HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM VỀ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
- -NGUYỄN HỮU TRƯỜNG HƯNG
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM VỀ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU NÔNG
SẢN CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THƯỜNG LẠNG
Hà Nội, 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM VỀ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM 10
1.1 Những vấn đề chung về hệ thống cảnh báo sớm 10
1.1.1 Khái niệm về hệ thống cảnh báo sớm 10
1.1.2 Đối tượng của hệ thống cảnh báo sớm 10
1.1.3 Phạm vi của hệ thống cảnh báo sớm 10
1.1.3.1 Phạm vi sản phẩm và nhóm sản phẩm của hệ thống cảnh báo sớm 10
1.1.3.2 Phạm vi thị trường cảnh báo 11
1.1.4 Mục tiêu của hệ thống cảnh báo sớm 13
1.1.5 Vai trò của hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiện chống bán phá giá hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam 14
1.2 Quy trình hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm 14
1.2.1 Xác định nguồn và phương thức thu thập 16
1.2.2 Phân tích đánh giá thông tin đầu vào 17
1.2.3 Tiêu chí và cấp độ cảnh báo 20
1.2.4 Nội dung cảnh báo 21
1.2.5 Sản phẩm của hệ thống cảnh báo sớm 22
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng hệ thống cảnh báo sớm 23
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 23
Trang 3CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM VỀ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT
NAM 26
2.1 Tổng quan về hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt nam 26
2.2 Các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay 31
2.2.1 Tổng quan các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam 34
2.2.2 Các nguyên nhân chính làm nảy sinh các vụ kiện áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam 36
2.2.2.1 Tư tưởng bảo hộ trong xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu dẫn đến việc lạm dụng các biện pháp TRs 36
2.2.2.2 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và cơ cấu, thị trường xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam 37
2.2.2.3 Quy định về Cộng gộp 37
2.2.2.4 Hiệu ứng dây chuyền “Domino” 38
2.2.2.5 Sự tác động và ảnh hưởng giữa các chính sách thương mại quốc tế khác với nguy cơ nảy sinh các vụ kiện thương mại quốc tế 39
2.3 Thực trạng hoạt động hệ thống cảnh báo sớm hiện nay 41
2.3.1 Về việc vận hành hệ thống 42
2.3.1.1 Cập nhật cơ sở dữ liệu 42
2.3.1.2 Cập nhật kết quả phân tích và tổng hợp 43
2.3.2 Về lượng truy cập hệ thống 47
2.3.2.1 Về việc cung cấp tài khoản truy cập 47
2.3.2.2 Thống kê lượng truy cập 48
2.3.3 Về việc phát triển các công cụ trên hệ thống 49
2.3.3.1 Nâng cấp giao diện Website 49
2.3.3.2 Tăng cường chức năng sử dụng 49
Trang 42.3.3.3 Phát triển chức năng đồ thị hóa kết quả cảnh báo và dữ liệu XNK49
2.3.4 Về việc tuyên truyền phổ biến hệ thống 50
2.3.4.1 Phối hợp với các Sở Công Thương 50
2.3.4.2 Phối hợp với các Hiệp hội và doanh nghiệp 50
2.4 Đánh giá hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm 51
2.4.1 Đánh giá những kết quả đạt được 51
2.4.2 Những hạn chế của hệ thống cảnh báo sớm 54
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM 57
3.1 Định hướng phát triển hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm từ nay cho đến năm 2015 57
3.1.1 Mở rộng quy mô các mặt hàng, thị trường cảnh báo, cùng với việc nâng cao chất lượng của các kết quả cảnh báo sớm 57
3.1.2 Nâng cao chất lượng các thông tin trên website của Hệ thống cảnh báo sớm 58
3.1.3 Xuất bản tạp chí phòng về thương mại hàng tháng 59
3.2 Giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm 59
3.2.1 Các giải pháp đối với công đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng59 3.2.2 Các giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước 63
3.2.3 Các giải pháp mang tính kỹ thuật để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hệ thống cảnh báo sớm 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
Trang 5FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
GDP Gross Domestic Production Tổng sản phẩm quốc nội
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam
VCA Vietnam Competition Authority Cục Quản lý cạnh tranh
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính của Việt Nam 26
Bảng 2.2: Số lượng các vụ kiện chia theo thị trường 35
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Tổng giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính của Việt Nam giai
đoạn 2006 – 2010 27
Hình 2.2: Tỷ lệ đóng góp của xuất khẩu nông sản trong cơ cấu tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam 28
Hình 2.3: Tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 29 Hình 2.4: Tổng giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 30
Hình 2.5: Các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩu 34
của Việt Nam 34
Hình 2.6: Mô hình hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm 42
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu của đề tài
Trong những năm gần đây, các biện pháp chống bán phá giá đã và đang được
sử dụng như là các hàng rào phi thuế quan để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, đi ngược lại với xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu
Trang 7Chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ là những lĩnh vực còn rất mới đối vớidoanh nghiệp Việt Nam Trong thời gian vừa qua, doanh nghiệp xuất khẩu của ViệtNam đã gặp không ít khó khăn khi phải đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá,chống trợ cấp và tự vệ của nước ngoài, đặc biệt là các mặt hàng nông sản có kim ngạchxuất khẩu lớn như: cá tra, basa, tôm ….Kể từ năm 1994 đến nay, con số các vụ kiện đãlên đến 31 vụ, trong đó phần lớn là các vụ kiện chống bán phá giá.
Để giảm các thiệt hại do các vụ kiện chống bán phá giá gây ra đối với các hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đồng thời giúp cho doanh nghiệp có thêm thời gian chuẩn bị và chủ động phòng tránh các vụ kiện có thể xảy ra, một trong những giải pháp là xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam Hệ thống cảnh báo sớm được thiết lập để xác định những mối đe dọa trong việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trước khi vụ kiện chính thức được tiến hành Thực tế cho thấy, nếu công tác dự báo và công tác chuẩn bị, ứng phó trước các vụ kiện được thực hiện tốt thì khả năng có thể tránh khỏi các vụ kiện là không nhỏ Hơn nữa, nếu vụ kiện nảy sinh, việc cảnh báo sớm
sẽ giúp các doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị và chủ động ứng phó, đem lại nhữngkết quả tích cực hơn và qua đó tạo được vị thế cạnh tranh tốt hơn trên thị trường
Mặc dù vậy, trong thời gian vừa qua hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm vẫncòn nhiều hạn chế, chưa phát huy được hiệu quả trong việc chủ động phòng tránh các
vụ kiện chống bán phá giá Chất lượng thông tin cảnh báo chưa cao, do chưa có sựphân tích, đánh giá kỹ mà mới chỉ dừng lại ở việc thu thập thông tin, số liệu thô Vìvậy, trong nhiều trường hợp ta còn rất bị động khi nảy sinh vụ kiện, điều này làm giảm
hiệu quả của công tác cảnh báo sớm Xuất phát từ thực tế này, đề tài “HOÀN THIỆN
HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM VỀ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
HÀNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM” được chọn để nghiên cứu
2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 8Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực này nhưluận văn thạc sỹ của Trương Thị Thúy Bình (năm 2006) với đề tài “Giải pháp ngănngừa các vụ kiện phá giá hàng xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế”, luận văn đã đưa ra các phân tích về các vụ kiện bán phá giá mà Việt Nam đãgặp phải, nguyên nhân làm nảy sinh các vụ kiện để từ đó đưa ra các giải pháp ngănngừa các vụ kiện phá giá hàng xuất khẩu mặc dù vậy đề tài chưa phân tích đến vai tròcần thiết cần có hệ thống cảnh bảo sớm về các vụ kiến chống bán phá giá hàng xuấtkhẩu của Việt Nam
Đối với đề tài “Kinh nghiệm chống bán phá giá ở một số nước trên thế giới vàbài học đối với Việt Nam” (năm 2010) của thạc sỹ Hồ Thị Thanh Nga và đề tài “Kinhnghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá trong thương mại quốc tế của các nướcđang phát triển và bài học cho Việt Nam” (năm 2008) của thạc sỹ Lê Quang Hòa, cảhai tác giả đã đề cập tới kinh nghiệm của các nước trên thế giới để đối phó với các vụkiện chống bán phá, mặc dù vậy các giải pháp được các nước trên thế giới triển khaichưa thực sự phù hợp với những đặc thù tại Việt Nam và trong luận văn cũng chưanhắc đến giải pháp cần xây dựng một hệ thống cảnh bảo sớm về các vụ kiện chống bánphá hàng xuất khẩu của Việt Nam
Trong khi đó, đề tài “Bán phá giá và chống bán phá giá trong thương mại quốc
tế - một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam” năm 2007 của thạc sỹ NguyễnKhánh Huyền, tác giả cũng mới chỉ phân tích những vấn đề chung thế nào là bán phágiá, chống bán phá giá, cách thức các quốc gia trên thế giới áp dụng biện pháp chốngbán phá để từ đó tác giả rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam Mặc dù vậy trong các bàihọc kinh nghiệm được nêu ra, tác giả cũng không đề cấp tới sự cần thiết cần phải xâydựng hệ thống cảnh báo sớm và triển khai xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về các vụkiện chống bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam
Có thể thấy rằng, tất cả các đề tài đã từng nghiên cứu liên quan đến lĩnh vựcchống bán phá giá đều chưa đi sâu vào nghiên cứu sự cần thiết phải có hệ thống cáchbáo sớm, cũng như hoàn thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm về các
vụ kiện chống bán phá hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Trang 93 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm hiệnnay, đánh giá những thành công và những hạn chế cần khắc phục, để từ đó đề xuấtcác giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm trongthời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiện chống bán phá giá hàng xuất khẩunông sản của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiện chống bán phá giá hàng xuất khẩunông sản của Việt Nam do Cục Quản lý cạnh tranh-Bộ Công Thương triển khaixây dựng từ năm 2006 cho đến nay và định hướng cho giai đoạn từ 2011 – 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh trên cơ sở sốliệu thống kê của Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê, Tổchức Thương mại thế giới (WTO), Ủy ban Thương mại Hoa Kỳ (USDOC), Ủy banChâu Âu (EC)
6 Kết cấu của luận văn
Tên luận văn “Hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiện chống bánphá giá hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và phụ lục đềtài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiệnchống bán phá hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Chương 2: Thực trạng hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiện chống bán pháhàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Trang 10Chương 3: Định hướng và giải pháp để hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm từnay cho đến năm 2015
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM
VỀ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU NÔNG
SẢN CỦA VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề chung về hệ thống cảnh báo sớm
1.1.1 Khái niệm về hệ thống cảnh báo sớm
Trang 11Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự
vệ là một hệ thống thu thập và phân tích các thông tin, diễn biến liên quan đến các
vụ kiện áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để đưa ra những cảnh báo sớm về nguy cơ xảy ra các vụ kiện này đối với hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn của Việt Nam và khuyến nghị các giải pháp ứng phó.
1.1.2 Đối tượng của hệ thống cảnh báo sớm
Đối tượng cảnh báo của hệ thống cảnh báo sớm là các vụ kiện chống bán phágiá, chống trợ cấp và tự vệ (các vụ kiện áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại) đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam
(2) Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu cao
(3) Tốc độ tăng trưởng cao, có tính liên tục trong giai đoạn 3 năm
(4) Sử dụng nhiều lao động
Bên cạnh những tiêu chí mang tính định lượng này, xuất phát từ một sốnguyên nhân chính làm nảy sinh vụ kiện áp dụng các biện pháp phòng vệ thươngmại nêu trên, hệ thống cảnh báo sớm cũng cần cân nhắc thêm một số tiêu chí địnhtính như:
(5)Việt Nam có một số lợi thế cạnh tranh nhất định (giá nhân công rẻ, lực lựợng lao động nhiệu, điều kiện tự nhiên…)
(6) Dễ xảy ra hành vi gian lận thương mại, lẩn tránh thuế chống bán phá giá,chống trợ cấp, biện pháp tự vệ
(7) Các nhà đầu tư nước ngoài thường tập trung vào đầu tư ở Việt Nam hoặcdoanh nghiệp Việt Nam làm gia công cho phía nước ngoài
(8) Sản xuất hàng loạt (mass production), có hàm lượng khoa học cũng như giá trị gia tăng trong sản phẩm không cao
Trang 12Phạm vi sản phẩm/nhóm sản phẩm
Theo số liệu đã nêu ở phần I, tính đến nay (tháng 10/2011), Việt Nam đã vàđang phải đối mặt với tổng cộng 39 vụ kiện liên quan đến một số sản phẩm như: Dagiày (08 vụ), thuỷ sản (02 vụ), dệt may (02 vụ), và một vụ liên quan đến các mặthàng cơ khí, công nghiệp, Bên cạnh đó theo số liệu của WTO, 8 ngành thườngxuyên bị kiện chống bán phá giá trên thế giới (từ 1995 đến nay) là: Hóa chất haycác ngành liên quan; Kim loại và các sản phẩm từ kim loại; Máy móc, thiết bị cơkhí, thiết bị điện; Dệt may và da giày; Nhựa, cao su; Bột gỗ, giấy; Nông sản, thựcphẩm; Đá, nhựa và các sản phẩm làm từ đá, nhựa
Nhiều trong số này thuộc về các ngành sản xuất đơn giản mà các nước đangphát triển có lợi thế về chi phí và tài nguyên tự nhiên, giá nhân công lao động rẻ,không yêu cầu trình độ kỹ thuật, lao động cao, ví dụ như các sản dệt may, da giày,thủy sản, bột giấy, đá quý, kính, gốm, kim loại
Căn cứ vào những tiêu chí đánh nêu trên và đánh giá tổng quan về các mặthàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong thời gian qua, trong giai đoạn đầu xâydựng hệ thống, phạm vi mặt hàng sẽ được lựa chọn để tập trung theo dõi và cảnhbáo gồm 06 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và có nhiều nguy cơ bị khởi
kiện gồm: Thủy hải sản; Da giày, Dệt may, Đồ gỗ; Dây diện và cáp điện; Mặt
hàng máy móc, điện tử
1.1.3.2 Phạm vi thị trường cảnh báo
Tiêu chí xác định phạm vi thị trường
Dựa trên 06 tiêu chí cơ bản sau:
(1) Cán cân xuất nhập khẩu của Việt Nam với thị trường nhập khẩu
(2) Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này (giá trị/ tỷ trọng).(3) Tổng số lượng các vụ kiện áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại
mà thị trường nước nhập khẩu đã tiến hành khởi kiện nói chung và áp dụng đối vớihàng hóa xuất khẩu Việt Nam nói riêng trong những năm qua
(4) Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường nhập khẩu này
Trang 13(5) Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này trong giaiđoạn gần nhất.
(6) Tính đại diện về khu vực địa lý
Lựa chọn thị trường cảnh báo
Theo số liệu đã nêu ở phần I, đứng đầu danh sách các nước tiến hành khởikiện là Ấn Độ với 520 cuộc điều tra), Hoa Kỳ (414) và EU (382), tiếp đến là cácnước Ác-hen-ti-na, Nam Phi, Úc
Đối với các nước đã tiến hành các vụ kiện đối với Việt Nam, đứng đầu là EU(10 vụ), tiếp theo là Hoa Kỳ và Ấn Độ (cùng có 04 vụ), tiếp theo là Canada, ThổNhĩ Kỳ, Ai Cập, Achentina,
Trong số các vụ kiện đã tiến hành xuất khẩu đối với Việt Nam, các vụ kiện
có lớn có ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam (Như
vụ kiện CBPG cá tra, cá basa, vụ kiện tôm, vụ giày da, ) đều tập trung ở 02 thịtrường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là thị trường Hoa Kỳ và thị trường EU
Trên cơ sở xem xét, đánh giá các tiêu chí nêu trên, cũng như nguồn nhân lực
và tính chất mới của nội dung công việc, trong giai đoạn đầu xây dựng hệ thống, ta
sẽ tập trung theo dõi và cảnh báo đối với 02 thị trường xuất khẩu chính của ViệtNam là: Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) Đây cũng là 02 thị trường chính cócác vụ khởi kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.Trong giai đoạn tiếp theo, khi hệ thống đã vận hành một cách hiệu quả, hệ thống sẽdần mở rộng phạm vi cảnh báo ra một số thị trường khác như Úc, Trung Quốc, Ấn
Độ, Nam Phi, Achentina… tùy theo mức độ ảnh hưởng
Phạm vi của hệ thống cảnh báo sẽ được điều chỉnh linh hoạt và sẽ được mởrộng theo mức độ ảnh hưởng và quy mô các vụ kiện để đáp ứng các yêu cầu thựctiễn
1.1.4 Mục tiêu của hệ thống cảnh báo sớm
Hệ thống cảnh báo sớm được thiết lập để xác định những mối đe dọa trongviệc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu củaViệt Nam trước khi vụ kiện chính thức được tiến hành Thực tế đã cho thấy, nếu
Trang 14công tác dự báo và công tác chuẩn bị, ứng phó trước các vụ kiện được thực hiện tốtthì khả năng có thể tránh khỏi các vụ kiện là không nhỏ Hơn nữa, nếu vụ kiện nảysinh, việc cảnh báo sớm sẽ giúp các doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị và chủ độngứng phó, đem lại những kết quả tích cực hơn và qua đó tạo được vị thế cạnh tranhtốt hơn trên thị trường.
Do vậy, 06 mục tiêu chính của việc xây dựng và phát triển Hệ thống cảnhbáo sớm được đặt ra, cụ thể là:
(1) Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin cảnh báo đối với những mặt hàng vàthị trường xuất khẩu trọng điểm, nhằm nâng cao tính chủ động và hiệu quả trongcông tác điều hành, xây dựng chiến lược xuất khẩu và dự báo
(2) Phát hiện, nhận biết sớm những nguy cơ làm nảy sinh các vụ việc áp dụng cácbiện pháp phòng vệ thương mại trước khi vụ kiện được chính thức tiến hành (Hồ sơyêu cầu áp dụng các biện pháp nêu trên được nộp hoặc trước khi cơ quan có thẩmquyền ra quyết định tiến hành điều tra)
(3) Khuyến nghị các doanh nghiệp trong việc điều chỉnh hoạt động xuất khẩu và cónhững chuẩn bị tốt hơn trong trường hợp các hoạt động điều tra được tiến hành.(4) Khuyến nghị các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan trong hoạt động điều hành,hoạch định chiến lược sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng, thị trường nhạy cảm.(5) Nâng cao ý thức, tính chủ động phòng tránh các vụ kiện áp dụng các biện phápphòng vệ thương mại của các doanh nghiệp xuất khẩu, hiệp hội ngành hàng ViệtNam Qua đó, nâng cao tính cạnh tranh, vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Việtnam trên thị trường quốc tế
(6) Tăng cường sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa Chính phủ và các doanhnghiệp, Hiệp hội ngành hàng trong công tác chủ động phòng, tránh các vụ kiệnthương mại nước ngoài
1.1.5 Vai trò của hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiện chống bán phá
giá hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Trong bối cảnh số lượng các vụ kiện phòng vệ thương mại đối với hàng hóaxuất khẩu của Việt Nam đang có xu hướng ngày càng tăng, công tác cảnh báo sớm
Trang 15các vụ kiện là hết sức quan trọng để chủ động đối phó với các vụ kiện, bảo vệ lợiích của các doanh nghiệp Việt Nam Nhằm khắc phục những hạn chế của công táccảnh báo nêu trên, qua đó, nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác cảnh báosớm cũng như phù hợp với nguồn nhân lực của Bộ Công Thương, việc xây dựngmột hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệchỉ hạn chế cho các mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn của Việt Nam là hết sứccần thiết
Do đó, trong giai đoạn vận hành ban đầu, hệ thống cảnh báo sớm sẽ tập trungnguồn lực để theo dõi và cảnh báo tại những thị trường xuất khẩu trọng điểm, cóảnh hưởng đáng kể tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU và tậptrung theo dõi những mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn của Việt Nam như mặthàng dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ, Trong các giai đoạn vận hành tiếp theo, hệthống sẽ điều chỉnh phạm vi thị trường và phạm vi sản phẩm một cách thích hợp vớimức độ hiệu quả và những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Đối với những thị trường xuất khẩu của Việt Nam không thuộc phạm vi của
hệ thống cảnh báo theo đề án này, các Thương vụ Việt Nam tại các thị trường đó sẽvẫn tiếp tục phối hợp với Cục Quản lý cạnh tranh và các đơn vị có liên quan triểnkhai thực hiện công tác cảnh báo (1năm/2 lần) theo tinh thần của 02 công văn nêutrên (CV số 4078/BTM-QLCT ngày 3/7/2006 và CV số 1530/BTM-QLCT20/3/2007)
1.2 Quy trình hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm
Xác định nội dung thông tin, dữ kiện đầu vào
Số liệu thống kê (dữ kiện định lượng)
Tại Việt Nam: Số liệu thống kê xuất khẩu: tên mặt hàng; mã số hải quan(thông thường là mã HS từ 6-8 số); số lượng/ khối lượng/ giá trị và giá xuất khẩucủa Việt Nam Danh sách các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam (tên, địa chỉ,thông tin liên lạc, mặt hàng xuất khẩu, số lượng, giá trị )
Tại thị trường nước nhập khẩu:
Trang 16- Số liệu thống kê nhập khẩu: tên mặt hàng; mã số hải quan (mã HS từ 6-8số); số lượng/ khối lượng/ giá trị và tổng giá trị nhập khẩu, thị phần nhập khẩu từViệt Nam, Trung Quốc và thị phần nhập khẩu của 10 nước đứng đầu; giá nhập khẩuvà/hoặc đơn giá bình quân (Average Unit Value - AUV) của hàng hóa nhập từ ViệtNam, Trung Quốc và của 10 nước có kim ngạch xuất khẩu cao nhất vào thị trườngnước nhập khẩu; tốc độ tăng trưởng nhập khẩu.
- Số liệu của thị trường nội địa nước nhập khẩu: giá bán hàng hóa liên quantại thị trường nội địa của nước nhập khẩu, xu hướng thay đối giá cả; thị phần củacác nhà sản xuất nội địa và xu hướng thay đổi thị phần trong khoảng thời gian 3năm gần nhất
Thông tin, diễn biến (dữ kiện định tính)
Tại Việt Nam: Các thông tin về tình hình đầu tư và kế hoạch, quy hoạch pháttriển ngành, nhóm mặt hàng sản xuất của Việt Nam đối với mặt hàng xuất khẩuthuộc phạm vi cảnh báo sớm
Tại thị trường nước nhập khẩu:
- Các dữ kiện, thông tin về động thái, phản ứng của các nhà sản xuất nội địa;động thái của cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ việc, phản ứng của báo giới
- Tình hình sản xuất, kinh doanh của ngành sản xuất nội địa, vị thế tương đốicủa ngành công nghiệp nội địa tại thị trường nước nhập khẩu (ví dụ: tầm quan trọngcủa ngành đó đối với nước nhập khẩu trên các mặt hoạt động kinh tế, nghề nghiệp,phát triển vùng, tình trạng giảm sút hoạt động sản xuất, đóng cửa v.v )
- Mức độ cạnh tranh của sản phẩm liên quan tại thị trường nhập khẩu
- Những thông tin, đánh giá, nhận định về xu hướng diễn ra các vụ kiện ápdụng các biện pháp phòng vệ thương mại do nước nhập khẩu tiến hành Trong đó,cần lưu ý đến những nước có vị trí địa lý gần với Việt Nam, đặc biệt là Trung Quốc
do các vụ kiện thương mại thường có tính phản ứng dây chuyền và hầu hết các vụkiện phòng vệ thương mại đối với Việt Nam đều có liên quan tới Trung Quốc Vìvậy, cần đặc biệt theo dõi các sản phẩm bị áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấpđối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc trong vòng 2 năm gần đây và xét xem liệu
Trang 17số liệu xuất khẩu từ Việt Nam có đủ lớn để có thể bị điều tra chống bán phá giátrong các cuộc điều tra tiếp theo hay không.
- Những thay đổi và xu hướng phát triển trong hệ thống luật pháp, các quyđịnh hoặc thông lệ áp dụng mà ảnh hưởng đến vụ việc áp dụng các biện pháp phòng
vệ thương mại tại nước nhập khẩu; và
- Một số nội dung khác như: hành vi lẩn tránh thuế chống bán phá giá, giả C/
O, gia công đơn giản và diễn biến, xu hướng của việc chuyển dịch đầu tư nướcngoài của các nước trong khu vực, đặc biệt là từ Trung Quốc đối với những sảnphẩm đã và đang liên quan đến các vụ việc phòng vệ thương mại
1.2.1 Xác định nguồn và phương thức thu thập
Số liệu thống kê (dữ kiện định lượng)
Tại Việt Nam: Số liệu thống kê xuất khẩu: Từ Tổng cục Hải quan và các Hiệp hội ngành hàng (ví dụ: VASEP, LEFASO, VIFORES );
Tại thị trường nước nhập khẩu:
- Số liệu thống kê nhập khẩu:
+ Từ cơ quan Hải quan, cơ quan quản lý, giám sát nhập khẩu của Hoa Kỳ(US ITC) và EU (Eurostat) hoặc những cơ quan chức năng khác quản lý số liệu xuấtnhập khẩu
+ Những số liệu thống kê mang tính giá trị gia tăng được tổng hợp và phânnhóm theo những thông tin về giá trị, số lượng, thị phần, tỷ trọng, giá xuất khẩu, xuhướng vận động sẽ được mua qua các công ty chuyên nghiệp chuyên cung cấp cácdịch vụ giá trị gia tăng nêu trên hoặc các văn phòng tư vấn luật
Thông tin, diễn biến (dữ kiện định tính)
Tại Việt Nam: Thông tin về tình hình sản xuất, đầu tư, lao động, quy mô,tăng trưởng: từ Tổng cục Thống kê; Báo cáo của các ngành/hiệp hội; Tài liệunghiên cứu độc lập của các tổ chức phi chính phủ, dự án nước ngoài
Tại thị trường nước nhập khẩu:
+ Từ các cơ quan quản lý, tổ chức chuyên ngành có liên quan
Trang 18+ Từ các Hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp sản xuất, nhà nhập khẩu hàng hóa liênquan
+ Thuê các văn phòng luật cung cấp thông tin theo hình thức “watchdog” + Thuê các công ty nghiên cứu, phân tích thị trường
+ Từ các phương tiện báo chí, truyền thông
1.2.2 Phân tích đánh giá thông tin đầu vào
Xác định thị phần nhập khẩu
Theo các quy định của WTO, thông thường, các vụ kiện phòng vệ thươngmại sẽ không được bắt đầu trừ khi tỷ trong hàng nhập khẩu của sản phẩm bị kiện từnước bị kiện so với tổng số hàng nhập khẩu sản phẩm bị kiện vào nước dự tính khởikiện phải vượt một ngưỡng tối thiểu (3% và/hoặc 7%) Do đó, một cấu phần quantrọng của một hệ thống cảnh báo sớm hiệu quả là khả năng phân tích tổng khốilượng nhập khẩu và so sánh với tổng lượng sản xuất của ngành sản xuất nội địa củanước nhập khẩu Trên cơ sở đó, có thể tính toán về thị phần, tỷ lệ thay đổi về khốilượng, giá và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
Việc xác định thị phần nhập khẩu hàng hóa tại nước nhập khẩu có vượtngưỡng tối thiểu hay không để có thể rơi vào tầm ngắm của các vụ kiện là tiêu chí
cơ bản đầu tiên để xác định những dấu hiệu ban đầu về nguy cơ hàng hóa xuất khẩucủa Việt Nam phải đối mặt với một vụ kiện thương mại
Đánh giá mức độ gia tăng về số lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam
Hầu hết các vụ kiện về phòng vệ thương mại bắt nguồn từ một thay đổi về sốlượng hàng nhập khẩu mà theo ngành sản xuất bị tác động tại nước nhập khẩu thì sốlượng đó là đáng kể Do đó, một cấu phần then chốt của một hệ thống cảnh báo sớmhiệu quả là phải giám sát những thay đổi trong số lượng hàng xuất khẩu của ViệtNam (tỷ lệ tăng trưởng) của nhóm sản phẩm nhạy cảm Có thể phát triển mộtchương trình máy tính để nhận biết những khu vực sản phẩm nào đang có tỷ lệ tăngtrưởng số lượng hàng xuất khẩu cao vượt ngưỡng có thể xác định trước và trợ giúpcho việc xác định những khu vực sản phẩm nào cần được phân tích kỹ hơn
Đánh giá mức độ giảm sút về giá xuất khẩu
Trang 19Bên cạnh việc số lượng hàng xuất khẩu tăng lên, giá bán hàng xuất khẩugiảm đi cũng có thể ảnh hưởng tới việc nước nhập khẩu quyết định bắt đầu một vụkiện phòng vệ thương mại Do đó, hệ thống cảnh báo sớm sẽ phải phân tích nhữngthay đổi trong giá bán hàng xuất khẩu
Đối với sản phẩm/nhóm sản phẩm xuất khẩu có kim ngạch lớn của Việt Namtrong phạm vi đề án này, Hệ thống sẽ thu thập thông tin về đơn giá trung bình tronggiai đoạn 3 năm (ví dụ: trong thời kỳ 2006-2008) và những năm gần đây (ví dụ:
2008 và 2009) để phân tích và phân chia đơn giá trung bình này theo từng quý vìnhư vậy hệ thống có thể xác định xu hướng tăng giảm giá trong thời kỳ một năm vàtrong thời kỳ theo dõi Thông tin sẽ được sắp xếp theo từng nước và tổng thể
Cũng có thể phát triển một chương trình máy tính để nhận biết những khu vực sản phẩm nào đang có mức giá xuất khẩu AUVs giảm ở mức đáng kể gây ra lo ngại
Phân tích mối quan hệ giữa hàng xuất khẩu của Việt Nam với hàng xuất khẩu của các nước khác
Trong nhiều trường hợp, sự tăng số lượng hàng nhập khẩu từ một nước chỉđơn thuần do giảm số lượng hàng nhập khẩu từ một nước khác, chứ không phải do
số lượng bán hàng của các nhà sản xuất trong nước giảm (hàng nhập khẩu từ mộtnước này thay cho hàng nhập khẩu từ một nước khác) Trong những tình huốngnày, ít có khả năng việc số lượng hàng nhập khẩu từ một nước tăng lên sẽ kéo theomột vụ kiện phòng vệ thương mại Do đó, phạm vi của phân tích trong một cơ chếcảnh báo sớm hiệu quả là đánh giá mối quan hệ giữa hàng xuất khẩu của Việt Namvới hàng xuất khẩu từ các nước khác tới nước nhập khẩu để đo mức độ của cạnhtranh của hàng xuất khẩu Việt Nam Việc phân tích này có thể được thực hiện bằngcách phân tích những số liệu nhập khẩu chính thức của nước nhập khẩu
Phân tích ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu
Kể cả nếu khối lượng hàng nhập khẩu tăng lên và giá bán trung bình giảm đi,cũng ít có khả năng xảy ra một vụ kiện phòng vệ thương mại nếu các nhà sản xuấtnội địa hoạt động tốt Chính vì vậy, động thái và phản ứng của ngành sản xuất nội
Trang 20địa của nước nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài có yếu tố quantrọng nhất, có tính quyết định trong việc phát sinh một vụ kiện phòng vệ thươngmại
Tuy nhiên, sẽ không thật sự dễ dàng trong việc tìm kiếm các kết quả phântích cũng như các dữ liệu liên quan đến những thông tin nêu trên Mặc dù vậy, đốivới những ngành công nghiệp sẵn có dữ liệu, việc phân tích tình hình, thực trạngsản xuất, kinh doanh của các nhà sản xuất nội địa sẽ tạo nên một phần quan trọngcủa cơ chế cảnh báo sớm
Theo dõi chính sách và thông lệ áp dụng trong các vụ kiện phòng vệ thương mại của nước nhập khẩu
Thông thường, việc thay đổi chính sách và thông lệ áp dụng liên quan đếnviệc áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ xuất phát từ các nước nhậpkhẩu nhằm tạo thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền của nước đó trong việc áp thuế
và thu thuế chống bán phá giá hoặc tạo ra những thuận lợi/lợi ích cho ngành sảnxuất trong nước đáp ứng được các điều kiện, yêu cầu để tiến hành khởi kiện, cũng làmột nguyên nhân dẫn tới việc xảy ra vụ kiện Chính vì vậy, việc theo dõi và phântích những nội dung thông tin nêu trên là cần thiết và được thực hiện một cáchthường xuyên, chặt chẽ
Phân tích các mối liên kết và sự phụ thuộc lẫn nhau của các chính sách thương mại khác
Việc phân tích các mối liên kết, tác động và sự phụ thuộc lẫn nhau của các chính sách thương mại khác như GSP, FTA, TBT, SPS… có khả năng ảnh hưởng đến nguy cơ nảy sinh các vụ kiện phòng vệ thương mại và đây cũng sẽ là một nội dung công việc của cơ chế cảnh báo sớm
1.2.3 Tiêu chí và cấp độ cảnh báo
Có 3 cấp độ cảnh báo gồm: Cấp độ cảnh báo đèn đỏ, đèn vàng và đèn da cam:
Trang 21Cấp độ cảnh báo đèn đỏ: áp dụng đối với các hàng hóa mà nguy cơ mặt hàngnày sẽ là đối tượng của các vụ kiện chống bán phá giá là khá rõ ràng và xảy ra trongtương lai rất gần (dưới 6 tháng), cụ thể gồm các tiêu chí sau đây:
+ Có những nguồn thông tin chính thức và rõ ràng (ví dụ: đã có đơn khởi kiện của nhà sản xuất, đã có những dấu hiệu về việc tiến hành điều tra ban đầu…)
từ cơ quan chức năng, từ văn phòng luật sư hay từ báo chí có uy tín…cho thấy có khả năng xảy ra vụ kiện đối với một mặt hàng cụ thể
+ Có thị phần nhập khẩu cao (tối thiểu trên 3% và thuộc 05 nước có thị phầnnhập khẩu cao nhất), tăng nhanh về lượng, có tính liên tục
+ Tỷ lệ giảm giá xuất khẩu đáng kể (AUV) hoặc giá xuất khẩu của Việt Namthấp hơn mặt bằng giá nhập khẩu trung bình tại nước nhập khẩu một cách đáng kể
+ Mặt hàng đang bị áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ tạinước nhập khẩu hoặc một/một số nước liên quan khác …
Cấp độ cảnh báo đèn da cam: áp dụng đối với hàng hóa có những dấu hiệucho thấy có nhiều khả năng sẽ rơi vào tầm ngắm của các vụ kiện (từ 6 tháng trởlên), cụ thể gồm các tiêu chí sau đây:
+ Có nguồn thông tin ban đầu cho thấy mặt hàng này có thể bị khởi kiệntrong tương lai (ví dụ: tại nước nhập khẩu, nhà sản xuất nội địa đang vận độngchính phủ tiến hành khởi kiện, nhiều nhà máy bị phá sản, …)
+ Có thị phần nhập khẩu tại nước nhập khẩu trên 3% (vượt ngưỡng tối thiểu
để bị khởi kiện trừ trường hợp áp dụng phương pháp cộng gộp)
+ Có tốc độ tăng trưởng về số lượng/giá trị xuất khẩu đáng kể và liên tục tớinước nhập khẩu trong vòng tối thiểu từ 1 năm trở lên
+ Có tốc độ giảm giá xuất khẩu đáng kể hoặc giá xuất khẩu thấp hơn mặtbằng giá nhập khẩu từ các nước khác và thấp hơn mặt bằng giá bán tại nước nhậpkhẩu
Cấp độ cảnh báo đèn vàng: áp dụng đối với các nhóm hàng hóa có nhữngdấu hiệu có thể bị kiện nhưng trong tương lai xa (trên 1 năm), thoả mãn một trongcác tiêu chí sau đây:
Trang 22+ Có thị phần nhập khẩu tại nước nhập khẩu trên 3% (vượt ngưỡng tối thiểu
để bị khởi kiện trừ trường hợp áp dụng phương pháp cộng gộp)
+ Có tốc độ tăng trưởng về số lượng/giá trị xuất khẩu đáng kể và liên tục tớinước nhập khẩu trong vòng tối thiểu từ 1 năm trở lên
+ Có tốc độ giảm giá xuất khẩu đáng kể hoặc giá xuất khẩu thấp hơn mặtbằng giá nhập khẩu từ các nước khác và thấp hơn mặt bằng giá bán tại nước nhậpkhẩu
+ Mặt hàng đang bị áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ tạinước nhập khẩu hoặc một/một số nước liên quan khác …
Ngoài ra, những nhóm mặt hàng còn lại nếu không thuộc vào diện cảnh báotheo 3 cấp độ nêu trên (đỏ, da cam, vàng) sẽ thuộc nhóm có mức an toàn và tiếp tụcđược theo dõi
Trong khoảng thời gian và phạm vi nhất định, đây là các nhóm hàng hóa mànguy cơ nảy sinh vụ kiện chống bán phá giá không nhiều, Đó có thể là những hànghóa mà nước nhập khẩu không sản xuất, hoặc tại thị trường đó đã tồn tại sẵn nhữngrào cản thị trường như các quy định về hàng rào kỹ thuật, kiểm dịch động thực vật,mức thuế suất cao…để bảo hộ sản xuất nội địa va ̀ những biện pháp này đang pháthuy hiệu quả của chúng
1.2.4 Nội dung cảnh báo
Như đã được trình bày tại phần nguyên nhân làm nảy sinh các vụ kiệnthương mại nước ngoài, các vụ kiện áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mạiđược khởi xướng tiến hành điều tra vì nhiều nguyên nhân Do vậy, hệ thống cảnhbáo sớm sẽ khó có thể tuyên bố chắc chắn rằng sẽ có một vụ kiện chống bán phágiá, chống trợ cấp, tự vệ được khởi xướng Có nhiều ví dụ cho thấy những vụ kiệnvẫn được tiến hành mặc dù có rất ít hi vọng thắng kiện và có những vụ việc không
bị khởi xướng điều tra mặc dù rõ ràng là hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá và đanggây ra thiệt hại Chính vì vậy, một báo cáo cảnh báo sớm hiệu quả cũng cần mô tảnguy cơ khởi xướng một cuộc điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mạiđối với một sản phẩm cụ thể
Trang 23Trên cơ sở phân loại các cấp độ cảnh báo đối với các mặt hàng theo từng thịtrường, nội dung cảnh báo sẽ bao gồm những thông tin chính sau:
(1) Thông tin cảnh báo theo ba cấp độ: Đèn đỏ, đèn da cam, đèn vàng (nếucó)
(2) Thông tin, diễn biến về các vụ điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệthương mại tại các nước nhập khẩu và các vụ kiện đang diễn ra tại WTO (nếu có) vềmặt hàng đang được cảnh báo
(3) Các giải pháp, khuyến nghị hành động cho Chính phủ cũng như các hiệphội ngành hàng, doanh nghiệp xuất khẩu để hoặc là tránh một cuộc điều tra chốngbán phá giá hoặc là giải quyết một vụ kiện đã được tiến hành như về chiến lược xuấtkhẩu, chuyển đổi thị trường, cơ cấu mặt hàng, có những điều chỉnh về tốc độ xuấtkhẩu hợp lý, rà soát lại hoạt động sản xuất, kinh doanh, chuẩn bị nguồn nhân lực…Các kiến nghị sẽ dựa trên hiểu biết về thị trường, bao gồm vị thế của ngành côngnghiệp nội địa và của nhà xuất khẩu Việt Nam Nội dung giải pháp và khuyến nghịnày có được trên cơ sở thống nhất ý kiến, thông tin từ các đơn vị chức năng liênquan và các chức năng phân tích của hệ thống cảnh báo sớm
(4) Giới thiệu, hướng dẫn cho cộng đồng doanh nghiệp về các kiến thức,thông tin pháp luật mới liên quan tới các biện pháp phòng vệ thương mại của nướcnhập khẩu và WTO (nếu có)
1.2.5 Sản phẩm của hệ thống cảnh báo sớm
Hệ thống cảnh báo sớm sẽ thực hiện các báo cáo cảnh báo mang tính định kỳhàng quý Việc báo cáo định kỳ hàng quý này cũng sẽ phù hợp với nội dung côngviệc đánh giá xu hướng thay đổi của đơn giá trung bình xuất khẩu (AUVs) nêu tạimục IV.3.5 Ngoài ra, hệ thống sẽ có những cảnh báo mang tính không định kỳ khi
có những vụ việc cụ thể xảy ra
Đối tượng chính có thể nhận thông tin cảnh báo
Gồm 04 nhóm đối tượng hưởng lợi của hệ thống cảnh báo sớm, cụ thể:
+ Các cơ quan của Chính phủ: từ trung ương đến địa phương
Trang 24+ Cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam: trong đó, đối tượng chính là cáccông ty xuất nhập khẩu và sản xuất các mặt hàng liên quan đến vụ kiện;
+ Các Hội, Hiệp hội ngành hàng của Việt Nam;
+ Cơ quan, tổ chức chuyên ngành trên lãnh thổ Việt Nam
Trong các trường hợp cụ thể, đối tượng nhận cảnh báo sẽ được xác định mộtcách thích hợp
Hình thức đưa ra cảnh báo
Tùy theo mức độ và tính chất cụ thể của từng vụ việc, nhằm tránh/hạn chếgây gây ra những tác động tiêu cực (như: xáo trộn hoạt động sản xuất, kinh doanhbình thường của ngành sản xuất cũng như hạn chế việc các bên khác lợi dụng chínhnhững thông tin cảnh báo của ta để làm khởi xướng các biện pháp phòng vệ thươngmại chống lại ta), tùy theo từng vụ việc cụ thể, trên cơ sở ý kiến thảo luận và thốngnhất của các đơn vị có liên quan, Cục Quản lý cạnh tranh sẽ quyết định về đối tượng
và hình thức đưa ra cảnh báo thích hợp
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng hệ thống cảnh báo sớm
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Hiện nay, trên thế giới chỉ có Trung tâm tư vấn WTO (SCC/WTO) – trựcthuộc Ủy ban nhân dân thành phố Thượng Hải – Trung Quốc đã xây dựng và triểnkhai hệ thống này Kể từ tháng 5/2001, hệ thống cảnh báo sớm của Trung Quốc bắtđầu được triển khai, Trung tâm SCC/WTO đã mất khoảng 18 tháng để nghiên cứucác vấn đề cơ bản của hệ thống cảnh báo, sau đó hệ thống bắt đầu được vận hành.Thời gian ban đầu, hệ thống cảnh báo chủ yếu tập trung vào cảnh báo tại thị trườngHoa Kỳ Mặt hàng đầu tiên được cảnh báo là mặt dệt may của Trung Quốc xuấtkhẩu vào Hoa Kỳ Sau 8 năm, hệ thống đã liên tục được đầu tư, nâng cấp và chođến nay hệ thống cảnh báo đã mở rộng theo dõi và cảnh báo 21 chủng loại hàng hóa(97 chương, bao gồm hầu như toàn bộ các mặt hàng, ngành nghề) tại 78 nước/vùnglãnh thổ, tương đương 95% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn thế giới
Hiện nay, SCC/WTO có một ban chuyên trách theo dõi và cảnh báo sớm cácbiện pháp phòng vệ thương mại Đây là bộ phận trực tiếp vận hành hệ thống theo
Trang 25dõi và cảnh báo sớm (có 10 thành viên thường trực bao gồm các chuyên gia trongcác lĩnh vực kinh tế, thương mại quốc tế, luật, toán học và công nghệ thông tin).Ngoài ra, Trung tâm thường xuyên thuê và cộng tác với các chuyên gia từ các nướctrong quá trình hoạt động.
Nguồn kinh phí xây dựng và triển khai hệ thống theo dõi và cảnh báo sớmcủa SCC/WTO chủ yếu do Cơ quan chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân
TP Thượng Hải cung cấp Một phần kinh phí từ cơ quan trung ương do Bộ Thươngmại Trung Quốc cung cấp Kinh phí xây dựng hệ thống cảnh báo được chia làm 2phần: (1) Chi phí xây dựng ban đầu: gồm các chi phí đầu tư trang thiết bị: 2 triệuUSD; máy móc, phần cứng, chi phí mua phần mềm phân tích, xử lý số liệu, báocáo: 1 triệu USD; chi phí mua thông tin, dữ liệu: 2 triệu USD; chi phí lương chochuyên gia: 3 triệu USD và các chi phí khác: 2,5 triệu USD Tổng cộng kinh phí xâydựng ban đầu là: 10,5 triệu USD; (2) Chi phí hoạt động hàng năm: gồm các chi phímua thông tin, dữ liệu: 0,55 triệu USD; chi phí duy trì, nâng cấp hệ thống: 0,25 triệuUSD; chi phí nghiên cứu & phát triển (R&D): 0,25 triệu USD; chi phí lương: 0,5triệu USD; chi phí khác: 0,25 triệu USD Tổng cộng kinh phí cho hoạt động hàngnăm là: 1,8 triệu USD1
Có thể thấy Trung Quốc đã chú trọng đầu tư cho việc triển khai công táccảnh báo sớm cả về quy mô, kinh phí, đội ngũ nguồn nhân lực, Tuy nhiên, tínhhiệu quả của Hệ thống cảnh báo này cũng chưa thật rõ ràng, do các sản phẩm phântích, cảnh báo của Trung tâm SCC/WTO chủ yếu nhằm phục vụ cho các yêu cầunghiên cứu, quản lý, hoạch định của Bộ Thương mại Trung Quốc (Cục Thương mạilành mạnh XNK và Cục Điều tra thiệt hại)2 trong việc tiến hành xử lý các vụ việc vềCBPG, chống trợ cấp và tự vệ
Một trong những đặc tính quan trọng của Hệ thống cảnh báo sớm là “tìnhbáo thị trường” Và cũng chính vì tính chất này, những thông tin chính thức về việccác nước thành viên WTO có xây dựng hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện thương
chống trợ cấp và tự vệ
Trang 26mại nước ngoài hay không và việc xây dựng, triển khai như thế nào rất ít, có thể nóihầu như là không có Bên cạnh đó, việc tiến hành theo dõi, cảnh báo sớm các vụkiện thương mại nước ngoài thường được tiến hành theo cơ chế ”gác cửa”(Watchdog) do các luật sư của các văn phòng tư vấn luật tiến hành để theo dõi,giám sát diễn biến, động thái của thị trường nội địa nước nhập khẩu đối với hànghóa xuất khẩu nước ngoài.
Thông qua việc tham khảo kinh nghiệm xây dựng và vận hành Hệ thốngcảnh báo sớm của Trung Quốc và những thông tin, dữ liệu mà ta thu thập được, cóthể cho thấy việc xây dựng và triển khai Hệ thống cảnh báo sớm, mức độ và quy
mô, độ công khai của viêc cảnh báo, thời gian chuẩn bị, kinh phí đầu tư, mục đíchcũng như phương pháp luận sẽ được quiyết định và phù thuộc vào mỗi quốc gia vàmỗi bối cảnh thực tiễn Do vậy, có thể nói việc xây dựng Hệ thống cảnh báo sớmnêu trên là khá mới mẻ đối với Việt Nam, đòi hỏi có sự hiểu biết khá chuyên sâu vềtình hình thị trường, sản phẩm, diến biến kinh tế quốc tế, quy định của pháp luật vàthông lệ áp dụng của các cơ quan điều tra có thẩm quyền; kinh nghiệm phân tích,đánh giá, tổng hợp vụ việc; và nguồn kinh phí không nhỏ cho xây dựng cơ sở hạtầng, đào tạo nguồn nhân lực, mua thông tin, số liệu Bên cạnh đó, những kết quả,hiệu quả của Hệ thống cảnh báo sớm thường không thật sự rõ rệt và khó định lượngđược
Chính vì vậy, Hệ thống cảnh báo sớm sẽ được xây dựng một cách phù hợpvới điều kiện thực tiễn của Việt Nam và được triển khai thực hiện theo lộ trình hợp
lý
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM VỀ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT
NAM
2.1 Tổng quan về hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt nam
Trong những năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của chúng ta liên tục tăng quacác năm Cơ cấu các mặt hàng xuất khấu liên tục có sự đa dạng và phát triển Trong đó
Trang 27các mặt hàng nông sản chiếm vai trò rất quan trọng trong cớ cấu các mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam Với lợi thế là đa phần lực lượng lao động là nông dân và
người lao động, cùng với đất đai màu mỡ, vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam đang giữ vị
trí thứ nhất và thứ hai trong rất nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu hiện nay như: gạo,
Nhìn vào bàng trên, có thể thấy các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của
Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn là: hàng thủy sản, hạt điều, cà phê, gạo, cao su và
gỗ Đây là các sản phẩm chúng ta có nhiều lợi thế Liên tục qua nhiều năm, Việt
Nam luôn là nước đứng đầu về xuất khẩu hạt tiêu, đứng thứ hai về xuất khẩu gạo và
cà phê
Hình 2.1: Tổng giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính của Việt
Nam giai đoạn 2006 – 2010
Đơn vị: triệu USD
Trang 28Hình 2.2: Tỷ lệ đóng góp của xuất khẩu nông sản trong cơ cấu tổng giá trị xuất
khẩu của Việt Nam
Trang 29Nguồn: Tổng cục Thống kê
Mặc dù cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của chúng ta đã được mở rộng liêntục qua các năm, nhưng cho đến năm 2010, nông sản vẫn chiếm một phần đáng kểtrong cơ cấu xuất khẩu của nước ta Nếu như năm 2006, xuất khẩu các mặt hàngnông sản mới chỉ chiếm khoảng 23% thì đến năm 2010, con số này đã tăng lênthành 26,6 % Điều này càng khẳng định vai trò của mặt hàng nông sản trong cơ cấucác mặt hàng xuất khẩu của chúng ta hiện nay cũng như trong thời gian sắp tới
Khi nhắc đến các mặt hàng nông sản xuất khẩu, một trong những mặt hàngphải được nhắc đến đầu tiên là xuất khẩu thủy sản Ngoại trừ mặt hàng gạo, thủysản chính là mặt hàng giữ vị trí quan trọng trong cớ cấu các sản phẩm nông sản xuấtkhẩu Với lợi thế về giá nhân công, bờ biển dài, diện tích mặt nước lớn, Việt Nam
có lợi thế rất lớn trong xuất khẩu thủy sản Các sản phẩm tôm, cá tra và cá ba sa…của Việt Nam rất được ưa chuộng trên thế giới Giá trị kim nghạch xuất khẩu củathủy sản hầu như luôn có sự tăng trưởng qua các năm
Hình 2.3: Tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Đơn vị: triệu USD
Trang 30Mặc dù vậy, những tác động từ việc bị áp thuế chống bán phá tại thị trường
Mỹ là một thị trường chính của xuất khẩu thủy sản Việt Nam vẫn còn ảnh hưởngcho tới thời điểm hiện tại Đa phần các doanh nghiệp phải mở rộng, tìm kiếm thịtrường mới để bù đắp cho những khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ Tuynhiên, theo đánh giá của đa phần các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đều chorằng, nếu không bị áp thuế chống bán phá tại thị trường Mỹ, xuất khẩu thủy sản củachúng ta sẽ còn đạt được nhiều kết quả ấn tượng hơn so với những kết quả chúng ta
đã đạt được Bởi thị trường Mỹ là một thị trường rộng lớn, nhu cầu đa dạng với cácđơn đặt hàng thường có số lượng lớn và không quá khó tính Chính vì vậy, đa phầncác doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đều muốn thâm nhập vào thị trường này
Đối với mặt hàng gỗ, trong những năm gần đây đã cho thấy những bước tăngtrưởng nhảy vọt Do các sản phẩm đồ gỗ của Trung Quốc và Đài Loan bị áp thuế chống bán phá giá Chính vì vậy các doanh nghiệp của hai nước này có xu hướng di
Trang 31chuyển các nhà máy sản xuất sang Việt Nam Vì vậy, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm
từ gỗ của đã có những bước tăng trưởng nhanh chóng trong thời gian vừa qua
Hình 2.4: Tổng giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam giai
2.2 Các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay
Trang 32Từ năm 1994 - 2011, đã có 39 vụ kiện chống bán phá giá và 04 vụ tự vệ liênquan đến một số sản phẩm như: giầy dép, hàng nông sản, thuỷ sản, một số sản phẩm
cơ khí, sản phẩm công nghiệp của các nước kiện Việt Nam, trong đó có 15 vụ đã
có kết luận cuối cùng, cụ thể như sau:
(1) Năm 1994, Colombia kiện Việt Nam bán phá giá gạo sang Colombia,mặc dù có kết luận là có bán phá giá với biên độ 9,07% nhưng phía Colombia đãkhông đánh thuế vì không gây thiệt hại cho ngành trồng lúa gạo của nước này
(2) Năm 1998, Châu Âu kiện Việt Nam bán phá giá mì chính vào thị trườngChâu Âu, đã áp đặt thuế chống bán phá giá là 16,8%
(3) Năm 1998, EU kiện Việt Nam bán phá giá giày, dép vào thị trường EU
EU cũng không áp thuế chống bán phá giá vì thị phần xuất khẩu và tốc độ tăngtrưởng của Việt Nam nhỏ hơn Trung Quốc, Indonesia và Thái Lan nên không gâythiệt hại cho ngành sản xuất trong Cộng đồng Châu Âu
(4) Năm 2000, Ba Lan đã kiện Việt Nam bán phá gia bật lửa gas vào Ba Lan
và đánh thuế chống bán phá giá với mức thuế 0,09 Euro/chiếc đối với sản phẩm bậtlửa gas Việt Nam
(5) Năm 2001, Canada đã đánh thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm tỏicủa Việt Nam là 1,48 $ Canada/kg
(6) Năm 2002, Canada kiện chống bán phá giá giày và đế giày không thấmnước của Việt Nam xuất khẩu vào Canada Canada đã kết luận Việt Nam không cóđộc quyền trong ngoại thương liên quan đến xuất khẩu giầy chống thấm; ngànhcông nghiệp giầy chống thấm Việt Nam hoạt động theo cơ chế thị trường, do vậykhi tính giá trị thông thường (normal value) phía Canada đã không sử dụng nướcthứ 3 mà tính theo thông tin mà nhà xuất khẩu và nhập khẩu cung cấp Ngày07/01/2004 Toà thương mại quốc tế Canada (CITT) đã đưa ra phán quyết “Giầy và
đế giầy không thấm nước có nguồn gốc hoặc được xuất khẩu từ Việt Nam khônggây tổn hại và cũng không đe dọa ngành sản xuất giầy Canada”
(7,8) Trong 2 vụ kiện bật lửa gas của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU(năm 2002) và Hàn Quốc (năm 2002), các ngành công nghiệp nội địa của hai nước
Trang 33này đã rút đơn kiện Do đó vụ kiện đã được chấm dứt Đặc biệt phía Hàn Quốc đãcông nhận nền kinh tế Việt Nam hoạt động theo định hướng kinh tế thị trường Cònvới EU, trong các vụ kiện chống bán phá giá từng doanh nghiệp bị kiện của ViệtNam sẽ phải chứng minh là mình hoạt động theo cơ chế thị trường.
(9) Trong vụ kiện Oxyde kẽm (năm 2003), EU quyết định áp thuế chống bánphá giá đối với sản phẩm Oxyde kẽm xuất khẩu từ Việt Nam vào EU là 93% nhằmngăn chặn các doanh nghiệp Trung Quốc lẩn tránh thuế chống bán phá giá theonhiều cách khác nhau, trong đó có việc xuất khẩu qua nước thứ 3 (Việt Nam).Nhưng sau này nếu các công ty Việt Nam có sản xuất và xuất khẩu sản phẩm nàysang thị trường EU thì EU cho phép các công ty đó có thể gửi hồ sơ để đề nghị miễntrừ áp dụng
(10) Trong vụ kiện cá tra, basa (năm 2002), Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã raquyết định cuối cùng áp đặt mức thuế chống bán phá giá từ 36,84% đến 63,88%
(11) Ngày 28/4/2004, trong quyết định về vụ vòng khuyên kim loại, EU chorằng các sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc chuyển tải qua Việt Nam được hoànthiện và các bộ phận của sản phẩm tại Việt Nam để xuất khẩu vào EU Liên minhChâu Âu cho rằng đây là hành vi lẩn tránh thuế chống bán phá giá (circumvention)
(12) Ngày 27/9/2004, Cục Ngoại Thương Thổ Nhĩ Kỳ đã ra quyết định cuốicùng về biên độ phá giá đối với mặt hàng săm lốp xe đạp, xe máy của Việt Namxuất khẩu vào thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, với mức thuế cuối cùng sẽ được áp đặt chomặt hàng này của Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Thổ là: Lốp xe máy (2,25-
17 inch) chịu mức thuế là 30%; Săm xe máy (2,25-17 inch) 44%; Lốp xe đạp 29%;săm xe đạp 49%
(13) Ngày 31/12/2003, Liên minh tôm miền Nam (SSA) đã đệ đơn lên BộThương mại (DOC) và Uỷ ban thương mại Quốc tế (USITC) của Hoa Kỳ để kiện 6nước, trong đó có Việt Nam, bán phá giá mặt hàng tôm vào thị trường Mỹ Ngày26/1/2005, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã ban hành lệnh áp thuế cuối cùng đối với một
số sản phẩm tôm nhập khẩu từ sáu nước trong đó có Việt Nam Biên độ phá giá đốivới các doanh nghiệp của Việt Nam là từ 4.30% đến 25.76%
Trang 34(14) Ngày 29/04/2004, Liên minh Châu Âu (EU) đã ra thông báo tiến hànhđiều tra vụ kiện chống bán phá giá đối với sản phẩm xe đạp có xuất xứ từ Việt Nambán vào thị trường EU.
(15) Ngày 11/8/2004, EU đã chính thức tiến hành điều tra vụ kiện chống bánphá giá đối với ống, tuýp thép hoặc cút thép có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam vàĐài Loan
(16) Ngày 24/8/2004, EU đã chính thức tiến hành điều tra vụ kiện chống bánphá giá đối với chốt, then cửa bằng inox và các phụ tùng có nguồn gốc xuất xứ từViệt Nam và Trung Quốc
(17) Ngày 10/9/2004, EU bắt đầu tiến hành điều tra chống bán phá giá đốivới mặt hàng đèn huỳnh quang (CFL-i) có nguồn gốc xuất xứ của Trung Quốc đượcxuất khẩu vào thị trường EU từ Việt Nam
(18) Vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng ván lướt sóng của ViệtNam nhập khẩu vào Peru
(19) Ngày 31/10/2005, Cơ quan Chống bán phá giá, Chống trợ cấp và Tự vệthuộc Bộ Ngoại Thương và Công nghiệp của Ai Cập đã chính thức ra Quyết địnhtiến hành điều tra chống bán phá giá đối với mặt hàng đèn huỳnh quang thôngthường có công suất từ 18-40 watt và các sản phẩm tương tự nhập khẩu từ TrungQuốc, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam
Theo cáo buộc của hai công ty đệ đơn khởi kiện, sản phẩm bị kiện có xuất xứ từViệt Nam bán phá giá vào thị trường Ai Cập với biên độ phá giá là 75% và nước chọn lànước thay thế để tính toán giá xuất khẩu, giá trị thông thường của sản phẩm nói trên là
Trang 35nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác Việc phân tích thực trạng các vụkiện vì vậy sẽ tập trung vào phân tích những khó khăn để có thể rút ra những bàihọc kinh nghiệm hữu ích và quý giá cho cộng đồng doanh nghiệp cũng như choChính phủ Việt Nam.
2.2.1 Tổng quan các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất
khẩu của Việt Nam
Từ năm 1994 - đến nay (tính đến 10/2011), Việt Nam đã và đang phải đốimặt với tổng cộng 39 vụ kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Liên tụcqua các năm từ 2002 đến nay, năm nào chúng ta cũng phải đối mặt với ít nhất là 02
vụ kiện chống bán phá giá Số lượng các mặt hàng bị kiện càng ngày càng nhiều lên
và thuộc nhiều nhóm ngành khác nhau trong nền kinh tế
Hình 2.5: Các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩu
của Việt Nam
Nguồn: Cục Quản lý cạnh tranh
Cho đến nay, Việt Nam chưa phải đối phó với vụ kiện chống trợ cấp nào.Riêng 05 vụ việc tự vệ mà Việt Nam đã và đang phải đối mặt thì có 03 vụ doPhilippines khởi kiện liên quan đến mặt hàng kính nổi phủ màu và không màu, mặthàng gạch ốp lát (tráng men và không tráng men) và hóa chất SodiumTripolyphosphates (STPP) 02 vụ còn lại xuất phát từ Ấn Độ và Canada liên quanđến tinh bột sắn và xe đạp Trong số đó, 02 vụ việc liên quan đến hóa chất STPP và
Trang 36sản phẩm xe đạp đã được chấm dứt do cơ quan có thẩm quyền điều tra đã kết luận
là 02 mặt hàng nhập khẩu nói trên không gây thiệt hại đến ngành công nghiệp nộiđịa
Bảng 2.2: Số lượng các vụ kiện chia theo thị trường
Trong khi quá trình tự do hoá thương mại mở cửa các thị trường và tăngcường giao lưu thương mại giữa các nước, mở rộng tự do hoá thương mại cũng kéotheo việc sử dụng các biện pháp bảo hộ thương mại để kiềm chế giao lưu thươngmại, trong đó, thuế Chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được coi là biện pháp
thay thế cho những rào cản truyền thống trong việc tiếp cận thị trường
Trang 372.2.2 Các nguyên nhân chính làm nảy sinh các vụ kiện áp dụng các
biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam
Mỗi một vụ kiện áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hànghóa xuất khẩu của Việt Nam có những căn nguyên xuất phát riêng biệt và khônggiống nhau Tuy nhiên, để góp phần tìm ra những quy luật chung và những vấn đềmang tính khái quát, có thể nêu ra một số nguyên nhân gây ra các vụ kiện nêu trênnhư sau:
2.2.2.1 Tư tưởng bảo hộ trong xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu dẫn
đến việc lạm dụng các biện pháp TRs
Trước hết phải khẳng định các biện pháp phòng vệ thương mại là công cụđược WTO và các nước công nhận, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa và xuthế tự do hóa thương mại Chính vì vậy, hầu hết các nước đều ban hành và thực thicác văn bản quy phạm pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ và coi
đó là một công cụ hợp pháp để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước hành vicạnh tranh không lành mạnh như bán phá giá hoặc trợ cấp của hàng hoá nhập khẩunước ngoài Khi hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang từng bước được cắtgiảm, các nước có xu hướng áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại này như mộtcông cụ bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa Nói cách khác, một khi việc cắt giảmthuế và giảm thiểu rào cản phi thuế quan truyền thống dường như không thể tránhkhỏi thì biện pháp phòng vệ thương mại được sử dụng như một công cụ bảo hộ mới
2.2.2.2 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và cơ cấu, thị trường xuất khẩu của
hàng hóa Việt Nam
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khi các nước có xu hướng tăngcường sử dụng các biện pháp khắc phục thương mại như một công cụ bảo hộ chongành sản xuất trong nước thì nguy cơ bị kiện thể hiện đặc biệt rõ khi có sự tăngtrưởng mạnh về kim ngạch xuất khẩu Trong những năm vừa qua, tốc độ tăng
Trang 38trưởng xuất khẩu của Việt Nam khá cao và thường tập trung vào những thị trườnglớn như: Hoa Kỳ, EU, Canada với những mặt hàng chủ lực và có lợi thế cạnhtranh của Việt Nam như thuỷ sản, công nghiệp chế biến, giầy dép, may mặc
Trên thực tế, cho đến thời điểm hiện tại, phần lớn các sản phẩm xuất khẩucủa Việt Nam đã và đang là đối tượng điều tra, áp dụng biện pháp tự vệ và chốngbán phá giá cũng nằm trong nhóm các sản phẩm hàng hoá bị áp dụng biện pháp tự
vệ và chống bán phá giá nhiều nhất trên thế giới trong thời gian vừa qua Nhiều mặthàng xuất khẩu lớn của Việt Nam có cơ cấu giống hoặc tương tự với các mặt hàngxuất khẩu của các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, TrungQuốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, những mặt hàng này đã và đang bị kiện chốngbán phá giá tại các thị trường xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam Có thể nói, đây làmột trong những nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ bị kiện của hàng hóaxuất khẩu của nước ta
2.2.2.3 Quy định về Cộng gộp
Một vấn đề vô cùng quan trọng trong vụ kiện chống bán phá giá/chống trợ cấp
đó là quy định về cộng gộp Quyết định về việc có cộng gộp hay không của cơ quanđiều tra được dựa trên việc liệu có sự tương đồng trong hoạt động cạnh tranh giữa hànghóa nhập khẩu thuộc đối tượng điều tra và với các hàng hóa tương tự sản xuất trongnước hay không
Thông thường, việc đánh giá xem hàng nhập khẩu có đang gây thiệt hại đếnngành sản xuất nội địa hay không phải được tiến hành riêng biệt đối với từng nước.Tuy nhiên, Điều 5.8 của Hiệp định Chống bán phá giá WTO đã cho phép trong một
số tình huống nhất định, cơ quan điều tra sẽ xem xét, đánh giá kết hợp những tácđộng của tất cả hàng nhập khẩu đang bị điều tra để xác định thiệt hại Sự cộng gộpnày cho phép trong trường hợp số luợng nhập khẩu của các sản phẩm tương tự từmỗi nước dưới 3% (mức không đáng kể), nhưng tổng số các sản phẩm tương tựnhập khẩu từ những nước khác cũng thuộc đối tượng điều tra chiếm trên 7% nhậpkhẩu sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu thì một cuộc điều tra chống bán phágiá vẫn có thể xảy ra Điều đó có nghĩa là, nếu số lượng hàng hoá xuất khẩu của ta
Trang 39vào thị trường nào đó chỉ chiếm 1%, cho rằng họ sẽ không kiện ta vì kim ngạchxuất khẩu của ta quá nhỏ bé nếu so sánh với những nhà xuất khẩu khác, cách lậpluận này sẽ là sai lầm và rủi ro Vì nếu lượng hàng hoá xuất khẩu của ta được cộnggộp cùng với một số nước xuất khẩu khác mà chiếm trên 7% thì hàng hoá xuất khẩucủa ta vẫn có nguy cơ bị kiện chống bán phá giá/ chống trợ cấp.
Phương pháp cộng gộp đã làm tăng lợi ích cho việc bảo vệ ngành sản xuấtnội địa lên khoảng 30% Một phân tích về các vụ kiện chống bán phá giá của EUcũng đã cho thấy rằng có một sự thay đổi mạnh mẽ trong các kết luận của vụ điềutra về thiệt hại và các quyết định kết luận là có thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa
EU đã tăng lên 42%3
2.2.2.4 Hiệu ứng dây chuyền “Domino”
Tại các báo cáo, phân tích đánh giá về các vụ kiện áp dụng các biện phápphòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trước đây, chúng tacũng đã chỉ ra một trong những nguyên nhân làm nảy sinh các vụ kiện áp dụng cácbiện pháp phòng vệ thương mại và cũng là một đặc điểm khá khác biệt của các vụviệc chính là “phản ứng dây chuyền” trong các vụ kiện Đặc điểm này, nói một cáchkhác đi, cũng chính là hậu quả của việc chuyển tải, dịch chuyển vốn đầu tư nướcngoài của các nhà đầu tư nước ngoài để sản xuất, thuê gia công lắp ráp hoặc hoànchỉnh sản phẩm, mà sản phẩm này đã và đang là đối tượng áp dụng biện pháp thuếchống bán phá giá của nước nhập khẩu cho nước của nhà đầu tư nước ngoài đó
Theo số liệu thống kê của WTO,, trong số mười một (11) thành viên WTOthuộc đối tượng bị kiện chống bán phá giá nhiều nhất, có 8 thành viên là Châu Á vàtrong số 8 nước đó thì có 3 thành viên có số vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Namkhá cao đó là Đài Loan (nhà đầu tư lớn nhất), Hàn Quốc (đúng thứ 4), Malaysia(đứng thứ 6)4
Bên cạnh đó, điều đáng lưu ý là việc các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, EU,Canada tiến hành điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, tự vệ đối
Competition“, Blackwell Publishers Ltd, 2021-1033
Trang 40với hàng hoá, sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sẽ có khả năng gây ra phản ứngdây chuyền và tác động đến các ngành công nghiệp khác của nước khởi kiện hoặccủa các quốc gia khác có liên quan (Ví dụ: trường hợp Hàn Quốc kiện chống bánphá giá bật lửa gas, sau khi EU đã chính thức khởi kiện Việt Nam sản phẩm đó )
Thực tiễn các vụ kiện áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại cho thấy,hiện đang có xu hướng các nhà sản xuất nội địa của một nước nhập khẩu A xem xét
và theo dõi các biện pháp phòng vệ thương mại của một nước B áp dụng cho hànghóa tương tự được nhập khẩu vào nước B, để từ đó, nước A sẽ cân nhắc liệu họ cóhành động tương tự đối với hàng hóa nhập khẩu đó hay không Khi nước nhập khẩu
B có kết luận hàng hóa nhập khẩu tương tự đó bị bán phá giá và có gây thiệt hại thìnhiều khả năng cơ quan có thẩm quyền điều tra của nước A cũng sẽ ra quyết địnhtương tự
2.2.2.5 Sự tác động và ảnh hưởng giữa các chính sách thương mại quốc
tế khác với nguy cơ nảy sinh các vụ kiện thương mại quốc tế
Các Hiệp định thương mại song phương và Hiệp định tự do thương mại(FTA)
Một trong các điều khoản quan trọng trong quá trình soạn thảo và đàm pháncác Hiệp định Thương mại song phương và Thương mại tự do là điều khoản về cácbiện pháp tự vệ Điều khoản về các biện pháp tự vệ được coi là nội dung tiên quyết
để tiến tới ký kết các Hiệp định nêu trên và thường được soạn thảo rất kỹ lưỡng, vớiphạm vi điều chỉnh rất rộng, ngôn ngữ pháp lý linh hoạt, mang tính định tính cao.Điều này cho phép các quốc gia có thẩm quyền khá rộng trong quá trình áp dụngcác quy định tự vệ trong thực tiễn và diễn giải pháp luật
Hiện nay, xu hướng chung, có khá nhiều nước đã có những quan tâm đáng
kể đến việc đưa các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi bán phá giá, trợ cấp và
tự vệ vào trong nội dung của FTA Trên thực tế, mục đích ban đầu khi ký kết mộtHiệp định thương mại tự do là tự do hoá thương mại, dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan