trường khoảng 40- 60 triệutấn/năm Điều này dẫn đến sự suy giảm chất lượng môi trường sống và phát triểnkhông bền vững về mặt môi trường
Hà Đông là một trong những quận lớn của thành phố Hà Nội, giữ vai trò là trungtâm kinh tế, chính trị, văn hóa của thành phố Trong những năm gần đây, do tácđộng của nền kinh tế thị trường, các chính sách mở cửa cùng với vị trí giao lưubuôn bán thuận tiện dẫn đến tốc độ đô thị hóa của quận ngày càng cao Tuy nhiên,tốc độ đô thị hóa cùng với việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, xây dựng nhiều khu đô thịmới, sự gia tăng các ngành dịch vụ công cộng, du lịch, thương mại dẫn đến lượngrác thải ra môi trường xung quanh ngày càng nhiều Lượng rác thải không được thugom, xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, suy giảm sức khỏe của cộngđồng dân cư trong quận và các vùng lân cận
Trong những năm qua, quận Hà Đông đã phối hợp với các ngành, các cấp có liênquan của thành phố giải quyết vấn đề rác thải, thu gom, vận chuyển và xử lý lượngrác thải trên địa bàn quận Tuy nhiên, đầu tư tài chính cho hoạt động xử lý rác thải
và ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường còn hạn chế nên lượng rácthải trên địa bàn quận vẫn chưa được mang được hiệu quả tích cực Xuất phát từ
thực trạng đó, chuyên đề nghiên cứu: “Hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” sẽ đánh giá hiệu quả của mô hình
quản lý và lựa chọn được phương án thích hợp cho sự phát triển của quận
Trang 5Mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận của mô hình quy hoạch quản lýchất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hà Đông, Quận Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề có sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập, thống kê; phương pháp điều tra khảo sát thực địa: để điềutra thực trạng thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn quận Hà Đông
- Phương pháp mô hình hóa: để đưa ra mô hình quản lý CTRSH phù hợp cho quận
- Phương pháp so sánh: để tìm ra ưu điểm và hạn chế của mô hình
- Phương pháp dự báo: dự báo khối lượng CTRSH phát sinh trong tương lai
Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Chương II: Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận Hà Đông
Chương III: Định hướng và giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinhhoạt tại quận Hà Đông
Trang 6Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT
THẢI RẮN SINH HOẠT
1.1 Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt
Theo khái niệm chung: chất thải rắn sinh hoạt (hay rác thải sinh hoạt) là những chấtthải có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ khudân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm thương mại, dịch vụ
Theo nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải
rắn định nghĩa như sau: “Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng”.
1.2 Đặc điểm CTR sinh hoạt
1.2.1 Nguồn phát sinh CTR sinh hoạt
Các nguồn chủ yếu phát sinh CTR sinh hoạt bao gồm:
- Từ các khu dân cư;
- Từ các trung tâm thương mại;
- Từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học, các công trình công cộng;
- Từ các dịch vụ đô thị, sân bay;
- Từ các trạm xử lý nước thải và từ các ống thoát nước của thành phố;
- Từ các khu công nghiệp;
1.2.2 Phân loại CTRSH
Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau:
- Chất thải thực phẩm bao gồm các phần thừa thãi, không ăn được sinh ratrong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn…
- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: vật chất còn lại trong quátrình đốt củi, than, rơm rạ, lá…ở các gia đình, công sở, nhà hàng, nhà máy,
Trang 71.2.3 Thành phần cơ bản của CTR sinh hoạt
CTR sinh hoạt bao gồm hai thành phần chính là thành phần hữu cơ và thành phần
vô cơ Tùy theo điều kiện cụ thể từng vùng như mức sống, thu nhập, khí hậu màmỗi nơi sẽ có thành phần CTR sinh hoạt khác nhau
Bảng 1.1: Các loại chất thải đặc trưng từ nguồn thải sinh hoạt
Khu dân cư và thương mại Chất thải thực phẩm; giấy; carton; nhựa; vải; cao
su; rác vườn; gỗ; nhôm; kim loại chứa sắt; cácloại khác: tã lót, khăn vệ sinh
Chất thải đặc biệt Chất thải thể tích lớn; đồ điện gia dụng; hàng
hóa (white goods); rác vườn thu gom riêng; pin;dầu; lốp xe; chất thải nguy hại
Chất thải từ viện nghiên cứu,
công sở
Giống như trình bày trong mục chất thải khu dân
cư và thương mạiChất thải từ dịch vụ Rửa đường và hẻm phố: bụi, rác, xe máy hỏng,
(Nguồn: TS Nguyễn Trung Việt – TS Trần Thị Mỹ Diệu - 2007)
1.3 Tác động của CTR sinh hoạt
1.3.1 Tác động của CTRSH đến môi trường
a Tác động đến môi trường không khí
Nguồn rác thải từ các hộ gia đình chủ yếu là thực phẩm chiếm phần lớn trong khốilượng CTRSH phát thải Với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều như
ở Việt Nam sẽ là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy, thúc đẩynhanh quá trình lên men, thối rữa, ảnh hưởng đến môi trường không khí và gây mùikhó chịu cho con người Khí sinh học hình thành từ các bãi chôn lấp do quá trìnhphân hủy các thành phần sinh học trong chất thải có chứa rất nhiều các khí độc hạinhư H2S, NH3, CH4, SO2, CO2 và các hợp chất hữu cơ bay hơi Ngoài các hơi khí
Trang 8gây ô nhiễm thông thường thì trong quá trình thiêu đốt rác thải có thể tạo ra các khínhư PCBs, PAHs, các hợp chất dioxin và furans (Nguồn: Lê Văn Khoa – 2011)
b Tác động đến môi trường nước
Các loại RTSH nếu là rác hữu cơ, trong môi trường nước sẽ được phân hủy mộtcách nhanh chóng Phần nổi trên mặt nước sẽ có quá trình khoáng hóa chất hữu cơ
để tạo ra các sản phẩm trung gian, sau đó là những sản phẩm cuối cùng là chấtkhoáng và nước Phần chìm trong nước sẽ có quá trình phân giải yếm khí để tạo racác hợp chất trung gian và sau đó là những sản phẩm cuối cùng như CH4, H2S, H2O,
CO2 Tất cả các chất trung gian đều gây mùi thối và là độc nhất Bên cạnh đó còn cóbao nhiêu là vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước
Theo thói quen, nhiều người thường đổ rác ở các bờ sông, ao hồ, cống rãnh Lượngrác này sau khi phân hủy sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng nước mặt và nướcngầm của khu vực Rác có thể bị cuốn trôi theo mưa xuống ao hồ, cống rãnh gây ônhiễm nguồn nước Mặt khác, lâu dần lượng rác này sẽ làm giảm diện tích bề mặt
ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nguồn nước, gây cản trở dòng chảy, tắc nghẽncống rãnh thoát nước Hậu quả là hệ sinh thái nước trong các ao hồ bị hủy diệt.(Nguồn: Lê Văn Khoa – 2011)
c Tác động đến môi trường đất
Trong thành phần CTRSH có chứa nhiều chất độc Do đó, khi đưa vào môi trường,các chất độc này sẽ xâm nhập vào trong đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có íchcho đất như: giun, vi sinh vật, các loài động vật không xương sống làm đất giảmtính đa dạng sinh học và có thể phát sinh nhiều loài sâu bệnh gây hại cho cây trồng.Đặc biệt hiện nay việc sử dụng nhiều túi nylon trong sinh hoạt và đời sống cũng ảnhhưởng đến môi trường đất Các loại túi nylon này thường mất 50 – 60 năm mớiphân hủy hết nên khi vào đất sẽ làm hạn chế quá trình phân hủy, tổng hợp các chấtdinh dưỡng, làm đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút.Bên cạnh đó, việc xây dựng các bãi chôn lấp CTRSH cũng làm mất đi một quỹ đấtkhông nhỏ Ngoài ra, trong quá trình thiêu đốt rác thải, tro thải thải ra cũng chứanhiều chất độc hại cũng làm suy giảm chất lượng đất (nguồn: Lê Văn Khoa –2011)
1.3.2 Tác động của CTRSH đến kinh tế - xã hội
Ngày nay, quản lý CTRSH đang trở thành vấn đề môi trường và mang tính chính trịnghiêm trọng không chỉ ở các nước công nghiệp hóa mà còn ở các nước đang phát
Trang 9triển Lượng CTRSH ngày càng gia tăng và trở nên quan trọng có thể do những lý
do sau đây:
- Vòng đời của các sản phẩm tiêu dùng phục vụ cho sinh hoạt của con người ngàycàng ngắn đi do trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển Đây là lý dodẫn đến sự gia tăng cả về số lượng và khối lượng thành phần CTRSH ở nhiều nướcphát triển và đang phát triển trên thế giới
- Việc thu gom và xử lý rác thải gặp nhiều khó khăn do lượng phát sinh CTRSH làquá lớn, thành phần phức tạp và nhiều loại có thể khó xác định thành phần hóa họctrong rác thải Điều này dẫn đến phải có nhiều biện pháp phân loại, thu gom và xử
lý CTRSH Quan trọng hơn là phải đầu tư tài chính để thực hiện các hoạt động xử lýCTRSH
- Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất hàng tiêu dùng chưa đồng bộ,
sử dụng chưa tiết kiệm nên dẫn đến tình trạng lượng CTR phát sinh nhiều và còngây sức ép lớn đến môi trường, suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tác động và ảnh hưởng của CTRSH đến kinh tế - xã hội ngày càng trở nên nghiêmtrọng Mức đầu tư cho các hoạt động xử lý CTRSH đang được nhiều nước chú trọng
(Nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường – chất thải rắn, 2004)
Do tỷ lệ CTR được quản lý và trình độ công nghệ xử lý CTRSH ở Việt Nam vẫncòn ở mức thấp hơn các nước trong khu vực, nên chi phí cho quản lý môi trường ởViệt Nam vẫn còn ở mức thấp là 0,386% GDP, chiếm 69% mức trung bình Mứcchi môi trường khu vực nhà nước tính theo đầu người cao nhất cao nhất là Hà Lan(2001) 597 USD/người, thấp nhất là Lào 0,3 USD/người Việt Nam (2010) là 4,5
Trang 10USD/người (4% so với mức trung bình) (theo báo cáo sơ bộ của viện khoa học vàquản lý môi trường – tổng cục môi trường năm 2010) Chi ngân sách cho môitrường ở Việt Nam hiện nay ở mức thấp do đó việc tăng chi ngân sách cho môitrường ít nhất từ mức 1,3% lên 2% để đạt mức trung bình (tính theo % GDP) sẽgiúp cho công tác bảo vệ môi trường đạt hiệu quả cao hơn.
1.3.3 Tác động của CTRSH đến sức khỏe con người
Trong thành phần CTRSH, hàm lượng chất hữu cơ chiếm tỷ trọng lớn Rác thải sinhhoạt của người dân chủ yếu là thực phẩm thừa Loại rác này dễ bị phân hủy, lênmen và bốc mùi gây khó chịu cho người dân xung quanh Rác thải lâu ngày khôngđược thu gom, xử lý là môi trường tốt cho các loài gây bệnh như: ruồi, muỗi, chuột,gián qua các trung gian có thể phát sinh thành dịch bệnh gây ảnh hưởng đến sứckhỏe người dân Một số bệnh do các trung gian truyền bệnh như: chuột truyền bệnhdịch hạch, bệnh sốt vàng da do xoắn trùng, muỗi truyền bệnh sốt rét và sốt xuấthuyết Ví dụ những người tiếp xúc thường xuyên với rác thải như những người làmcông việc thu nhặt phế liệu từ các bãi rác dễ mắc các bệnh như: viêm phổi, sốt rét,các bệnh về tai, mũi, họng, các bệnh ngoài da và bệnh phụ khoa
Các loại hơi, khí độc có mặt trong khí sinh học phát sinh từ các bãi chôn lấp, bãi đổthải lộ thiên có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng nhưlàm gia tăng mức độ nguy hiểm của các bệnh nhân hô hấp, hen suyễn, ảnh hưởngđến sức khỏe sinh sản, tăng khả năng gây các bệnh truyền nhiễm và một số loại hơidung môi, hữu cơ có khả năng gây ung thư ở người Ô nhiễm kim loại nặng trongmôi trường nước, đất có khả năng ảnh hưởng tới chất lượng các nguồn thực phẩm
và gây nguy hiểm đối với sức khỏe con người
Hàng năm, theo Tổ chức Y tế Thế giới, trên thế giới có 5 triệu người chết và có gần
40 triệu trẻ em mắc các bệnh có liên quan đến rác thải, đặc biệt là những xác độngvật bị thối rữa, trong hơi thối có chất amin và các chất dẫn xuất sunfua hydro hìnhthành từ sự phân hủy rác thải, kích thích sự hô hấp của con người, kích thích nhịptim đập nhanh gây ảnh hưởng xấu đến những người mắc bệnh tim mạch (nguồn: LêVăn Khoa-2011)
1.4 Quản lý CTRSH
1.4.1 Khái niệm quản lý CTRSH
Trang 11Theo Nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 9/4/2007 của chính phủ về quản lý chất thảirắn.
“Hoạt động quản lý CRTSH bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây
dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người”/
bị Các tiêu chuẩn này cũng bao gồm các quy định về giảm thiểu và tái chế chấtthải
Tiêu chuẩn kỹ thuật và vận hành liên quan tới việc thu gom CTR, tiêu chuẩn quyđịnh rõ các loại hình thùng chứa, các địa điểm thu gom các thùng rác, số lượng cũngnhư loại chất thải phải thu gom Trong tiêu chuẩn cũng quy định về tần suất thugom cũng như yêu cầu đối với các phương tiện thu gom Các tiêu chuẩn cũng baogồm các yêu cầu về tiếng ồn với các khung gầm xe tải, các cơ cấu nén chất thảicũng như các yêu cầu với xe tải phanh hơi
Ở một số nước, những biện pháp giảm lượng CTR tạo thành cũng như khuyến khíchviệc sử dụng lại các vật liệu được áp dụng thông dụng Ở Mỹ chẳng hạn, một sốbang có luật bắt buộc cư dân phải ủy thác thu nhặt lại những vật có thể tái chế tạinơi đổ rác bên lề đường Một số bang yêu cầu phải phân các chất thải từ các hộthành các loại khác nhau trước khi thu gom
Các tiêu chuẩn kỹ thuật và vận hành cũng chi phối việc chọn địa điểm, thiết kế, xâydựng và đóng cửa các phương tiện xử lý CTR Ví dụ ở Mỹ, luật bảo tồn và khôiphục tài nguyên (resource conservation and recovery Act – RCRA) cấm các bãichôn lấp hở và yêu cầu phải nâng cấp đạt tiêu chuẩn các bãi rác vệ sinh
b Công cụ kinh tế quản lý CTRSH
Trang 12Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nói chung và quản lý CTRSH nói riêngđược áp dụng dựa trên các nguyên lý quản lý của nền kinh tế thị trường và được phổbiến rộng rãi trong những năm qua ở nhiều nước trên thế giới Các công cụ kinh tế
có thể bao gồm các loại phí, lệ phí về bảo vệ môi trường (phí chất thải khí, phí chấtthải rắn ), thuế tài nguyên môi trường (thuế sử dụng các thành phần môi trườngnhư: đất, nước, hệ sinh thái, không khí ) với mục đích tạo ra các cơ chế kinh tế bắtbuộc các nhà sản xuất kinh doanh dịch vụ phải tìm mọi cách để tiết kiệm tàinguyên, tăng cường sử dụng các loại nguyên nhiên vật liệu thân thiện với môitrường hơn, tăng cường trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ sự cân bằng sinh thái, giảmthiểu chất thải tại nguồn, tái sử dụng một cách tối đa các chất thải được phát sinhtrong quá trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ
Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải nói riêng
có tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới quá trình hạch toán kinh tế nhằm làm giảm giáthành của sản phẩm và dịch vụ, nâng cao hiệu quả kinh tế của các cơ sở sản xuất,kinh doanh và dịch vụ Việc đưa các chi phí môi trường vào hạch toán kinh doanh
sẽ buộc các nhà sản xuất phải luôn luôn đẩy mạnh việc thực hiện sản xuất sạch hơn,tìm cách tiết kiệm và tối ưu hóa các nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tối ưu hóa quytrình công nghệ và quản lý, cải tiến máy móc, thiết bị để tạo ra nhiều sản phẩmnhất đồng thời lượng CTR phát thải là ít nhất và làm sao để có thể tái sử dụng lượngCTR phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Kết quả là sẽ giảmđược tác động và sức ép lên môi trường Những công cụ kinh tế có tác động mạnh
mẽ đến các nhà sản xuất kinh doanh dịch vụ là các loại thuế, phí và lệ phí về tàinguyên môi trường như:
- Thuế tài nguyên: Các loại thuế trong lĩnh vực này bao gồm thuế ô nhiễm, thuếđánh vào sản phẩm Một loại thuế đáng chú ý là “thuế xanh/ thuế sinh thái” (green-tax) ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm, phát sinh chất thải, tái sử dụng - tái chếchất thải và các hành vi gây ô nhiễm khác
Một trong những vấn đề chất thải lớn nhất phát sinh bởi việc sử dụng túi nilon.Những túi này ít có khả năng tái chế, dễ dàng bị gió thổi tại các vị trí đổ thải hoặctrong quá trình vận chuyển chất thải Chính phủ Ailen đặt một mức thuế cao lênnhững chiếc túi này vào năm 2002, kết quả là giảm 90% tiêu dùng Một vài thànhphố ở Bangladet và Ấn Độ đã cấm phân phối loại túi này tại nơi mua sắm
- Phí môi trường: Các loại phí phát sinh trong lĩnh vực này bao gồm phí phát sinhchất thải, phí thu gom chất thải, phí ô nhiễm Một loại phí đáng chú ý trong lĩnh
Trang 13vực quản lý CTR là phí người sử dụng Đối với các hộ gia đình giàu có, sự chênhlệch về mức phí không phải là vấn đề đáng quan tâm của họ Tuy nhiên, đối với các
hộ gia đình có thu nhập thấp, việc dịnh ra phí người sử dụng để khuyến khích hoạtđộng tái chế, ngăn ngừa phát sinh chất thải nhưng đồng thời không dẫn đến sự đổthải bất hợp pháp là vấn đề rất khó khăn
Ngân hàng thế giới nghiên cứu hàng loạt những công cụ kinh tế ở Châu Mỹ La Tinhphát hiện ra rằng họ tạp trung tạo ra lợi tức hơn là cải thiện môi trường Phí người
sử dụng trả cho dịch vụ thu gom hoặc đổ thải đa số được thiết lập ở mức thấp vànguồn thu được tạo ra không trực tiếp hỗ trợ cho lĩnh vực CTR Các thành phố Mỹ
La Tinh gặp khó khăn trong việc thực hiện phí người sử dụng với kết quả về chi phí
bù đắp dao động từ 10 – 70%
Một vài thành phố sử dụng các thùng chứa có kích thước và hình dạng cố định rồitính phí dựa trên số thùng chứa đã được đổ thải Những thành phố khác sử dụng cácloại túi đặc biệt có kích cỡ nhất định và những chiếc túi đó với giá có thể bù đắp cácchi phí dịch vụ
Ngoài các loại thuế và phí môi trường, còn có một số công cụ kinh tế khác như:
- Giấy phép chuyển nhượng/ bán lượng xả thải chất ô nhiễm hay là “cota ô nhiễm”:Mục đích của cota ô nhiễm là tăng cường hiệu quả kinh tế của công tác quản lý chất
ô nhiễm và đầu tư công nghệ xử lý ô nhiễm Trong hệ thống giấy phép có thể bánđược, cơ quan hữu quan hữu trách quyết định một mức mục tiêu đối với chất lượngmôi trường là mức xả thải cho phép hoặc tiêu chuẩn chất lượng môi trường xungquanh Mức chất lượng môi trường này sau đó được thể hiện thành tổng lượng xảthải cho phép, sau đó được phân bổ quyền xả thải cho các cơ sở sản xuất kinh doanhdưới hình thức các giấy phép Mỗi giấy phép cho phép chủ sỡ hữu được xả thải mộtlượng ô nhiễm quy định Giấy phép xả thải có thể được chuyển nhượng từ nguồnnày sang nguồn khác Bản chất của cota là công nhận về pháp luật quyền được gâythiệt hại về môi trường của nhà sản xuất và cho phép họ trao đổi quyền đó dướidạng giấy phép phát thải
- Các khoản trợ cấp: Chức năng chính của trợ cấp là giúp đỡ các ngành côngnghiệp, nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điềukiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính củadoanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc phải xử lý ô nhiễm môi trường.Các khoản trợ cấp bao gồm các khoản tiền trợ cấp, các khoản vay lãi suất thấp,giảm mức thuế để khuyến khích người gây ô nhiễm thay đổi hành vi hoặc giảm bớt
Trang 14chi phí trong việc giảm ô nhiễm Ví dụ như chính phủ trợ cấp cho việc mua thiết bịgiảm ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất.
- Ký quỹ môi trường: Nội dung chính là yêu cầu các doanh nghiệp trước khi đầu tưphải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn để đảm bảo cho việc thựchiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo vệ môi trường Trong quá trình thực hiệnđầu tư và sản xuất, nếu cơ sở có các biện pháp chủ động khắc phục, không để xảy ra
ô nhiễm hoặc suy thoái ra môi trường đúng như cam kết, thì số tiền ký quỹ sẽ đượchoàn trả lại cho xí nghiệp Nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết hoặcphá sản, số tiền trên sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng chi cho công tác khắcphục sự cố ô nhiễm đồng thời với việc đóng cửa doanh nghiệp Biện pháp này sẽkhuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xử lý chất thải, tránh tình trạng gây ô nhiễmmôi trường
Tóm lại, sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý CTRSH có một số ưu điểm:
- Khuyến khích sử dụng các biện pháp chi phí – lợi ích để đạt được các mức ônhiễm có thể chấp nhận được
- Kích thích sự đầu tư phát triển đổi mới công nghệ và kiến thức chuyên sâu vềkiểm soát ô nhiễm môi trường
- Cung cấp cho chính phủ một nguồn thu nhập để hỗ trợ cho các hoạt động kiểmsoát ô nhiễm môi trường
- Xác định mức độ kiểm soát khả thi và thích hợp đối với các cơ sở sản xuất kinhdoanh và mỗi sản phẩm
c Công cụ giáo dục truyền thông
Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy
và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trịtạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái Mụcđích của giáo dục môi trường là nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vàogiữ gìn, bảo tồn và sử dụng môi trường theo cách bền vững cho cả thế hệ hiện tại vàtương lai
Hiệu quả của giáo dục môi trường trong quản lý CTR nói chung và CTRSH nóiriêng là công tác, chiến dịch 3R (reduce – reuse – recycle)
Ví dụ: các hộ gia đình ở Nhật Bản được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu
cơ dễ phân hủy, được thu gom hằng ngày để đưa đến các nhà máy sản xuất phâncompost Các loại rác không cháy được như các loại vỏ chai, hộp…được đưa đếncác nhà máy phân loại để tái chế, loại rác khó tái chế hoặc hiệu quả không cao,
Trang 15nhưng cháy được sẽ đưa đén nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng Các loại rác nàyđược yêu cầu tách riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đìnhphải tự mang ra địa điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự giámsát của đại diện cụm dân cư Đối với những loại rác có kích thước lớn như tủ lạnh,máy điều hòa, ti vi, giường, bàn ghế thì phải đăng kí trước và đúng ngày quy định
sẽ có xe của công ty vệ sinh môi trường đến chuyên chở Nhật Bản quản lý rác thảicông nghiệp rất chặt chẽ Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tại Nhật phải tự chịutrách nhiệm về lượng rác thải của mình theo quy định của các luật về bảo vệ môitrường Ngoài ra, chính quyền tại các địa phương Nhật còn tổ chức các chiến dịch
“xanh, sạch, đẹp” tại các phố phường nhằm nâng cao nhận thức của người dânchương trình này được đưa vào các trương học và đạt hiệu quả
Tại Singapore, khách du lịch dễ dàng thấy những dong chữ bằng tiếng Anh trên cácthùng công cộng “Đừng vất đi tương lai của bạn” kèm với biểu tượng “RECYCLE”
Ở trường học, ngoài các trương trình chính khóa, học sinh còn được tham gia cácchuyến đi dã ngoại đến các khu bảo tồn thiên nhiên, các cơ sở tiêu hủy chất phế thảirắn, các nhà máy xử lí nước và các nhà máy tái chế rác thải
Ở Việt Nam đã thành lập câu lạc bộ 3R với các hoạt động như đi tới nhà dân đểtuyên truyền và phổ biến kiến thức về 3R, sản xuất túi ecobag (túi sinh thái) vớinguyên liệu được tái chế từ banner băng rôn quảng cáo Nhóm 3R đã tổ chức các tròchơi giới thiệu và tuyên truyền về 3R tại một số trường như đại học RMIT, đại họcBách Khoa và các trường tiểu học Hơn nữa, các chương trình quảng cáo về chiếndịch 3R được phát sóng liên tục đã thu hút được sự quan tâm của xã hội về vấn đềbảo vệ môi trường
1.4.3 Mô hình quản lý CTRSH
a Mô hình quản lý CTRSH của Nhật Bản
Bộ môi trường Nhật Bảncó rất nhiều phòng ban, trong đó có sở quản lý chất thải vàtái chế có nhiệm vụ quản lý sự phát sinh chất thải, đẩy mạnh việc tái sử dụng tái chế
và sử dụng những nguồn tài nguyên có thể tái tạo một cách thích hợp với quan điểm
là bảo tồn môi trường sống và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiênnhiên
Hình 1.1: Cơ cấu quản lý lĩnh vực chất thải rắn của Nhật Bản
Trang 16Bộ môi trường
(Nguồn: tổng hợp từ trang http://www.env.go.jp/)
Ngoài ra, có tổng cộng bảy văn phòng môi trường đặt tại các địa phương của cảnước Những văn phòng này là chi nhánh của Bộ môi trường có nhiệm vụ:
- Quản lý chất thải và tái chế tại địa phương
- Quản lý hoạt động bảo tồn môi trường
- Bảo tồn và phát triển môi trường tự nhiên
- Bảo vệ và quản lý đời sống hoang dã
Tại Nhật Bản, khung pháp lý quốc gia hướng tới giảm thiểu chất thải nhằm xâydựng một xã hội tái chế bao gồm hệ thống luật và quy định của Nhà nước bao gồm:
- Luật quản lý rác thải và giữ vệ sinh công cộng (1970);
- Luật quản lý rác thải (1992);
- Luật thúc đẩy sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái chế (1991)
- Luật tái chế vỏ hộp và bao bì (1996);
- Luật tái chế thiết bị điện (1998)
Theo đó, Nhật chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyênliệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu theo mô hình3R (reduce, reuse, recycle)
Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt, các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rácthành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác cóthể tái chế Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phâncompost; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽđưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa các nhàmáy tái chế Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắckhác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vàogiờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Công ty vệ sinh thành phố
Sở quản lý chất thải và tái chế
Đơn vị quản lý chất thảiPhòng hoạch định
chính sách
Phòng quản lý chất thải côngnghiệp
Trang 17sẽ cho ô tô đến đem các túi rác đó đi Nếu gia đình nào không phân loại rác, để lẫnlộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báo lại với Công ty và ngay hôm sau gia đình đó
sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt tiền Với các loại rác cồng kềnh như tivi,
tủ lạnh, máy giặt, thì quy định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi ô
tô đến chở đi, không được tuỳ tiện bỏ những thứ đó ở hè phố
Sau khi thu gom rác vào nơi quy định, công ty vệ sinh đưa loại rác cháy được vào lòđốt để tận dụng nguồn năng lượng cho máy phát điện Rác không cháy được chovào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất Cách xử lý rác thải như vậy vừatận dụng được rác vừa chống được ô nhiễm môi trường Túi đựng rác là do các giađình bỏ tiền mua ở cửa hàng
b Mô hình quản lý CTRSH của Singapore
Singapore là tổ chức chính quyền quản lý theo mô hình chính quyên một cấp Quản
lý chất thải là một bộ phận trong hệ thống quản lý môi trường của quốc gia Hệthống quản lý xuyên suốt, chỉ chịu sự quản lý của Chính phủ
Hình 1.2: Sơ đồ quản lý CTR của Singapore
Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác rất hiệu quả.Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu Công ty trúng
Bộ Môi trường và Tài nguyên nước
Sở Môi trường Sở Tài nguyên
BP Bảo tồn tài nguyên
BP Kiểm
soát ô nhiễm
BP Quản lý Chất thải
Trung tâm KH Bảo vệ phóng xạ và hạt nhân
nhân
(Nguồn: trích từ trang http://app.mewr.gov.sg/)
Trang 18thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7năm
Singapore có 9 khu vực thu gom rác Rác thải sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình Tái chế Quốc gia Trong số các nhà thầu thu gom rác hiện nay tại Singapore, có bốn nhà thầu thuộc khu vực công, còn lại thuộc khu vực tư nhân Các nhà thầu tư nhân đã có những đóng góp quan trọng trong việc thu gom rác thải, khoảng 50% lượng rác thải phát sinh do tư nhân thu gom, chủ yếu là rác của các cơ sở thương mại, công nghiệp và xây dựng Chất thải của khu vực này đều thuộc loại vô cơ nên không cần thu gom hàng ngày
Nhà nước quản lý các hoạt động này theo luật pháp Cụ thể, từ năm 1989, Chínhphủ ban hành các qui định y tế công cộng và môi trường để kiểm soát các nhà thầu
tư nhân thông qua việc xét cấp giấy phép Theo quy định, các nhà thầu tư nhân phải
sử dụng xe máy và trang thiết bị không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân,phải tuân thủ các quy định về phân loại rác để đốt hoặc đem chôn để hạn chế lượngrác tại bãi chôn lấp Quy định các xí nghiệp công nghiệp và thương mại chỉ đượcthuê mướn các dịch vụ từ các nhà thầu được cấp phép
Phí cho dịch vụ thu gom rác được cập nhật trên mạng Internet công khai để ngườidân có thể theo dõi Bộ môi trường quy định các khoản phí về thu gom rác và đổ rácvới mức 6-15 đô la Singapore mỗi tháng tùy theo phương thức phục vụ (15 đôla đốivới các dịch vụ thu gom trực tiếp, 6 đôla đối với các hộ được thu gom gián tiếp quathùng chứa rác công cộng ở các chung cư) Đối với các nguồn thải không phải là hộgia đình, phí thu gom được tính tùy vào khối lượng rác phát sinh có các mức 30-70-175-235 đô la Singapore mỗi tháng Các phí đổ rác được thu hàng tháng do ngânhàng PUB đại diện cho Bộ môi trường thực hiện
Thực hiện cơ chế thu nhận ý kiến đóng góp của người dân thông qua đường dâyđiện thoại nóng cho từng đơn vị thu gom rác để đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thờitình trạng phát sinh rác và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ
c Mô hình quản lý CTRSH của Việt Nam
Mỗi một cơ quan, ban nghành sẽ nắm giữ những trách nhiệm riêng trong hệ thốngquản lý CTR, trong đó:
- Bộ khoa học công nghệ và môi trường chịu trách nhiệm vạch chiến lược bảo vệmôi trường chung cho cả nước, tư vấn cho nhà nước trong việc đề xuất luật lệ chínhsách quản lý môi trường quốc gia
Trang 19- Bộ xây dựng hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản lý chất thải.
- UBND thành phố chỉ đạo UBND cá quận, huyện, sở khoa học công nghệ và môitrường và sở giao thông công chính thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường đô thị,chấp hành nghiêm chỉnh chiến lược chung và luật pháp về bảo vệ môi trường củanhà nước
- Công ty môi trường đô thị là cơ quan trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ xủa lý CTR,bảo vệ vệ sinh môi trường thành phố theo chức trách được sở giao thông công chínhthành phố giao
Hình 1.3: Sơ đồ hệ thống quản lý RTSH đô thị ở Việt Nam
Bộ khoa học công
nghệ & MT
Bộ xây dựng
UBND thành phố
Sở GTCC
Sở khoa học công nghệ & MT
Công ty môi trường đô thị
UBND cấp dưới
Nguồn phát sinh CTR
Trang 20( Nguồn: Kinh tế rác thải và Phát triển bền vững - 2001)
1.5 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thứ nhất là: sự tham gia của cộng đồng
Công tác thu gom và xử lý rác thải nói riêng và công tác bảo vệ môi trường nóichung chỉ có thể được giải quyết một cách ổn thoả khi có sự tham gia chủ động, tíchcực của cộng đồng Sự tham gia này thể hiện ngay từ khi xác định các vấn đề, cácbiện pháp, cách thức cụ thể giải quyết các vấn đề môi trường do rác thải gây nên
Sự tham gia của cộng đồng còn có nghĩa là việc tăng quyền làm chủ và trách nhiệmcủa cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo cho họ quyền đượcsống trong một môi trường trong lành, sạch, đẹp, đồng thời được hưởng những lợiích do môi trường đem lại Để làm được việc này, các nước đã trải qua quá trìnhkiên trì vận động, tuyên truyền và thậm chí cưỡng chế người dân tiến hành phânloại rác tại nguồn
Thứ hai là: sự đầu tư thỏa đáng của nhà nước và xã hội vào các cơ sở tái chế rác
thải để đủ năng lực tiếp nhận, tiếp tục phân loại và tái chế lượng rác đã được phânloại sơ bộ tại nguồn Như vậy,trình độ phát triển về kinh tế - xã hội, sự giác ngộ vànhận thức của cộng đồng, sự đầu tư cơ sở vật chất đạt ngưỡng cần thiết để thực hiện
xử lý, tái chế phần lớn lượng rác thải ra hàng ngày có vai trò rất quan trọng
Thứ ba là: phải xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình độ, có nhiệt tâm, tình nguyện
khuyến cáo, vận động cộng đồng thu gom, phân loại rác thải
Tiểu kết chương I
Chương I đã đưa ra các khái niệm, nguồn gốc, thành phần và tính chất của CTRSH.Đồng thời cũng đưa ra các tác động của CTRSH đến môi trường, kinh tế - xã hội vàsức khỏe cộng đồng Với các tác động như thế thì việc quản lý CTRSH không chỉ làvấn đề quan tâm của các nhà quản lý mà của toàn xã hội Để quản lý có hiệu quảCTRSH cần phải áp dụng các công cụ quản lý Có rất nhiều công cụ quản lý nhưngthường được chia làm ba nhóm, cụ thể là công cụ pháp lý, công cụ kinh tế và công
cụ giáo dục truyền thông Các quốc gia phát triển trên thế giới đã và đang áp dụngcác công cụ này trong công tác quản lý môi trường đặc biệt là quản lý CTRSH Việt
Trang 21Nam là nước đi sau, đang trong quá trình phát triển nên đã học hỏi cách thực hiện
để áp dụng các công cụ này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình.Chương I còn đưa ra mô hình quản lý trong lĩnh vực CTR của một số nước trên thếgiới và Việt Nam Qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để quản lýCTR nói chung và CTRSH nói riêng một cách hiệu quả
Trang 22CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ
CTRSH QUẬN HÀ ĐÔNG
2.1 Giới thiệu quận Hà Đông
2.1.1 Vị trí địa lý
Hà Đông là một quận thuộc thủ đô Hà Nội, nằm bên bờ sông Nhuệ, cách trung tâm
Hà Nội khoảng 11km về phía Tây Quận Hà Đông nằm dọc theo quốc lộ 6 từ HàNội đi Hòa Bình và trên ngã ba sông Nhuệ, sông La Khê
Vị trí địa lý:
- Phía đông: giáp huyện Thanh Trì, quận Thanh Xuân
- Phía tây: giáp các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Chương Mỹ
- Phía nam: giáp các huyện Thanh Oai, Chương Mỹ
- Phía bắc: giáp các huyện Từ Liêm và Hoài Đức
Diện tích đất: tự nhiên là: 47,9174km2
Trong đó diện tích đất nội thị là: 8,725km2
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Về dân số và lao động
Quy mô dân số Quận Hà Đông hiện nay là 228.715 người (2010), trong đó:
- Dân số thường trú tại Quận là: 175.371 người; dân số tạm trú quy đổi là: 53.344người
- Dân số nội thị (7 phường) là: 140.795 người
- Dân số ngoại thị (8 xã) là: 87.920 người
- Cơ cấu dân số thay đổi theo tỷ lệ dân số nội thị tăng, tỷ lệ ngoại thị giảm dần
- Mật độ dân số nội thị là: 16.136 người/km2
- Mức tăng dân số hàng năm của Quận: 3,2%, trong đó: Tăng cơ học: 2,02%; tăng
tự nhiên: 1,18%
- Về lao động: lao động trong độ tuổi khu vực nội thị là: 84.857 người, trong đó có81.463 người lao động có việc làm - tỷ lệ 96% (lao động phi nông nghiệp là 77.357người đạt tỷ lệ 94,96%, lao động nông, lâm, ngư nghiệp là 4.106 người - tỷ lệ5,04%)
Về kinh tế
Trang 23Là điểm đầu mối giao dịch của thành phố Hà Nội về hướng Tây Nam, quận HàĐông tập trung phát triển các loại hình dịch vụ theo hướng giao lưu hàng hoá giữacác vùng miền, đặc biệt là các khu đô thị mới và các khu du lịch làng nghề, du lịchsinh thái Theo kế hoạch phát triển, từ năm 2010 trở đi, dịch vụ thương mại sẽ làngành kinh tế quan trọng trong phát triển kinh tế của quận Quận cũng cam kết hoànthành chỉ tiêu thu ngân sách hàng năm, đảm bảo chi thường xuyên và chi cho đầu tưphát triển.
Quận Hà Đông thời gian qua có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đạt 18,5%/năm Giátrị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân hơn 20%/năm, năm
2011 ước đạt 4.456 tỷ đồng, vượt gần 149% so với mục tiêu Ðại hội nhiệm kỳ 2005
- 2010 Thu ngân sách trên địa bàn kết quả tốt, năm 2010 ước đạt 1.600 tỷ đồng, gấp
11 lần so với tổng thu năm 2005
Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh được khuyến khích phát triển, đa dạng.Ngành nghề chủ yếu là cơ kim khí, dệt may, vật liệu xây dựng đã khắc phục khókhăn về vốn, mặt bằng sản xuất, từng bước đổi mới quản lý thiết bị công nghệ, cảitiến kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩmmới, đáp ứng nhu cầu thị trường và xuất khẩu, tạo thêm việc làm cho hàng ngàn laođộng như Công ty TNHH Sông Công Hà Đông, Công ty TNHH Dương Đạt, Công
ty sản xuất cơ khí và kinh doanh tổng hợp, Công ty TNHH cơ điện Đại Dương,Công ty Khai Hưng, HTX dệt lụa Vạn Phúc, rèn Đa Sỹ, Hợp tác xã Vận tải ĐồngSơn, Công ty TNHH Minh Ngọc
Nhiệm kỳ 2010 - 2015, quận Hà Đông đặt mục tiêu trở thành đô thị với tốc độ pháttriển nhanh, mạnh, toàn diện và bền vững, là một trong những quận phát triển hàngđầu của thủ đô Trong phát triển kinh tế, phấn đấu tăng trưởng GDP đạt 19%/năm,thu nhập bình quân đầu người đạt từ 85 đến 90 triệu đồng/năm Trong cơ cấu kinh
tế, tỷ trọng công nghiệp xây dựng chiếm 51%, dịch vụ chiếm 47% Huy động vốnđầu tư xã hội giai đoạn 2010 - 2015 từ 90.000 đến 95.000 tỷ đồng, tăng 35%/năm
Về đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng
Trong năm 2009, quận đã có 32 công trình được duyệt quyết toán, 44 công trìnhhoàn thành đưa vào sử dụng, 108 công trình đang thi công, 39 công trình đã đượcphê duyệt đầu tư, 161 công trình đang thực hiện thủ tục chuẩn bị đầu tư để trìnhduyệt
Thời gian tới, Hà Đông sẽ tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các công trìnhxây dựng dân dụng, thuỷ lợi, hạ tầng kỹthuật… Cụ thể, đẩy nhanh tiến độ khu
Trang 24Trung tâm hành chính mới, khu đô thị Mỗ Lao, đường Ngô Quyền (GĐ1), trụ sởQuận uỷ - HĐND - UBND quận; hạ tầng khu công viên thể thao cây xanh; dự ánphân luồng đường giao thông: nâng cấp đường Lê Lợi; đường đê sông Nhuệ bênphải tuyến từ Sở Nông nghiệp và PTNT đến UBND xã Kiến Hưng Bên cạnh đó,đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thuộc 5 lĩnh vực được ưu tiên đầu tư, như:Trường học (mầm non, tiểu học và THCS), trạm y tế phường, trụ sở cấp xã, nhà vănhoá các khu dân cư, đường giao thông; hạ tầng kỹ thuật các khu đất dịch vụ trên địabàn quận.
2.2 Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH quận Hà Đông
2.2.1 Nguồn phát sinh CTRSH trên địa bàn quận Hà Đông
a Nguồn sinh hoạt
Tổng dân số quận Hà Đông là 228.715 người, lượng rác thải sinh hoạt thải ra từnguồn này là rất lớn, chiếm khoảng 75 – 80% tổng lượng rác thải trên toàn địa bàn.Mặc dù đã có bộ phận chuyên trách là Công ty Môi trường đô thị đảm nhiệm xử lý,tuy nhiên hệ thống thu gom chưa triệt để, kỹ thuật xử lý còn hạn chế cộng thêmnguồn kinh phí hạn hẹp, trang thiết bị còn thiếu nên chất thải rắn từ nguồn này ngàycàng gia tăng sức ép lên môi trường Nếu coi một ngày mỗi người xả thải 0,65 kgrác thì khối lượng CTRSH của quận là: 149 tấn/ ngày
b Nguồn công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu kinh tế củaQuận, khoảng 50% Ngành công nghiệp chủ yếu của Quận là sản xuất và chế biếnlương thực, thực phẩm, thủy hải sản, chế biến lâm sản, đồ mộc dân dụng, thủ công
mỹ nghệ, thủ công gia truyền, chế biến thức ăn gia súc… Các loại chất thải chủ yếu
từ nguồn này bao gồm :
- Chất thải từ vật liệu trong quá rình sản xuất
- Chất thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất
- Chất thải từ bao bì đóng gói sản phẩm
c Nguồn nông nghiệp
Nông nghiệp chiếm tỷ trọng 3,89% trong cơ cấu kinh tế Quận Hà Đông Cây lươngthực chủ đạo trên địa bàn Quận là lúa, bên cạnh còn có cây ngũ cốc như ngô, khoai,đậu, lạc và đậu tương Chất thải từ nguồn này chủ yếu là:
- Rơm rạ
- Phân gia súc
- Cành cây, thân cây bỏ đi
Trang 25- Bao bì đựng các loại cây giống và phân bón
Thông thường, chất thải nông nghiệp hầu hết được nông dân tự giải quyết bằng cáchlàm phân chuồng, nuôi gia súc hoặc làm nhiên liệu… Tuy nhiên, đối với một số hộ
do thiếu diện tích xử lý trong gia đình, hoặc không được sử dụng cho các mục đíchtrên nên vẫn được xả thải ra môi trường Do đó, khối lượng rác thải từ nguồn nàychiếm tỷ lệ cũng không nhỏ và cần được tiến hành thu gom xử lý
d Nguồn du lịch, dịch vụ, nhà hàng, khu chợ
Hiện nay, trên địa bàn Quận có một chợ lớn trung tâm và nhiều chợ nhỏ, hàng chụcnhà hàng phục vụ ăn uống và điểm dịch vụ Rác thải từ nguồn này có thành phầnchủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy như thức ăn thừa, mẩu rau, củ, quả, lá cây, cànhcây nhỏ…Ngoài ra, thành phần có nguồn gốc plastic cũng chiếm tỷ lệ đáng kể
e Nguồn công sở, cơ quan, trường học
Toàn Quận với hơn 300 các cơ quan ban ngành của trung ương, Tỉnh và của Quậnđóng trên địa bàn Quận Rác thải từ nguồn này chiếm tỷ lệ không lớn, thành phầnchủ yếu là giấy báo, bao bì giấy, bao bì plastic… Có thể thu gom, vận chuyển, tậpkết chung với lượng rác thải từ các nguồn khác để tiến hành xử lý
f Rác đường phố
Quận Hà Đông có tổng chiều dài các đường phố là 130,587km, với tổng diện tíchđất giao thông của các phố chính là 580.000 m2, lượng chất thải rắn chủ yếu donhững người tham gia giao thông và các hộ mặt đường tạo ra Ước tính 1m2 đườngtạo ra khoảng 0,01 kg chất thải rắn/ngày đêm Như vậy, trung bình trung bình mộtngày đêm nguồn này tạo ra khoảng 5,8 tấn/ngàyđêm chất thải rắn
Như vậy, tổng khối lượng rác phát sinh trên địa bàn Quận khoảng 150 – 160tấn/ngày
2.2.2 Thành phần CTRSH quận Hà Đông
Qua thực tế khảo sát và quá trình phân tích mẫu CTRSH cho thấy, thành phầnCTRSH quận Hà Đông như sau:
Trang 26Bảng 2.1 Thành phần CTRSH quận Hà Đông
(nguồn: Công ty môi trường đô thị Hà Đông)
2.2.3 Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH quận Hà Đông
Quận Hà Đông đang có tốc độ đô thị hóa khá nhanh Đi đôi với phát triển kinh tế làkhoa học - kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại, với những công nghệ tiên tiếnhiện đại như vậy thì ngày sẽ có nhiều hơn, đa dạng hơn những loại sản phẩm hànghóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người dân Với những công nghệ mớicủa sản phẩm là được đóng gói bao bì nilon, nhựa, thiếc, hộp giấy vừa nhẹ vừa đẹp,
dễ mua nên đã thay thế dần đồ truyền thống Đây cũng chính là nguyên nhân chínhlàm cho lượng CTRSH được thải ra ngoài môi trường ngày càng tăng lên và nhữngthành phần rác thải này rất khó bị phân hủy nên gây ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng hơn
Theo số liệu đã thống kê, hiện nay khối lượng CTR nói chung và CTRSH nói riêngphát sinh trên địa bàn quận Hà Đông ngày càng nhiều với khối lượng và thành phầnphức tạp Hàng ngày, khối lượng CTR thu gom trên địa bàn quận Hà Đông khoảng
160 tấn/ ngày và được thu gom bởi Công ty cổ phần môi trường đô thị Hà Đông.Tuy nhiên, số lượng CTR được thu gom tại quận mới đạt được khoảng 70 %, cònlại là chưa được thu gom
a Các phương án thu gom
Thu gom CTRSH là nhiệm vụ của đội vệ sinh phường xã, công nhân của Công tyMôi trường đô thị Việc thu gom và phân loại CTRSH sẽ tạo điều kiện thuận lợi choviệc xử lý Có thể triển khai các phương án thu gom theo điều kiện của quận HàĐông như sau:
- Thu gom hỗn hợp không phân loại tại nguồn
Phương án này áp dụng đối với các khu vực khó phân loại CTRSH như khu chợ,khu buôn bán dọc vỉa hè, rác đường phố, công viên, khu vui chơi
Trang 27- Thu gom lựa chọn có phân loại tại nguồn
Trong phương án này, chất thải rắn sẽ được thu gom tại nguồn và phân loại trướckhi xử lý Trước mắt, hệ thống thu gom này sẽ được áp dụng tại các trường học,bệnh viện, cơ quan, công sở và hộ gia đình
Yêu cầu kỹ thuật đối với việc phân loại CTRSH tại nguồn:
CTRSH phải được phân loại tại nguồn tối thiểu thành hai loại, gồm chất thải rắnhữu cơ dễ phân hủy (thường là thực phẩm dư thừa) và chất thải rắn còn lại Đối vớicác chất thải rắn có kích thước lớn (tủ, bàn, ghế, giường, nệm vỏ xe, thùng sơn, kétnước, tivi, tủ lạnh, đồ điện tử gia dụng khác…), chủ nguồn thải phải tự thu xếp vị trílưu giữ thích hợp và thông báo cho đơn vị thu gom trước khi chuyển giao cho đơn
vị thu gom chất thải rắn Tại các khu vực công cộng, chất thải rắn hữu cơ dễ phânhủy sinh học phải được phân loại và chứa trong thùng màu xanh lá cây, chất thải rắncòn lại sẽ được phân loại và chứa trong thùng màu xám
Việc áp dụng phương án thu gom tại các khu vực cụ thể như sau:
Khu vực bệnh viện
Đối với chất thải bệnh viện cần phải đặt ra quy định phân loại chặt chẽ ngay tạinguồn Chất thải rắn sinh hoạt: thu gom vào các loại túi riêng:
- Túi màu xanh : chứa rác thải hữu cơ dễ phân hủy
- Túi màu vàng, chứa các loại rác khác (vỏ đồ hộp, giấy )
Khu vực hộ gia đình, khu dân cư
Mỗi hộ gia đình sử dụng 2 loại túi khác nhau để đựng rác thải:
- Túi màu xanh : Chứa chất hữu cơ dễ phân hủy (thức ăn thừa, lá cây, rau, thựcphẩm loại bỏ…)
- Túi màu đen : Chứa các loại rác khác
Tại các khu tập kết rác của các hộ gia đình trong khu dân cư:
Đặt 2 thùng chứa có màu khác nhau:
- Thùng màu xanh: sử dụng để chứa rác thải hữu cơ dễ phân hủy đã được các
hộ gia đình phân loại
- Thùng màu đen (hoặc nâu hay đỏ): sử dụng để chứa rác thải dạng khác đãđược các hộ gia đình phân loại
Tại những khu dân cư, có thể tiến hành thu gom theo điểm Tại các điểm tập kết rácthải, có để các công ten nơ chứa rác di động phù hợp với từng loại rác riêng biệt vàphù hợp với màu của các thùng chứa rác của hộ gia đình Các hộ gia đình phải đổrác tại đúng các điểm tập kết rác
Trang 28Tại các khu công nghiệp
Tại các cơ sở công nghiệp trên địa bàn quận Hà Đông được đặt 2 thùng chứa rác vớimàu sắc và chức năng khác nhau:
- Thùng màu xanh: chứa chất hữu cơ dễ phân hủy
- Thùng màu đen (hoặc nâu, đỏ hay trắng): đựng các chất thải còn lại (trừ chấtthải nguy hại)
Các công nhân tại các khu công nghiệp phải phân loại rác ngay tại nguồn khi đổ rác.Vào các giờ quy định, công ty môi trường đô thị sẽ thu gom các thùng công ten nơchứa rác đã phân loại
Rác thải đường phố và các khu vực công cộng
Tại các đường phố chính, các nơi công cộng, khu vui chơi giải trí, khu du lịch cầnđặt thùng thu gom rác Các thùng thu gom rác gồm có 2 loại, đặt cạnh nhau: loạithùng màu xanh (chứa chất hữu cơ dễ phân hủy) và loại thùng màu đen (chứa cácloại rác khác) Khi tiến hành đặt thùng rác cần chú ý khoảng cách giữa các thùngcho hợp lý và thỏa mãn những điều kiện:
- Phù hợp, vệ sinh
- Dễ dàng cho người sử dụng
- Được đặt cố định trên hè phố, nơi công cộng
Rác thải đường phố và các khu vực công cộng phải được quét dọn và thu gom hàngngày
b Hệ thống vận chuyển
Rác thải sau khi được thu gom sẽ được xe của Công ty môi trường đô thị chở đếnkhu vực xử lý Hệ thống vận chuyển rác có thể chia thành 2 loại với kiểu vận hànhnhư sau:
Thứ nhất là: hệ thống xe thùng di động
Đây là hệ thống thu gom trong đó các thùng chứa đầy rác được chuyên chở đến bãichôn thải rồi đưa thùng không về vị trí tập kết ban đầu
Ưu điểm: hệ thống xe thùng rất đa dạng về hình dạng và kích thước nên rất cơ động,
có thể thu gom nhiều loại CTR
Nhược điểm: thùng lớn, thường phải thực hiện thủ công nên không chất đầy đượcrác thải Do đó, hiệu quả sử dụng dung tích kém
Nhu cầu nhân lực cho hệ thống xe thùng: thường có 2 người Người lái chính cónhiệm vụ vận hành, cho máy hoạt động Người phụ có nhiệm vụ đóng mở, làm cácthao tác khi bốc dỡ CTR