1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP THU HÚT FDI SẠCH VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

65 648 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Thu Hút Fdi Sạch Vì Sự Phát Triển Bền Vững Của Nền Kinh Tế Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 730 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế qúa trình phát triển nền kinh tế trong những năm qua đã chứng minh sự đóng góp tích cực của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, cũng như sự thành công của công cuộc đổi mới, cải thiện quan hệ đối ngoại, mở ra nhiều triển vọng hợp tác đa phương, củng cố vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế. Từ chỗ giữ vai trò không đáng kể trong nền kinh tế Việt Nam (tỉ lệ đóng góp của khu vực FDI trong GDP năm 1992 mới chỉ là 2%), đến nay, các doanh nghiệp FDI đã trở thành khu vực kinh tế quan trọng, phát triển năng động và đóng góp đến hơn 30% tổng vốn đầu tư xã hội. Với nguồn vốn đầu tư đến từ 92 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn mà còn mang đến Việt Nam công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tạo thêm nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, qua đó góp phần khai thác tốt hơn các nguồn lực trong nước, thúc đẩy tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên bên cạnh những đóng góp tích cực đó, thì FDI cũng đã và đang tạo ra nhiều vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của tăng trưởng và chất lượng cuộc sống của dân cư. Gần đây đã xuất hiện hàng loạt vấn đề gây bức xúc dư luận xã hội, trong đó nổi bật là chất lượng FDI thấp thiếu tính bền vững, ô nhiễm môi trường trầm trọng gây ra không ít những ảnh hưởng xấu tới Việt Nam về cả mặt kinh tế và xã hội.Vì vậy mà vấn đề cấp thiết bây giờ là cần phải có những giải pháp để nhằm thu hút được lượng vốn FDI thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế cao nhưng vẫn phải đảm bảo sự ổn định xã hội vì mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức thực trạng này, em đã quyết định lựa chọn đề tài “Giải pháp thu hút FDI sạch cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam” để thực hiện đề án môn học. Để hoàn thành đề án này, em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Mai Hoa đã đóng góp những y kiến quy báu, hướng dẫn em thực hiện, tạo điều kiện cho em tiếp cận sâu hơn, toàn diện hơn về đề tài.

Trang 1

Đề tài: GIẢI PHÁP THU HÚT FDI SẠCH VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2011

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BXH Bảng xếp hạng

nước DNTNDoanh nghiệp tư nhân

FDI Đầu tư trực tiếp nước

ngoài GDP Tổng sản phẩm trong

nước

IFC Công ty tài chính quốc tế

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư

NSNN Ngân sách nhà nước

R&D Nghiên cứu và triển

khai TCTKTổng cục Thống

ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

UBND Ủy ban nhân dân

UNCTAD Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển

VNR500 Top 500 doanh nghiệp tại Việt Nam

WEF Diễn đàn kinh tế thế giới

WTO Tổ chức thương mại thế giới

XTĐT Xúc tiến đầu tư

Trang 3

MỤC LỤC

Phần nội dung: 1

Chương 1: Những vấn đề lý luận về FDI sạch trong phát triển kinh tế của các quốc gia 2

1.1 Những nội dung lý thuyết cơ bản FDI 2

1.1.1 Khái niệm FDI 2

1.1.3 Các hình thức FDI 3

1.1.4 Bản chất của FDI- Các lý thuyết về dòng vốn FDI 3

1.1.4.1 Các lý thuyết kinh tế vĩ mô về đầu tư nước ngoài: 3

1.1.4.2 Các lý thuyết kinh tế vi mô về đầu tư nước ngoài: 4

1.1.5 Đặc điểm của dòng vốn FDI 5

1.2 Quan điểm về FDI sạch và sự phát triển bền vững của nền kinh tế đối với các nước đang phát triển 6

1.2.1 FDI sạch 6

1.2.1.1 Khái niệm FDI sạch 6

1.2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút dòng vốn FDI sạch 7

1.2.2 Phát triển bền vững( Sustainable development) 10

1.2.2.1 Khái niệm phát triển bền vững 10

1.2.2.2 Thế nào là một nền kinh tế phát triển bền vững 10

1.2.2.3 Thước đo phát triển bền vững- GDP xanh 10

1.2.3 Tác động của FDI sạch tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế 11

1.2.4 FDI sạch- Thách thức lớn cho các nước đang phát triển 11

1.3 Kinh nghiệm về thu hút FDI sạch của một số quốc gia trên thế giới 13

1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia 13

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 15

Chương 2: Thực trạng thu hút dòng vốn FDI sạch vào Việt Nam 17

Trang 4

giai đoạn 2006-2010 17

2.1 Khái quát tình hình thu hút vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2006-2010 17

2.1.1 Vốn đăng ký, vốn thực hiện 17

2.1.2 Thu hút vốn theo đối tác 18

2.1.3 Thu hút vốn theo ngành kinh tế 19

2.1.4 Thu hút vốn theo hình thức đầu tư 21

2.1.5 Theo địa phương 22

2.2 Khái quát tình hình thu hút vốn FDI sạch vào Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 23

2.2.1 Tình hình chung về quá trình thu hút FDI sạch vào Việt Nam giai đoạn 2006-2010 23

2.2.2 Ví dụ về một số dự án FDI sạch và chưa sạch tại Việt Nam 25

2.3 Đánh giá các nhân tố tác động đến thu hút dòng vốn FDI sạch vào Việt Nam 29

2.4 Tác động của dòng FDI sạch đối với phát triển KT- XH Việt Nam 35

Chương 3: Giải pháp thu hút, quản lý dòng vốnFDI sạch cho phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam 17

3.1 Dự báo hoạt động thu hút, quản lý dòng vốn FDI sạch trên thế giới 41

3.1.1 Triển vọng duy trì, phát triển nguồn vốn FDI sạch trong quá trình toàn cầu hóa 41

3.1.2 Bối cảnh nền kinh tế thế giới và những vấn đề mới đặt ra trong hoạt động thu hút, quản lý dòng vốn FDI sạch 42

3.2 Giải pháp nâng cao thu hút, quản lý FDI sạch tại Việt Nam trong thời kì quá độ đi lên CNXH 45

3.2.1 Giải pháp thứ nhất: hoàn thiện các cơ chế chính sách quản lý, khuyến khích dòng vốn FDI sạch: 45

3.2.2 Giải pháp thứ hai, nâng cao vai trò của nhà nước trong hoạt động thu hút FDI sạch: 46

Trang 5

3.2.3 Giải pháp thứ ba, thúc đẩy sự tham gia của toàn xã hội trong công tác thu hút, kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 47 3.2.4 Giải pháp thứ tư, thực hiện các biện pháp để khắp phục, hạn chế tình trạng

ô nhiễm môi trường trong quá trình thu hút dòng vốn FDI 49 3.2.5 Giải pháp thứ năm: Hoàn thiện quy trình đầu tư đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài: 50 3.2.6 Giải pháp thứ sáu: Hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu

tư nước ngoài: 52

PHẦN KẾT LUẬN 54 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 55

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

Biểu đồ 1: Kết quả thu hút FDI giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010 17

Biểu đồ 2: Top 20 quốc gia đầu tư FDI vào Việt Nam từ 1990- 2010 18

Bảng 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo ngành 21

Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức 22

Bảng 3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo địa phương 23

Bảng 4 : Đóng góp của khu vực FDI so với các khu vực khác 35

Biểu đồ 3:Chỉ số ROA và ROE của các Doanh nghiệp VNR500 36

Biểu đồ 4: Tỷ trọng FDI về số lượng DN và đóng góp thuế thu nhập trong top 1000 Doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam 37

Bảng 5: Cơ cấu và thu nhập lao động của các doanh nghiệp FDI 38

Biểu đồ 6: Biểu đồ mô tả tổng lượng vốn FDI toàn cầu giai đoạn 2004 - 2010 43

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU:

Từ thực tế qúa trình phát triển nền kinh tế trong những năm qua đã chứng minh sựđóng góp tích cực của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào việc thực hiện các mụctiêu kinh tế xã hội, cũng như sự thành công của công cuộc đổi mới, cải thiện quan hệ đốingoại, mở ra nhiều triển vọng hợp tác đa phương, củng cố vị trí của Việt Nam trên trườngquốc tế Từ chỗ giữ vai trò không đáng kể trong nền kinh tế Việt Nam (tỉ lệ đóng góp củakhu vực FDI trong GDP năm 1992 mới chỉ là 2%), đến nay, các doanh nghiệp FDI đã trởthành khu vực kinh tế quan trọng, phát triển năng động và đóng góp đến hơn 30% tổng vốnđầu tư xã hội Với nguồn vốn đầu tư đến từ 92 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, FDIkhông chỉ bổ sung nguồn vốn mà còn mang đến Việt Nam công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kinhnghiệm quản lý tiên tiến, tạo thêm nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, qua đó góp phần khaithác tốt hơn các nguồn lực trong nước, thúc đẩy tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên bên cạnh những đóng góp tích cực đó, thìFDI cũng đã và đang tạo ra nhiều vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của tăngtrưởng và chất lượng cuộc sống của dân cư Gần đây đã xuất hiện hàng loạt vấn đề gây bứcxúc dư luận xã hội, trong đó nổi bật là chất lượng FDI thấp thiếu tính bền vững, ô nhiễm môitrường trầm trọng gây ra không ít những ảnh hưởng xấu tới Việt Nam về cả mặt kinh tế và xãhội.Vì vậy mà vấn đề cấp thiết bây giờ là cần phải có những giải pháp để nhằm thu hút đượclượng vốn FDI thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế cao nhưng vẫn phải đảm bảo sự ổn định xãhội vì mục tiêu phát triển bền vững Nhận thức thực trạng này, em đã quyết định lựa chọn đề

tài “Giải pháp thu hút FDI sạch cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam” để

thực hiện đề án môn học

Để hoàn thành đề án này, em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Mai Hoa đã đóng gópnhững y kiến quy báu, hướng dẫn em thực hiện, tạo điều kiện cho em tiếp cận sâu hơn, toàndiện hơn về đề tài

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về FDI sạch trong phát triển kinh tế của các quốc

gia

1.1 Những nội dung lý thuyết cơ bản FDI

1.1.1 Khái niệm FDI

Có rất nhiều khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn Sự ra đời và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế”

1.1.2 Các khái niệm liên quan:

-Dòng vốn FDI là dòng vốn chảy từ nước của chủ đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư nhằm tận dụng lợi thế so sánh tại nước chủ nhà để tạo ra lợi nhuận cho chủ đầu tư

-Lượng vốn FDI là lượng tiền hay các tài sản hợp pháp mà chủ đầu tư nước ngoài đưasang nước khác để đầu tư

-Nước chủ đầu tư là nước của tổ chức ,cá nhân sở hữu vốn hoặc người thay mặt chủ sởhữu hoặc người vay vốn và trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư.-Nước chủ nhà hay nước nhận đầu tư là nơi tiếp nhận vốn và trực tiếp diễn ra hoạt độngđầu tư

-Nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn đầu tư và thamgia quản lý hoạt động đầu tư tại nước chủ nhà

Trang 9

-Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp mà trong vốn pháp định có một lượng vốn nhất địnhtùy thuộc vào quy định của từng quốc gia của chủ đầu tư nước ngoài.

-Vốn đăng kí là lượng vốn mà chủ đầu tư cam kết sẽ đầu tư sang nước chủ nhà

-Vốn thực hiện là lượng vốn thực tế mà chủ đầu tư đã bỏ ra cho hoạt động đầu tư tại nướcchủ nhà

1.1.3 Các hình thức FDI

Phân chia các dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư:

* Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là hình thức đầu tư mà các bên

tham gia bao gồm: một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước ký kết thỏathuận để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định rõ

về đối tượng, nội dung kinh doanh, trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh màkhông thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào

*Hình thức công ty hay doanh nghiệp liên doanh: Doanh nghiệp hay liên doanh

được thành lập giữa các bên nước ngoài và nước chủ nhà trong đó các bên cùng góp vốn,cùng kinh doanh và cùng hưởng quyền lợi, nghĩa vụ theo tỷ lệ vốn góp

* Hình thức doanh nghiệp 100%vốn từ nước ngoài: Đây là doanh nghiệp do các

nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà và họ tự quản lý, chịu hoàn toàn về trách nhiệm kinh doanh

* Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế, thực

hiện những hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (B.O.T) Những dự án B.O.Tthường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiệnviệc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế

1.1.4.Bản chất của FDI- Các lý thuyết về dòng vốn FDI

1.1.4.1.Các lý thuyết kinh tế vĩ mô về đầu tư nước ngoài:

Các lý thuyết này dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố vốn và lao động giữa các nước cũng như việc đầu tư ra nước ngoài nhằm phân tán rủi ro

Trang 10

- Lý thuyết HO(Heckcher và Ohlin-1933)

Với hai nước A và B có các điều kiện như nhau về nhu cầu thị trường, thị hiếu, công nghệ sản xuất…và giả định rằng không có sự lưu chuyển các yếu tố sản xuất qua biên giới và hiệu quả kinh tế không phụ thuộc vào quy mô thị trường của các nước thì theo mô hình HO chỉ ra rằng nếu như mỗi nước tập trung sản xuất để xuất khẩu hàng hóa

sử dụng nhiều yếu tố sản xuất dư thừa và nhập khẩu những hàng hoá dùng nhiều yếu tố đầu vào khan hiếm thì sản lượng của hai nước sẽ tăng lên

Kế thừa mô hình này Richard S Eckaus cho rằng khả năng về vốn giữa các nước

là khác nhau đo đó sẽ có nước thừa vốn và nước thiếu vốn Tại những nước thừa vốn thìhiệu quả sử dụng vốn thấp hơn so với những nước thiếu vốn nên sẽ lưu chuyển dòng vốngiữa các nước Do đó mục đích tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn là nguyên nhân chủ yếutạo ra sự di chuyển vốn quốc tế Trên quan điểm này nhà kinh tế học M.Kemp đã xâydựng mô hình MacDougall-Kemp để giải thích cho hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài

- Lý thuyết Kugman(1983), Dunning và Narula(1996): Giải thích nguyên nhân

của đầu tư nước ngoài với mục đích khai thác hiệu quả vốn là do có dự khác biệt về chínhsách kinh tế vĩ mô của các nước tham gia đầu tư

- Lý thuyết K.Kojima(1978) lại giải thích rằng sở dĩ có đầu tư nước ngoài là do có

sự khác nhau giữa tỷ suât lợi nhuận

- Lý thuyết D.Salvatore(1993) lại cho rằng sở dĩ có đầu tư nước ngoài là do sự

phân tán rủi ro

1.1.4.2 Các lý thuyết kinh tế vi mô về đầu tư nước ngoài:

-Lý thuyết chu kì sản phẩm bắt kịp của Akamatsu (1962) : Theo lý thuyết này,

các sản phẩm mới được sản xuất tại các nước đầu tư sau đó xuất khẩu sang các quốc giakhác Tại nước nhập khẩu, do sản phẩm mới nhu cầu nội địa tăng nên xuất hiện nhu cầusản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu với sự giúp đỡ về vốn , kỹ thuật, công nghệcủa nước ngoài Khi nhu cầu trong nước được bão hòa thì nhu cầu xuất khẩu sản phẩm

Trang 11

sang một nước thứ ba lại xuất hiện và tại nước này chu trình lại tiếp diễn như nước thứhai Như vậy, FDI được hình thành từ quá trình phát triển liên tục của sản phẩm từ nhậpkhẩu đến sản xuất trong nước và xuất khẩu.

-Lý thuyết chu kì sản phẩm của Vernon(1966) thì cho rằng FDI xuất hiện theo

chu kì sản phẩm Trên cơ sở giả định của HO, Vernon giả định thêm là sự thay đổi côngnghệ dẫn đến các sản phẩm mới , các sản phẩm này sẽ mang lại lợi nhuận cao khi đượcsản xuất hàng loạt Tuy nhiên khi sản xuất hàng loạt thì giá thành lại hạ , mặt khác sẽ dẫnđến bão hòa sản phẩm Để tránh sự suy thoái đòi hỏi các công ty phải mở rộng thị trường

ra nước ngoài bằng việc xuất khẩu hàng hóa Nhưng khi xuất khẩu lại gặp phải rào cảnthuế quan, chi phí vận chuyển, mặt khác do yêu cầu thương mại hóa và tiêu chuẩn hóasản phẩm cho nên với tay nghề lao động thấp cũng có thể sản xuất được , vì vậy khi đưacông nghệ ra nước ngoài sản xuất sẽ tận dụng được cái lợi thế so sánh của quốc gia nhậnvốn như : tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ hơn …Do đó lúc này FDI xuất hiện vì nóhiệu quả cao hơn sản xuất trong nước và xuất khẩu

-Một số lý thuyết khác: Lý thuyết giải thích về nguyên nhân hình thành FDI

là do chênh lệch về chi phí giữa các nước, Lý thuyết của Stephen Hymer(1976), Lýthuyết của Charles Kindleberger(1969) và Richard E Cave(1971), Lý thuyết củaRobertz.Aliber(1970)

1.1.5 Đặc điểm của dòng vốn FDI

Xuất phát từ những khái niệm, chúng ta có thể rút ra được một số đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:

Một là, một hoạt động đầu tư được coi là đầu tư nước ngoài khi chủ đầu tư nước

ngoài phải đóng góp một mức vốn tối thiểu nào đó vào vốn pháp định, mức đóng này tùytheo quy định của mỗi nước (riêng đối với Việt Nam mức tối thiểu là 30% vốn phápđịnh) Quyền quản lý doanh nghiệp cũng như lợi nhuận mà chủ đầu tư nước ngoài nhậnđược cũng tùy thuộc vào tỷ lệ vốn góp

Trang 12

Hai là, quá trình đầu tư ra nước ngoài là hoạt động di chuyển vốn quốc tế,bchuyển

giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý đồng thời tạo ra thị trườngmới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư Ngoài ra, các dự án FDI còn gắn liền với hoạtđộng di cư lao động và kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia, thể hiện quá trìnhhội nhập kinh tế của các nước trên thế giới

Ba là, Khác với nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn vốn FDI ít

chịu sự chi phối của chính phủ và đặc biệt là rất ít phụ thuộc vào mối quan hệ giữa nướccủa chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư bởi nguồn vốn này thường do các nhà đầu tư haydoanh nghiệp tự bỏ vốn ra thực hiện

Bốn là, FDI là hình thức kéo dài chu kì tuổi thọ của hoạt động sản xuất bởi nó

giúp các doanh nghiệp chuyển giao được công nghệ lạc hậu của nước mình nhưng dễdàng được chấp nhận ở nước có trình độ phát triển thấp hơn

Năm là, Các dự án FDI bị chi phối của nhiều nguồn luật khác nhau, thường sử

dụng luật pháp của nước chủ nhà, nhưng trong một chừng mực nào đó, sự hoạt động của

dự án vẫn chịu ảnh hưởng luật pháp của nước có các bên tham gia đầu tư, luật quốc tế,luật khu vực

Sáu là, Các bên tham gia vào các dự án FDI thường có quốc tịch và sử dụng ngôn

ngữ khác nhau, đòi hỏi phải sử dụng ngôn ngữ quốc tế và ngôn ngữ nước sở tại trong cácvăn bản và trong quá trình hoạt động của dự án Quá trình thực hiện dự án FDI cũng lànơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa khác nhau, nên để có sự hợp tác tốt đẹp cần phải có sựgiao hòa văn hóa giữa các bên trong hoạt động đầu tư FDI

1.2 Quan điểm về FDI sạch và sự phát triển bền vững của nền kinh tế đối với các nước đang phát triển

1.2.1 FDI sạch

1.2.1.1 Khái niệm FDI sạch

FDI sạch là nguồn vốn đầu tư đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Trang 13

· Lợi ích kinh tế: Nguồn vốn đầu tư phải là đầu tư kinh doanh và không nhằm mục

đích trục lợi nào khác Một khi tiến hành thực hiện đầu tư thì phải đảm bảo lợi ích cho cảnước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Đối với nước đầu tư khi tiến hành đầu tư phải nhậnđược các lợi ích kinh tế như nguồn lao động và nguyên vật liệu rẻ hơn, tạo ra được lợinhuận trong quá trình đầu tư Đối với nước tiếp nhận đầu tư phải đảm bảo tăng trưởngkinh tế cao, ổn định và bền vững; cân bằng cán cân thương mại, cơ cấu đầu tư phát triểntoàn diện các ngành, phát triển sản xuất theo hướng thân thiện môi trường, công nghiệphóa, phát triển nông nghiệp – nông thôn bền vững, phát triển công nghiệp sạch

· Lợi ích xã hội: Nguồn vốn đầu tư nước ngoài phải đảm bảo đóng góp vào quá

trình thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm đẩy nhanh các mục tiêu quốc gia như: tiến bộ

và công bằng xã hội; phát triển nguồn nhân lực; giữ vững ổn định chính trị; đảm bảo quốcphòng an ninh; xóa đói giảm nghèo; giải quyết việc làm, tăng thu nhập; nâng cao chấtlượng giáo dục, nâng cao dân trí, trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe

Môi trường:Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài này phải giúp cải thiện môi

trường tự nhiên và có thể xuất hiện trong bất kì lĩnh vực công nghiệp nào và ở mọi giaiđoạn cũng như trình độ công nghệ của chuỗi giá trị Dòng vốn này được các công ty nướcngoài đầu tư vào các dự án thân thiện môi trường cũng như thiết lập một hình thức đầu tưsạch hơn, hiệu quả hơn trong quy trình sản xuất Vấn đề bảo vệ môi trường, xử lý, khắcphục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy nổ và chặtphá rừng; khai thác tài nguyên bừa bãi, đảm bảo sử dụng nguồn năng lượng một cách hợp

lý là trách nhiệm của cả chủ đầu tư và của nước nhận đầu tư Nâng cao tính tự giác củamỗi cá nhân đầu tư trong công tác bảo vệ môi trường vì một xã hội phát triển bền vững

1.2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút dòng vốn FDI sạch

Thứ nhất là cơ chế chính sách thu hút đầu tư nước ngoài: Chính sách đầu tưnước ngoài là một bộ phận trong các chính sách phát triển kinh tế- xã hội để điều chỉnhcác hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia trong một thời kì nhất định nhằm đạt đượccác mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia đó Có thểthấy rằng trong mọi thời kì kinh tế chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài là

Trang 14

vấn đề tiên quyết khi chủ đầu tư quyết định đầu tư, một chính sách khuyến khích đầu tưphù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư tiến hành đầu tư trên địa bàn vàngược lại, một chính sách khuyến khích đầu tư bất hợp lý sẽ tạo rào cản lớn, tạo môitrường đầu tư không thuận lợi đối với các chủ đầu tư Do đó để thu hút được dòng vốnFDI trước hết chúng ta đòi hỏi cần có cơ chế chính sách thông thoáng, khuyến khích đầu

tư để thu hút và giữ chân nhà đầu tư Nhưng chỉ với những chính sách như thế không thôithì chưa đủ để thu hút dòng vốn FDI sạch

Thứ hai là chính sách môi trường : Chính sách về môi trường hiện nay đang là mối

quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài bởi lẽ trongnhững năm trở lại đây mặt trái của dòng vốn FDI ngày càng thể hiện rõ nét, nó đã gây ra khá nhiều

hệ lụy tới môi trường kinh tế xã hội của con người như:ô nhiễm môi trường nặng nề, kéodài và không thể tính hết, gây ra tình trạng sử dụng lãng phí đất đai, thất thoát tài sảncông và tài nguyên quốc gia, nên phải đặt ra các tiêu chuẩn, định mức môi trường nhằmhạn chế tiêu cực tác động môi trường Tuy nhiên cũng không thể đưa ra các chính sáchquá khắt khe về điều kiện môi trường đối với các nhà đầu tư nước ngoài nhất là đối vớicác nước phát triển đã gây tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư Do đó nhà nước cần đưa racác chính sách, quy định về chất lượng môi trường hợp lý trong các dự án đảm bảo chọnlọc được những dự án “sạch” thân thiện với môi trường, đồng thời đảm bảo thu hút lượngvốn FDI lớn vào quốc gia

Thứ ba là môi trường đầu tư: Một trong những mục đích của các nhà đầu tư khi

tiến hành đầu tư tại một nước nào đó là khai thác lợi thế so sánh môi trường đầu tư củanước chủ nhà ở tất cả các mặt: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Một môi trường đầu tưthuận lợi sẽ đảm bảo được sự an toàn, khả năng sinh lời cao của lượng vốn nên sẽ thu hútđược nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, lúc này nước chủ nhà có nhiều cơ hội hơn

để lựa chọn được dòng vốn FDI sạch Do vậy mà để có được nguồn vốn FDI sạch đòi hỏicác nước tiếp nhận đầu tư phải có một môi trường đầu tư thông thoáng, đồng thời cũngphải có hệ thống pháp luật chặt chẽ bằng cách ban hành chính sách xúc tiến đầu tư, biện

Trang 15

pháp ưu đãi, khuyến khích đầu tư, giảm các tiêu cực phí, cải cách thủ tục hành chính,nâng cao hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý nhà nước

Thứ tư là môi trường cạnh tranh trong nước và thế giới: Sức ép từ môi trường

cạnh tranh trong nước và trên thế giới đòi hỏi chủ đầu tư phải luôn cải biến công nghệ, ápdụng khoa học kĩ thuật tiên tiến để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao củacon người, gia tăng mức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho nước tiếpnhận đầu tư tiếp cận với những máy móc tiên tiến Bên cạnh đó, hiện nay uy tín nhãn hiệuquyết định khá lớn tới khả năng tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp luôn cạnh tranh gaygắt để tạo một chỗ đứng vững chắc cho mình trên thị trường Với mức sống ngày càngcao, con người ngày càng quan tâm hơn tới môi trường sống, do vậy mà việc sử dụng cácnhãn hiệu hàng hóa thân thiện môi trường đang là xu hướng tâm lý chung của người tiêudùng.Và đây cũng chính là một yếu tố cạnh tranh phổ biến của nhiều doanh nghiệp.Chính vì vậy mà chủ đầu tư nước ngoài thì ngày càng có trách nhiệm hơn với việc xử lýchất thải công nghiệp bởi lẽ nếu quá trình xử lý không đảm bảo gây hại tới môi trườngsống xung quanh thì sản phẩm của họ sẽ bị người tiêu dùng tẩy chay làm mất chỗ đứngcủa doanh nghiệp trên thị trường Từ những phân tích trên chúng ta có thể khẳng địnhđược một điều rằng sức ép cạnh tranh là một nhân tố không thể thiếu để thu hút đượcdòng vốn FDI sạch Do đó đối với nước tiếp nhận đầu tư cần phải tạo cho mình một môitrường cạnh tranh công bằng, minh bạch, từ đó tạo một điểm đến đáng tin cậy cho nhàđầu tư nước ngoài

Thứ năm là tâm lý của nhà đầu tư: Việc quyết định bỏ vốn đầu tư hay không,

đầu tư trong bao lâu , hình thức đầu tư như thế nào phụ thuộc rất lớn cách nhìn nhận củachủ đầu tư đối môi trường của nước tiếp nhận đầu tư Nó gắn liền với trách nhiệm củachủ đầu đối với nước chủ nhà Nếu chủ đầu tư có tầm nhìn mang tính dài hạn thì chắcchắn tính trách nhiệm, tự giác trong việc thực thi đúng luật ,bảo vệ môi trường là rất cao.Ngược lại, đối với các chủ đầu tư có tầm nhìn mang tính ngắn hạn, do chỉ tồn tại ở nướctiếp nhận trong thời gian ngắn nên các doanh nghiệp này có thể có những chiêu lách luật

mà chỉ đến khi doanh nghiệp khấu hao hết và về nước thì cơ quan chức năng nước chủ

Trang 16

nhà mới phát hiện được, bỏ lại hậu quả nặng nề mà nước tiếp nhận đầu tư phải gánh chịu.

Do đó để thu hút được dòng vốn FDI sạch đảm bảo cho sự phát triển bền vững của quốcgia cần phải có cách đánh giá chính xác tâm lý của chủ đầu tư trong quá trình sàng lọcdòng vốn FDI bởi nó chi phối tới hành động của họ trong quá trình thực hiện đầu tư tạinước chủ nhà

Thứ sáu là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước: Quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động thu hút FDI bởi quá trình đầu tư trựctiếp ra nước ngoài là quá trình luân chuyển vốn quốc tế Khi gia nhập các tổ chức trên thếgiới, với những cam kết chung đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế, giảm bớt các rào cản đốivới hoạt động đầu tư nước ngoài, không thể tránh khỏi được tình trạng FDI chảy vàonhiều hơn, khó kiểm soát hơn có thể gây ra những ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế Do đóđòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải có những sáng kiến mới bám sát tiến độ hộinhập vừa đảm bảo sự thu hút FDI vừa loại bỏ các tác nhân xấu gây hại tới sự phát triểnbền vững của nền kinh tế, nâng cao thu hút FDI “sạch”,

1.2.2 Phát triển bền vững( Sustainable development)

1.2.2.1 Khái niệm phát triển bền vững

Năm 1987, Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển đã công bố báo cáo: Tương

lai chung của chúng ta Trong đó có đưa ra khái niệm phát triển bền vững như sau: “ Sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai.”

1.2.2.2 Thế nào là một nền kinh tế phát triển bền vững

Một nền kinh tế phát triển bền vững là nền kinh tế phải đảm bảo được tính bền vững trên cả ba phương diện chính: kinh tế, xã hội, môi trường

Đối với cực môi trường thì đòi hỏi trong quá phát triển phải luôn giải đáp được bàitoán do môi trường đặt ra; đối với cực kinh tế phải đảm bảo sự tăng trưởng, hiệu quả, ổnđịnh; đối với cực xã hội thì phải nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất cả

Trang 17

mọi người, xây dựng được một nền văn hóa hòa nhập nhưng không hòa tan với văn hóanhân loại

Nói chung, so với phát triển kinh tế đơn thuần, phát triển bền vững là một bài toánhết sức phức tạp, không phải lúc nào cũng có thể giải quyết một cách tối ưu được, bởi vìtrong thực tế, người ta thường đứng trước một sự lựa chọn không dễ dàng, hoặc cái nàyhoặc cái kia Song xuất phát từ một cái nhìn tổng thể, một chiến lược phát triển có tínhtoán đầy đủ tất cả các nhân tố, các khía cạnh, từ kinh tế đến phi kinh tế và một khả năng

dự báo tương lai có tính hiện thực thì phát triển bền vững vẫn được xem như là mộtphương pháp phát triển lành mạnh và có giá trị nhất dễ được xã hội thừa nhận

1.2.2.3 Thước đo phát triển bền vững- GDP xanh

GDP xanh là phần còn lại của GDP thuần sau khi đã trừ các chi phí do tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế

Với chỉ tiêu GDP xanh chúng ta có thể đánh giá chi phí thiệt hại môi trường vớitiêu thụ và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đến GDP thuần Nó phản ánh đượcthực chất sự phát triển kinh tế của một đất nước trên cả ba phương diện : kinh tế, xã hội

và môi trường

1.2.3.Tác động của FDI sạch tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế

Đối với các quốc gia có cơ cấu kinh tế mất cân bằng, chỉ có một số khu vực trungtâm mới phát triển, ngành sản xuất nông nghiệp thuần túy vẫn chiếm tỷ trọng lớn, nguồnvốn tích lũy trong nước thấp, trình độ lao động thấp kém như tại các nước đang phát triểnthì việc thu hút được dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một tác động mạnh thứctỉnh nền kinh tế quốc gia Nó bổ sung một nguồn vốn hết sức quan trọng cho nền kinh tếthúc đẩy quá trình tăng trưởng, tạo việc làm cho nhiều lao động đang thất nghiệp, chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhưng việc dòngvốn FDI chảy vào một cách ồ ạt, không có kiểm soát thì không những không làm cho nềnkinh tế phát triển mà còn gây ra thiệt hại lớn như: đầu tư không đồng bộ, chỉ tập trung ởmột số khu vực đã làm cho cơ cấu kinh tế mất cân đối, gia tăng khoảng cách giàu nghèo

Trang 18

giữa các vùng làm bất ổn nền kinh tế vĩ mô; hay việc xử lý chất thải không đúng quy địnhgây ô nhiễm môi trường trầm trọng…Và rất nhiều hệ lụy khác xung quanh vấn đề này.

Do đó, thu hút được dòng vốn FDI sạch thực sự là cần thiết đối với các nước đang pháttriển Bởi lẽ bên cạnh bản chất chứa đựng những tác động tích cực mà dòng vốn FDImang lại cho nền kinh tế thì dòng vốn FDI sạch còn bổ sung, khắc phục được các tácđộng tiêu cực do dòng vốn FDI gây ra cho nền kinh tế Điều này sẽ giúp cho nước chủnhà dễ dàng trong việc kiểm soát được các hoạt động đầu tư nước ngoài không minhbạch, giảm các xung đột xảy ra giữa nhà đầu tư nước ngoài và người dân cũng như sẽ hạnchế được tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng đang diễn ra khá phổ biến ở các nướcđang phát triển…do vậy mà đảm bảo được tính ổn định về cả mặt kinh tế và xã hội Từ đótạo lập một nền kinh tế tăng trưởng bền vững, nâng cao chất lượng sống của con ngườitrong dài hạn

1.2.4 FDI sạch- Thách thức lớn cho các nước đang phát triển

Bên cạnh những mặt tích cực FDI mang lại thì nguồn vốn nước ngoài này đổ vào cóthể xuất hiện các nguy cơ tiềm ẩn xấu đối với nền kinh tế các quốc gia này, chẳng hạnnhư nguy cơ thâm hụt thương mại, và phải lệ thuộc phần lớn vào FDI để bổ sung chothâm hụt thương mại Đối với các nước chủ nhà có nền kinh tế còn kém phát triển, FDIthông thường gắn với các ngành khai thác tài nguyên, nông nghiệp, chế tạo, dịch vụ, cácngành công nghiệp được bảo hộ, các ngành công nghiệp gây ô nhiễm và lĩnh vực bấtđộng sản Đây là những ngành trọng điểm cho nên dễ tác động gây ra bất ổn kinh tế vàchủ yếu là ngành khai thác có tính chất hủy hoại môi trường cao Nguyên nhân của tìnhtrạng này là do một cơ cấu đầu tư không hợp lý :

Thứ nhất, các ngành khai thác tài nguyên là thì tương đối phát triển nhưng cơ sở vậtchất còn quá yếu kém nên không có hệ thống chế biến thành sản phẩm mà chủ yếu chỉxuất khẩu sản phẩm thô với giá thấp, do đó ngành này không có sức lan tỏa và tạo điềukiện cho các ngành phụ trợ khác phát triển gây mất cân bằng trong cơ cấu nền kinh tế

Trang 19

Thứ hai, các ngành công nghiệp được bảo hộ thì sức cạnh tranh thấp bởi việc áp dụngkhoa học công nghệ tiên tiến còn rất hạn chế cho nên sản phẩm làm ra không đáp ứngđược nhu cầu thị trường, chất lượng thấp, giá thành cao.

Thứ ba, Hoạt động đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp thường tạo ra lượngrác thải rất lớn, chủ đầu tư lại không có trách nhiệm trong quá trình xử lý chất thải đã gây

ra ô nhiễm môi trường trầm trọng bởi chi phí xử lý chất thải công nghiệp thì tương đốicao Kết quả là lợi nhuận thì nhà đầu tư nước ngoài hưởng trong khi đó hậu quả thì nướcnhận FDI gánh chịu

Thứ tư, đầu tư vào lĩnh vực bất động sản sẽ làm thổi phồng quả bóng bất động sản Gâyảnh hưởng xấu không chỉ tới thị trường bất động sản mà còn tới nhiều thị trường kháctrong nền kinh tế, làm cho nền kinh tế vĩ mô biến động một cách bất thường khó có thểkiểm soát Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần kích thích khuynhhướng tiêu dùng tăng nhanh và rủi ro làm kiệt quệ nguồn vốn đầu tư nước ngoài và nhanhchóng mở rộng quy mô nợ của quốc gia sở tại

Thách thức chủ yếu đối với các nước đang phát triển là phải tìm được giải pháp thúc đẩyFDI mà đảm bảo được phát triển bền vững, không lặp lại những sai lầm của các quá trìnhtăng trưởng nhanh nhưng không bền vững, đã gây nên những xung đột lớn, phải trả giá vềmôi trường sinh thái và làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên

1.3.Kinh nghiệm về thu hút FDI sạch của một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia:

Hiện nay trên thế giới đã có khá nhiều quốc gia bước đầu thành công với các chínhsách khuyến khích dòng vốn FDI sạch đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định bảo vệtài nguyên thiên nhiên, môi trường của quốc gia, điển hình như :Trung Quốc, Đức, ẤnĐộ….Sau đây ta sẽ đi sâu vào nghiên cứu chính sách thu hút dòng vốn FDI sạch của Ấn

Độ - nước nằm trong nhóm nước đang phát triển

Với Ấn Độ thì trước đây được coi là nước thuộc thế giới thứ ba và dựa vào chínhsách độc quyền để dập mẫu những hàng hoá phương tây Điều này đã khiến nhà đầu tư

Trang 20

nước ngoài không tập trung vào Ấn Độ Tuy nhiên, ngày nay, Quốc gia này đã thay đổitrong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển ở những ngành có khả năng thu hút FDI như:phần mềm, sản xuất ô tô, dịch vụ văn phòng, dược phẩm … Chính vì vậy mà ngày càngnhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Ấn Độ Để tạo lập sự khác biệt trong lợi thế cạnhtranh với các nước khác, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ đã không chọn lao động giảnđơn hay tài nguyên làm lợi thế so sánh của mình mà sử dụng tri thức là chất “xúc tác”,chọn dịch vụ làm thế mạnh để phát triển kinh tế Ấn Độ tập trung vào ngành công nghệthông tin, dịch vụ tài chính ngân hàng, phần mềm, dược phẩm – những lĩnh vực mũi nhọncủa mình Bên cạnh đó, quốc gia này còn tập trung vào việc đào tạo một lực lượng laođộng kỹ thuật lớn với tay nghề cao đáp ứng tốt yêu cầu về trình độ cũng như ngoại ngữcủa các nước đầu tư vào Ấn Độ Hàng năm, nước này tạo ra khoảng hơn 3 triệu cử nhântrong đó cử nhân về kỹ thuật, y học và kinh doanh chiếm tỷ lệ rất lớn, bên cạnh đó lànhững chính sách ưu đãi thu hút đối với bộ phận Ấn kiều- là một trong những nguồn chấtxám mà trước đây đã bị mất ở Ấn Độ Chính nhờ chiến lược trên mà tổng số vốn FDI vào

Ấn Độ liên tục tăng lên trong các năm Dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI)vào trong nước trong năm 2007-2008 đạt mức 24,57 tỉ Đô-la Mỹ, tăng 56,50% so với con

số 15,7 tỉ Đô-la Mỹ của năm 2006-2007 Trong thực tế, Ấn Độ đã tiếp nhận 3,93 tỉ Đô-la

Mỹ từ FDI chỉ riêng tháng 6 năm 2008 Tám tháng đầu năm 2009 FDI đổ vào Ấn Độ đạt8,6 tỉ USD, nhưng 8 tháng đầu năm 2010 tới 13,6 tỉ USD, riêng tháng 9/2010 tới 7,1 tỉUSD, đạt mức kỉ lục trong các thực thể kinh tế đang trỗi dậy Triển vọng phát triển kinh

tế sáng sủa, cộng với chính sách nới lỏng cho các nhà đầu tư nước ngoài mà Chính phủvừa ban hành cuối năm 2009, nên các nhà đầu tư thế giới coi Ấn Độ là nơi đầu tư lýtưởng thời gian tới, từ đó nguồn vốn nước ngoài đổ vào Ấn Độ tăng lên rõ rệt.Với việcthu hút một lượng lớn FDI như vậy, Ấn Độ đã phải chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ hoạtđộng đầu tư nước ngoài như: biến động kinh tế, chính trị và đặc biệt là ô nhiễm môitrường Hiện nay, đây là một tác nhân lớn đe dọa tới sự phát triển bền vững của quốc gianày Vậy ngoài những chính sách nhằm thu hút một lượng FDI lớn như ở trên, Ấn Độ đã

có những biện pháp sàng lọc để có được những nguồn vốn FDI sạch như thế nào? Chínhphủ Ấn Độ đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi thu hút phát triển các ngành năng lượng

Trang 21

sạch, ngành công nghiệp xanh, ít cacbon và đặc biệt là quá trình sử dụng năng lượng gióhiện nay của Ấn Độ rất phát triển , là một trong năm thị trường năng lượng gió lớn nhấttrên thế giới Bên cạnh đó, quốc gia này vẫn kiên quyết từ chối đối với những dự án FDIgây hại tới môi trường mặc dù đó là khoản đầu tư rất lớn, ví dụ điển hình như : Dự án xâydựng một nhà máy thép tại bang Orissa của công ty thép Posco Hàn Quốc trị giá 12 tỉUSD đã bị từ chối do ba trong số bốn thành viên của một ủy ban chính phủ đã đề nghịkhông thông qua dự án, sau khi nêu ra những sai sót nghiêm trọng liên quan như luật lệ

về môi trường và điều khoản tái định cư cho người dân địa phương Điều này chứng tỏ

Ấn Độ đã rất khắt khe trong quá trình lựa chọn các dự án đầu tư nước ngoài vào quốc gia.Ngoài ra, nước này còn ngưng cấp giấy phép hoạt động đối với các dự án không đảm bảotiêu chuẩn xử lý chất thải, tác động xấu tới môi trường sống của con người mặc dù biết nóđang gây một sự lo ngại đối với hoạt động đầu tư nước ngoài Nhưng những nhà lãnhđạo quốc gia này đã phát biểu rằng: “ Họ không chống việc phát triển hoặc thực hiện các

dự án lớn, nhưng phải bảo đảm các công ty phải tuân thủ đúng đắn các luật lệ về môitrường, điều mà trước tới nay họ thường xem nhẹ” Ấn Độ đã sớm nhận ra được nhu cầubức xúc phải cân bằng giữa phát triển kinh tế và môi trường Và sự lựa chọn giữa pháttriển kinh tế hay môi trường, trong trường hợp này, phản ánh định hướng phát triển kinh

tế của quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới và cũng là bài học cần nghiên cứu cho cácnền kinh tế đang phát triển khác để xây dựng một nền kinh tế bền vững trong tương lai

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

Do địa hình lãnh thổ Việt Nam được chia thành nhiều vùng lãnh thổ khác nhau, cónhững đặc trưng và lợi thế riêng Vì vậy phải định hướng phát triển cho từng vùng, cùngvới những biện pháp, chính sách nhằm phát huy thế mạnh của từng địa bàn có nhiều lợithế, phát huy vai trò các vùng động lực nhằm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi thuhút nguồn vốn đầu tư nước ngoài xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung,khu kinh tế mở tại tất cả các khu vực trong cả nước để giảm bớt sự mất cân bằng trong cơcấu vùng Bên cạnh đó nhà nước phải có định hướng thu hút FDI đối với ngành, lĩnh vựctheo hướng phát triển bền vững, khuyến khích với các ưu đãi cao nhất đối với những dự

án thân thiện môi trường, như năng lượng tái tạo, năng lượng mặt trời, điện gió, xây dựngtòa cao ốc xanh và tiết kiệm năng lượng, công nghiệp hiện đại, các dự án năng lượng tái

Trang 22

tạo, thay thế từ các nguồn rác thải, điện mặt trời, điện gió ít gây ô nhiễm môi trường, dịch

vụ có chất lượng cao, tạo ra phương thức sản xuất và kinh doanh mới, bởi vì suất đầu tưvào những dự án này khá cao, giá thành vượt nhiều lần giá thương phẩm hiện nay, dovậy theo kinh nghiệm các nước, cần phải có sự hỗ trợ ban đầu của nhà nước, có sự cạnhtranh công bằng thông qua đấu thầu minh bạch thì mới có thể phát triển nhanh các nguồnnăng lượng mới Khi hoạt động đầu tư bắt đầu có ý tưởng từ các ngành, địa phương thìphải lập phương án về mục tiêu, vốn đầu tư, phương thức đầu tư, các điều kiện bảo đảm

đã và sẽ có về giao thông, viễn thông, năng lượng, cấp thoát nước, nhân lực tại chỗ và cóthể đào tạo, các ưu đãi về thuế, tín dụng, tiền thuê đất, xuất khẩu và tiêu thụ trên thịtrường nội địa; các tổ chức dịch vụ tư vấn về pháp lý, lập dự án, xử lý quan hệ với cơquan nhà nước, các địa chỉ cần liên hệ để có thêm thông tin về dự án Có như vậy mới tạođược niềm tin và thu hút được các chủ đầu tư bỏ một lượng vốn lớn cho các dự án Cầnđào tạo, thu hút đội ngũ lao động tay nghề cao, có trình độ chuyên môn, thông tạo ngoạingữ đáp ứng yêu cầu do các nhà đầu tư nước ngoài đề ra Chính phủ phải nghiêm ngặt,chủ động trong công tác chọn lựa đối tác đầu tư, từ chối cấp phép cũng như thu hồi giấyphép đối với những dự án FDI không bảo đảm tiêu chuẩn lao động, tiền lương, không phùhợp với lợi ích cộng đồng, không bảo đảm an toàn toàn lao động, nhất là gây ô nhiễm môitrường, khai thác tài nguyên để xuất khẩu chứ không phải để chế biến làm gia tăng giá trịsản phẩm Vấn đề có liên quan đến việc chủ động lựa chọn dự án FDI của các cơ quannhà nước địa phương, không thể dễ dãi, tùy tiện, cả tin vào một số nhà đầu tư, mà phảidựa trên căn bản lợi ích lâu dài của đất nước Nếu như các nhà đầu tư quốc tế có quyềnlựa chọn địa điểm và nước để thực hiện dự án thì nước chủ nhà cũng có quyền cho phéphoặc từ chối những dự án không có lợi cho cộng đồng dân cư Trong quá trình thẩm định

dự án công nghiệp cần đòi hỏi nhà đầu tư phải bảo đảm các tiêu chuẩn môi trường, có đủkinh phí đầu tư hệ thống xử lý chất thải, có công nghệ cao để phát thải ít khí các bon nhấttheo mức tiên tiến của thế giới Ngoài ra, cần bổ sung những nội dung liên quan đến FDIvới phát triển bền vững trong các hiệp định song phương về đầu tư và quy tắc đầu tưtrong các hiệp định thương mại, để xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư,của nước chủ nhà và nước của nhà đầu tư Tất nhiên, để thu hút đầu tư nước ngoài thì mỗinước phải tôn trọng quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư theo thông lệ quốc tế, nhưng nhàđầu tư cũng phải tôn trọng tính đặc thù của mỗi nước, các mục tiêu định hướng và những

ưu tiên trong từng chiến lược phát triển, bởi vì điều đó phản ảnh sự chia sẻ lợi ích của nhàđầu tư và nước chủ nhà Nước của nhà đầu tư và nước chủ nhà cũng có thể chia sẻ nghĩa

Trang 23

vụ, ví dụ không cho phép sử dụng lao động trẻ em, ngăn chặn tham nhũng , hiện tượngrửa tiền xuyên quốc gia trong hoạt động đầu tư nước ngoài Việc kết hợp hài hòa, đồng bộnhững biện pháp cải tạo thiết thực như: đổi mới giáo dục, đào tạo lao động có tay nghề,mới hấp thu được nguồn vốn của các nước có công nghệ hiện đại để tương xứng với nó,đặt vấn đề ô nhiễm môi trường lên hàng đầu khi xét duyệt các dự án đầu tư và các chínhsách thông thoáng mở cửa cho chủ đầu tư nước ngoài nhưng đi kèm với nó là hệ thốngpháp luật chặt chẽ thì hứa hẹn sẽ mang đến cho Việt Nam những nguồn vốn FDI sạchđảm bảo sự phát triển bền vững cho đất nước trong tương lai.

Chương 2: Thực trạng thu hút dòng vốn FDI sạch vào Việt Nam

giai đoạn 2006-2010

2.1.Khái quát tình hình thu hút vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2006-2010

2.1.1.Vốn đăng ký, vốn thực hiện

Trang 24

Từ năm 2006 đánh dấu bước ngoặt trong kinh tế khu vực FDI khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO được hoà nhập sâu rộng và học hỏi các nền kinh

tế tiên tiến trên thế giới, môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng được cải thiện và chiếm được lòng tin của các nhà đầu tư lớn Quy mô đầu tư giai đoạn 2006-2010 tăng đáng kể so với giai đoạn trước liền kề 2001-2005, số dự án tăng khoảng 1,2 lần trong khi

đó số vốn thực hiện tăng hơn 3 lần và số vốn đăng kí tăng hơn 7 lần Thời kỳ 2001- 2005,

tỷ trọng FDI trong vốn đầu tư xã hội là 16%, năm 2006 và 2007 là 25%, năm 2008 là 30% và năm 2009 là 25,9% (theo số liệu biểu đồ 1)

Biểu đồ 1.Kết quả thu hút FDI giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010

Nguồn:Tổng cục thống kê

Giai đoạn 2006-2010 cũng thể hiện những nốt thăng trầm trong tiến trình thu hút FDI Năm 2006, Việt Nam đã tạo ra một bước đột phá về thu hút vốn FDI, khi tổng vốn cấp mới đạt 10,2 tỷ USD, cao nhất trong hơn một thập kỷ qua, tạo đà thuận lợi cho năm

2007 Những năm 2007, 2008 khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra, trong khi các nước phải tiếp nhận FDI đang đứng trước nguy cơ “sự chảy ra” của dòng vốn FDI thì Việt Namvẫn đạt được lượng vốn FDI thu hút đáng kể Số vốn đăng ký của năm 2007, 2008 lần lượt tăng 177,84%, 299,85% đạt 21347,8 và 64011,0 triệu USD Tính chung cả cấp mới

và tăng vốn, trong năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008, trong 12 tháng đầu năm 2010, các nhà đầu tư

Trang 25

nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 18,59 tỷ USD, bằng 82,2% so với cùng kỳ

2009

Chênh lệch giữa vốn đăng kí và vốn thực hiện trong giai đoạn này hầu hết là rất lớn, khoảng cách có rút ngắn đáng kể trong năm 2009, 2010 Riêng hai năm 2006 và 2007tổng vốn thực hiện đạt 12,1 tỷ USD bằng 36,34% tổng vốn đăng ký mới Đến 2008 lượngvốn giải ngân này tăng mạnh đạt 11,6 tỷ USD tuy nhiên chỉ bằng khoảng 16,04% tổng vốn đăng ký Tình hình khả quan hơn vào năm 2009 với tỉ lệ 43,28%, năm 2010 là

59,14% do công tác quản lý, vấn đề giải ngân vốn được xem xét và quan tâm nhiều, hợp

lý hơn

Giai đoạn này được đánh giá là giai đoạn có nhiều biến động kinh tế, chịu nhiều tác động từ cuộc khủng hoảng chung trên thế giới, song các số liệu thống kê về đầu tư FDI vẫn phản ánh cái nhìn tích cực và lạc quan hơn cho môi trường đầu tư ở Việt Nam nói riêng, môi trường kinh tế Việt Nam nói chung

2.1.2 Thu hút vốn theo đối tác

Thực hiện phương châm của Đảng và Chính phủ “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác, Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong khu vực và thế giới ” được cụ thể hóa qua hệ thống pháp luật FDI

Theo báo cáo năm 2010, đã có 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tư tại ViệtNam Lượng vốn FDI của các nước Châu Á chiếm phần lớn, top 5 nước đầu tư lớn nhất ởViệt Nam đều thuộc khu vực Châu Á là Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản,Malaysia( theo biểu đồ 2) Cụ thể, Đài Loan là nhà đầu tư số 1 với trên 2.146 dự án cònhiệu lực, tổng vốn đăng ký 22,8 tỷ USD, chiếm 11,8% về vốn đăng kí Hàn Quốc đứngthứ 2 với trên 2.650 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 22,1 tỷ USD, chiếm 11,5%tổng vốn đăng kí Tiếp theo là nhà đầu tư Singapore, Nhật Bản và Malaysia

Biểu đồ 2: Top 20 quốc gia đầu tư FDI vào Việt Nam từ 1990- 2010

Trang 26

Nguồn:Bộ kế hoạch và đầu tư Việt Nam

Kết quả trên cho thấy, các nhà đầu tư từ quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc Châu Ávẫn chiếm đa số trong tổng vốn FDI đăng ký tại Việt Nam Phải chăng là do Việt Nam cũngthuộc Châu Á, các nước Châu Á sẽ có lợi thế hơn về khoảng cách địa lí và có nền văn hóatương đồng nên dễ dàng xâm nhập, thích ứng với thị trường Việt Nam Để thu hút đượcnhiều hơn vốn FDI vào Việt Nam từ các nước có tiềm năng kinh tế thuộc Châu Âu và Châu

Mỹ, việc xây dựng và triển khai chiến lược thu hút vốn FDI ngày càng trở nên cần thiết vàcần được phối hợp đồng thời với việc nhanh chóng đưa các bộ phận đại diện cơ quan xúctiến đầu tư tại các khu vực trọng điểm đi vào hoạt động

2.1.3.Thu hút vốn theo ngành kinh tế

Đầu tư theo ngành kinh tế trong giai đoạn này cũng có nhiều động thái thay đổi vềquy mô lẫn cơ cấu, thấy rõ nhất ở các ngành đứng đầu thu hút FDI Cụ thể, trong năm

2008, đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp, đạt 912 dự áncấp mới với 35,6 tỷ USD (chiếm 58,6% và 53,4% tổng số dự án và vốn cấp mới), trong

đó ngành công nghiệp chế biến đạt mức cao nhất với 764 dự án cấp mới và 35 tỷ USD(chiếm 49% tổng số dự án và 52,7% tổng số vốn cấp mới) Bước sang năm 2009, dòngvốn tập trung vào các ngành dịch vụ, đặc biệt là kinh doanh bất động sản và lĩnh vực dịch

vụ lưu trú và ăn uống Số dự án cấp mới ngành dịch vụ năm 2009 đạt 498 dự án với 13,2

Trang 27

tỷ USD (tương ứng chiếm 59,3% và 81,2% tổng số dự án cấp mới và vốn FDI), trong khingành công nghiệp chỉ đạt 325 dự án với 3,0 tỷ USD (tương ứng chiếm 38,7% và 18,3%).Còn trong năm 2010, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chếtạo, lĩnh vực thế mạnh và là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tưnước ngoài luôn duy trì ở vị trí cao Lĩnh vực này dẫn đầu về số lượt dự án đăng ký cấpmới và dự án tăng vốn đầu tư trong năm 2010, có 385 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tưtrên 4 tỷ USD và 199 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 1 tỷ USD, tổng vốn đầu tưđăng ký mới và tăng thêm là 5,1 tỷ, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư đăng ký

Theo số liệu tính đến 25/01/2011, cả nước có 12.283 dự án còn hiệu lực với tổngvốn đăng ký gần 194,38 tỷ USD đầu tư càng ngày càng rộng hơn theo phân ngành kinh

tế So với năm 2005, đầu tư vào 14 ngành, tính đến đầu 2011, các nhà ĐTNN đã đầu tưvào 18/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực côngnghiệp chế biến và chế tạo là lĩnh vực thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất, với 7.340 dự án,tổng vốn đăng ký 95,16 tỷ USD, chiếm 59,76% số dự án và 49% vốn đăng ký tại ViệtNam Đầu tư vào kinh doanh bất động sản đứng thứ hai trong thu hút ĐTNN với 351 dự

án, tổng vốn đăng ký 48 tỷ USD, chiếm 2,86% số dự án và 24,7% tổng vốn đăng ký tạiViệt Nam Tiếp theo là các lĩnh vực xây dựng, dịch vụ lưu trú và ăn uống, sản xuất, phânphối điện, nước, khí, điều hòa Lĩnh vực nguốn vốn nước ngoài đổ vào khiêm tốn nhất làcấp nước và xử lý nước thải- chỉ có 23 dự án với tổng vốn đăng ký là 63,77 triệu USD,chiếm tỉ lệ rất nhỏ so về tổng dự án và tổng vốn đăng ký trên cả nước

Bảng 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo ngành

Trang 28

(FDI được cấp phép phân theo thành phần KT thời kỳ 1988-đầu 2011, Lũy kế các dự án

còn hiệu lực đến ngày 25/1/2011)

đăng ký (USD)

Vốn điều lệ(USD)

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài

2.1.4.Thu hút vốn theo hình thức đầu tư.

Nguồn vốn được đầu tư theo 6 hình thức: 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợpđồng hợp tác KD, công ty cổ phần, hợp đồng BOT, BT, BTO, công ty mẹ con Về phíanước ngoài, hình thức 100% vốn nước ngoài với ưu điểm toàn quyền trong việc điều hành

và quản lí doanh nghiệp của mình kết hợp với việc thành lập các doanh nghiệp hình thức100% vốn nước ngoài ít bị hạn chế sau năm 1997 nên càng được ưa chuộng và số lượngdoanh nghiệp hình thức này gia tăng nhanh, luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu Theo số liệu từ1988- đầu 2011, hình thức 100% vốn nước ngoài có 9.635 dự án FDI với tổng vốn đăng

ký 120,48 tỷ USD, chiếm 78,44% về số dự án và 61,98% tổng vốn đăng ký Hình thức liêndoanh có 2.220 dự án với tổng vốn đăng ký 60,35 tỷ USD, chiếm 18,07% về số dự án và

Trang 29

31,05% tổng vốn đăng ký Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 223 dự án với tổngvốn đăng ký 5,05 tỷ USD Số còn lại với tỉ lệ khiêm tốn thuộc các hình thức khác như công

ty cổ phần, BOT, BT, BTO, công ty mẹ con

Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức

( Lũy kế các dự án có hiệu lực đến ngày 25/01/2011)

TT Hình thức đầu tư DA Số Tổng vốn đầu tư đăng ký (USD) Vốn điều lệ (USD)

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài

2.1.5 Theo địa phương

Trong giai đoạn 2006-2010, FDI đã trải rộng khắp cả nước, số lượng địa phươngđược đầu tư và số lượng vốn đầu tư vào các địa phương không ngừng tăng lên, góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo động lực phát triển của địa phương nói riêng, cả nước nóichung Tuy nhiên lượng vốn đầu tư không đồng đều, hầu hết vẫn tập trung vào các địabàn có lợi thế, các vùng kinh tế trọng điểm đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm ở phíaNam- Bà Rịa, Vũng Tàu và TP.HCM thay phiên nhau đạt thành tích thu hút cao nhấttrong cả nước theo các năm

Theo số liệu tính đến đầu năm 2011, ĐTNN đã có mặt ở 64 tỉnh, thành phố trong

cả nước, trong đó có 24 tỉnh, thành phố có tổng vốn đăng kí trên 1 tỷ USD, thành phố Hồ Chí Minh là nơi thu hút nhiều nhà ĐTNN nhất với trên 3.547 dự án còn hiệu lực, vốn đăng ký 30,95 tỷ USD, chiếm 28,88% tổng số dự án và 15,92% tổng vốn đăng ký cả nước Bà Rịa – Vũng Tàu đang vươn lên rất sát với thành phố Hồ Chí Minh với quy mô vốn đăng ký 26,37 tỷ USD, chiếm 13,57% tổng vốn đăng ký của cả nước Tiếp theo lần lượt là Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Ninh Thuận, Hà Tĩnh, Phú Yên, Thanh Hóa, và

Trang 30

Hải Phòng 10 tỉnh, thành phố thu hút ĐTNN lớn nhất này đã chiếm tới 71,5% tổng vốn đăng ký của cả nước (194,38 tỷ USD) 54 tỉnh, thành còn lại chỉ chiếm 28,5% tổng vốn đăng ký.

Bảng 3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo địa phương

(Các dự án có vốn đăng ký trên 1 tỷ USD- luỹ kế các dự án có hiệu lực đến ngày

Nguồn: Cục đầu tư Việt Nam

2.2.Khái quát tình hình thu hút vốn FDI sạch vào Việt Nam giai đoạn 2006- 2010

Trang 31

2.2.1 Tình hình chung về quá trình thu hút FDI sạch vào Việt Nam giai đoạn 2010

Trong giai đoạn này, trong tổng số rất lớn dự án đã thực hiện, số dự án FDI đạt đủtiêu chuẩn được xem là “sạch” chiếm tỷ lệ vô cùng khiêm tốn Theo thống kê hiện nay, cótới 67% doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam có giá trị gia tăng thấp, chưa kích thíchđược nền kinh tế Tính trung bình trên cả nước, chỉ khoảng 5% nhà đầu tư tham gia vàosản xuất công nghệ hiện đại như ngành công nghệ thông tin và truyền thông, khoảng 5%khác tham gia vào dịch vụ khoa học, kỹ thuật; 3,5% tham gia vào ngành bảo hiểm, tàichính có kỹ năng quản lí hiện đại, lao động trình độ cao Lượng FDI thu hút vào ViệtNam là rất cao song chất lượng FDI lại thấp, đóng góp cho nền kinh tế có thể bị hạn chế

do hành vi ảnh hưởng tới môi trường tài nguyên, do hành vi trốn thuế hay làm tăng tìnhtrạng nhập siêu, không tạo được tính lan tỏa trong nền kinh tế nội địa Tỷ lệ lớn các dự ánđược đầu tư bộc lộ các đặc điểm tiêu cực ngày càng đậm nét và cần sớm nhận biết vàngăn chặn, mà nổi bật là:

Gây ra những hệ quả ô nhiễm môi trường nặng nề, kéo dài và không thể tính hết Theo

số liệu thống kê năm 2009 của bộ Tài nguyên và môi trường, trong số hơn 100 khu côngnghiệp ở Việt Nam có đến 80% đang vi phạm các quy định về môi trường, trong số 5.625doanh nghiệp hoạt động theo nguồn vốn FDI mới chỉ có 250 doanh nghiệp tại Việt Namthực hiện các biện pháp sản xuất sạch hơn và đều thông qua các dự án hỗ trợ

Gây ra tình trạng sử dụng lãng phí đất đai, thất thoát tài sản công và tài nguyên quốc gia, nhất là đất nông nghiệp, đất ven biển và tước đoạt công ăn việc làm, cùng những hệ quả đa dạng

Gây ra những đe dọa tiềm tàng cho an ninh quốc gia, và toàn vẹn lãnh thổ, như những dự án trồng rừng vùng biên giới và khai thác tài nguyên những vùng đất chiến lược

về quân sự khác đã được cảnh báo và phản biện xã hội khá nhiều trong thời gian gần đây Biến VN thành bãi thải công nghệ và máy móc lạc hậu, gánh chịu tổn thất tài chính to lớn để khắc phục và thay thế, kéo dài tình trạng lạc hậu và kém hiệu quả của nền kinh tế, móc túi người tiêu dùng trong nước do mua phải hàng hóa chất lượng kém với

Trang 32

giá cao và giảm nguồn thu NSNN;

Ngoài ra, có nhiều dự án FDI đầu tư mang tính chụp giựt, trả lương thấp hoặc vi phạm các yêu cầu, quy định bảo vệ người lao động VN; cũng như còn tình trạng các DN

có vốn đầu tư nước ngoài liên kết ép giá, lũng đoạn thị trường, thực hiện các hành vi hối

lộ, làm tăng tình trạng tham nhũng gây tổn hại cho lợi ích người lao động, người tiêu dùng và sự ổn định kinh tế vĩ mô

Trước thực trạng đó, trong những năm trở lại đây chính phủ và các cơ quan ban

ngành các tỉnh, thành phố cũng đã có những chính sách khắt khe hơn trong quá trình thu

hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Điển hình là xu hướng rút giấy phép đối với cácdoanh nghiệp nước ngoài đang gia tăng tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh các chủ đầu

tư gặp khó khăn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như: Vừa qua, UBND tỉnh PhúYên đã công khai việc chuẩn bị thủ tục thu hồi dự án Thành phố sáng tạo Nam Tuy Hòa,một dự án có tổng diện tích đất sử dụng khoảng 7.656 ha, được đầu tư theo hình thức đầu

tư 100% vốn nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 11,4 tỷ USD, trong đó giai đoạn I là1,68 tỷ USD Trước những báo động nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường , thay vì dễ dãinhư trước đây, xu hướng hiện nay là các tỉnh thành đã soi kĩ hơn đối với dòng vốn FDI

Có thể nói rằng Việt Nam đã và đang quan tâm nhiều hơn tới việc kiểm soát dòng vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài Trên thực tế hiện nay vẫn còn nhiều dòng vốn FDI ‘chưasạch’ đang tồn tại trong nền kinh tế Việt Nam mà khó có thể phát hiện được bởi các thủđoạn che dấu khá tinh vi của chủ đầu tư nước ngoài Mặc dù các biện pháp của nhà nướckhông giải quyết được vấn đề này một cách triệt để song không thể phủ nhận nỗ lực chínhphủ và các cơ quan trong quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để có được nhữngdòng vốn FDI thực sự sạch đúng với ý nghĩa thực tế của nó nhằm đảm bảo cho sự pháttriển bền vững trong tương lai

2.2.2.Ví dụ về một số dự án FDI sạch và chưa sạch tại Việt Nam

Các dự án FDI “chưa sạch” tại Việt Nam ảnh hưởng đến môi trường, khai thác chiếm dụng tài nguyên một cách không hợp lí, trong khi thu lợi nhuận lớn lại đóng góp hạn chế cho nền kinh tế tại Việt Nam Cụ thể:

Ngày đăng: 24/07/2013, 15:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức - GIẢI PHÁP THU HÚT FDI SẠCH VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG  CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Bảng 2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức (Trang 29)
Bảng 3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo địa phương - GIẢI PHÁP THU HÚT FDI SẠCH VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG  CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Bảng 3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo địa phương (Trang 30)
Bảng 4  : Đóng góp của khu vực FDI so với các khu vực khác - GIẢI PHÁP THU HÚT FDI SẠCH VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG  CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Bảng 4 : Đóng góp của khu vực FDI so với các khu vực khác (Trang 43)
Bảng 5: Cơ cấu và thu nhập lao động của các doanh nghiệp FDI - GIẢI PHÁP THU HÚT FDI SẠCH VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG  CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Bảng 5 Cơ cấu và thu nhập lao động của các doanh nghiệp FDI (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w