Thực tiễn điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gian qua ở Việt Nam đã cho thấy chính sách lãi suất là một trong những công cụ có vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ. Tùy thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ là thắt chặt hay nới lỏng, NHNN sẽ áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cho phù hợp, nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. Lãi suất đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính – tiền tệ, được các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước quan tâm, theo dõi, dự báo hàng ngày. Nền kinh tế ngày càng phát triển, các quan hệ kinh tế không chỉ còn tồn tại giản đơn trong nội bộ quốc gia mà xa hơn đã vươn lên tầm quốc tế lại càng đặt ra thách thức cần phải có một cơ chế điều hành lãi suất sao cho linh hoạt, để vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là động thái tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Việc Ngân Hàng Nhà Nước mới đây yêu cầu 14 ngân hàng thực hiện nhiệm vụ để tháo gỡ khó khăn trong tín dụng hoạt động là nhằm đẩy mạnh cho vay đối với các dự án hiệu quả lớn. Đồng thời ngày 25/5/2012 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 17/2012/TT-NHNN, quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, nhiều ngân hàng đã sớm công bố điều chỉnh giảm lãi suất cho vay và lãi suất huy động, cùng với động thái của chính sách tài khóa, một số tổ chức đầu tư nhìn nhận Ngân Hàng Nhà Nước đã có những bước đi phù hợp để tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Mặt bằng lãi suất đầu vào liên tục lao dốc trong thời gian qua sẽ tạo điều kiện cho các DN trong thời gian tới đây tiếp cận được nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý hơn. Nhận thức được tầm quan trọng cùa chính sách lãi suất, vì vậy em đã lựa chọn để tài: “Chính sách lãi suất của Ngân Hàng Trung Ương đối với ổn định kinh tế vĩ mô” ” nhằm mục đích đưa ra những đánh giá trong việc thực hiện chính sách điều hành lãi suất hiện nay và tiến hành đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong thời gian tới.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
- -ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI
VỚI VIỆC ỔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ
Sinh viên : Trần Xuân Thủy
Mã sinh viên : CQ512968
Giáo viên hướng dẫn : TS Phan Hữu Nghị
Trang 2Hà Nội - 2012
LỜI MỞ ĐẦU
Thực tiễn điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gian qua ở Việt Nam đã cho thấy chính sách lãi suất là một trong những công cụ có vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ Tùy thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ là thắt chặt hay nới lỏng, NHNN sẽ áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cho phù hợp, nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân
bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế Lãi suất đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính – tiền tệ, được các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước quan tâm, theo dõi, dự báo hàng ngày Nền kinh tế ngày càng phát triển, các quan hệ kinh tế không chỉ còn tồn tại giản đơn trong nội bộ quốc gia mà xa hơn đã vươn lên tầm quốc tế lại càng đặt ra thách thức cần phải có một cơ chế điều hành lãi suất sao cho linh hoạt, để vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là động thái tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN
Việc Ngân Hàng Nhà Nước mới đây yêu cầu 14 ngân hàng thực hiện nhiệm
vụ để tháo gỡ khó khăn trong tín dụng hoạt động là nhằm đẩy mạnh cho vay đối với các dự án hiệu quả lớn Đồng thời ngày 25/5/2012 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đã ban hành Thông tư số 17/2012/TT-NHNN, quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, nhiều ngân hàng
đã sớm công bố điều chỉnh giảm lãi suất cho vay và lãi suất huy động, cùng với động thái của chính sách tài khóa, một số tổ chức đầu tư nhìn nhận Ngân Hàng Nhà Nước đã có những bước đi phù hợp để tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp Mặt bằng lãi suất đầu vào liên tục lao dốc trong thời gian qua sẽ tạo điều kiện cho các DN trong thời gian tới đây tiếp cận được nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý hơn
Nhận thức được tầm quan trọng cùa chính sách lãi suất, vì vậy em đã lựa
Trang 3kinh tế vĩ mô” ” nhằm mục đích đưa ra những đánh giá trong việc thực hiện chính
sách điều hành lãi suất hiện nay và tiến hành đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong thời gian tới
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI VIỆC ỔN ĐỊNH
đầu t vào đâu thì có lợi nhất Thông qua những quyết định của các cá nhân, doanh nghiệp lãi suất ảnh hởng đến mức độ phát triển cũng nh cơ cấu của nền kinh tế đất nớc
Lói suất cựng với tỷ giỏ là hai cụng cụ bổ trợ quan trọng trong điều hành chớnh sỏch tiền tệ của NHTW nhằm đạt được mục tiờu ổn định kinh tế vĩ mụ núi chung và ổn định hệ thống tài chớnh núi riờng Tựy theo tỡnh hỡnh phỏt triển kinh tế
mà mỗi quốc gia sẽ cú một cơ chế điều hành lói suất của riờng mỡnh Chương 1 của
đề tài tập trung phõn tớch cỏc lý thuyết chung về lói suất và chớnh sỏch lói suất
1.1 Lói suất
1.1.1 Lịch sử hỡnh thành khỏi niệm lói suất
Khỏi niệm lói suất được hỡnh thành và phỏt triển từ khỏi niệm về lợi tức cho vay Từ xa xưa, xó hội đó tồn tại những trường hợp vay hiện vật với việc trả lợi tức – là phần phải trả thờm ngoài phần vay ban đầu – bằng hiện vật như: thúc gạo, gia sỳc, kim loại quý…Cựng với sự phỏt triển của sản xuất và lưu thụng hàng húa, quan
hệ trao đổi phỏt triển và tiền tệ ra đời, cỏc quan hệ vay mượn cũng phỏt triển ngày càng nhiều và lợi tức cho vay cũng chuyển từ hỡnh thức hiện vật sang hỡnh thức tiền
tệ
1.1.1.1 Lý thuyết của Mác về nguồn gốc, bản chất lãi suất
Theo Mác, về thực chất lợi tức chỉ là một bộ phận của giá trị thặng d mà nhà t bản đi vay phải cho nhà t bản vay Trên thực tế nó là một bộ phận của lợi nhuận bình quân mà các nhà t bản công thơng nghiệp đi vay phải chia cho các nhà t bản cho vay Do đó nó là biểu hiện quan hệ bóc lột t bản chủ nghĩa đợc mở rộng trong
Trang 5lĩnh vực phân phối và giơí hạn tối đa của lợi tức là lợi nhuận bình quân, còn giới hạn tối thiểu thì không có nhng luôn lớn hơn không.
Vì vậy sau khi phân tích côg thức chung của t bản và hình thái vận động đầy
đủ của t bản Mác đã kết luận: “Lãi suất là phần giá trị thặng d đợc tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị t bản bị t bản – chủ ngân hàng chiếm đoạt”
1.1.1.2 Lý thuyết của J.M Keynes về lãi suất:
J.M Keynes (1833-1946) nhà kinh tế học nổi tiếng ngời Anh cho rằng lãi suất không phải là số tiền trả công cho việc tiết kiệm hay nhịn chi tiêu vì khi tích trữ tiền mặt ngời ta không nhận đợc một khoản trả công nào, ngay cả khi trờng hợp tích trữ rất nhiều tiền trong một khoảng thời gian nhất định nào đó Vì vậy: “Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thởng cho “sở thích chi tiêu tbản” lãi suất do đó còn đợc gọi là sự trả công cho sự chia tay với của cải, tiền tệ.”
1.1.1.3 Lý thuyết của trờng phái trọng tiền về lãi suất:
M.Friedman, đại diện tiêu biểu của trờng phái trọng tiền hiện đại, cũng có quản điểm tơng tự J.M.Keynes rằng lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ Tuy nhiên quan điểm của M Friedman khác cơ bản với Keynes ở việc xác định vai trò của lãi suất Nừu Keynes cho rằng cầu tiền là một hàm của lãi suất còn M.Friedman dựa vào nghiên cứu các tài liệu thực tế thống kê trong một thời gian dài, ông đi đế khẳng định mức lãi suất không có ý nghĩa tác động đến lợng cầu về tiền mà cầu tiền biểu hiện là một hàm của thu nhập và đa ra khái niệm tính ổn định cao của cầu tiền tệ
Có thể thấy rằng : quan điểm coi lãi suất là kết quả hoạt động của tiền tệ đã rất thành công trong việc xác định các nhân tố cụ thể ảnh hởng đến lãi suất tín dụng Tuy nhiên hạn chế của cách tiếp cận này là suy bản chất của lợi tức là bản chất của tiền và dừng lại ở việc nghiên cứu cụ thể
1.1.2 Khỏi niệm lói suất
Lói suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giỏ cả của tớn dụng – giỏ cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuờ những dịch vụ về vốn dưới hỡnh thức tiền tệ hoặc cỏc dạng thức tài sản khỏc nhau Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền dụi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lói Tỷ lệ phần trăm của số tiền lói trờn số tiền vốn gọi là lói suất
Trong nền kinh tế luôn có những chủ thể tạm thời d thừa vốn, cùng lúc đó có những ngời có cơ hội đầu t sinh lợi, cần vốn song lại thiếu vốn, thị trờng tài chính
Trang 6ra đời làm thông suốt quá trình chuyển vốn từ ngời thừa vốn sang ngời cần vốn, các chủ thể qua quan hệ vay mợn tín dụng hoặc mua bán các công cụ nợ đều đạt đ-
ợc mục đích của mình; ngời thừa vốn vừa bảo đảm đợc vốn vừa thu đợc lợi, ngời thiếu vốn vừa dợc đáp ứng đủ cho đàu t Từ thị trờng đó, lãi suất đợc hình thành
nh giá cả của một loại hàng hoá(ở đây là vốn), nó là chi phí mà ngời đi vay phải trả cho ngời cho vay để đợc quyền sử dụng vốn, nó vận động tuân theo quy luật cung cầu, xác định trên cơ sở cân bằng giữa nhu cầu về vốn vá cung về vốn trên thị tr-ờng
Nh vậy, lãi suất chính là tín hiệu thị trờng tham gia vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý
ở trên là khái niệm lãi suất theo nguyên tắc thị trờng, song lãi suất còn đợc hiểu là công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia, nó do ngân hàng trung ơng - cơ quan thay mặt nhà nớc thực thi chính sách tài chính tiền tệ - nắm giữ, và sử dụng nhằm điều chỉnh và can thiệp vào thị trờng giúp hạn chế và khắc phục những yếu kém của nền kinh tế
Ngoài ra khái niệm lãi suất nh là chi phí cơ hội của việc giữ tiền cũng tơng
đối phổ biến
Trong đời sống hàng ngày chúng ta cũng gặp rất nhiều loại lãi suất khác nhau
nh lãi suất các chứng khoán, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất danh nghĩa-lãi suất thực, lãi suất trần-sàn Sự phân biệt các loại lãi suất này dựa trên sự liên quan đến vai trò công cụ của chính sách tiền tệ, chỉ số lạm phát hoặc
kỳ hạn và rủi ro của mỗi loại chứng khoán Tuy nhiên một điều quan trọng là hầu hết các loại lãi suất này đều diễn biến theo nhau Vì vậy, nếu không ghi cụ thể gì khác thì thuật ngữ lãi suất đề cập trong tập chuyên đề này mang ý nghĩa phổ quát chung
1.1.3 Phõn loại lói suất
Tùy tiờu thức phõn loại, LS được chia thành:
Trang 7- LS nội tệ: là LS được tính trên cơ sở đồng tiền một quốc gia, được áp dụng trong khuôn khổ cho vay hoặc đi vay bằng đồng tiền trong nước.
- LS ngoại tệ: là LS được tính trên cơ sở đồng tiền nước ngoài mà chủ yếu là những ngoại tệ mạnh, tự do chuyển đổi như Đô La Mỹ, Yên Nhật, Euro, Phrăng Thụy Sĩ…được thực hiên khi vay hoặc cho vay ngoại tệ mà hiện nay trên thế giới, LS được tính chủ yếu bằng Đô La Mỹ LS ngoại tệ thường được tính theo năm
Khi quyết định đi vay hoặc cho vay bằng nội tệ hay ngoại tệ, người đi vay hoặc cho vay phải so sánh LS nội tệ với LS ngoại tệ chênh lệch như thế nào Sự so sánh này thông qua 2 nhân tố mức lãi suất và tỉ giá hối đoái, sự ổn định của từng loại đồng tiền
1.1.3.2 Phân loại theo nghiệp vụ kinh doanh của NHTM:
- LS huy động vốn: LS do NHTM đưa ra để huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội, nhận tiền gửi của khách hàng, phát hành chứng chỉ tiền gửi
- LS cho vay: là LS thường do các NHTM công bố để thực hiện khả năng cho vay vốn
Phân loại theo tiêu thức này giúp cho các tổ chức tín dụng, các NHTM có thể quyết định nên ấn định LS huy động vốn và LS cho vay là bao nhiêu Quy định này giúp cho các tổ chức tín dụng có thể huy động được nguồn vốn dồi dào, có thể sử dụng hết nguồn vốn của mình để cho vay, hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
1.1.3.3 Phân loại theo thời gian:
- LS ngắn hạn: LS áp dụng cho các khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng
- LS trung hạn: LS áp dụng cho các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở lên nhưng dưới 5 năm
- LS dài hạn: LS áp dụng cho các khoản vay có thời hạn từ 5 năm trở lên.Việc phân loại theo thời gian giúp chúng ta ấn định LS cho phù hợp với nguyên tắc: thời hạn càng dài thì LS càng cao
1.1.3.4 Phân loại theo LS đơn và LS kép:
Trang 8- LS đơn: áp dụng cho những món vay đơn, có thời hạn tính lãi trùng với chu kì tính lãi.
S = P ( 1+ i.t) trong đó P: số tiền gốc
i : LS được niêm yết trên cơ sở một kì hạn nhất định t: thời gian của hợp đồng
S: số tiền gốc và lãi thanh toán 1 lần khi đến hạn
- LS kép: áp dụng cho những khoản vay có nhiều kì tính lãi, lãi thu được ở các kì trước gộp chung vào gốc để tính lãi cho kì tiếp theo
Sn = P ( 1 + i )n trong đó n: số kì tính lãi
1.1.3.5 Phân loại theo nội dung kinh tế:
Việc phân loại này giúp giải quyết vấn đề khi vay hoặc cho vay với 1 LS nào đó, chúng ta có cơ may thu được giá trị thực của đồng tiền nhiều hay ít hơn so với biến động của mức lạm phát
- LS danh nghĩa: LS được ghi tại các hợp đồng kinh tế
- LS thực: là LS danh nghĩa sau khi đã loại bỏ đi yếu tố tỉ lệ lạm phát Đây là
LS người cho vay được nhận và là LS mà họ quan tâm
ir = in – ii ( đối với ii < 10% )
ir = ( in – ii) / ( ii + 1) 100% ( đối với ii >= 10% )
1.1.3.6 Theo tính cạnh tranh của các công cụ nợ:
- Nhóm lãi suất chịu tác động của cung – cầu vốn
Lãi suất tín phiếu kho bạc Nhà nước (KBNN) là tỷ lệ giữa số tiền lãi so với số
tiền gốc mà KBNN trả cho người mua tín phiếu khi đến hạn, nó đóng vai trò là mức lãi suất chuẩn trên TTTT
Lãi suất tiền gửi ngắn hạn là tỷ lệ giữa số tiền lãi so với số tiền gốc mà người
huy động vốn phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, có thời hạn dưới 12 tháng
Trang 9Lãi suất kỳ phiếu do NHTM, các tổ chức trung gian tài chính khác phát hành
là lãi suất ghi trên kỳ phiếu, có thời hạn thanh toán dưới 12 tháng, để huy động vốn trên TTTT
Lãi suất cho vay ngắn hạn là tỷ lệ giữa số tiền lãi so với số tiền gốc mà người
vay phải trả người cho vay trong thời hạn dưới 12 tháng
Lãi suất thị trường liên ngân hàng là lãi suất vay ngắn hạn giữa các tổ chức
trung gian tài chính với nhau trên TTTT liên ngân hàng
Một số những loại lãi suất thị trường liên ngân hàng trên thế giới: lãi suất LIBOR (lãi suất thị trường liên ngân hàng London), lãi suất SIBOR (lãi suất thị trường liên ngân hàng Singapore), lãi suất VNIBOR (lãi suất thị trường liên ngân hàng Việt Nam)
Ngoài ra còn có một số loại lãi suất khác như: lãi suất bảo chứng, lãi suất kỳ phiếu công ty, lãi suất CD…
- Nhóm lãi suất NHTW sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ
Tùy theo từng quốc gia, NHTW ở mỗi nước sẽ xác định và công bố các mức lãi suất chính thức làm công cụ để điều hành CSTT như sau:
Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất do NHTW áp dụng khi cho các NHTM vay
ngắn hạn
Lãi suất chiết khấu là một hình thức lãi suất tái cấp vốn được áp dụng khi
NHTW chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ có giá của NHTM
Lãi suất cho vay qua đêm là một hình thức lãi suất tái cấp vốn được áp dụng
khi NHTW cho vay qua đêm đối với NHTM, thông thường nó là giới hạn trên của lãi suất thị trường liên ngân hàng
Lãi suất tiền gửi của NHTM là lãi suất do NHTW công bố, áp dụng đối với
tiền gửi của NHTM tại NHTW
Lãi suất sàn tiền gửi là lãi suất tiền gửi tối thiểu do NHTW quy định, áp dụng
đối với lãi suất tiền gửi của khách hàng tại các NHTM
Lãi suất trần cho vay là lãi suất cho vay tối đa do NHTW quy định, áp dụng
đối với lãi suất cho vay của NHTM đối với khách hàng
Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHTW công bố, làm cơ sở cho các NHTM xác
định lãi suất kinh doanh
Trang 10Lãi suất repo (hay còn gọi là lãi suất OMO) là lãi suất áp dụng đối với hợp
đồng mua lại giấy tờ có giá mà NHTM phải trả cho NHTW
1.1.4 Các nguyên tắc xác định lãi suất
1.1.4.1 Các nguyên tắc xác định nhóm lãi suất phụ thuộc quan hệ cung – cầu
vốn
• Lãi suất cần phải được đảm bảo nguyên tắc thực dương, lãi suất cho vay lớn hơn lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền gửi lớn hơn tỷ lệ lạm phát.
• Lãi suất cho vay phải thấp hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân
• Quan hệ hợp lý giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ, tỷ giá
1.1.4.2 Các nguyên tắc xác định nhóm lãi suất do Ngân hàng Trung ương công
bố
• Nhóm lãi suất do NHTW công bố được xác định tùy thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ, diễn biến tiền tệ và kinh tế vĩ mô Trong điều hành chính sách tiền tệ, hai mục tiêu ổn định tiền tệ và tăng trưởng là quan trọng nhất nhưng không đồng thời có thể thực hiện mà luôn có sự mâu thuẫn với nhau Sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu đòi hỏi NHTW phải có sự điều hành linh hoạt công cụ CSTT trong từng giai đoạn để đạt được mục tiêu ưu tiên của quốc gia trong thời kì đó
• Trong điều kiện nền kinh tế mở, diễn biến lãi suất trên thị trường quốc tế và khu vực sẽ có tác động tới hoạt động kinh tế mỗi quốc gia Khi xác định các lãi suất công bố, NHTW phải kết hợp cùng với chính sách tỷ giá và xem xét biến động lãi suất trên thị trường thế giới
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất
Lý thuyết kinh tế hiện đại và kinh nghiệm điều hành lãi suất của NHTW các nước đã chỉ ra tác động của các nhân tố chủ yếu đối với biến động của lãi suất trong điều kiện nền kinh tế quy mô nhỏ, mở cửa, thị trường tiền tệ phát triển ở mức độ thấp như sau:
- Cung – cầu vốn tiền tệ:
Trang 11Mọi sự thay đổi về các điều kiện cung và cầu về vốn đều tác động đến lãi suất Chẳng hạn, tăng tiết kiệm sẽ dẫn đến tăng cung vốn, và nếu cầu vốn không tăng tương ứng để cân bằng được cung cầu sẽ làm cho lãi suất giảm đi Ngược lại
sự tăng lên của cung về vốn không tương ứng sự tăng lên của cầu về vốn sẽ làm cho lãi suất tăng lên
- Tác động của lạm phát:
Lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất theo hướng tỉ lệ thuận: Khi tỉ lệ lạm phát tăng cao thì lãi suất danh nghĩa cao tương ứng và ngược lại, khi tỉ lệ lạm phát giảm thì lãi suất cũng giảm theo
- Tỷ suất lợi nhuận bình quân:
Về phương diện kinh tế vĩ mô, nếu lãi suất cho vay cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân thì có nguy cơ thu hẹp đầu tư, sản xuất kinh doanh bị đình đốn, kinh tế sẽ suy thoái và đó không phải là mục tiêu của chính sách tiền tệ cần hướng tới Mặt khác, khi tỷ suất lợi nhuận bình quân nhỏ hơn lãi suất cho vay, thì lãi suất huy động cũng có thể cao, lúc đó, mọi nhà sản xuất kinh doanh đều tìm cách kiếm lợi nhuận qua việc gửi tiền vào ngân hàng hơn là đầu tư Điều này càng nguy hại cho nền kinh tế
- Cân đối thu, chi ngân sách:
Thâm hụt (bội chi) ngân sách sẽ dẫn đến lãi suất tăng Khi ngân sách bội chi, Chính phủ sẽ vay dân chúng bằng cách phát hành tín phiếu, trái phiếu để bù đắp Như vậy, một lượng tiền tiết kiệm trong dân cư được dung để mua tín phiếu, trái phiếu của Chính phủ nay chuyển sang dạng tiền gửi vì vậy cung tiền gửi tăng lên dẫn đến việc giảm lãi suất
- Mức độ rủi ro:
Môi trường đầu tư bị đánh giá là rủi ro có thể do những nguyên nhân rất khác nhau như sự bất ổn định chính trị, sự không nhất quán trong đường lối phát triển kinh tế, hệ thống pháp luật thiếu hoàn chỉnh… Đầu tư trong môi trường càng rủi ro thì yếu tố không chắc chắn trong kết quả hoạt động kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp càng lớn, dẫn đến khả năng thất thoát vốn đầu tư do thua lỗ lớn hơn Điều đó ảnh hưởng tới khả năng thu hồi vốn, lãi của người cho vay Chính vì vậy trong nền
Trang 12kinh tế có môi trường đầu tư càng rủi ro thì lãi suất càng cao do giảm lượng cung tiền cho vay.
- Định hướng điều hành chính sách tiền tệ:
Việc mở rộng hay thu hẹp lượng tiền cung ứng của NHTW tác động tức thời đối với lãi suất trên thị trường tiền tệ Nếu NHTW thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng – cung tiền tăng thì lãi suất sẽ có xu hướng giảm và ngược lại
- Các nhân tố khác: Ngoài các nhân tố nói trên tác động đến lãi suất, còn có các
nhân tố khác cũng có thể tác động đến lãi suất như: chính sách quản lý ngoại hối, thâm hụt cán cân vãng lai, tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số giá chứng khoán, tình hình chính trị, thiên tai, dịch bệnh, biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ thế giới,
…
1.1.6 Tác động của lãi suất đối với nền kinh tế thị trường.
Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, có tác động mạnh mẽ đến nhiều biến số kinh tế vĩ mô cũng như hoạt động kinh tế trong nước Về phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động tới tiêu dùng và đầu tư, lạm phát, tỷ giá cũng như hoạt động của doanh nghiệp, thị trường tài chính và các NHTM
1.1.6.1 Tác động của lãi suất đối với tiêu dùng và đầu tư, sản lượng quốc gia và
tỷ lệ thất nghiệp
Lý thuyết kinh tế học đã chứng minh, lãi suất thực tác động đến chi tiêu dùng
và đầu tư của hộ gia đình và tổ chức kinh tế, từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế
Trang 13Nói tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, các NHTW sử dụng lãi suất là một động lực khuyến khích tiết kiệm, từ đó gia tăng nguồn vốn đầu tư trong nước cho sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên tác động của lãi suất đến hành vi tiết kiệm, tiêu dùng và sản xuất của xã hội, tác động đến tăng trưởng kinh tế quốc gia nhiều hay ít, nhanh hay chậm tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi nước Trong từng nước, mức độ tác động của lãi suất cũng là khác nhau với mỗi giai đoạn phát triển của thị trường tài chính.
1.1.6.2 Tác động của lãi suất đối với lạm phát và mục tiêu ổn định giá cả
Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát, trong đó người đầu tiên đặt nền móng cho các nghiên cứu lý luận sau này đó chính là nhà kinh tế học người Mỹ Irving Fisher Hiệu ứng Fisher ra đời từ những năm 1930 – 1939 mô tả mối quan hệ giữa tỉ lệ lạm phát và hai loại lãi suất là lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế Theo đó, khi tỷ lệ lạm phát dự kiến tăng lên thì lãi suất danh nghĩa cũng phải tăng lên theo cùng tỉ lệ để đảm bảo lãi suất thực dương Song những khảo sát thực nghiệm không hoàn toàn ủng hộ quan điểm này bởi trong
lý thuyết của Fisher đã quên đi mất yếu tố thuế, hơn nữa những dự đoán trong tỷ lệ lạm phát dự kiến là khó khăn
John Maynard Keynes đã tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất Lý thuyết về sử dụng công cụ lãi suất trong điều hành chính sách tiền tệ của Keynes đã trở thành một thành tựu trong lĩnh vực kinh tế Lãi suất đã và đang là
Trang 14một công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW ở mỗi quốc gia nhằm điều hòa lưu thông tiền tệ, hướng đến kiểm soát lạm phát Tuy nhiên, việc điều chỉnh tăng giảm lãi suất luôn phải đối mặt với nhiều thách thức bởi lẽ một sự thay đổi trong điều hành chính sách lãi suất của NHTW sẽ ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong nền kinh tế như sức cạnh tranh về giá của hàng hóa, sản phẩm trên thị trường; biến động của thị trường chứng khoán, thị trường vàng, ngoại tệ, bất động sản và tình hình chung của nền kinh tế.
1.1.6.3 Tác động của lãi suất đối với tỷ giá hối đoái
Lãi suất là công cụ được các NHTW sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường, điều chỉnh giá trị đối ngoại của nội tệ Chính sách lãi suất cao có xu hướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi vì nó hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước Nếu lãi suất tăng sẽ dẫn đến xu hướng là một đồng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và những người sở hữu vốn ngoại
tệ trong nước sẽ có khuynh hướng chuyển đổi đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ
để thu lãi cao hơn Điều này làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường hay tăng cầu đối với đồng nội tệ, từ đó đồng nội tệ sẽ tăng giá Lý thuyết này chỉ đúng với các nền kinh tế mở, nơi có đồng tiền tự do chuyển đổi và tự do lưu chuyển vốn
1.1.6.4 Tác động của lãi suất đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thị trường tài chính và hệ thống NHTM.
Đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, lãi suất cho vay phản ánh
giá cả của đồng vốn đi vay Chi phí lãi vay sẽ hình thành nên chi phí vốn và là chi phí đầu vào của quá trình SXKD Khi lãi suất cho vay của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng lên, làm suy giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, gây ra tình trạng thua lỗ, thậm chí phá sản trong hoạt động SXKD Đồng thời lãi suất vay vốn tăng lên cũng đồng nghĩa với việc cắt giảm quy mô, thu hẹp phạm vi sản xuất trong hoạt động của doanh nghiệp mình Lãi suất cho vay cao thông thường là một tín hiệu rõ ràng trong việc hạn chế tín
Trang 15dụng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Khi lãi suất cho vay của NHTM giảm xuống sẽ có tác động ngược trở lại.
Đối với thị trường tài chính, lãi suất là một công cụ tạo dựng sự phát triển
theo chiều sâu của thị trường tài chính Trong nền kinh tế, luôn tồn tại hai thái cực: một là những người có nguồn vốn nhàn rỗi và hai là những người cần vốn Một mức lãi suất hợp lý và đem lại lợi tức ở mức chấp nhận, sẽ giúp cho luồng chu chuyển vốn giữa những người có vốn sang người không có vốn trở nên dễ dàng hơn Lãi suất tự bản thân nó có khả năng điều tiết một cách tự nhiên lượng vốn lưu thông từ nơi thừa đến nơi thiếu Sự chu chuyển vốn này sẽ giúp cho nền kinh tế đạt được mức toàn dụng trong việc sử dụng các nguồn lực về vốn để tăng trưởng và phát triển
Đối với hoạt động của hệ thống NHTM, lãi suất có vai trò đòn bảy kinh tế
cực kỳ lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Trong hoạt động của mình, các NHTM sẽ phải tính toán mức lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hợp lý để bù đắp các khoản chi phí nghiệp vụ và có lợi nhuận cho mình Chính vì vậy lãi suất đóng vai trò là nhân tố bù đắp chi phí, nhân tố đảm bảo tính thanh khoản giúp ngân hàng hoạt động một cách có hiệu quả Trên TTTT, lãi suất được coi là công cụ cạnh tranh giữa các ngân hàng NHTM coi lãi suất là một yếu tố hàng đầu để thu hút tối đa các khoản tiền gửi cũng như đẩy mạnh cho vay Tuy nhiên sự cạnh tranh trong việc tăng giảm lãi suất giữa các NHTM luôn được các NHTW theo dõi sát sao và được điều chỉnh thông qua chính sách tiền tệ - tín dụng của NHTW bằng các biện pháp điều hành trực tiếp hoặc gián tiếp
1.2 Chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương
1.2.1 Khái niệm
Chính sách lãi suất là tổng thể những mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể của NHTW nhằm kiểm soát và điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kì nhất định
Mục tiêu theo đuổi của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của CSTT, quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kì phải đảm
Trang 16bảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô Điều đó có nghĩa, trong điều hành chính sách lãi suất, không được gây ra những cú sốc thị trường, phải đảm bảo tính ổn định
và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Nội dung của chính sách lãi suất
Chính sách lãi suất của NHTW bao gồm các nội dung chính sau đây:
- Mục tiêu hoạt động là kiểm soát về mức và chiều hướng biến động của lãi suất TTTT thứ cấp và sơ cấp, góp phần kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh
tế và ổn định sức mua đối ngoại của đồng nội tệ
- Các quan điểm, nguyên tắc và định hướng điều hành: Căn cứ vào mục tiêu, vai trò và hiệu lực tác động của công cụ lãi suất với điều tiết lãi suất và khối lượng tiền, NHTW xác định chiều hướng biến động và phương pháp điều hành lãi suất tăng hay giảm và biên độ điều chỉnh lớn hay hẹp
- Xây dựng và vận hành cơ chế kiểm soát lãi suất TTTT phù hợp với mức độ phát triển của TTTT, vai trò khả năng điều tiết của lãi suất, mức độ độc lập của NHTW trong hoạch định và điều hành CSTT
- Các giải pháp hỗ trợ đồng bộ, tạo điều kiện cho việc vận hành cơ chế kiểm soát lãi suất TTTT như: phát triển quy mô và nâng cao chất lượng TTTT, xây dựng các mức lãi suất chuẩn trên TTTT, hoàn thiện thể chế pháp lý, nâng cao năng lực cạnh tranh của các định chế trung gian tài chính, nâng cao khả năng
dự báo và điều tiết tiền tệ của NHTW
1.2.3 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương
1.2.3.1 Khái niệm
Cơ chế điều hành lãi suất của NHTW là tổng hợp các quy định, biện pháp mà NHTW áp dụng để hướng dẫn và điều chỉnh lãi suất TTTT phù hợp với mức lãi suất mục tiêu của NHTW trong từng giai đoạn, tránh biến động đột biến lãi suất thị trường
Trang 171.2.3.2 Các cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương
Tùy thuộc vào sự phát triển của thị trường tài chính, sự phát triển của nền kinh tế ở mỗi quốc gia, NHTW sẽ có một cơ chế điều hành lãi suất riêng của mình
Đây là cơ chế điều hành mà trong đó NHTW sẽ quản lý lãi suất của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh bằng cách quy định mức lãi suất cho vay tối đa hoặc tiền gửi tối thiểu của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế
Đây là cơ chế điều hành mà trong đó các NHTW thông qua việc sử dụng các công cụ CSTT gián tiếp kiểm soát lãi suất TTTT biến động phù hợp với mục tiêu của chính sách lãi suất đã đề ra
1.2.4 Một số chính sách lãi suất trong nền kinh tế thị trường
Lãi suất cố định là lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước khống chế NHTM cả về lãi suất huy động và lãi suất cho vay Khi đó sẽ không có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, không thúc đẩy tăng trưởng Chính phủ hoàn toàn có thể kiểm soát được lãi suất, bảo vệ được nhiều doanh nghiệp nhà nước
Chính sách tự do hóa lãi suất là chính sách mà NHTW sẽ can thiệp khi mức lãi suất vượt quá mức lãi suất chung Lãi suất tăng giảm hoàn toàn do những biến
Trang 18đổi trong cung và cầu về vốn vay trên thị trường Các TCTD được phép quyết định lãi suất kinh doanh trong hoạt động của mình Tuy nhiên, để thực hiện được chính sách lãi suất thỏa thuận cần phải xây dựng được thị trường trong đó các yếu tố đều được vận hành theo nguyên tắc cung – cầu.