1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Theo dõi khả năng sinh sản và một số bệnh thường gặp trên lợn nái nuôi con tại trại chăn nuôi Thảo, Non Tranh – Tân Thành – Phú Bình – Thái Nguyên

58 256 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 690,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khả năng sinh sản của đàn lợn ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính gây ra đó là các bệnh sinh sản ở lợn nái như: viêm tử cung, viêm âm đạo, đẻ khó… Các bệnh này có th

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

Khóa học: 2013 – 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TSTừ Trung Kiên

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt chương trình đào tạo trong nhà trường, với phương châm học đi đôi với hành, mỗi sinh viên khi ra trường cần chuẩn bị cho mình lượng kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng Quãng thời gian thực tập tốt nghiệp là giai đoạn vô cùng cần thiết đối với mỗi sinh viên, nhằm hệ thống lại toàn bộ chương trình đã được học và vận dụng lý thuyết vào trong thực tiễn Để qua đó sinh viên khi ra trường sẽ hoàn thiện về kiến thức, phương pháp làm việc cũng như năng lực công tác, nhằm đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn công việc

Hoàn thành được đề tài này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, cùng các thầy cô giáo trong trường đã luôn quan tâm, dạy bảo, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm, quý báu cho tôi trong hai năm học vừa qua

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn thầy giáo PGS TS.Từ Trung Kiên

đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi hoàn thành tốt đề tài này

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng, song do điều kiện thời gian và năng lực còn nhiều hạn chế nên luận văn tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để bài đề tài của tôi được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Xuân Cường

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 32

Bảng 4.2: Mức ăn/con/ngày (kg thức ăn hỗn hợp) 35

Bảng 4.3 Các loại cám và thành phần dinh dưỡng 38

Bảng 4.4: Cơ cấu đàn lợn tại trại chăn nuôi Thảo trong 3 năm trở lại đây 40

Bảng 4.5: Kết quả tiêm phòng của trại chăn nuôi Thảo 40

trong năm 2016 40

Bảng 4.6: Một số chỉ tiêu sinh sản của nái kiểm định 41

Bảng 4.7: Một số chỉ tiêu khối lượng lợn con của nái kiểm định 43

Bảng 4.8: Một số chỉ tiêu sinh sản của nái cơ bản 43

Bảng 4.9: Chỉ tiêu sản xuất của nái cơ bản 44

Bảng 4.10: Kết quả theo dõi một số bệnh và hội chứng thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại chăn nuôi Thảo 45

Bảng 4.11: Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản theo lứa đẻ 46

Bảng 4.12: Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản theo các tháng theo dõi 47

Bảng 4.13: Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị 48

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2 Mục tiêu đạt được khi kết thúc đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.2.2 Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái 8

2.3 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái nuôi con 13

2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn nái 13

2.3.2 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái 15

2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18

2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18

2.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 19

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 21

3.1 Đối tượng 21

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21

3.3 Nội dung Tiến hành 21

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 21

3.4.1.Phương pháp theo dõi 21

3.4.2.Phương pháp đánh giá tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái sinh sản 25

3.5 Phương pháp theo dõi từng chỉ tiêu 28

3.5.1 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản theo giống 28

3.5.2 Tỷ lệ mắc bệnh theo tháng trong năm 28

Trang 6

3.5.3 Tỷ lệ mắc bệnh qua từng lứa đẻ 28

3.5.4.Công thức tính các chỉ tiêu 28

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 29

4.1.1 Công tác phòng và trị bệnh 29

4.1.2 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 33

4.2 Kết quả chuyên đề 40

4.2.1 Tình hình chăn nuôi và thú y của trại chăn nuôi Thảo 40

4.2.2 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái 41

4.2.3 Tình hình dịch bệnh và kết quả điều trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái 45

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 7

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những bước tiến mới.Song song với ngành trồng trọt thì chăn nuôi cũng đã và đang

là ngành chính chiếm vị trí quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nước nhà Ngành chăn nuôi cung cấp nguồn phân bón hữu cơ cho ngành trồng trọt, đồng thời tận dụng được các sản phẩm dư thừa trong đời sống sinh hoạt của người dân, các sản phẩm phụ như lông da, mỡ là nguyên liệu cho ngành chăn nuôi chế biến thực phẩm và công nghệ da thuộc

Ngoài ra, ngành chăn nuôi còn góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu, là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân, chính vì vậy mà ngành chăn nuôi nước ta ngày càng phát triển cả về số lượng, năng suất cũng như chất lượng sản phẩm

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, ngành chăn nuôi còn gặp không ít khó khăn, đó là vấn đề dịch bệnh.Hiện nay người, chăn nuôi thường gặp một số khó khăn trở ngại như gia súc mắc phải một số bệnh truyền nhiễm gây tổn thất khá lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Do kỹ thuật không đảm bảo,

vệ sinh chuồng trại không phù hợp, không tiêm phòng vacxin hoặc có tiêm phòng nhưng không đúng quy trình kỹ thuật, tập quán chăn nuôi lạc hậu cũng làm cho chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế thấp

Vì vậy để phát triển đàn lợn trong mỗi trại, mỗi gia đình một cách nhanh chóng, bền vững và có chất lượng tốt thì bên cạnh việc cải tạo, chọn lọc giống việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn là rất quan trọng Khả năng sinh sản của đàn lợn ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính gây ra đó là các bệnh sinh sản ở lợn nái như: viêm tử cung, viêm

âm đạo, đẻ khó… Các bệnh này có thể làm giảm hoặc mất khả năng sinh sản

Trang 8

ở lợn nái Do đó để có kết quả cụ thể đánh giá tình hình nhiễm bệnh sau sinh của đàn lợn nái, đồng thời đƣa ra phác đồ điều trị có kết quả cao

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất tôi tiến hành nội dung đề

tài:“Theo dõi khả năng sinh sản và một số bệnh thường gặp trên lợn nái nuôi con tại trại chăn nuôi Thảo, Non Tranh – Tân Thành – Phú Bình – Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề tài

- Xác định đặc điểm sinh lý của đàn lợn nái

- Đánh giá đƣợc khả năng sinh sản của lợn nái

- Xác định đƣợc một số bệnh sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại và đƣa ra đƣợc phác đồ điều trị có hiệu quả cao

1.2.2 Mục tiêu đạt được khi kết thúc đề tài

- Nắm đƣợc và thực hiện tốt quy trình chăn nuôi lợn nái và lợn con theo mẹ

- Đánh giá đƣợc khả năng sinh sản của lợn nái cần theo dõi

Trang 9

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

* Giới thiệu về trại chăn nuôi Thảo xóm Non Chanh , xã Tân Thành ,

huyệ n Phú Bình, t ỉnh Thái Nguyên

- Trại lợn có khoảng 1,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái và 1800 lợn thịt bao gồm: 6chuồng đẻ mỗi chuồng

có 58 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 590 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc… Bên lợn thịt gồm 3 chuồng,mỗi chuồng có 2 dãy mỗi dãy chuồng có 7 ô, kích thước chuồng 49m × 15m, mỗi ô kích thước 7m

x 7m, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, kho thuốc…

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có4quạt thông gió đối với các chuồng đẻ và 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Trang 10

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng bầu

2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc

và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

Cơ cấu cán bộ của trại được tổ chức như sau:

- 01 chủ trại

- 01 quản lý trại

- 03 quản lý kỹ thuật

- 01 kế toán

- 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

- 32 công nhân và 3 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp,tổ chuồng thịt Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1.Cấu tạo bộ phận sinh dục của lợn nái

Cấu tạo bộ phận sinh dục của lợn nái gồm bộ phận sinh dục bên ngoài

và bộ phận sinh dục bên trong

2.2.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài

* Âm môn (vulva)

Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi, trên hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết

mồ hôi

* Âm vật (clitoris)

Âm vật con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ

Trang 11

âm vật, ở giữa âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung các đầu mút các dây thần kinh

* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)

Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước là âm đạo Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại tạo thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật

2.2.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong

* Âm đạo (vagina): Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ quan sinh dục

đực trong quá trình giao phối, đồng thời là đường cho thai ra ngoài trong quá trình đẻ, phía trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh Âm đạo

được cấu tạo bởi ba lớp:

Lớp liên kết: bên ngoài

Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, các lớp cơ âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung

Lớp niêm mạc: trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ trong tử cung Âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm

* Tử cung (uterus)

Tử cung có cấu tạo phù hợp với chức năng phát triển và dinh dưỡng bào thai Trứng được thụ tinh ở ống dẫn trứng rồi trở về tử cung làm tổ, ở đây hợp tử phát triển nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc

tử cung cung cấp Tử cung còn có nhiệm vụ đẩy thai ra ngoài trong quá trình sinh đẻ nhờ vào các lớp cơ Tử cung được cấu tạo bởi 3 lớp:

Ngoài cùng là tổ chức liên kết (Perimetrium)

Lớp cơ trơn (Myometrium): giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy thai ra

ngoài Nó là lớp cơ trơn khỏe nhất trong cơ thể Bên trong các cơ trơn có

Trang 12

những sợi liên kết đàn hồi và tĩnh mạch lớn Các lớp cơ đan vào nhau làm cho

tử cung chắc và có tính đàn hồi cao

Lớp niêm mạc tử cung (Endometrium): màu hồng, được phủ lên bằng

những tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung Xen kẽ giữa các tế bào biểu

mô là các tuyến tiết chất nhầy Chất nhày được gạt về cổ tử cung khi các lông rung động

Tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên là âm đạo, phía dưới là bàng

quang Tử cung của lợn thuộc loại tử cung hai sừng (Uteus Bicorus) Tử cung

được chia làm ba phần: cổ, thân và hai sừng Sừng tử cung một đầu thông với thân tử cung một đầu thông với ống dẫn trứng Sừng tử cung của lợn ngoằn ngoèo như ruột non dài 0,5 - 1 m Ở lợn thai làm tổ đều hai sừng tử cung Thân tử cung lợn ngắn, độ dài khoảng 3 - 5 cm nối giữa sừng tử cung và cổ tử cung Niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn lợn theo chiều dọc Cổ tử cung thông với âm đạo, cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ

tử cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lược với nhau do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai.Cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm

* Ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng (vòi fallop) nằm ở màng treo buồng trứng Khi có tinh

trùng vào đường sinh dục của gia súc cái, tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau của ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng được chia thành hai đoạn:

Đoạn ống dẫn trứng phía buồng trứng: phần đầu trên thông với xoang bụng ở gần buồng trứng, được phát triển to tạo thành một cái phễu để hứng tế bào trứng gọi là loa kèn Loa kèn có nhiều tua, nhung mao rung động để hứng

tế bào trứng Quá trình thụ tinh xảy ra khi tinh trùng và tế bào trứng gặp nhau

ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng

Trang 13

Đoạn ống dẫn trứng phía sừng tử cung: gắn với mút sừng tử cung Đoạn này phía ngoài là lớp liên kết sợi, được kéo dài từ màng treo buồng trứng Ở giữa là hai lớp cơ, cơ vòng phía trong cơ dọc phía ngoài Trong cùng là lớp niêm mạc làm nhiệm

vụ tiết niêm dịch Phía trên lớp niêm mạc có lớp nhung mao luôn rung động để đẩy tế bào trứng hay hợp tử xuống tử cung làm tổ

Cấu tạo ống dẫn trứng gồm có phễu, phần rộng và phần eo

Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần

eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành rộng hơn phần rộng và ít nếp nhăn hơn

Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng trứng, duy trì sự sống và gia tăng khả năng sống của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung

* Buồng trứng(Ovarium)

Buồng trứng lợn dài 1,5 - 2,5 cm, khối lượng khoảng 3 – 5 gam

Cấu tạo: phía ngoài được bao bọc bởi một lớp màng bằng tổ chức liên kết sợi, bên trong buồng trứng chia làm hai miền Miền vỏ và miền tủy đều được cấu tạo bằng tổ chức liên kết sợi xốp và tạo cho buồng trứng một lớp

đệm (Stromaovaris) Ở vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình

trứng chín và rụng trứng Trên buồng trứng của một lợn cái 10 ngày tuổi đã

có khoảng 60.000 trứng non Theo thời gian, buồng trứng này phát triển qua các giai đoạn khác nhau Tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng

Trang 14

Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là noãn bào, noãn bào lúc đầu có hình dẹt sau có hình trụ Noãn bào thứ cấp do noãn bào tăng sinh và hình thành xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá trình sinh trưởng đã hình thành Noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng, đến một giai đoạn nhất định sẽ vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào vào loa kèn rồi đi vào ống trứng, nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng

Thể vàng tiết ra progesteron, khối lượng thể vàng và hàm lượng

progesteron tăng nhanh từ ngày thứ 8 và tương đối ổn định cho đến ngày thứ

15, sự thoái hóa thể vàng bắt đầu từ ngày thứ 17 - 18 và sẽ chuyển thành thể bạch nếu trứng không được thụ tinh

2.2.2 Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái

Khi đó, con cái có noãn bào chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày)

Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,…

Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 –

55 kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7

Trang 15

tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 – 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi

Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg

Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố sinh dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục, là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và

cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng Mặt khác, do béo quá ảnh hưởng tới các hormone oestrogen và progesterone trong máu, làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức

+ Ngoài các nhân tố trên, chu kỳ động dục còn chịu tác động của một số nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromone, tiếng kêu của con đực

* Sự thành thục về thể vóc

- Thành thục về thể vóc: Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới mức độ trưởng thành về thể vóc Có nghĩa

Trang 16

là cơ thể tương đối hoàn chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận như não đã phát triển khá hoàn thiện, xương đã cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định… Nói một cách khác, khi gia súc đã thành thục về tính thì sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể vẫn còn tiếp tục đến độ trưởng thành Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên sử dụng gia súc vào mục đích sinh sản quá sớm vì:

- Đối với gia súc cái nếu phối giống sớm khi cơ thể chưa trưởng thành

về thể vóc sẽ ảnh hưởng xấu như: Trong thời gian chửa có sự phân tán dinh dưỡng, ưu tiên cho phát triển bào thai, do vậy, nhu cầu dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển cho bào thai cũng bị ảnh hưởng Kết quả: mẹ yếu, con nhỏ và yếu, tuổi sử dụng con mẹ cũng giảm xuống Hơn nữa, do xoang chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ, hẹp, làm cho con vật đẻ khó (Hoàng

Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [7]

Thời gian thành thục về thể vóc của lợn là 7 - 9 tháng

* Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ)

Là khoảng thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn hậu bị có biểu hiện động dục đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau tùy theo giống và chế độ chăm sóc TĐDLĐ được tính theo công thức:

TĐDLĐ = ngày động dục lần đầu - ngày sinh của lợn nái

TheoPhùng Thị Vân và cs (2001) [10] cho biết, chỉ tiêu này ở lợn Landrace là 219,4 ± 4,09 ngày

* Tuổi phối giống lần đầu (TPGLĐ)

Tuổi phối giống lần đầu của lợn cái hậu bị là một vấn đề cần được quan tâm Phải phối giống cho lợn cái hậu bị đúng thời điểm lợn đã thành thục về tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu, sẽ nâng cao được khả năng sinh sản của lợn nái và nâng cao được phẩm chất của đời sau Nếu phối giống quá sớm

sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn mẹ Nhưng thực tế đã chứng

Trang 17

minh rằng, nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến

sinh sản, phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó

* Chu kỳ động dục (ngày)

Động dục là một quá trình sinh lý, được bắt đầu khi cơ thể đã thành thục về tính, cứ sau một thời gian nhất định trong cơ thể nhất là cơ quan sinh dục của con cái có một số sự thay đổi như: âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, trứng phát triển thành thục chín và rụng, niêm dịch trong đường sinh dục được phân tiết, con cái có phản

xạ về tính…sự thay đổi đó xảy ra trong một thời gian lặp đi lặp lại có tính chu

kỳ gọi là chu kỳ tính (chu kỳ động dục)

Sinh sản của gia súc là một tiêu chuẩn để xác định giá trị của con vật Khả năng sinh sản biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ nuôi sống sau đẻ, sau khi cai sữa, tỷ lệ còi cọc, tỷ lệ dị hình, khuyết tật Khả năng sinh sản cũng liên quan đến các chỉ tiêu sớm thành thục, thời gian mang thai, số lần thụ tinh đạt kết quả Sau khi gia súc được sinh ra đến một giai đoạn nào đó cơ thể có những biến đổi chuẩn bị cho việc sinh sản, thời kỳ này gọi là thành thục

về tính Trong điều kiện bình thường, sự thành thục về tính xuất hiện lúc 6 - 7 tháng tuổi đối với lợn ngoa ̣i Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, giống, tuổi gia súc

Chu kỳ tính dục: Ở gia súc, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thời gian chịu đực, trùng hợp với thời gian rụng trứng, vì vậy việc nghiên cứu chu

kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái Trung bình ở lợn chu kỳ động đực: 19 – 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 – 72 giờ, thời điểm rụng trứng

là 35 – 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quá muộn, đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ

Trang 18

Cơ chế động dục: TheoTrần Văn Phùng và cs (2004) [6], cơ chế động dục của lợn nái: Khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, pheromone của con đực và các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH, làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục,thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài

Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [7]: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước chịu đực: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng củaoestrogen Thay đổi của đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết

+ Giai đoạn chịu đực: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều estrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: Hưng phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực

Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhày, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng

+ Giai đoạn sau chịu đực: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển, các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên, và dần trở lại trạng thái bình thường

Trang 19

+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi, con vật trở lại trạng thái bình thường, biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo

*Thời gian mang thai (ngày)

Là thời gian lợn nái từ khi thụ tinh (phối giống đạt) đến khi đẻ

* Tuổi đẻ lứa đầu (TĐLĐ)

Là tuổi lợn nái sinh con lứa đầu tiên TĐLĐ được xác định là khoảng thời gian từ ngày sinh lợn nái đến ngày lợn nái sinh con lứa đầu tiên

TĐLĐ = ngày lợn nái đẻ lứa đầu - ngày sinh của lợn nái

2.3 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái nuôi con

2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn nái

* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý

- Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung

- Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó, gây viêm tử cung do xây xát

- Ngược lại thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm tử cung

- Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A sẽ gây sừng niêm mạc, sót nhau

* Chăm sóc quản lý vệ sinh

Chăm sóc quản lý vệ sinh là khâu quan trọng.Vệ sinh chuồng trại, tắm rửa giữ sạch sẽ thân thể lợn nái, thụt rửa tử cung khi sinh, sử dụng nước sạch làm giảm tỷ lệ viêm tử cung

Trang 20

* Tiểu khí hậu chuồng nuôi

Thời tiết khí hậu quá nóng hay quá lạnh trong thời gian đẻ dễ đưa đến viêm tử cung

* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe

Viêm tử cung dạng mủ lứa đẻ thứ 1và 2 chiếm 8,33% Trên 4 lứa 58,33%.Lợn nái già sức khỏe kém, kế phát một số bệnh nên sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ đưa đến viêm tử cung

* Kích dục tố

Oxytocin có tác dụng kích thích co bóp tử cung tống sản dịch, nhau ra khỏi đường sinh dục làm giảm tỷ lệ viêm tử cung

* Nhiễm trùng sau khi sinh

- Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là sự kém nhu động của ruột và nhất là táo bón

- Xâm nhập có thể hướng từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu

- Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu cũng

là nguyên nhân gây nhiễm

Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật cơ hội thường xuyên có mặt trong chuồng nuôi Lợi dụng lúc sinh sản tử cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập đường sinh dục gây viêm tử cung

Phân lập hệ vi trùng chủ yếu từ dịch viêm tử cung tại phòng xét nghiệm gồm có :

- Staphylococus

- E.coli

- Klebsiella

Trang 21

- Staphylococus + E.coli

Sự lan tràn của bệnh trong đàn lợn thường do nhiễm trùng tại cơ quan sinh dục trong khi lợn sinh và có thể do lợn đực truyền sang trong lúc phối,

khi lợn đực bị nhiễm Streptococus, E.coli…(Đặng Thanh Tùng, 2006) [9]

2.3.2 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái

 Viêm tử cung (Endometritis, Metritis)

* Nguyên nhân:

- Trong quá trình sinh đẻ, đặc biệt các trường hợp đẻ khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ, làm xây xát niêm mạc đường sinh dục cái

- Kế phát từ một số bệnh: Sát nhau, viêm âm đạo

- Công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ không đảm bảo

* Triệu chứng: Lợn sốt 40 - 410C, lợn mẹ không cho con bú, dịch chảy

ra ở âm hộ có màu trắng, màu đen nhạt, mùi hôi thối (Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong, 2000) [5]

Trang 22

* Nguyên nhân:

- Do lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con chưa bú hết, sữa lưu lại là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhiễm Nhiễm khuẩn cũng có thể do chấn thương bầu vú, chuồng bẩn, lợn con mọc răng nanh day vú

- Ngoài ra nếu bị viêm tử cung (âm đạo) cũng bị viêm vú kế phát

* Triệu chứng:

Bầu vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, vắt những vú sưng thấy sữa vón cục; lợn nái sốt cao, bỏ ăn, nằm sấp, không cho con bú Có khi bầu vú bị thâm đen, nóng (Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong, 2000) [5]

- Do mất cân bằng điều tiết hormone của cơ thể mẹ sau khi đẻ

- Do chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn chứa độc tố và do một số bệnh truyền nhiễm khác

Trang 23

* Điều trị:

- Oxytocine 20 - 40UI/nái, ngày một lần

- Tăng cường thức ăn giàu đạm

- Nếu mất sữa do viêm vú, viêm tử cung thì dùng phác đồ điều trị bệnh viêm vú, viêm tử cung

* Hiện tượng đẻ khó

* Nguyên nhân:

Do chuồng chật; thiếu vận động; xương chậu lợn mẹ hẹp; lợn mẹ quá béo; khẩu phần ăn thiếu Ca, P; nái già yếu; lượng oxytoxin tiết ra quá ít khi đẻ; hoặc do thai to, thai ngược, thai chết

* Triệu chứng:

Lợn nái rặn đẻ nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối có lẫn máu màu hồng nhạt Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi đưa tay vào kiểm tra thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to

* Điều trị:

- Trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép, nếu đẻ khó do rặn

đẻ quá yếu cần tiêm oxytocine 20 – 40 UI/nái, có thể tiêm vào tĩnh mạch là tốt nhất Trường hợp đẻ khó do rặn đẻ quá yếu tiêm oxytocine không có kết quả hoặc các cơn rặn vẫn diễn ra bình thường mà thai không ra được cần can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật để lấy thai ra

- Sau khi can thiệp xong cần thụt rửa âm đạo bằng nước muối pha loãng, sau đó chống viêm tử cung, âm đạo bằng kháng sinh:

+ Streptomycin bột/lọ: 15 – 20 mg/1kgP

+ Penicillin bột: dùng 20.000 UI/1kgP

+ Vitamin B1: 20ml

+ Vitamin C: 20 ml

Trang 24

Liệu trình: Tiêm 2 lần/ngày, 3-5 ngày liên tục

2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái,

nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con

TheoĐặng Thanh Tùng (2006) [9] thì nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý, chăm sóc quản lý vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe,kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung

Các báo Khuyến Nông cũng có nhiều nghiên cứu về tình hình mắc các bệnh sinh sản của lợn như:

Bệnh bại liệt sau khi đẻ nguyên nhân là do chăm sóc nuôi dưỡng không đúng quy trình kỹ thuật Trong thức ăn thiếu lượng canxi, phospho Chuồng trại thiếu ánh sáng, nhất là ánh sáng buổi sáng, lợn không được tắm nắng nên

cơ thể thiếu vitamin D, khả năng hấp thụ canxi kém, xương xốp mềm

Nguyên nhân hội chứng MMA là một phức hợp bệnh do nhiều loại vi

khuẩn gây ra như: E.coli, Pseudomonas, Proteus, Staphylococcus,

Streptococcus Đây là những vi khuẩn cơ hội, có sẵn trong môi trường, khi

chuồng trại dơ bẩn sẽ tạo điều kiện gây bệnh Thai lớn, chèn ép làm giảm nhu động ruột gây táo bón và gây ứ đọng nước tiểu trong bàng quang, cổ tử cung

mở làm mầm bệnh dễ tấn công Cung cấp thức ăn không cân đối và không đủ nước uống, cho nái ăn nhiều chất đạm và khoáng nhưng ít chất xơ trong giai đoạn cuối thai kỳ hoặc nái quá mập cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh MMA

Và cũng đưa ra những lý do mắc bệnh sản ở nái là do 2 nguyên nhân:

+ Điều kiện nuôi dưỡng : do khẩu phần thức ăn không cân đối (quá thiếu hoă ̣c quá thừa ), không đáp ứng theo nhu cầu phát triển của gia súc

Trang 25

theotừ ng giai đoa ̣n, đă ̣c biê ̣t là trong giai đoa ̣n hâ ̣u bi ̣ làm ảnh hưởng đến viê ̣c hoàn thiện chức năng sinh lý sinh sản của lợn nái

+ Do sự di truyền từ cha mẹ

2.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Bệnh sinh sản gặp ở lợn nái không chỉ là mối quan tâm riêng của nước

ta mà cũng có rất nhiều nghiên cứu mới về tình hình bệnh sinh sản ở nước ngoài như:

Theo Bidwell C và Williamson S (2005) [12] đã có những nghiên cứu

về tình hình mắc bệnh sinh sản của lợn nái sinh sản do virus, vi khuẩn gây

ra Các ông cũng đưa ra các biện pháp nhằm phát hiện và giảm khả năng mắc bệnh PPRS trên lợn nái sinh sản:

Để điều tra nguyên nhân gây nhiễm trùng của bệnh sinh sản cần có hồ

sơ điều trị bệnh

Triệu chứng lâm sàng, trật tự xuất hiện các triệu chứng

Kết hợp của các xét nghiệm chẩn đoán thích hợp là cần thiết Gửi tất cả các mẫu lấy từ lợn con bị hủy bỏ và chết non và nhau thai đến phòng thí nghiệm hoặc gửi ít nhất một lít huyết thanh từ các con tiêu huỷ

Các phân tích từ phòng thí nghiệm là rất cần thiết để có biện pháp hạn chế sự bùng phát của dịch

Trong nhiều trường hợp, tay nghề và kinh nghiệm của người quản lý kỹ thuật là rất cần thiết Boqvist S (1999) [13] đã tiến hành một cuộc khảo sát huyết thanh học được thực hiện giữa các con lợn nái ở đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam Việt Nam năm 1999 để điều tra các biến thể

củaSeroprevalence leptospiral trong thời gian một năm Trong khu vực này, bệnh trùng xoắn là loài đặc hữu và một Seroprevalence leptospiral đã được

phát hiện trong đàn lợn ở đây Trong nghiên cứu này, các huyết thanh của sáu

Serovars leptospira được phân tích bằng các thử nghiệm vi ngưng kết cho

429 con lợn nái tại năm trang trại quy mô lớn của nhà nước được lấy mẫu

Trang 26

trong khoảng thời gian khô, thời gian mưa và khô giai đoạn đầu Các serovars

có được L.interrogans serovar (sv), autumnalis chủng Akiyama A,

L.interrogans sv Bratislava chủng Jez, L.interrogans sv icterohaemorrhagiae

chủng Kantorowicz, L.interrogans sv Pomona chủng Pomona, vàL.borgpetersenii sv tarassovi chủng Perepelitsin Các biến thể trong

Seroprevalence trong một năm đã được tìm thấy cho Bratislava sv và icterohaemorrhagiae sv: các Seroprevalence cao trong thời gian khô so với

thời kỳ mưa (p = 0,07 và p = 0,005, tương ứng) và thời kỳ đầu khô (p = 0,00006 và p = 0,0006 tương ứng) Đó là kết luận rằng trong khu vực, nơi có nguồn nước phong phú và động vật được chăn thả tự do có những biến thể rất

quan trọng trong Seroprevalence leptospiral

TheoAndrew Gresham (2003) [11] điều tra tình hình mắc bệnh sinh sản tại Vương Quốc Anh thì bệnh sinh sản ở lợn có một căn nguyên không nhiễm trùng và thường liên quan đến yếu tố managemental , dinh dưỡng hay môi trường Tuy nhiên, bệnh enzootic và bệnh di ̣ch sinh sản truyền nhiễm kéo dài

có thể gây ra thiệt hại đáng kể.Bệnh truyền nhiễm sinh sản của lợn ở Anh thường là do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, vi rút và đôi khi nấm và động vật nguyên sinh cư trú trong đàn gia súc Thỉnh thoảng, bệnh sinh sản xảy ra do nhiễm các mầm bệnh như hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp, parvovirus

lợn và leptospires (đặc biệt là Leptospira interrogans serovar Bratislava)

Trang 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 3.1 Đối tượng

-Lợn nái đang sinh sản

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm : Trại chăn nuôi Thảo,Non Tranh, Tân Thành, Phú Bình,

Thái Nguyên

- Thời gian: từ ngày18/5/2016 đến ngày 18/11/2016

3.3 Nội dung tiến hành

- Theo dõi khả năng sinh sản ở đàn lợn nái

- Theo dõitình hình nhiễm một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái

- Điều trị bằng phác đồ và hiệu quả điều trị

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.4.1.Phương pháp theo dõi

3.4.1.1 Phương pháp điều tra khả năng sản xuất của lợn nái

- Trực tiếp theo dõi tình hình sinh sản của lợn nái tại địa bàn thực tập

- Trực tiếp theo dõi tình hình lợn nái mắc bệnh sản khoa tại địa bàn thực tập

- Thống kê đàn lợn sau khi sinh bằng cách lập sổ nhật ký theo dõi

- Xác định lợn nhiễm bệnh: kiểm tra lâm sàng

- Xác định khối lượng của lợn con bằng phương pháp cân trực tiếp từng con bằng cân đồng hồ với độ chính xác ± 5 g ở các giai đoạn sơ sinh và 21 ngày tuổi

- Xác định khối lượng động dục lần đầu và khối lượng phối giống lần đầu bằng cách cân trực tiếp từng con trước khi cho ăn vào buổi sáng bằng cân điện tử

Trang 28

3.4.1.2 Quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản

Trong quá trình thực tập tại trại, tôi đã tham gia chăm sóc nái chửa, nái đẻ, tham gia đỡ đẻ, chăm sóc cho đàn lợn con theo mẹ đến cai sữa Tôi trực tiếp vệ sinh, chăm sóc, theo dõi đàn lợn thí nghiệm Quy trình chăm sóc nái chửa, nái

đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa như sau:

+ Đối với nái chửa:

Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng bầu Hàng ngày vào kiểm tra lợn, vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân, lấy thức ăn cho lợn

ăn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm, cuối giờ chiều phải chuyển phân ra kho phân Lợn nái chửa được ăn loại cám 566, 567 với khẩu phần ăn phân theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau:

Đối với nái chửa, từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn 566, khẩu phần 1,8

- 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày Nái hậu bị cho ăn 1,8 kg/ngày

Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn 566 với tiêu chuẩn 2,5-3kg/con /ngày, cho ăn 1 lần trong ngày

Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn thức ăn 567, khẩu phần 3 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày

+ Đối với nái đẻ:

Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 12 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được tắm sạch sẽ, ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với khẩu phần ăn 3 - 4 kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng, chiều

Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, giảm cám để phân trong trực tràng không quá lớn, tạo điều kiện cho lợn nái đẻ dễ, tránh được lợn con

bị chết ngạt do ở trong tử cung quá lâu Mỗi ngày giảm 0,5 kg cám/ bữa đến

Trang 29

ngày đẻ dự kiến còn khẩu phần ăn là 1 kg/con/ngày Nếu nái nào quá gầy thì khẩu phần ăn là 1,5 kg TĂ/con/ngày

Khi lợn nái đẻ đƣợc 2 ngày tăng dần lƣợng thức ăn từ 0,5-5 kg/con/ngày chia làm 4 bữa sáng, trƣa, chiều, tối Đối với nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con có thể cho ăn tăng lƣợng thức ăn lên 6 kg/con/ngày

+ Đối với đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa nhƣ sau:

Sau khi đẻ (nếu sáng đẻ thì chiều tiến hành, nếu tối đẻ thì tiến hành vào sáng hôm sau) tiến hành bấm nanh hoặc mài nanh, cắt rốn

Lợn con 2 - 3 ngày tuổi bấm số tai, cắt đuôi và tiêm sắt cho lợn, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con

Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng

Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực

Lợn con đƣợc từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng cám hỗn hợp hoàn chỉnh 550 Lợn con đƣợc 13 - 14 ngày tuổi tiêm phòng suyễn

Lợn con đƣợc 16 - 18 ngày tuổi tiêm phòng dịch tả

Lợn con đƣợc 18 - 22 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn

Lợn con ở đây đƣợc cai sữa sớm (18 - 22 ngày tuổi) và đƣợc cho tập ăn

từ rất sớm (4 - 6 ngày tuổi) nhằm nâng cao khối lƣợng lợn con cai sữa, giảm hao mòn lợn mẹ, tăng sức đề kháng cho lợn con Cách tập cho lợn con ăn sớm nhƣ sau: đầu tiên cho một ít thức ăn vào trong máng ăn đặt vào ô chuồng để lợn con làm quen dần với thức ăn Sau khi lợn con đã quen và ăn đƣợc, từ từ tăng lƣợng thức ăn lên

3.4.1.3 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái

- Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ): là khoảng thời gian từ khi sinh đến ngày lợn cái bắt đầu động dục lần đầu tiên

- Tuổi phối giống lần đầu (TPGLĐ): là khoảng thời gian từ ngày sinh lợn cái đến khi lợn cái đƣợc phối giồng lần đầu tiên

Ngày đăng: 30/11/2017, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm