Nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba, giới chuyên gia tên tuổi của FAO vẫn trăn trở hai điều tiên liệu: nạn đói quy mô quốc tế sẽ diễn ra, hay sẽ xuất hiện một cuộc “cách mạng xanh mới” bảo đảm no đủ cho cả loài người. Trong quá khứ từng có những dự đoán bi quan về cuộc “đại khủng hoảng lương thực” trên hành tinh, nhưng thật may là điều đó chưa xảy ra. Những khu vực “thiếu ăn cố hữu” như Somalia, Ethiopia... thường phát sinh từ những nguyên nhân chủ quan như chiến tranh, hệ thống nông nghiệp yếu kém... vẫn tồn tại song song cả những chẩn đoán bi quan lẫn các dự báo lạc quan về sự no đủ cho người dân. Trước tình hình đó an ninh lương thực được coi là một vấn đề nóng mà toàn nhân loại quan tâm. Việt Nam là một đất nước có truyền thống xuất khẩu gạo với những chủng loại sản phẩm gạo khác nhau và chất lượng gạo ổn định. Từ một nước thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước có lượng gạo xuất khẩu đứng thứ hai thế giới. Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã cung cấp cho thị trường thế giới hàng triệu tấn gạo xuất khẩu, góp phần không nhỏ trong tỷ trọng tăng trưởng kinh tế của đất nước. Đẩy mạnh xuất khẩu gạo luôn là biện pháp được Nhà nước ta quan tâm và coi trọng. Đặt trong tình hình thế giới như trên thì việc xuất khẩu gạo gắn với đảm bảo an ninh lương thực được coi là một mục tiêu chiến lược của quốc gia. Hơn nữa, giá lương thực thế giới đang tăng mạnh trong thời gian gần đây. Bối cảnh đó càng đặt Việt Nam vào bài toán làm thế nào để vừa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, vừa tận dụng thời cơ để xuất khẩu lương thực đạt hiệu quả cao nhất. Sau khi thực tập ở Viện Kinh tế và Chính trị thế giới thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam cùng sự hướng dẫn tận tình của giáo viên Nguyễn Thị Thúy Hồng, chuyên đề của em xin được nghiên cứu về đề tài: “Hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm đảm bảo an ninh lương thực từ năm 2007 đến nay”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
ĐỀ TÀI:
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM THEO QUAN ĐIỂM ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY
Giáo viên hướng dẫn : ThS NGUYỄN THỊ THÚY HỒNG
Sinh viên thực hiện : HOÀNG THỊ HỒNG DIỆP
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba, giới chuyên gia tên tuổi củaFAO vẫn trăn trở hai điều tiên liệu: nạn đói quy mô quốc tế sẽ diễn ra, hay sẽxuất hiện một cuộc “cách mạng xanh mới” bảo đảm no đủ cho cả loài người.Trong quá khứ từng có những dự đoán bi quan về cuộc “đại khủng hoảng lươngthực” trên hành tinh, nhưng thật may là điều đó chưa xảy ra Những khu vực
“thiếu ăn cố hữu” như Somalia, Ethiopia thường phát sinh từ những nguyênnhân chủ quan như chiến tranh, hệ thống nông nghiệp yếu kém vẫn tồn tạisong song cả những chẩn đoán bi quan lẫn các dự báo lạc quan về sự no đủ chongười dân Trước tình hình đó an ninh lương thực được coi là một vấn đề nóng
mà toàn nhân loại quan tâm
Việt Nam là một đất nước có truyền thống xuất khẩu gạo với nhữngchủng loại sản phẩm gạo khác nhau và chất lượng gạo ổn định Từ một nướcthiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước có lượng gạo xuất khẩu đứng thứhai thế giới Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã cung cấp cho thị trườngthế giới hàng triệu tấn gạo xuất khẩu, góp phần không nhỏ trong tỷ trọng tăngtrưởng kinh tế của đất nước Đẩy mạnh xuất khẩu gạo luôn là biện pháp đượcNhà nước ta quan tâm và coi trọng Đặt trong tình hình thế giới như trên thì việcxuất khẩu gạo gắn với đảm bảo an ninh lương thực được coi là một mục tiêuchiến lược của quốc gia Hơn nữa, giá lương thực thế giới đang tăng mạnh trongthời gian gần đây Bối cảnh đó càng đặt Việt Nam vào bài toán làm thế nào đểvừa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, vừa tận dụng thời cơ đểxuất khẩu lương thực đạt hiệu quả cao nhất
Sau khi thực tập ở Viện Kinh tế và Chính trị thế giới thuộc Viện Khoa học
xã hội Việt Nam cùng sự hướng dẫn tận tình của giáo viên Nguyễn Thị Thúy
Hồng, chuyên đề của em xin được nghiên cứu về đề tài: “Hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm đảm bảo an ninh lương thực từ năm 2007 đến nay”
Trang 32 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Bài viết giúp người đọc hiểu hơn về tình hình xuất khẩu gạo của ViệtNam trong thời gian gần đây Từ đó đề xuất ra những phương hướng và giảipháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo của nước ta theo quan điểm đảm bảo anninh lương thực quốc gia
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về xuất khẩu và an ninh lương thực
- Phân tích, đánh giá tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2007đến nay, từ đó rút ra những thành tựu, những mặt hạn chế cũng như nhữngnguyên nhân của những hạn chế đó
- Chỉ ra được những thách thức cho xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện nay
Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theoquan điểm đảm bảo an ninh lương thực
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Bài viết nghiên cứu tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểmđảm bảo an ninh lương thực quốc gia từ năm 2007 đến nay
3.2.Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về nội dung: Chỉ nghiên cứu mặt hàng gạo xuất khẩu
- Về thời gian: Từ năm 2007 đến nay
4.Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kiến thức tích lũy trong suốt quá trình học tập với những quan sát,thu thập trong thực tế, kết hợp giữa việc tổng hợp sách báo, tài liệu với việc đi sâuvào phân tích thực tiễn tham khảo ý kiến nhằm tìm ra hướng đi hợp lí nhất
Trang 45.Kết cấu chuyên đề
Ngoài lời mở đầu, kết luận, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương : Chương 1: Lý luận chung về xuất khẩu gạo và quan điểm về an ninh lương thựcChương 2: Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm đảm bảo anninh lương thực quốc gia
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy xuất khẩugạo của Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Trang 5CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU GẠO VÀ
QUAN ĐIỂM VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU GẠO
1.1.1 Khái niệm xuất khẩu gạo
Hoạt động xuất khẩu gạo là việc bán gạo cho một quốc gia khác trên cơ
sở dùng tiền tệ làm phương tiên thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận Tiền tệ ởđây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia Mục đíchcủa hoạt động xuất khẩu là thu một khoản ngoại tệ dựa trên cơ sở khai thác lợithế so sánh của các quốc gia trong phân công lao động quốc tế Khi việc trao đổihàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mởrộng hoạt động này
1.1.2 Vai trò của xuất khẩu gạo
Hoạt động xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương
và là hoạt động đầu tiên của thương mại quốc tế Xuất khẩu có vai trò đặc biệtquan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như trêntoàn thế giới
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá là một trongbốn khâu của quá trình sản xuất mở rộng Đây là cầu nối giữa sản xuất và tiêudùng của nước này với nước khác Có thể nói sự phát triển của xuất khẩu sẽ làmột trong những động lực chính để thúc đẩy sản xuất
Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
- Xuất khẩu là một trong những nhân tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng vàphát triển kinh tế của mỗi quốc gia
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản
xuất phát triển
Trang 6- Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cảithiện đời sống nhân dân Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự pháttriển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại.
Vai trò của xuất khẩu đối với các doanh nghiệp
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụsản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra
- Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nângcao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị,nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển
- Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK cũngnhư các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khảnăng xuất khẩu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập
- Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện côngtác quản trị kinh doanh Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọcủa chu kỳ sống của một sản phẩm
Cũng như các ngành xuất khẩu khác, ngành xuất khẩu gạo có vai trò quantrọng đối với nền kinh tế quốc dân:
1.1.2.1 Xuất khẩu gạo tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước
Quá trình công nghiệp hoá cần một lượng vốn rất lớn để nhập khẩu cácmáy móc, trang thiết bị kĩ thuật công nghệ cao để có thể theo kịp nền côngnghiệp hiện đại của các nước đã phát triển Nguồn vốn dùng cho nhập khẩuđược hình thành từ rất nhiều nguồn vốn khác nhau:
- Đầu tư từ nước ngoài
- Nguồn vay nợ, nguồn viện trợ
- Thu từ hoạt động du lịch
- Xuất khẩu…
Các nguồn vốn khác quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách nàyhay cách khác ở thời kỳ sau Nguồn vốn quan trọng nhất vẫn là xuất khẩu, trong
Trang 7đó có xuất khẩu gạo, xuất khẩu gạo cũng góp phần quyết định quy mô và tốc độtăng của nhập khẩu.
Hiện nay các nước xuất khẩu gạo khối lượng lớn chủ yếu là các nướcđang phát triển như: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Pakistan… Chính vì thếnguồn ngoại tệ thu về từ xuất khẩu gạo đối các nước này là nguồn vốn rất quantrọng để nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa ởnhững đất nước này
1.1.2.2 Xuất khẩu gạo cũng đóng vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Ngày nay với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách thức rấtnhiều, các nước đều phải tập trung phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩunhững sản phẩm mà nước mình có lợi thế và nhập khẩu những sản phẩm không
có lợi thế hoặc lợi thế so với các sản phẩm khác nhỏ hơn Khi gạo trở thành mộtlợi thế trong xuất khẩu của một nước thì các nước đó sẽ tập trung vào sản xuấtlúa gạo với quy mô lớn, trình độ thâm canh cao, khoa học kỹ thuật tiến bộ nhằmtăng năng suất, sản lượng và chất lượng gạo Từ sự tập trung sản xuất đó sẽ kéotheo sự phát triển của các ngành có liên quan và dẫn tới sự phát triển của toàn bộnền kinh tế
1.1.2.3 Xuất khẩu gạo có tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân
Xuất khẩu gạo trước hết làm tăng thu nhập của người nông dân đặc biệt ởcác vùng chuyên canh lúa nước, đời sống người dân phụ thuộc chủ yếu vào câylúa Sau nữa, xuất khẩu gạo giúp giải quyết một lượng lớn lao động dư thừatrong nước Khi thực hiện tăng cường việc xuất khẩu gạo thì kéo theo nó là vấn
đề xay xát, chế biến phát triển, vấn đề vận chuyển hàng hoá… Những công táctrên thu hút khá nhiều lao động từ không có trình độ kỹ thuật, quản lý đến cótrình độ cao Việc tạo việc làm ổn định cho người dân cũng chính là một biệnpháp hữu hiệu để tăng thu nhập và ổn định xã hội
Trang 8Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì xuất khẩu gạo
là một lợi thế lớn Bởi sản xuất và xuất khẩu gạo có những lợi thế căn bản như:đất đai, khí hậu, nguồn nước, nguồn lao động… Và đặc biệt yêu cầu về vốn kỹthuật ở mức trung bình Với các lợi thế như vậy việc tăng cường xuất khẩu gạocủa Việt Nam là hướng đi đúng đắn nhất
Xuất khẩu gạo có tác động to lớn đến nền kinh tế nước ta, giúp khai thácđược tất cả các lợi thế tương đối cũng như tuyệt đối của Việt Nam trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế Trong quá trình sản xuất lúa gạo, Việt Nam đãthu được những kết quả to lớn Từ một nước nhập khẩu Việt Nam trở thành mộtnước xuất khẩu đứng thứ hai thế giới Tuy nhiên hiện nay xuất khẩu gạo ViệtNam còn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có Nhà nước cần có giải pháp cụthể cho vấn đề này
1.1.3 Đặc điểm xuất khẩu gạo
- Một là: tính thời vụ trong trao đổi
Sản xuất lúa gạo mang đặc điểm tính thời vụ do vậy mà hình thành nêntính thời vụ trong trao đổi sản phẩm trên thị trường Số lượng lúa gạo cung cấptrên thị trường không đều vào mỗi thời điểm trong năm Điều này phụ thuộc vàothời gian gieo trồng lúa Lúa chỉ được gieo trồng vào những thời điểm nhất địnhtrong năm Có thể chia thành 3 vụ : vụ đông xuân, vụ hè thu và vụ mùa Mặc dùlúa được gieo trồng theo các vụ liên tiếp nhau, nhưng giữa các vụ phải có thờigian chờ đợi tương đối để cây lúa sinh trưởng rồi thu hoạch Chính vì thế màlượng lúa cung cho thị trường không được đều và liên tục
- Hai là: phần lớn gạo được tiêu thụ tại chỗ
Tình hình này là do một mặt, năng lực sản xuất của các nước này còn bịhạn chế mặt khác do quy mô dân số và tốc độ tăng dân số ở các nước này khánhanh Vì vậy lượng lúa gạo đem trao đổi trên thị trường gạo thế giới chỉ chiếm
tỷ lệ rất nhỏ Các nước đang phát triển sản xuất 53-55% sản lượng gạo thế giới,các nước Châu Á, Châu Phi sản xuất nhiều nhất chiếm 85% sản lượng gạo tiêuthụ trên thế giới Trong khi đó các nước này chỉ cung cấp 4-5% lượng gạo được
Trang 9trao đổi trên thị trường thế giới, Châu Á là khu vực sản xuất nhiều nhất và cũngtiêu thụ lượng gạo lớn nhất.
- Ba là: buôn bán gạo giữa các chính phủ là phương thức chủ yếu vì thếxuất khẩu sản phẩm lúa gạo ổn định hơn so với hàng công nghiệp
Nguyên nhân thứ nhất, là do yếu tố chính trị quốc gia Mỗi nước đều phảiđảm bảo an ninh lương thực, nếu lương thực không được đảm bảo sẽ có ảnhhưởng rất lớn tới chính trị quốc gia đó Vì thế việc buôn bán gạo chủ yếu được
ký kết giữa các chính phủ với nhau thông qua các hiệp định, các hợp đồng cótính nguyên tắc, dài hạn và định lượng cụ thể hàng năm vào đầu các niên vụ.Nguyên nhân thứ hai, một số nước dùng xuất khẩu gạo để thực hiện các ý đồchính trị thông qua viện trợ, cho không, bán chịu dài hạn… Điều này được thựchiện giữa các chính phủ là chủ yếu
- Bốn là: các nước xuất khẩu gạo lớn đóng vai trò chi phối thị trường gạothế giới:
Trên thế giới chỉ một vài nước là xuất khẩu với một lượng gạo lớn và có
uy tín như: Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Việt Nam… Nếu lượng gạo xuất khẩucủa các nước này có sự biến động có thể ảnh hưởng đến giá cả của gạo dẫn tớinhững biến động trong cung – cầu gạo trên thế giới, hay có thể ảnh hưởng đếntình hình sản xuất đến các loại hàng hoá khác
1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo
1.1.4.1 Yếu tố thị trường
Yếu tố thị trường có ảnh hưởng rất lớn, chi phối toàn bộ hoạt động xuấtkhẩu gạo của mỗi quốc gia tham gia xuất khẩu Trong đó có thể xét trên các yếu
tố cơ bản như sau:
- Nhu cầu của thị trường về sản phẩm gạo: Gạo là hàng hoá thiết yếu.Cũng giống như các loại hàng hoá khác, nó cũng phụ thuộc vào thu nhập, cơ cấudân cư, thị hiếu của người tiêu dùng… Khi thu nhập cao thì cầu về số lượng gạogiảm nhưng cầu về gạo chất lượng cao có xu hướng tăng lên (ở các nước phát
Trang 10triển: Nhật, Châu Âu, ), ngược lại cầu đối với gạo chất lượng thấp giảm đi.Chính vì thế tỷ trọng tiêu dùng cho gạo trong tổng thu nhập vẫn tăng.
- Cung gạo trên thị trường là một nhân tố quan trọng trong xuất khẩu gạo.Trên thị trường thế giới sản phẩm gạo rất đa dạng, phong phú, nhu cầu về gạo cogiãn ít so với mức giá Do đó, nếu lượng cung tăng quá nhiều có thể dẫn tới dưcung, điều đó sẽ là bất lợi cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu
- Giá cả là một yếu tố quan trọng và là thước đo sự cân bằng cung – cầutrong nền kinh tế thị trường Tuy cầu về gạo là ít biến động nhưng với nhữngsản phẩm đặc sản thì giá có quyết định khá lớn
1.1.4.2 Yếu tố về cơ sở vất chất – kỹ thuật và công nghệ của sản xuất và tiêu thụ gạo
Các yếu tố về cơ sở vật chất – kỹ thuật là hệ thống vận chuyển, kho tàng,bến bãi, hệ thống thông tin liên lạc… Các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ sản xuất
và tiêu thụ đặc biệt quan trọng trong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thịtrường tiêu thụ gạo
1.2 QUAN ĐIỂM VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC
1.2.1 Khái niệm về an ninh lương thực
An ninh lương thực là khái niệm linh hoạt, được thể hiện khác nhau trongnhiều định nghĩa của các nghiên cứu và chính sách Ngay cả một thập kỷ trướcthì cũng đã có đến khoảng 200 định nghĩa trong các bài viết được xuất bản(Maxwell & Smith, 1992) Vì thế khái niệm này được diễn giải theo nhiều cáchkhác nhau
An ninh lương thực là quan niệm chỉ mới xuất hiện vào giữa những năm 70trong các thảo luận về tình hình lương thực thế giới và là phản ứng trước cuộckhủng hoảng lương thực toàn cầu vào thời điểm đó Quan tâm ban đầu chủ yếutập trung các vấn đề cung lương thực - đảm bảo nguồn cung cấp và ở một mức
độ nào đó là ổn định giá cả của nguồn thực phẩm chủ yếu ở cấp độ quốc gia vàquốc tế
Trang 11Là một trong những khái niệm ứng dụng trong chính sách công, quanniệm về an ninh lương thực tiếp tục được phát triển để phản ánh được độ phứctạp của các vấn đề chính sách và kỹ thuật có liên quan (FAO, 2003) Hội nghịthượng đỉnh lương thực thế giới năm 1974 định nghĩa an ninh lương thực là:
“lúc nào cũng có đủ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cơ bản của thế giới
để đảm bảo việc tiêu dùng lương thực, thực phẩm ngày một nhiều hơn và để bùđắp được những biến động trong sản xuất và giá cả” (UN, 1975)
Năm 1983, FAO mở rộng quan niệm này để tính thêm cả việc đảm bảocho những người dễ bị tổn thương tiếp cận được với các nguồn cung cấp sẵn có,hàm ý rằng cần phải quan tâm đến sự cân bằng giữa cầu và cung trong phươngtrình an ninh lương thực: “đảm bảo tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được
về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn lương thực mà họ cần”
Sau đó, tại Báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) năm 1986, quan niệm
về an ninh lương thực được cụ thể hoá hơn theo nghĩa:
“tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được với đủ lương thực, thực phẩm đểđảm bảo một cuộc sống khoẻ mạnh và năng động.”
Hội nghị lương thực thế giới năm 1996 sử dụng một khái niệm thậm chícòn phức tạp hơn: “an ninh lương thực ở các cấp độ cá nhân, gia đình, khu vực
và toàn cầu (đạt được) khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặtvật lý và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinhdưỡng, để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối với thức ăn, nhằm đảm bảomột cuộc sống năng động và khoẻ mạnh” (FAO, 1996)
Báo cáo về tình hình mất an ninh lương thực năm 2001 đã chỉnh sửa lạiquan niệm này như sau: “An ninh lương thực là tình trạng khi tất cả mọi ngườilúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lươngthực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sởthích đối với thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh”
Trang 12Trong các định nghĩa về an ninh lương thực có ba biến số riêng biệt ảnhhưởng đến an ninh lương thực: sẵn có, tiếp cận được và sử dụng Các biến sốnày được định nghĩa trên thực tế như sau:
Sẵn có lương thực: đảm bảo có đủ khối lượng lương thực ở một mức độ
chất lượng phù hợp từ các nguồn sản xuất hoặc đầu vào khác ở trong nước
Tiếp cận lương thực: khía cạnh tiếp cận lương thực của an ninh lương
thực liên quan đến khả năng của các cá nhân tiếp cận được với nguồn tài nguyên
và các tài sản sở hữu khác để có được một lượng lương thực thích hợp với chế
độ ăn uống dinh dưỡng “Tài sản sở hữu” là một loạt hàng hoá mà một người cóthể thiết lập được quyền kiểm soát đối với chúng trong bối cảnh luật pháp, chínhtrị, kinh tế và xã hội của cộng đồng nơi người đó đang sinh sống (bao gồm cảcác quyền truyền thống như sử dụng các nguồn tài nguyên chung) Ở cấp độquốc gia, tiếp cận đối với lương thực được tính dựa trên mức giá của lương thựcnhập khẩu và tỷ lệ nguồn chi cho lương thực nhập khẩu so với nguồn thu được
từ xuất khẩu lương thực
Ổn định lương thực: khía cạnh ổn định lương thực hàm ý một dân tộc
hoặc một hộ gia đình hoặc một cá nhân lúc nào cũng phải tiếp cận được vớinguồn lương thực phù hợp Những người này không gặp phải rủi ro không tiếpcận được với lương thực do các cú sốc bất thường (như khủng hoảng khí hậuhoặc kinh tế) hoặc các hiện tượng chu kỳ (như mất an ninh lương thực theomùa) Bên cạnh các cuộc tranh cãi về khả năng của môi trường có thể đảm bảođược nhu cầu lương thực toàn cầu thì cũng có các yếu tố mới tác động đến độ ổnđịnh của nguồn cung lương thực, bao gồm:
• Thay đổi khí hậu và các biến động hàng năm và các tác động khôngthuận đối với ổn định sản lượng và tăng khả năng mất an ninh lương thực;
• Tình trạng suy thoái ở mức độ báo động về môi trường cũng như là tính
tự túc của hệ thống sinh thái và nông-sinh thái toàn cầu;
• Tác động của cải cách thương mại đối với giá cả và sản lượng (có thể dothay đổi mùa vụ), đặc biệt là tác động tiêu cực đến an ninh lương thực ở nông
Trang 13thôn nếu như điều này làm giảm giá cả thực tế theo hướng bất lợi cho nông dântrong nước
Tiêu dùng lương thực: tiêu dùng lương thực thông qua các chế độ ăn
uống hợp lý, nước sạch, đảm bảo vệ sinh và y tế để đảm bảo dinh dưỡng khi tất
cả các nhu cầu tâm sinh lý được đáp ứng Điều này khiến cho các yếu tố philương thực cũng có vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực
Tóm lại, an ninh lương thực là khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cậnđược về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn
và đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu ăn uống và khẩu vị thức ăn nhằmđảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh Mặc dù trong nhiều năm anninh lương thực được xem là vấn đề của một số nước đang phát triển song gầnđây nó đã trở thành mối quan tâm toàn cầu Thay đổi khí hậu nhanh chóng, nguy
cơ khủng hoảng nguồn nước và nhu cầu ngày càng lớn đối với nguồn thịt giasúc, gia cầm và năng lượng sinh học đang tạo ra những bất ổn mới đối với đảmbảo nguồn lương thực cho nền kinh tế toàn cầu (AusAid, 2008)
1.2.2 Vai trò của an ninh lương thực
Đảm bảo an ninh lương thực sẽ giúp cho mọi người đều được tiếp cận vớilương thực Một quốc gia có phát triển bền vững hay không thì trước tiên quốcgia đó phải có một nền chính trị ổn định, một nền kinh tế phát triển và một nềnvăn hoá đặc trưng phù hợp… Nhưng để có được điều đó thì trước tiên quốc gia
đó phải duy trì cuộc sống của các công dân trên lãnh thổ nước mình để thực hiệncác công việc, duy trì sự hoạt động của cả quốc gia Vì vậy muốn duy trì đượcđiều đó đòi hỏi các quốc gia phải quan tâm đến đời sống của các công dân vềmọi mặt như ăn, uống, ở, mặc, đi lại… để họ yên tâm làm việc và giúp quốc gia
đó phát triển
Vấn đề quan trọng trước tiên đó chính là giải quyết vấn đề ăn cho ngườidân Điều này đòi hỏi các quốc gia phải có các chính sách, chiến lược về lươngthực, để đảm bảo an ninh lương thực Hay nói cách khác thì các quốc gia phảiđảm bảo là mọi người dân trong quốc gia mình sẽ được tiếp cận với lương thực,
Trang 14có đủ lương thực để đảm bảo duy trì cuộc sống và duy trì công việc của họ Vậyđảm bảo an ninh lương thực sẽ có vai trò hết sức quan trọng, nó sẽ giúp cho mọingười đều được tiếp cận với lương thực Ở mỗi vùng khác nhau thì việc tiếp cậnlương thực lại theo các hướng khác nhau Như ở thành thị không sản xuất đượclương thực thì hướng tiếp cận là mua bán, trao đổi (thương mại) Còn ở các vùngnhư nông thôn sản xuất được lương thực nên việc tiếp cận với lương thực sẽtheo hướng tự cung, tự cấp Các vùng núi, vùng sâu, vùng xa vừa sản xuất tựcung tự cấp, vừa thương mại trao đổi lương thực, do ở khu vực này sản xuấtlương thực có năng suất thấp, diện tích gieo trồng ít, kỹ thuật canh tác thấp kém,
đi lại khó khăn nên tình trạng thiếu lương thực thường xuyên xảy ra, gây nêntình trạng đói về lương thực Điều này càng thể hiện rõ vai trò của việc đảm bảo
an ninh lương thực Nó không chỉ giúp người dân tiếp cận được với lương thực
ở mọi lúc, mọi nơi mà nó còn góp phần ổn định về chính trị và kinh tế các quốcgia Quan trọng hơn là đảm bảo cuộc sống cho người dân giúp người dân duy trìcuộc sống và yên tâm hơn để có thể làm việc và giúp thoát khỏi nghèo đói
Đảm bảo an ninh lương thực sẽ giúp cho các quốc gia đối phó được vớicác biến động đột xuất như là thiên tai, hạn hán, chiến tranh, xung đột Thực tếcho thấy, từ xưa đến nay nếu như quốc gia nào không đảm bảo được an ninhlương thực khi xảy ra những biến động đột ngột sẽ không thể nào mà đối phókịp Điều đó sẽ gây nên những sự bất ổn về mọi mặt, nghiêm trọng hơn có thểdẫn đến diệt vong của quốc gia Ví dụ đơn thuần như việc đột nhiên xảy ra chiếntranh mà quốc gia đó không đảm bảo an ninh lương thực, không dự trữ đượclương thực thì sẽ không đáp ứng được lương thực cho người dân, cho binh lính,
sẽ dẫn đến lòng dân không yên, binh lính không chiến đấu được … Còn nếu nhưđột biến xảy ra bão lũ mà việc đảm bảo an ninh lương thực không kịp thời thì cóthể dẫn đến nạn đói và có thể làm cho nhiều người chết vì đói khi bão lũ kéo dài
mà không được sự trợ giúp của Chính phủ Vì thế Chính Phủ cần phải đảm bao
an ninh lương thực để đáp ứng mọi tình huống xảy ra
Trang 15Đảm bảo an ninh lương thực giúp cân bằng cung cầu thị trường lươngthực, ổn định giá cả Trên thực tế hiện nay cung cầu lương thực ít biến động docác quốc gia đều có các phương pháp và chính sách đảm bảo an ninh lương thựccho quốc gia mình, trừ một số quốc gia ở Châu Phi Ở đây chúng ta muốn nóiđến vai trò quan trọng của việc đảm bảo an ninh lương thực, đó chính là việcđiều tiết cung cầu lương thực giữa các quốc gia, giữa các vùng Nhờ có đảm bảo
an ninh lương thực với những chính sách và chiến lược hợp lý nên lương thựcluôn được đảm bảo, ít xảy ra biến động về cung cầu cũng như giá cả lương thực,giúp cho người dân sử dụng lương thực yên tâm hơn và tích cực làm việc, giúpcho các quốc gia, các vùng phát triển một cách bền vững và ổn định
Đảm bảo an ninh lương thực nhằm thực hiện nhanh quá trình xoá đóigiảm nghèo Trên thế giới hiện nay vấn đề nghèo đói vẫn đang là vấn đề nóngbỏng đặt ra với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển với tỷ lệ nghèocòn cao Vấn đề đặt ra là các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế đất nướcmình phải tìm mọi cách để giảm nghèo, giảm dần khoảng cách giữa các vùng
Ở Việt Nam, hiện nay trong quá trình xoá đói giảm nghèo của mình thì việc giảiquyết đầu tiên đó chính là giảm nhanh vấn đề nghèo về lương thực, thực phẩm
để giải quyết vấn đề ăn cho nhân dân, để họ yên tâm làm việc và thực hiệnnhiệm vụ của mình, thúc đẩy nhanh quá trình xoá đói giảm nghèo
Đảm bảo an ninh lương thực cấp cơ sở tạo điều kiện để chuyển đổi cơcấu cây trồng, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn Khi đảm bảo anninh lương thực thì chúng ta phải làm từ cấp cơ sở Bởi lẽ đối tượng để chúng tatác động chính là nông dân và họ đều sinh sống ở nông thôn và họ sản xuất nôngnghiệp là chính.Vì vậy đảm bảo được an ninh lương thực cấp cơ sở sẽ tạo điềukiện để chuyển đổi và phát triển kinh tế ở nông thôn
Khi đảm bảo an ninh lương thực chúng ta thực hiện sản xuất lương thực,đặc biệt là thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và nó sẽ đem lạihiệu quả kinh tế cao, có đủ lương thực đảm bảo cho người dân có lương thực đểdùng và có thể đem bán và sẽ tăng thu nhập, cải thiện đời sống, tạo điều kiện
Trang 16phát triển kinh tế xã hội, và thực hiện chiến lược công nghiệp hoá nông nghiệpnông thôn Đảm bảo an ninh lương thực cấp cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn nói riêng và phát triển đấtnước nói chung, nó sẽ đảm bảo sự ổn định, sự bền vững khi đất nước ta tiến lên
xã hội chủ nghĩa
1.2.3 Đặc điểm về đảm bảo an ninh lương thực ở nước ta
Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm nên sản xuất lương thựccủa nước ta mang tính chất vùng rõ rệt Do vậy việc đảm bảo an ninh lương thựccũng sẽ có tính chất vùng Việc đảm bảo an ninh lương thực ở mỗi vùng khácnhau thì khác nhau, do ở mỗi vùng có các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hộikhác nhau Đảm bảo an ninh lương thực không chỉ là việc đảm bảo cho ngườidân đủ ăn, phải lo cho họ khi họ thiếu ăn mà việc quan trọng là với những điềukiện của mỗi vùng thì phải có các chiến lược, chính sách cụ thể hợp lý để họ tựcung, tự cấp, hay nói cách khác là họ tự đảm bảo lương thực cho mình nhằm duytrì cuộc sống Chúng ta đảm bảo an ninh lương thực đối với những vùng cụ thể
sẽ phải có các công cụ cụ thể nhằm đảm bảo an ninh lương thực tốt nhất, ít côngnhất và rẻ nhất Chẳng hạn như một vùng nào đó sản xuất lúa gạo không hiệuquả tất yếu xảy ra lương thực không đủ ăn, bị đói nhưng chính sách địa phươnglại không phù hợp vẫn cứ bắt họ phải cấy lúa, vậy thì tình trạng đói là đươngnhiên Với tình huống này thì ta phải có phương pháp để giải quyết như: chuyểnđổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đổi hướng sang trồng cây khác
có hiệu quả hơn, kinh tế hơn hoặc chuyển sang chăn nuôi Như vậy biện phápnày không chỉ đảm bảo được an ninh lương thực mà còn giúp cho người dânthoát được cảnh nghèo đói truyền kiếp
Do thu nhập giữa các vùng miền, các địa phương là khác nhau và có sựchênh lệch nên việc đảm bảo an ninh lương thực đối với từng vùng, từng địaphương, từng đối tượng là khác nhau
Khu vực thành thị có thu nhập cao thì việc đảm bảo an ninh lương thựckhông còn là việc đảm bảo vấn đề ăn về số lượng mà còn phải là đảm bảo cả về
Trang 17số lượng, chất lượng, mẫu mã và văn hoá, đảm bảo về dinh dưỡng, đảm bảo anninh lương thực ở trình độ cao.
Khu vực nông thôn, đồng bằng có thu nhập thấp nhưng ở khu vực này lạisản xuất được nhiều lương thực nên vấn đề đói lương thực cũng không đángquan tâm Vì thế đảm bảo an ninh lương thực ở khu vực này tiến dần tới tăngthu nhập cho họ, sử dụng lương thực chất lượng, có dinh dưỡng cao và sử dụnglương thực sạch, huy động dự trữ phòng trừ các tình huống xảy ra
Vùng núi, vùng sâu, vùng xa, có thu nhập thấp, việc thiếu lương thực xảy
ra thường xuyên nên càng cần phải đảm bảo an ninh lương thực Trước tiên là về
số lượng, giúp họ có đủ lương thực để duy trì cuộc sống và tích cực thoát nghèo,
tự lo được cho mình
Nước ta nằm trong miền nhiệt đới gió mùa nên đảm bảo an ninh lươngthực có đặc điểm là đảm bảo an ninh lương thực với các biến động đột suất donhững yếu tố khách quan đem lại như hạn hán, lũ lụt, mất mùa… Thực tế chothấy ở Việt Nam thời tiết luôn biến động thất thường, mưa, bão, lũ, hạn hánthường xuyên xảy ra nên trong chương trình đảm bảo an ninh lương thực củaViệt Nam luôn quan tâm tới tình huống này nhằm đáp ứng lương thực kịp thờicho người dân khi xảy ra các tình huống đột suất, từ đó nhằm ổn định về kinh tế,chính trị đất nước, đưa đất nước phát triển bền vững
Trang 18 Năm 2007,
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, lượng gạo cả nước xuất khẩuđến nay đã đạt mức 4,5 triệu tấn với kim ngạch trị giá 1,5 tỷ USD Đặc biệttrong năm này, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng đáng kể và lần đầu tiênngang giá với gạo Thái Lan Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, trongbài Xuất khẩu nông sản: "Bay qua vùng thời tiết xấu”, năm 2008 xuất khẩu gạo
đạt 4,7 triệu tấn, kim ngạch đạt 2,9 tỉ đô la Mỹ (tính ra, giá bán bình quân617,02 đô la Mỹ/tấn)
Năm 2009, thị trường hàng hoá thế giới chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế nghiêm trọng, trong đó có lúa gạo Dưới sự điềuhành xuất khẩu linh hoạt của Chính phủ, năm qua, cả nước đã xuất khẩu được6,052 triệu tấn gạo, kim ngạch XK gần 2,7 tỉ USD, đây là năm có số lượng xuấtkhẩu nhiều nhất từ trước đến nay; trong đó chủng loại gạo cao cấp chiếm đến
40, 25% Tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,463 tỉ USD (giá FOB); về số lượng tăng
Trang 1929,35% so năm 2008 Đặc biệt, tỷ lệ gạo cao cấp XK đã đạt 50% (những nămtrước chỉ khoảng 34%) Như vậy, mặc dù năm 2009 xuất khẩu nhiều hơn năm
2008 đến 1,352 triệu tấn gạo, nhưng kim ngạch xuất khẩu giảm 200.000 đô la
Mỹ, giá bán giảm 183,69 đô la Mỹ/tấn
Năm 2010
Ông Trương Thanh Phong - chủ tịch VFA - cho biết xuất khẩu gạo ViệtNam năm 2010 về lượng và giá đều tăng đáng kể, đạt mức cao nhất trong hơnchục năm qua Cả năm đạt 6,754 triệu tấn gạo xuất với trị giá gần 3 tỉ USD, giáxuất khẩu bình quân trên 431 USD/tấn và gần bằng với mức giá gạo Thái Lan
Cụ thể :Tháng 4/2010 cả nước xuất khẩu 725.620 tấn gạo các loại, đạt 361,4triệu USD, giảm 49,71% về lượng và giảm 54,41% về trị giá so với tháng3/2010 Tính chung cả 4 tháng đầu năm lượng xuất khẩu đạt 2,2 triệu tấn, đạtkim ngạch 1,15 tỷ USD, giảm 12,81% về lượng và giảm nhẹ 0,33% về kimngạch so với cùng kỳ năm 2009 Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam gần như thấpnhất so với những nước xuất khẩu gạo khác, giá bình quân 4 tháng đạt 532USD/tấn, tăng hơn 14% so với cùng kỳ năm 2009 nhưng vẫn thấp hơn giá bình quân 3tháng đầu năm là 549USD/tấn Theo thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết,
dù vẫn giảm 7,3% về lượng, xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm đã tăng 0,6% vềkim ngạch so với cùng kỳ năm trước Cụ thể, xuất khẩu gạo từ đầu năm đến nay
đã đạt trên 2,9 triệu tấn với kim ngạch xấp xỉ 1,5 tỷ USD, bằng 58,4% kế hoạch
cả năm, đồng thời đứng thứ 5 trong các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu dẫnđầu cả nước, xếp sau dệt may, dầu thô, da giày và thủy sản Có được kết quả này
là do giá gạo xuất khẩu đã tăng khá hơn trong năm nay Cụ thể, giá gạo xuấtkhẩu bình quân 5 tháng đầu năm đạt 513,43 USD/tấn, tăng khoảng 8,5% so vớicùng kỳ năm trước (giá gạo xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2009 chỉ đạt473,37 USD/tấn Cả năm đạt 6,754 triệu tấn gạo xuất với trị giá gần 3 tỉ USD,giá xuất khẩu bình quân trên 431 USD/tấn và gần bằng với mức giá gạo TháiLan Tính đến ngày 24/09/2010, nước ta đã xuất khẩu 5,256 triệu tấn gạo, đạt
Trang 20giá trị 2,22 tỷ USD, tăng 11,75% về lượng và 14,35% về giá trị so với cùng kỳnăm trước.
Biểu đồ 2.1: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo năm 2010
Nguồn : Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Biểu đồ 2.2: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo giai đoạn 2008-2010
Nguồn : Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Từ biểu đồ 2.2 ta thấy sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam khôngngừng tăng qua các năm giai đoạn 2008 – 2010 Năm 2009 nước ta đã xuất khẩu
Trang 21được 6,052 triệu tấn gạo, tăng 1,373 triệu tấn tương đương với tăng 29,34% sovới năm 2008 Năm 2010 sản lượng gạo xuất khầu đã thêm được 0,7 triệu tấngạo tương đương tăng 11,56% so với năm 2009 Sự tăng lên không ngừng củasản lượng gạo xuất khẩu là do nước ta ngày càng đầu tư hơn về công nghệ kĩthuật trong quá trình sản xuất gạo xuất khẩu làm nâng cao chất lượng gạo ViệtNam, có những chính sách mở rộng thị trường hợp lí, giúp cho gạo Việt Namcàng ngày càng chiếm lĩnh thị trường.
Năm 2011
Bước vào sản xuất lúa vụ đông xuân năm 2011, ngành nông nghiệp ViệtNam gặp nhiều khó khăn, rõ nét nhất là giá rét kéo dài ở các tỉnh phía Bắc, hạnhạn ở khu vực Tây Nguyên, ĐBSCL đầu vụ hạn hán cuối vụ thiếu nước ngọt doxâm nhập mặn sâu vào nội đồng với nồng độ mặn cao, dịch bệnh trên cây lúa,rầy nâu, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá, bệnh lùn sọc đen… diễn ra trên diện rộng.Tuy nhiên, kể từ quý 2/2011, thời tiết tương đối thuận lợi đã hỗ trợ tích cực chohoạt động sản xuất nông nghiệp trên cả nước
Theo số liệu của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,năng suất lúa đông xuân cả nước đạt 63,47 tạ/ha, cao hơn 1,2 tạ/ha so với vụđông xuân năm 2010, sản lượng đạt gần 19,5 triệu tấn, tăng 25,8 vạn tấn Trong
đó, sản lượng lúa đông xuân của các địa phương phía Nam ước tính đạt 12,5triệu tấn, phía Bắc đạt khoảng 7 triệu tấn Đối với vụ hè thu, tính đến cuối tháng8/2011 các địa phương trên cả nước đã thu hoạch được 1221 nghìn ha, bằng102,3% cùng kỳ năm trước, chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm93,5% diện tích thu hoạch Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa hè thu năm 2011của vùng đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 51 tạ/ha, tăng gần 3 tạ/ha sovới vụ hè thu năm trước, sản lượng ước tính đạt 8,4 triệu tấn, tăng 420 nghìn tấn.Sản lượng các vụ lúa đã thu hoạch trong năm nay trên cả nước đạt kết quá rấtkhả quan Việc áp dụng khoa học kỹ thuật và chọn lọc được các loại giống tốt,năng suất cao cùng sự “ủng hộ” của thời tiết năm nay và các kết quả đã đạt đượcbáo hiệu triển vọng một năm bội thu lúa trên cả nước
Trang 22Tuy nhiên, nguy cơ lớn nhất trong sản xuất vụ hè thu là do thời điểm thuhoạch vào đúng mùa mưa bão, trong khi hầu hết nông dân cũng như doanhnghiệp không có điều kiện phơi sấy, tồn trữ nên sản lượng và chất lượng gạo thuhoạch bị ảnh hưởng Bên cạnh đó, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn vẫn đangxảy ra ở các tỉnh phía Nam do tác động của biến đổi khí hậu Nguy cơ dịch bệnhcũng là vấn đề cần quan tâm, như: các loại sâu, bệnh gây hại nguy hiểm (rầylưng trắng, rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu đục thân trên mạ và lúa cấy…).
Với diễn biến như vậy, việc sản xuất lúa gạo năm 2011 phải đối phó vớinhững bất lợi, nhất là vấn đề thời tiết và thời điểm thu hoạch Tuy nhiên,các địaphương thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa sâu bệnh, ứng phó kịp thời vớitình hình thời tiết nên sản xuất lúa gạo trong những tháng còn lại của năm 2011vẫn đạt được kết quả rất khả quan Khối lượng gạo xuất khẩu trong nửa đầutháng 7/2011 đạt 339,5 ngàn tấn, trị giá 167,1 triệu USD Lũy kế xuất khẩu gạocủa nước ta từ đầu năm đến ngày 15/7/2011 đạt 4,4 triệu tấn, trị giá 2,16 tỷUSD, tăng 15,6% về lượng và tăng 14,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2010.Khối lượng xuất khẩu gạo những tháng đầu năm 2011 đều tăng so với cùng kỳnăm 2010 Tuy nhiên, duy có tháng 5/2011 khối lượng xuất khẩu gạo lại giảmhơn so với cùng kỳ do một số thị trường nhập khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam
có nguồn cung nội địa khá hơn nên giảm khối lượng nhập khẩu, tiêu biểu làPhilippine
Từ qúy II năm 2011, Philippine bắt đầu tham gia nhập khẩu gạo của nước
ta, tuy nhiên khối lượng nhập khẩu thấp hơn khá nhiều so với cùng kỳ năm
2010 Tính chung 6 tháng đầu năm 2011, khối lượng nhập khẩu gạo củaPhilippine từ Việt Nam đạt 637,2 ngàn tấn, bằng 1/2 khối lượng nhập khẩu cùng
kỳ năm 2010 (khối lượng nhập khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2010 của Philippine là1,28 triệu tấn) Tuy nhiên, do trong quý II năm 2011 có nhiều nước mới thamgia vào thị trường lúa gạo Việt Nam như Inđônêxia, Trung Quốc nên tổng khốilượng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2011 vẫn cao hơn
Trang 23khoảng 580 ngàn tấn so với cùng kỳ năm 2010, đạt 4,03 triệu tấn, bằng 67,2%
kế hoạch năm
Bảng 2.1 : Khối lượng gạo xuất khẩu những tháng còn lại năm 2011
Trang 24các tháng 4, 5, 6,7 Đến tháng 8/2011, có sự tăng lên về lượng gạo xuất khẩu Từtháng 3 cho đến tháng 8/2011, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt nam liên tụctrụ vững ở mức từ trên 650 triệu đến gần 900 triệu tấn một tháng Các tháng cuốinăm gạo xuất khẩu lại rơi vào tình trạng sụt giảm số lượng
Nguyên nhân chính cho những thay đổi vừa qua là do Ấn Độ đã quay trở
lại thị trường cung ứng gạo Quốc gia này, cùng với Pakistan đã cung cấp ra thịtrường một lượng gạo lớn với giá rẻ, tác động mạnh đến giá gạo của Việt Nam,cũng như hướng nhu cầu của nhiều đối tác nhập khẩu sang phía họ “Vì giá của
họ thấp quá, có lúc giá thấp hơn đến 100 USD/tấn, có khi lên đến 120-130 USD/tấn”, Chủ tịch Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) Trương Thanh Phong chobiết như vậy “Hiện nay, gạo Ấn Độ và Pakistan đang làm cho giá thị trườnggiảm xuống quá nhanh” Ấn độ đã tuyên bố sẽ bán 2 triệu tấn gạo trong năm
2011, nhưng nhiều phỏng đoán cho rằng con số có thể còn lớn hơn thế Thái Lancũng đang tồn kho lớn, khoảng 2 triệu tấn của nhà nước, các nhà máy xaykhoảng 3 triệu tấn Trong khi đó, Việt Nam đang đứng trước một vụ Đông Xuân
dự kiến sẽ đạt sản lượng lớn hơn mọi năm “Giá này thì thị trường cũng chưachấp nhận, người ta còn phải chờ Vì vậy, vô đầu năm chúng ta sẽ có khó khăn,giá mình sẽ bị ảnh hưởng theo Thu hoạch vụ Đông Xuân này, giá lúa gạo trongnước có thể giảm xuống thấp”, ông Phong nhìn nhận
Biểu đồ 2.3 : Xuất khẩu gạo các tháng năm 2011
Nguồn : Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 25 Tình hình xuất khẩu gạo 3 tháng đầu năm 2012
Do sản xuất lúa gạo phụ thuộc rất lớn vào tình hình thời tiết, nhưng yếu tốthời tiết lại rất khó lượng hoá để đưa ra kết quả dự báo sản lượng lúa gạo, vì thế
để dự báo sản lượng lúa gạo năm 2012, nhóm nghiên cứu đã tiến hành dự báonăng suất lúa trung bình của cả nước Đây được xem là chỉ tiêu vừa có thể lượnghoá, vừa thể hiện được những tác động của yếu tố thời tiết cũng như các yếu tốkhác (như phân bón, thuỷ lợi, trình độ thâm canh, )
Theo kết quả dự báo (kết hợp phương pháp dự báo chuỗi thời gian vàphương pháp chuyên gia), năng suất lúa của Việt Nam năm 2012 có thể đạt 55-56.7 tạ/ha (tăng so với mức 53,2 tạ/ha của năm 2011) Trong khi đó, theo ướctính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các chuyên gia phân tích thìdiện tích gieo trồng lúa năm 2012 đạt khoảng 7,61 - 7,63 triệu ha Theo đó, sản
lượng lúa sẽ đạt khoảng 42,5- 43,5 triệu tấn trong năm 2012, tăng so với mức
41,35 triệu tấn của năm 2011
Bảng 2.2 : Dự báo về diện tích và sản lượng lúa gạo năm 2012Sản lượng lúa ( triệu tấn ) 38,89 39,98 41,35 43,05
Diện tích lúa ( triệu ha ) 7,44 7.51 7,53 7,62
Nguồn : Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và tính
toán của nhóm nghiên cứu
`Theo Thông báo Kết luận của Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Namtại cuộc họp Ban Chấp hành ngày 06/4/2012 cho biết, nước ta đã xuất khẩu279.266 tấn gạo trong tháng 1/2012, khoảng 347.916 tấn trong tháng 2/2012, vàtháng 3/2012 đã xuất khẩu được 460.270 tấn gạo với trị giá xuất khẩu theo giáFOB là 210,953 triệu USD, mức giá xuất khẩu bình quân đạt 458,3 USD/tấntheo giá FOB
Về số lượng xuất khẩu tháng 3 đã tăng 32,3% so với tháng 2/2012 nhưnglại giảm 38,7% so với cùng kỳ năm trước; về trị giá xuất khẩu đã tăng 27,6% sovới tháng trước nhưng lại giảm 39,5% so với cùng kỳ năm trước; về đơn giá
Trang 26bình quân đã giảm 16,7 USD/tấn so với tháng 02/2012 và giảm 5,75 USD/tấn sovới cùng kỳ năm 2011.
Tính chung cả quý I/2012 đã xuất khẩu 1,087 triệu tấn gạo với trị giáxuất khẩu theo giá FOB là 529,859 triệu USD, mức giá xuất khẩu bình quân đạt487,25 USD/tấn theo giá FOB
Về số lượng xuất khẩu đã giảm 41,2% so với cùng kỳ năm trước (trong
đó hợp đồng tập trung chiếm tỷ lệ 38,7% và hợp đồng thương mại chiếm61,3%); về trị giá xuất khẩu đã giảm 40,15% và đơn giá bình quân đã tăng được8,5 USD/tấn so với quý I năm 2011
Tính đến ngày 31/3/2012 các doanh nghiệp đã đăng ký hợp đồng xuấtkhẩu là 3,548 triệu tấn tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó hợp đồngcủa năm 2011 chuyển sang là 822.000 tấn) Số lượng hợp đồng còn lại chưa giaohàng từ tháng 4/2012 trở đi là 2,461 triệu tấn bao gồm hợp đồng tập trung là675.000 tấn và hợp đồng thương mại là 1,786 triệu tấn
Đánh giá tình hình thực hiện xuất khẩu và tiêu thụ lúa gạo trong quýI/2012 Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, xuất khẩu gạo quý I/2012 đạtmức kế hoạch trên 01 triệu tấn, giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2011 nhưng sốlượng đăng ký hợp đồng đã tăng vọt trong tháng 3/2012 và là mức cao nhất từtrước đến nay, dẫn đến số lượng hợp đồng đăng ký xuất khẩu gạo tính đến ngày31/3/2012 tăng 12% so với cùng kỳ năm 2011
Thị trường cũng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ từ tháng 3/2012, đặc biệtthị trường Trung Quốc tăng cường nhập khẩu, châu Phi cũng khôi phục thị phần
và Philippines đã điều hành tập trung ký hết số lượng kế hoạch nhập khẩu tưnhân
Giá lúa gạo vụ Đông Xuân 2011 – 2012 trên thị trường nội địa có giảmnhẹ trong tháng 3/2012 do xuất khẩu chậm lại và do lúa chất lượng thấp khi thuhoạch gặp mưa bão làm cho lúa bị sập nên giá lúa gạo loại này giảm nhẹ, trongkhi đó giá các loại lúa gạo chất lượng cao lại không giảm và thiếu lượng nguồncung để doanh nghiệp thu mua theo nhu cầu phục vụ dự trữ xuất khẩu Nhìn
Trang 27chung, đến nay đã vượt qua những khó khăn nhất định, bảo đảm tiêu thụ kịp thời
và giữ giá lúa cho nông dân theo định hướng trong vụ Đông Xuân 2011 – 2012
2.1.2.Thị trường và giá cả xuất khẩu
2.1.2.1 Cơ cấu thị trường
Cấu trúc thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam có thể được phân chia thànhhai khối, khối thứ nhất có được ưu thế về thị phần cũng như sự ưu tiên trongchính sách của Nhà nước gồm có những thị trường tập trung lớn xuất khẩutheo hình thức hợp đồng Chính phủ, trong đó Philippines, Indonesia,Bangladesh, Cu Ba chiếm vị trí áp đảo, và phần còn lại là rất nhiều các thịtrường xuất khẩu theo hình thức thương mại Số liệu 2009, 2010 cho thấycác thị trường tập trung như Philippines, Indonesia, Malaysia, Bangladeshchiếm trên dưới 50% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo đi các thị trường củaViệt Nam
Trong năm 2010, nửa đầu của năm Philippines chi phối với các tháng 1đến tháng 7 lượng hàng đi thị trường này trung bình 200 ngàn tấn/tháng,gần cuối năm là yếu tố Bangladesh và Indonesia chi phối với tổng lượnghàng đi 2 thị trường này trung bình đạt khoảng 300 ngàn tấn/tháng Năm
2011, đầu năm là Indonesia và Bangladesh dẫn dắt thị trường, và nửa cuốinăm lại là Philippines
Biểu đồ 2.4 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2009
Nguồn: AgroMonitor tính toán từ số liệu Hải quan
Trang 28Biểu đồ 2.5 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2010
Nguồn: AgroMonitor tính toán từ số liệu Hải quan
Biểu đồ 2.6 : Lượng gạo xuất khẩu đi các thị trường quan trọng
1/2010-8/2011 (tấn)
Nguồn: AgroMonitor tính toán từ số liệu Hải quan
Đến nay, gạo của Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường của trên 70 nước
và vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó có các thị trường khó tính như EU, Hoa
Kỳ nhưng chủ yếu là sang Philippines, Malaysia, Cu Ba, Singapore Theo một
Trang 29chuyên gia trong lĩnh vực ngành hàng xuất khẩu, trong vài năm gần đây, sau khiđạt tới sự bão hòa về khối lượng tại các thị trường truyền thống, các hoạt độngkhai phá để tạo sự tăng trưởng ở các thị trường mới của các doanh nghiệp (DN)xuất khẩu gạo ở Việt Nam là không đáng kể
Tính chung 5 tháng đầu năm 2011, xuất khẩu gạo đạt 3,367 triệu tấn, trịgiá 1,657 tỷ USD, tăng 15,3% về lượng và 10,6% về trị giá so với cùng kỳ nămngoái, đạt 56,1% kế hoạch xuất khẩu cả năm 2011, theo Tổng cục Hải quan.Philippines là thị trường đầu ra lớn nhất của gạo Việt Nam trong tháng 5/2011.Sau 4 tháng đầu năm khá “lặng tiếng” với chỉ 152,3 nghìn tấn, xuất khẩu gạosang Philippines tháng 5/2011 tăng mạnh gấp hơn 3 lần về lượng và kim ngạch
so với tháng trước, đạt 310,7 nghìn tấn, trị giá 145,3 triệu USD Tính chung 5tháng đầu năm 2011, Philipines đã nhập khẩu 460,8 nghìn tấn gạo từ Việt Nam,trị giá 224,1 triệu USD Theo như kế hoạch nhập khẩu 660 nghìn tấn gạo ViệtNam đã đề ra thì từ nay đến cuối năm Philipines sẽ còn nhập khẩu khoảng 200nghìn tấn nữa Philippines chủ yếu nhập khẩu gạo 25% tấm phẩm cấp thấp.Năm 2011, tỷ trọng gạo 25% chiếm đến 98% trong cơ cấu nhập khẩu gạo củanước này từ thị trường Việt Nam Nên cơ cấu nhập khẩu gạo của Philippines
đã tạo cho Việt Nam một cấu trúc thị trường có sự “thiên vị” đối với gạo loạinày Sự “thiên vị” này đã làm cho giá của các loại lúa gạo nguyên liệu cho gạo25% xuất khẩu có ưu thế một cách tương đối so với các chủng loại lúa gạonguyên liệu khác Thông thường nhu cầu gạo 25% tấm tăng mạnh khiPhilippines có nhu cầu nhập khẩu thường vào đầu năm, rơi vào vụ Đông Xuân
có được phẩm chất gạo tốt nhất trong năm, lúc đó giá gạo 25% tấm sẽ tăngmạnh hơn giá các loại gạo khác
Biểu đồ 2.7 : Tỷ trọng các loại gạo trong cơ cấu gạo nhập khẩu từ Việt
Trang 30Nam của Philippines năm 2011
Nguồn: AgroMonitor tính toán từ số liệu Hải quan
Năm 2011, tháng 4 lượng gạo Trung Quốc nhập khẩu lên đến trên 80ngàn tấn Tính chung 5 tháng 2011, Trung Quốc vươn lên thành thị trườngnhập khẩu gạo lớn thứ 5 của Việt Nam Như vậy, nhập khẩu Trung Quốc đãkhông phải đã tạo ra một cú shock thị trường quá lớn như đồn đoán Song nhucầu nhập khẩu gạo của Trung Quốc liên tục tăng trưởng bền vững qua ba năm
và có nhiều khả năng sẽ còn tiếp tục trong tương lai cho thấy đây có thể làmột thị trường quan trọng cho xuất khẩu gạo Việt Nam trong tương lai
Biểu đồ 2.8 : Lượng gạo xuất khẩu theo tháng của Việt Nam đi Trung
Quốc (tấn)
Nguồn: AgroMonitor tính toán theo số liệu Hải quan.
Trang 31Trái ngược với Philippines, xuất khẩu gạo sang các đối tác lớn khác như:Malaysia, Singapore đều giảm mạnh trong tháng 5/2011, với tốc độ giảm từ30% - 55% so với tháng trước Xuất khẩu sang Cu Ba - thị trường đứng thứ 3trong tháng, đạt 50,7 nghìn tấn, giảm nhẹ 3,4% về lượng, trong khi kim ngạchvẫn được duy trì ở mức trên 25 triệu USD Lượng xuất khẩu gạo sang các thịtrường tương đối lớn (Nghìn tấn).
Biểu đồ 2.9 : Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam tháng 4 và 5/2011
Nguồn: Agromonitor, tổng hợp số liệu từ Tổng cục Hải quan
Biểu đồ 2.10 : Lượng gạo xuất khẩu Việt Nam đi 20 thị trường lớn nhất
trong 5 tháng 2011 (tấn)
Nguồn: AgroMonitor tính toán theo số liệu Hải quan.