1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Tìm hiểu về các công cụ trong nền kinh tế thông tin

38 331 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 715,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công cụ trong nền kinh tế thông tin

Trang 1

Môn KINH TẾ THÔNG TIN

Đề tài: Các công cụ trong nền kinh tế thông tin ở Việt Nam

Sinh viên thực hiện:

Trần Văn Dũng 1321050467Nguyễn Duy Dương 1321050047Phan Thị Hằng 1321050070Tống Văn Anh Hải 1321050065

Trang 2

Mục lục

Mục lục 2

Đặt vấn đề 4

Chương 1 Tổng quan về kinh tế thông tin 6

1.1 Khái niệm 6

1.1.1 Thông tin 6

1.1.2 Thông tin kinh tế 6

1.1.3 Hệ thống thông tin kinh tế 6

1.1.4 Kinh tế thông tin 6

1.2 Vai trò 7

Chương 2 Tổng quan về công cụ trong kinh tế thông tin 9

2.1 Khái niệm 9

2.1.1 Công cụ 9

2.1.2 Công cụ của kinh tế thông tin 9

2.2 Ý nghĩa – Tầm ảnh hường 9

2.3 các công cụ chính 9

Chương 3 Nội dung từng công cụ 10

3.1 Dữ liệu và hệ quản trị cơ sở dữ liệu 10

3.1.1 Tổng quan 10

3.1.2 Vai trò – tầm quan trọng 13

3.1.3 Ví dụ về một cơ sở dữ liệu 14

3.2 CNTT và cơ sở hạ tầng 16

3.2.1 Khái niệm 16

3.2.2 Vai trò 18

3.2.3 Tình hình phát triển CNTT và cơ sở hạ tầng của CNTT nước ta18 3.3 Thương mại điện tử 20

3.3.1 Khái niệm 20

3.3.2 Vai trò của TMĐT 21

3.3.3 Các loại hình TMĐT 21

3.3.4 Lợi ích kinh tế của thương mại điện tử 22

Trang 3

3.3.5 Thực trạng 26

3.4 Nguồn nhân lực 28

3.4.1 Khái niệm 28

3.4.2 Vai trò 29

3.4.3 Nhu cầu nguồn nhân lực CNTT 29

3.4.4 Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta 30

3.5 Chính sách của nhà nước 32

3.5.1 Chính sách và chiến lược Công nghệ Thông tin Việt Nam qua các giai đoạn phát triển 32

3.5.2 Một số chủ chương, chính sách gần đây của Đảng và Nhà nước33 Chương 4 kết luận 37

Tài liệu tham khảo: 38

Trang 4

Đặt vấn đề

Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế tri thức toàn cầu phát triển mạnh mẽ hơn

để đối phó với những thách thức: biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, gia tăng dân

số, khủng hoảng kinh tế toàn cầu Cần có nguồn lực mới, cách sản xuất kinh doanhmới, dựa chủ yếu vào vốn con người, vốn xã hội, giảm thiểu việc sử dụng tài

nguyên không tái tạo, chấm dứt cách sản xuất và tiêu dùng phung phí tài nguyên, năng lượng Có thể điểm qua một vài ưu việt của nền kinh tế tri thức so với nền kinh tế công nghiệp, mà những nước đi sau phải cố gắng bắt kịp để phát triển nhanhđất nước:

Việc tạo ra của cải, giá trị mới và nâng cao năng lực cạnh tranh không phải chủ yếu do tối ưu hóa, hoàn thiện, hạ giá thành cái đã có mà chủ yếu là do sáng tạo

ra cái mới Đổi mới sáng tạo (innovation) trở thành động lực chủ yếu của sự tăng trưởng và phát triển Doanh nghiệp phải đầu tư cho vốn tri thức, phát triển vốn tri thức, không ngừng đổi mới, phấn đấu để có công nghệ mới, sản phẩm mới, cách thức kinh doanh mới, tạo sự khác biệt, trở thành duy nhất Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn Tốc độ là trên hết Chậm trễ đồng nghĩa với thất bại Đổi mới để phát triển, là phá vỡ sự cân bằng tạm thời, cục bộ để đạt tới sự cân bằng tổng thể vững chắc hơn; “sự phá hủy có tính sáng tạo” trở thành nguyên tắc của sự phát triển: sợ mất ổn định mà không đổi mới thì sẽ trì trệ, và sẽ suy vong!

Vốn con người, vốn tri thức xã hội là nguồn lực cơ bản của phát triển Tài nguyên là có hạn, tri thức, sự sáng tạo là vô hạn Một khi tri thức trở thành nguồn lực chủ yếu của nền kinh tế thì tiêu hao tài nguyên giảm đến tối thiểu mà giá trị tạo

ra sẽ tăng tối đa Cạnh tranh kinh tế ngày nay là cạnh tranh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ (KH&CN) Một cuộc cải cách sâu rộng đang diễn ra trong giáo dục từ hai thập kỷ nay với hai thay đổi lớn: chuyển từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng năng lực, chuyển từ chế độ học một lần trên ghế nhà trường sang học tập suốt đời

Hai công cụ lao động quan trọng nhất là bộ óc con người và mạng thông tin toàn cầu Ai cũng có, cũng có thể sử dụng, nhưng cơ hội không như nhau, thành công hay thất bại tùy thuộc vào năng lực từng người

Tài sản vô hình tăng nhanh hơn nhiều so với tài sản hữu hình Tính chung cho các nước phát triển: trước năm 1985 Công nghệ Thông tin và công nghệ cao chưa phát triển, tài sản vô hình chiếm tỷ lệ rất thấp và tăng trưởng chậm, đến 1985 chỉ chiếm khoảng 20% GDP Sau đó trong 10 năm tăng 12%, đến năm 1995 đạt khoảng 32% (đó là thời kỳ máy tính cá nhân phát triển mạnh) 10 năm tiếp theo tỷ

lệ này tăng 23%, năm 2005 đạt khoảng 55% (thời kỳ internet phủ khắp toàn cầu); từnăm 2005 đến 2011 dao động ở mức 55-57% Dự báo năm 2020 sẽ là 70%

Trang 5

Trong tài sản vô hình thường có khoảng 55% là tài sản từ ứng dụng Công nghệ Thông tin và quyền sở hữu trí tuệ (patent, know-how, bản quyền, kiểu dáng công nghiệp ), phần còn lại là do thương hiệu, uy tín, chiến lược, mô hình tổ chức quản lý, quan hệ khách hàng gọi chung là sự tinh vi trong kinh doanh Tất cả những tài sản vô hình đó đều là do năng lực sáng tạo của con người, là tài sản trí tuệ.

Rất nhiều nước đã đi nhanh vào nền kinh tế tri thức Nếu tính theo hàm lượng tri thức hay tài sản trí tuệ trong GDP, thì nhiều nước trong khối OECD đã là nền kinh tế tri thức (tài sản trí tuệ chiếm trên 2/3 GDP) Theo chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của Ngân hàng thế giới (WB) thì năm 2012 đã có 29 nước và vùng lãnh thổ đạt KEI từ 8, 0 đến 9, 43 (Thụy Điển xếp thứ nhất, Đài Loan thứ 13, Hongkong thứ

18, Singapore thứ 23, Hàn Quốc xếp thứ 29) Theo Michael Porter, xét theo năng lực cạnh tranh thì sự phát triển các nền kinh tế trải qua 3 giai đoạn, giai đoạn I là phát triển dựa vào các yếu tố, giai đoạn II dựa vào hiệu quả và giai đoạn III dựa vàođổi mới sáng tạo và kinh doanh tinh vi; các nền kinh tế bước sang giai đoạn III đượccoi là nền kinh tế tri thức, hay kinh tế sáng tạo Hiện nay có 32 quốc gia và vùng lãnh thổ được coi là đã trở thành nền kinh tế tri thức, hay kinh tế sáng tạo

Cả thế giới hướng tới nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa: rất nhiều quốc gia lựachọn cạnh tranh quốc tế dựa trên tri thức Từ các tài liệu thu thập được hiện nay đã

có hơn 40 nước đưa ra tầm nhìn, chiến lược 2030 hướng tới nền kinh tế tri thức, trong đó có cả những nước chậm phát triển nhất như Siere Leone, Zimbabue,

Namibia, Ethiopia

Các tổ chức quốc tế tăng cường hoạt động về nâng cao nhận thức, đánh giá

đo lường và giới thiệu kinh nghiệm thực tế phát triển kinh tế tri thức cho cả thế giới.OECD phối hợp với WB hàng năm tổ chức Diễn đàn về kinh tế tri thức toàn cầu (GKEF - global knowledge economy forum) bàn về các vấn đề nhận thức kinh tế trithức, 4 trụ cột của nền kinh tế tri thức, hệ thống đổi mới sáng tạo và hấp thụ công nghệ WB cũng hỗ trợ mạnh mẽ các nước trong xây dựng chiến lược, chính sách phát triển kinh tế tri thức, xây dựng cơ sở dữ liệu KEI cho hơn 150 quốc gia (kể từ

1995 đến nay)

Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế tri thức, ở nước ta hiện nay kinh

tế cũng đã được được nhiều thành tựu đáng ghi nhận khi có sự hoạt động của nền kinh tế này Đảng và nhà nước đang đẩy mạnh các chính sách kích thích phát triển Công nghệ Thông tin, kinh tế thông tin tri thức; ngày một hoàn thiện thể chế pháp

lý cho nó

Trang 6

Vậy để Công nghệ Thông tin nói chung và nền kinh tế thông tin ở nước ta nói riêng có thể tồn tại và phát triển, đem lại hiệu quả cao trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội thì chúng cần những gì? Đó chính là nền tảng, là phương pháp, hay công cụ mà nền kinh tế thông tin và các công cụ đó là gì? Vai trò của nó ra sao? Trong bài tìm hiểu sau đây chúng tôi sẽ giải đáp các vến đề trên cho các bạn có một cái nhìn tổng quan nhất.

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THÔNG TIN

1.1 K HÁI NIỆM

1.1.1 Thông tin

Là tập hợp các dữ liệu đã được sử lý và cho ta hiểu biết về một vấn đề nào đó

1.1.2 Thông tin kinh tế

Là những thông tin được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế

1.1.3 Hệ thống thông tin kinh tế

- Hệ quản trị cơ sở dữ liệu

- Phân tích thiết kế hệ thống thông tin

- Quản trị hệ thống

- Các công cụ thực hiện

1.1.4 Kinh tế thông tin

Nền kinh tế “hậu công nghiệp” hiện được nhiều học giả của các trường phái khoa học xã hội gọi là “nền kinh tế tri thức”, còn các học giả của các trường phái khoa học tự nhiên, Công nghệ Thông tin gọi là “nền kinh tế thông tin – kinh tế số” Các khái niệm "kinh tế tri thức", "kinh tế thông tin" hay "kinh tế số" hiện được dùngvới nghĩa gần tương đương, chúng đều nhấn mạnh và khẳng định vai trò động lực phát triển kinh tế toàn cầu của thông tin, tri thức, Công nghệ Thông tin (CNTT) và truyền thông

Khái niệm này hiện được định nghĩa chưa thật chặt chẽ, được dùng để đặc trưng cho một nền kinh tế với vai trò tăng trưởng của các hoạt động thông tin và công nghiệp thông tin.

Trang 7

Trong nền kinh tế thông tin, tri thức đóng vai trò chủ đạo bên cạnh các thành

tố truyền thống khác của nền kinh tế; các sản phẩm của nền kinh tế đó chứa đựng hàm lượng tri thức cao hơn hẳn so với trước đây Khái niệm kinh tế thông tin đã chỉ

ra sự khác biệt giữa 2 lĩnh vực (domain): lĩnh vực vật chất và năng lượng, và lĩnh vực thông tin, trong đó lĩnh vực đầu tiên bao gồm các khu vực nông nghiệp và côngnghiệp, trong khi lĩnh vực thứ 2 tương ứng với khu vực thông tin và quan tâm đến

sự biến đổi thông tin từ “dạng này sang dạng khác”

Có hai điểm quan trọng còn chưa rõ trong khái niệm kinh tế thông tin Thứ nhất là chưa rõ tiêu chuẩn nào để đánh giá một nền kinh tế có phải là nền kinh tế thông tin hay không và thứ hai là hiện đang có quá nhiều cách quản lý khác nhau đối với các chỉ tiêu kinh tế liên quan đến thông tin

Nếu đối với vấn đề thứ nhất người ta mới tập trung vào nghiên cứu, đánh giá

sự tăng trưởng của các hoạt động thông tin hơn là vào mức độ đạt được của nó, và hiện có rất ít những nghiên cứu nhằm xác định rõ mức độ thông tin hóa nền kinh tế

để nó trở thành nền kinh tế thông tin thì đối với vấn đề thứ hai lại được quan tâm nghiên cứu và thảo luận rộng rãi, cộng đồng quốc tế hiện đã khá thống nhất về hệ thống chỉ tiêu hạt nhân để đo nền kinh tế thông tin

Thực chất của phát triển KTTT là quá trình không ngừng khai thác, phân phối, sử dụng thông tin, tri thức trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế, văn hóa,

xã hội trên cơ sở nền giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ hiện đại Trong nền kinh tế thông tin, tri thức sẽ trở thành đối tượng chủ yếu của sản xuất, phân phối, tiêu thụ và là nguồn gốc, động lực của tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh

tế được chuyển hoá từ mô hình dựa trên tiêu hao nguồn tài nguyên vật chất sang loại hình dựa trên tri thức và kỹ thuật

1.2 V AI TRÒ

Nhờ có các dịch vụ thông tin mà các doanh nghiệp, các ngành, các khu vực của nền kinh tế không ngừng phát triển Và như vậy, nó có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như trong quá trình thực hiện CNH- HĐHđất nước, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, với sự phát triển mạnh

mẽ của nền kinh tế thị trường và cạnh tranh ngày càng gay gắt khốc liệt thì vai trò của dịch vụ thông tin thương mại lại càng trở nên quan trọng và cụ thể hơn

- Dịch vụ thông tin kinh tế nâng cao hiệu quả kinh doanh do mở rộng được quy mô kinh doanh, tiết kiệm được chi phí Ở tầm vĩ mô, vai trò này được thể hiện là nhờ có những thông tin về thị trường, về nhu cầu mà hoạt động kinh doanh của toàn xã hội đạt kết quả tốt hơn tiết kiệm chi phí hơn, thị trường được mở rộng cả trong nước và Quốc tế Từ đó hiệu quả và quy mô tổng thể nền kinh tế được nâng lên và mở rộng Dưới góc độ vĩ mô, thì nhờ

có dịch vụ này mà doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu thực tế của người tiêu

Trang 8

dùng từ đó có biện pháp kinh doanh có hiệu quả hơn, thị trường thị phần được mở rộng và quy mô kinh doanh ngày một lớn hơn

- Dịch vụ thông tin kinh tế thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự cách mạng hoá trong lưu thông

- Dịch vụ thông tin kinh tế thu hút một lượng lao động lớn Ở tầm vĩ mô, đây

là sự chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang ngành dịch vụ tạo nên

cơ cấu lao động hợp lý Còn ở tầm vi mô, thì đây là một ngành dịch vụ thu hút lớn lượng lao động sống rất lớn Và sản phẩm của dịch vụ này chủ yếu phụ thuộc vào con người

- Dịch vụ thông tin nâng cao chất lượng phục vụ người tiêu dùng

- Dịch vụ thông tin phục vụ cho quản lý Nhà nước về kinh tế và thương mại được tốt hơn Nhờ có các thông tin mà các cấp quản lý đề ra những quyết định kịp thời chính xác và có hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về kinh tế

- Dịch vụ thông tin góp phần thu hút đầu tư cho nền kinh tế Nhờ sự cung cấp các thông tin mà các nhà đầu tư có thể tìm hiểu được chính sách, luật pháp

và cơ hội đầu tư ở nước ta; từ đó họ sẽ đầu tư vào nước ta Ngoài ra, dịch vụ thông tin còn có các vai trò như đẩy mạnh quá trình chuyển giao công nghệ, hình thành các loại dịch vụ mới, hình thành các thị trường trọng yếu trong nền kinh tế thị trường

Cùng với sự phát triển hướng về kinh tế thông tin, cơ cấu nguồn nhân lực ở nhiều quốc gia cũng đang có sự dịch chuyển về khu vực Thông tin - Dịch vụ với nhiều ngành, nghề mới được hình thành Trong số 500 nghề hàng đầu ở những năm cuối thế kỷ trước đã có gần 400 nghề chưa từng xuất hiện ở thời điểm giữa thế kỷ này, riêng trong lĩnh vực CNTT đã có khoảng 40 ngành nghề khác nhau

Các ứng dụng của kinh tế thông tin :

- Quản lí điều hành trong cơ quan chính phủ, các bộ ban ngành

- Quản lí điều hành doanh nghiệp, tập đoàn, cộng đồng xã hội, tổng công ty

- Đưa ra các thông tin chính xác về tình hình của một quốc gia, doanh nghiệp

và người dân

Trang 9

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ TRONG KINH TẾ THÔNG

TIN2.1 K HÁI NIỆM

2.1.1 Công cụ

Là phương tiện được sử dụng để tiến hành, thực hiện, và hoàn thành một việcnào đó có mục đích nhất định

2.1.2 Công cụ của kinh tế thông tin

Là những công cụ được sử dụng, được dùng làm cơ sở, phương pháp, cách thức để kinh tế thông tin có thể hình thành, hoạt động, phát triển và làm tròn vai trò của mình

Để biết được nền kinh tế thông tin cần có những công cụ nào, và những công

cụ nào là phục vụ cho nền kinh tế này thì chúng ta cần nhắc lại khái niệm tổng quát của thông tin và kinh tế thông tin

Như bên trên ta có Thông tin = Dữ liệu + Xử lý dữ liệu + Công bố Từ đây tathấy để có được một thông tin trước tiên ta cần phải có dữ liệu đã được sử lý và được truyền thông điều này dẫn đến việc cần phải có cơ sở hạ tầng Công nghệ Thông tin và sự phát triển của Công nghệ Thông tin để quản lý, và sử lý dữ liệu, thuyền phát dữ liệu; và hơn hết chúng ta cần phải có những con người có hiểu biết

về những lĩnh vực này để có thể vận hành, quản lý một cách chính xác nhất, đưa ra thông tin thực sự hữu ích

Để thông tin thực sự tham gia vào nền kinh tế thì sự phát triển của thương mại điện tử là thiết yếu, và không thể thiếu

Bên cạnh đó việc quản lý của nhà nước cũng là điều không thể thiếu; không

có một lĩnh vực kinh tế - xã hội nào muốn tồn tại và phát triển lại không cần đến những chủ chương, chính sách phát triển của nhà nước và đặc biệt là pháp luật về lĩnh vuecj kinh tế - xã hội đó Có thể nối đây là cơ sở cho những người muốn làm kinh tế thông tin thực hiện

Trang 10

Như vậy các công cụ chính của nền kinh tế thông tin gồm có:

- Dữ liệu và Hệ quản trị cơ sở dữ liệu

- Cơ sở hạ tầng Công nghệ Thông tin và sự phát triển của Công nghệ Thông tin

- Sự phát triển của thương mại điện tử

- Con người

- Chính sách của nhà nước

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG TỪNG CÔNG CỤ

Sau đây chúng ta sẽ cùng nhau phân tích để làm rõ hơn lý do vì sao các công

cụ này là công cụ của kinh tế thông tin, và vai trò ảnh hưởng như thế nào tới kinh tếthông tin

3.1 DỮ LIỆU VÀ HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU

3.1.1 Tổng quan

Dữ liệu:

Theo điều 4 Luật Giao dịch điện tử ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005,

Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu,chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự

Theo nghĩa rộng, dữ liệu thô là các số, ký tự, hình ảnh hay các kết quả khác của các thiết bị chuyển đổi các lượng vật lý thành các ký hiệu Các dữ liệu thuộc loại này thường được xử lý tiếp bởi người hoặc đưa vào máy tính Trong máy tính,

dữ liệu được lưu trữ và xử lý tại đó hoặc được chuyển (output) cho một người hoặc một máy tính khác Dữ liệu thô là một thuật ngữ tương đối; việc xử lý dữ liệu

thường được thực hiện theo từng bước, và "dữ liệu đã được xử lý" tại bước này có thể được coi là "dữ liệu thô" cho bước tiếp theo

Các thiết bị tính toán được phân loại theo phương tiện mà chúng sử dụng để biểu diễn dữ liệu Một máy tính tương tự (analog computer) biểu diễn dữ liệu bằng hiệu điện thế, khoảng cách, vị trí hoặc các định lượng vật lý khác Một máy tính số (digital computer) biểu diễn dữ liệu bằng chuỗi các ký hiệu rút ra từ một bảng chữ cái cố định Các máy tính số phổ biến nhất sử dụng bảng chữ cái nhị phân, nghĩa là, một bảng chữ cái gồm hai chữ cái, thường được ký hiệu là "0" và "1" Các biểu diễnquen thuộc hơn, chẳng hạn các số và chữ, sẽ được xây dựng từ bảng chữ cái nhị phân

Có một số dạng dữ liệu đặc biệt Một chương trình máy tính là một tập hợp

dữ liệu được hiểu là các lệnh Hầu hết các ngôn ngữ máy tính phân biệt giữa các chương trình và các dữ liệu khác mà chương trình đó làm việc với Nhưng trong

Trang 11

một số ngôn ngữ, chẳng hạn LISP và các ngôn ngữ tương tự, các chương trình về bản chất là không thể phân biệt với các dữ liệu khác Ngoài ra, còn có một dạng dữ liệu đặc biệt khác là metadata dữ liệu mêta, nghĩa là một mô tả về dữ liệu khác Một

ví dụ về dữ liệu mêta là danh mục tài liệu tại thư viện, đây là một mô tả về nội dungcủa các cuốn sách

Một cơ sở dữ liệu có các tính chất sau:

Một cơ sở dữ liệu biểu thị một khía cạnh nào đó của thế giới thực như hoạt động của một công ty, một nhà trường, một ngân hàng… Những thay đổi của thế giới thực phải được phản ánh một cách trung thực vào trong cơ sở dữ liệu Những thông tin được đưa vào trong cơ sở dữ liệu tạo thành một không gian cơ sở dữ liệu hoặc là một “thế giới nhỏ” (miniworld)

Một cơ sở dữ liệu là một tập hợp dữ liệu liên kết với nhau một cách logic và mang một ý nghĩa cố hữu nào đó Một cơ sở dữ liệu không phải là một tập hợp tuỳ tiện

Một cơ sở dữ liệu được thiết kế và được phổ biến cho một mục đích riêng

Nó có một nhóm người sử dụng có chủ định và có một số ứng dụng được xác định phù hợp với mối quan tâm của người sử dụng Nói cách khác, một cơ sở dữ liệu có một nguồn cung cấp dữ liệu, một mức độ tương tác với các sự kiện trong thế giới thực và một nhóm người quan tâm tích cực đến các nội dung của nó

Một cơ sở dữ liệu có thể có cỡ tuỳ ý và có độ phức tạp thay đổi Có những cơ

sở dữ liệu chỉ gồm vài trăm bản ghi (như cơ sở dữ liệu phục vụ việc quản lý lương ởmột cơ quan nhỏ), và có những cơ sở dữ liệu có dung lượng rất lớn (như các cơ sở

dữ liệu phục vụ cho việc tính cước điện thoại, quản lý nhân sự trên một phạm vi lớn) Các cơ sở dữ liệu phải được tổ chức quản lý sao cho những người sử dụng có thể tìm kiếm dữ liệu, cập nhật dữ liệu và lấy dữ liệu ra khi cần thiết Một cơ sở dữ liệu có thể được tạo ra và duy trì một cách thủ công và cũng có thể được tin học hoá Một cơ sở dữ liệu tin học hoá được tạo ra và duy trì bằng bằng một nhóm chương trình ứng dụng hoặc bằng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu:

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (tiếng Anh: Database Management System -

DBMS), là phần mềm hay hệ thống được thiết kế để quản trị một cơ sở dữ liệu Cụ thể, các chương trình thuộc loại này hỗ trợ khả năng lưu trữ, sửa chữa, xóa và tìm kiếm thông tin trong một cơ sở dữ liệu (CSDL)

Một hệ quản trị cơ sở dữ liệu là một tập hợp chương trình giúp cho người sử dụng tạo ra, duy trì và khai thác một cơ sở dữ liệu Nó là một hệ thống phần mềm phổ dụng, làm cho quá trình định nghĩa, xây dựng và thao tác cơ sở dữ liệu trở nên

dễ dàng cho các ứng dụng khác nhau

Trang 12

Định nghĩa một cơ sở dữ liệu bao gồm việc đặc tả các kiểu dữ liệu, các cấu trúc và các ràng buộc cho các dữ liệu sẽ được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu.

Xây dựng một cơ sở dữ liệu là quá trình lưu trữ các dữ liệu trên các phương tiện lưu trữ được hệ quản trị cơ sở dữ liệu kiểm soát

Thao tác một cơ sở dữ liệu bao gồm các chức năng như truy vấn cơ sở dữ liệu để lấy ra các dữ liệu cụ thể, cập nhật cơ sở dữ liệu để phản ánh các thay đổi trong thế giới nhỏ và tạo ra các báo cáo từ các dữ liệu

Các hệ quản trị cơ sở dữ liệu dùng để thể hiện một cơ sở dữ liệu tin học hoá

có thể là phổ dụng (là một phần mềm đóng gói) hoặc có thể là chuyên dụng (là một tập các phần mềm được tạo ra với một mục đích riêng)

Một số loại hệ quản trị cơ sở dữ liệu:

Có rất nhiều loại hệ quản trị CSDL khác nhau: từ phần mềm nhỏ chạy trên máy tính cá nhân cho đến những hệ quản trị phức tạp chạy trên một hoặc nhiều siêu máy tính Tuy nhiên, đa số hệ quản trị CSDL trên thị trường đều có một đặc điểm chung là sử dụng ngôn ngữ truy vấn theo cấu trúc mà tiếng Anh gọi là Structured Query Language (SQL) Các hệ quản trị CSDL phổ biến được nhiều người biết đến

là MySQL, Oracle, PostgreSQL, SQL Server, DB2, Infomix, v.v Phần lớn các hệ quản trị CSDL kể trên hoạt động tốt trên nhiều hệ điều hành khác nhau như Linux, Unix và MacOS ngoại trừ SQL Server của Microsoft chỉ chạy trên hệ điều hành Windows

Ưu điểm của HQTCSDL:

- Quản lý được dữ liệu dư thừa

- Đảm báo tính nhất quán cho dữ liệu

- Tạo khả năng chia sẻ dữ liệu nhiều hơn

- Cải tiến tính toàn vẹn cho dữ liệu

Nhược điểm:

- HQTCSDL tốt thì khá phức tạp

- HQTCSDL tốt thường rất lớn chiếm nhiều dung lượng bộ nhớ

- Giá cả khác nhau tùy theo môi trường và chức năng

- HQTCSDL được viết tổng quát cho nhiều người dùng thì thường chậm

3.1.2 Vai trò – tầm quan trọng

Vậy tầm quan trọng của dữ liệu đối với kinh tế thông tin là gì?

Như ta đã nói ở trên thì đối tượng chính của nền kinh tế thong tin đó chính làthông tin, mà muốn có thông tin thì ta cần phải có dữ liệu được đưa vào một quá trình xử lý nhất định rồi sau đó là công bố dữ liệu đã dược sử lý đó (dữ liệu mới)

Trang 13

Vậy ta có thể nói dữ liệu chính là thông tin thô chưa được sử lý, chưa có ý nghĩa; và

nó chính là nguyên liệu đầu vào ban đầu để sản sinh ra thông tin; thông tin này lại

có thể trở thành dữ liệu đầu vào cho một quá trình sử lý mới để sinh ra thông tin mới hay dữ liệu mới với một ý nghĩa mới Nếu không có dữ liệu thì thông tin khôngđược sinh ra và nền kinh tế thông tin không thể hình thành

Vai trò của Hệ quản trị cơ sở dữ liệu:

Thông tin ngày một được tạo ra nhiều hơn cả về số lượng lẫn chủng loại; điều này đòi hỏi vấn đề phải có công cụ lưu trữ, quản lý chúng một cách khoa học nhất, tối ưu nhất Đó cũng chính là nhiệm vụ của Hệ quản trị cơ sở dữ liệu;

HQTCSDL có nhiệm vụ quản lý dữ liệu một cách tối ưu nhất (dữ liệu đầy đủ mà không bị dư thừa, giữa các dữ liệu có các quan hệ khác nhau …); việc tìm kiếm mộtthông tin hay một dữ liệu nào đó phải là dễ dàng nhất (tốc độ tìm kiếm nhanh, từ khóa đơn giản, có thể tìm bàng nhiều từ khóa liên quan …) và phải có tính chính xác cao (không tìm sai thông tin, nhầm thông tin)

Một Hệ quản trị cơ sở dữ liệu có các chức năng chính sau:

- Lưu trữ các định nghĩa, các mối liên kết dữ liệu (gọi là siêu dữ liệu) vào một

từ điển dữ liệu Các chương trình truy cập đến cơ sở dữ liệu làm việc thông qua hệ quản trị cơ sở dữ liệu Hệ quản trị cơ sở dữ liệu sử dụng dữ liệu trong

từ điển dữ liệu để tìm kiếm các cấu trúc thành phần dữ liệu và các mối liên kết được yêu cầu Mọi sự thay đổi trong các tệp cơ sở dữ liệu sẽ được tự động ghi lại vào từ điển dữ liệu Như vậy, hệ quản trị cơ sở dữ liệu giải phóng người sử dụng khỏi việc lập trình cho các mối liên kết phức tạp trong mỗi chương trình, việc sửa đổi các chương trình truy cập đến tệp cơ sở dữ liệu đã bị sửa đổi Nói cách khác, hệ quản trị cơ sở dữ liệu loại bỏ sự phụ thuộc giữa dữ liệu và cấu trúc ra khỏi hệ thống

- Tạo ra các cấu trúc phức tạp theo yêu cầu để lưu trữ dữ liệu Nó giúp người

sử dụng làm nhiệm vụ khó khăn là định nghĩa và lập trình cho các đặc trưng vật lý của dữ liệu

- Biến đổi các dữ liệu được nhập vào để phù hợp với các cấu trúc dữ liệu ở điểm 2 Như vậy, hệ quản trị cơ sở dữ liệu giúp người sử dụng phân biệt dạng logic và dạng vật lý của dữ liệu Bằng việc duy trì sự độc lập dữ liệu, hệquản trị cơ sở dữ liệu chuyển các yêu cầu logic thành các lệnh định vị một cách vật lý và lấy ra các dữ liệu yêu cầu Điều đó cũng có nghĩa là hệ quản trị

cơ sở dữ liệu tạo khuôn dạng cho các dữ liệu được lấy ra để làm cho nó phù hợp với mong muốn logic của người sử dụng

- Tạo ra một hệ thống bảo mật và áp đặt tính bảo mật và riêng tư trong cơ sở

dữ liệu

- Tạo ra các cấu trúc phức tạp cho phép nhiều người sử dụng truy cập đến dữ liệu

Trang 14

- Cung cấp các thủ tục sao lưu và phục hồi dữ liệu để đảm bảo sự an toàn và toàn vẹn dữ liệu.

- Xúc tiến và áp đặt các quy tắc an toàn để loại bỏ vấn đề toàn vẹn dữ liệu Điều đó cho phép ta làm tối thiểu sự dư thừa dữ liệu và làm tối đa tính nhất quán dữ liệu

- Cung cấp việc truy cập dữ liệu thông qua một ngôn ngữ truy vấn Một ngôn ngữ truy vấn là một ngôn ngữ phi thủ tục cho phép người sử dụng chỉ ra cái

gì cần phải làm mà không cần phải chỉ ra nó được làm như thế nào Các hệ quản trị cơ sở dữ liệu cũng cung cấp việc truy cập dữ liệu cho những người lập trình thông qua các ngôn ngữ thủ tục

Như vậy dữ liệu hay cơ sở dữ liệu có vai trò là nguyên liệu đầu vào để sản sinh ra thông tin – hàng hóa cho nền kinh tế thông tin, nếu không có dữ liệu thì kinh

tế thông tin không thể hình thành Hệ quản trị cơ sở dữ liệu có vai trò quản lý các

dữ liệu trên một cách khoa học và tối ưu nhất; nhờ có Hệ quản trị cơ sở dữ liệu mà nền kinh tế thông tin có thể dễ dàng hơn trong quá trình hoạt động khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả; làm thúc đẩy tốc độ phát triển của nó lên cao nhất có thể

3.1.3 Ví dụ về một cơ sở dữ liệu

Chúng ta hãy xem xét một cơ sở dữ liệu mà nhiều người đã quen biết: cơ sở

dữ liệu TRƯỜNG Cơ sở dữ liệu này lưu giữ các thông tin liên quan đến sinh viên, các môn học, điểm… trong một môi trường đại học Cơ sở dữ liệu được tổ chức thành 5 bảng, mỗi bảng lưu trữ các bản ghi dữ liệu cùng một kiểu Bảng SINHVIÊNlưu giữ dữ liệu về các sinh viên, bảng MÔNHỌC lưu giữ các dữ liệu về các môn học, bảng HỌCPHẦN lưu giữ các dữ liệu về các học phần của các môn học, bảng ĐIỂM lưu giữ điểm của từng học phần của các sinh viên và bảng BIẾTTRƯỚC lưu giữ thông tin về các môn học cần biết trước của các môn học Cấu trúc của cơ sở dữliệu và một vài mẫu dữ liệu ví dụ được trình bày ở hình

Trang 16

Để định nghĩa cơ sở dữ liệu này, chúng ta phải chỉ ra cấu trúc của các bản ghicủa mỗi tệp (bảng) bằng cách đặc tả các kiểu khác nhau của các phần tử dữ liệu sẽ được lưu trữ trong mỗi bản ghi Theo hình 1-2 , mỗi bản ghi SINHVIÊN bao gồm các dữ liệu để biểu diễn Mã số sinh viên, Họ tên sinh viên, Lớp, Chuyên ngành Mỗi bản ghi MÔNHỌC bao gồm các dữ liệu để biểu diễn Tên môn học, Mã số mônhọc, Số đơn vị học trình, Khoa,… Chúng ta phải chỉ ra một kiểu dữ liệu cho mỗi phần tử dữ liệu bên trong các bản ghi Ví dụ, ta có thể đặc tả Họ tên sinh viên là mộtdãy ký tự có độ dài nhỏ hơn hoặc bằng 30, Mã số sinh viên là một số nguyên,….

Để xây dựng cơ sở dữ liệu TRƯỜNG, chúng ta lưu giữ các dữ liệu để biểu diễn mỗi sinh viên, mỗi môn học,… vào các tệp thích hợp Để ý rằng các bản ghi trong các tệp khác nhau có thể có mối quan hệ với nhau Ví dụ, bản ghi đối với Nguyễn Nam trong tệp SINHVIÊN có liên quan đến hai bản ghi trong tệp ĐIỂM Các bản ghi này chỉ ra điểm của Nguyễn Nam trong hai học phần Tương tự như vậy, các bản ghi trong tệp có mối quan hệ với các bản ghi trong tệp MÔNHỌC… Thông thường một cơ sở dữ liệu chứa nhiều kiểu bản ghi và chứa nhiều mối quan

hệ giữa các tệp

Thao tác cơ sở dữ liệu bao gồm việc truy vấn và cập nhật cơ sở dữ liệu Truy vấn cơ sở dữ liệu là đưa ra các yêu cầu đối với cơ sở dữ liệu để lấy ra các thông tin cần thiết Ví dụ, chúng ta có thể có các truy vấn như: “Liệt kê các môn học và điểm thi của sinh viên Nguyễn Văn Nam”, “ Đưa ra danh sách các sinh viên thi trượt môn

cơ sở dữ liệu” Cập nhật cơ sở dữ liệu bao gồm việc thêm vào cơ sở dữ liệu bản ghi,xoá bỏ các bản ghi hoặc sửa đổi các giá trị trong các bản ghi Các truy vấn và các cập nhật phải được đặc tả trong ngôn ngữ hệ cơ sở dữ liệu một cách chính xác trướckhi chúng được xử lý

3.2 CNTT VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

3.2.1 Khái niệm

Công nghệ Thông tin

Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin

Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ Thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu

là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"

Trang 17

Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết, Leavitt

và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là Công nghệ Thông tin (Information Technology - IT)."

Các lĩnh vực chính của Công nghệ Thông tin bao gồm quá trình tiếp thu, xử

lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông Một vài lĩnh vực hiện đại

và nổi bật của Công nghệ Thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác Các nghiên cứu phát triển chủ yếu trong ngành khoa học máy tính

Hạ tầng công nghệ thông tin là một hệ thống hết sức quan trọng, hiểu được

sự quan trọng đó mới giúp cho sự phát triển của CNTT tại Việt Nam mới nhanh chóng lớn mạnh Bên cạnh sự đầu tư có bài bản cho hệ thống hạ tầng cong nghệ thông tin của mình ở các Cty kinh doanh về lãnh vực CNTT hoặc các Cty nước ngoài, thì đa phần các doanh nghiệp kinh doanh về các lĩnh vực khác không quan tâm hoặc đầu tư rất nhỏ cho hệ thống hạ tầng và từ đó tốn rất nhiều chi phí cho việc bảo hành, phát triển hệ thống về sau

Một hệ thống hạ tầng CNTT được đầu tư hoàn chỉnh phải mang các yếu tố sau:

- Dễ quản lý: Hệ thống được thiết kế trên tiêu chuẩn dễ quản lý, thuận tiện chocông tác kiểm tra và vận hành hệ thống

- Dễ dàng mở rộng: Hệ thống cho phép dễ dàng thi công mở rộng khi có nhu cầu để đáp ứng cho công việc Tối ưu hóa chi

- phí đầu tư ban đầu

- Dễ dàng lắp đặt, vận hành và sửa chữa: hệ thống phải cho phép dễ dàng và thuận tiện cho thi công và trong trường hợp có sự cố thì phải thuận tiện cho việc kiểm tra và sửa chữa

- Đáp ứng tốt các yêu cầu của công nghệ: hệ thống đáp ứng tốt các nhu cầu kỹ thuật hiện tại và các nhu cầu phát triển công nghệ thông tin trong tương lai

15 năm

- Đáp ứng tốt các nhu cầu trong hoạt động kinh doanh và thương mại của côngtrình

Trang 18

- Hệ thống có tính linh hoạt và sẵn sàng cao, sử dụng vật tư thiết bị của các hãng sản xuất có uy tín, chất lượng trên thị trường và có đối tác tại Việt Nam.

3.2.2 Vai trò

Các nghiên cứu gần đây đều đồng thuận rằng ICT có vị trí thực tế quan trọnghơn đã từng được ghi nhận ICT không phải là một công nghệ bình thường như mọi công nghệ khác vì sức ảnh hưởng của nó sâu và rộng khắp các hoạt động kinh tế ICT có vị trí hơn một ngành kinh tế Hầu hết các bằng chứng đều chỉ ra rằng tác động của ICT tới phát triển của các ngành kinh tế khác thực sự lớn và quan trọng hơn nhiều chính bản thân đóng góp của ngành sản xuất và kinh doanh ICT đối với tổng giá trị quốc dân

ICT là công cụ và nhân tố quan trọng trong kiến tạo và truyền bá tri thức do ICT làm chi phí truyền tải và tái tạo tri thức trở nên rẻ chưa từng thấy Bản thân việcnhận thức vị trí quan trọng của tri thức trong nền kinh tế có sự góp phần quan trọng của sự phát triển và sử dụng rộng rãi ICT Do việc sử dụng rộng rãi trong nền kinh

tế, cũng như khả năng hỗ trợ các công nghệ khác, ICT có thể dẫn tới những thay đổitrong phương thức sản xuất và định hình lại nền kinh tế (Helpman 1998, Shiller

2000, Freeman 2005) Nói cách khác, ICT là đòn bẩy để phát triển kinh tế tri thức, hay kinh tế thông tin nói riêng

Đối với nền kinh tế thông tin thì Công nghệ Thông tin và cơ sở hạ tầng là nơi

“sản suất” ra hàng hóa (thông tin có ích) cho thương mại điện làm nhiệm vụ thương mại hóa nó Sự phát triển của Công nghệ Thông tin đã và đang góp phần rất lớn vào

sự phát triển của nềm kinh tế thế giới nói chung và kinh tế việt nam nói riêng Đặc biệt với nước ta việc áp dụng và đẩy mạnh phát triển Công nghệ Thông tin vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội nói chung và lĩnh vực kinh tế thông tin nói riêng là cần thiết để có thể hoàn thành và hoàn thành sớm mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước phát triển kinh tế tri thức

3.2.3 Tình hình phát triển CNTT và cơ sở hạ tầng của CNTT nước ta

Nhìn chung CNTT ở nước ta hiện nay đang được đặc biết quan tâm, chú trọng thúc đẩy phát triển minh chứng cho điều này là hàng loạt chủ trương chính sách của chính phủ đã được ban hành trong các kì họp với nội dung chính là phát triển CNTT, đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khác, các ngành khác;đặc biệt là các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giáo dục – đào tạo… chú trọng việc phát triển đạt được kết quả cả về số lượng lẫn chất lượng

Nhờ những cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước, cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp( DN), hiệp hội, trong 5 năm qua ngành CNPM của chúng

ta đã có nhiều khởi sắc Suốt từ năm 2000 đến nay CNPM luôn giữ mức tăng trưởngvới tốc độ khá cao, trung bình khoảng 35% năm, gần gấp 3 lần tốc độ phát triển

Trang 19

trung bình của toàn ngành công nghiệp Thống kê của hội tin học TP Hồ Chí Minh (HCA) cho thấy đến nay cả nước có khoảng 720 doanh nghiệp phần mềm (DNPM) đang thực sự hoạt động, thu hút được hơn 20.000 lao động phần mềm chuyên

nghiệp Tổng doanh thu của các DNPM năm 2005 ước đạt khoảng 250 triệu USD, trong đó có khoảng 70 triệu USD xuất khẩu Như vậy quy mô ngành CNPM nước ta

cả về lực lượng lao động lẫn tổng doanh thu hiện nay đã tăng lên gấp 4 lần so với năm 2000, đó thực sự là một bước phát triển tốt với một ngành công nghiệp mới ở Việt Nam Hơn nữa, một số chuyên gia còn cho rằng phương pháp thống kê nói trênchưa đầy đủ , còn bỏ sót một số lĩnh vực như chưa tính lực lượng làm phần mềm bán chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị không chuyên CNTT Lực lượng này cũng khá đông, hàng năm sản xuất, cung cấp không ít các sản phẩm, dịch vụ phần mềm "in house" theo kiểu tự cung tự cấp để phục vụ cho hoạt động của cơ quan, đơn vị mình Theo các chuyên gia này, nếu tính hết quy mô ngành phần mềm Việt Nam hiện đã có hơn 30.000 lao động, với doanh số quy đổi lên tới trên 350 triệu USD

Hình 1: Độ tuổi của người sử dụng Internet so với tổng dân số

Hình 2: Tổng quan về Internet ở việt nam

Ngày đăng: 30/11/2017, 17:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w