Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình lớn. Hơn một năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, đón nhận cơn gió hội nhập mới, nhiều cơ hội song cũng đây thử thách, nền kinh tế Việt Nam đã từng bước trưởng thành và vững vàng hơn trong một môi trường mới. Sự phát triển, mở rộng theo chiều hướng đa dạng hoá, đa phương hoá của nền kinh tế thị trường đã đặt ra cho các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tại Việt Nam một bài toán lớn. Sự hình thành và lớn mạnh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong một môi trường kinh doanh tạo nên nhiều kênh thông tin khác nhau. Nhu cầu sử dụng thông tin tài chính ngày càng nhiều và đa dạng do đó đặt ra yêu cầu cung cấp những thông tin chính xác và kịp thời ngày càng tăng. Trong xu thế phát triển tất yếu đó, dịch vụ kiểm toán là có uy tín nhất trong việc thẩm định thông tin tài chính của các doanh nghiệp. Những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp coi báo cáo kiểm toán là ý kiến cuối cùng trong việc thẩm định, xác minh tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính. Dịch vụ kiểm toán đã phát triển từ rất lâu trên thế giới, song tại Việt Nam mới bắt đầu hình thành từ năm 1991. Ra đời muộn nhưng đã nhanh chóng có một chỗ đứng quan trọng, góp phần đắc lực trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước về mọi mặt. Công ty TNHH Deloitte Việt Nam là một trong những công ty có lịch sử lâu đời nhất tại Việt Nam. Hơn 15 năm hình thành và phát triển, Deloitte Việt Nam luôn thể hiện là một trong những công ty hàng đầu trong các dịch vụ kiểm toán, tư vấn và giải pháp doanh nghiệp, tư vấn thuế, đào tạo và quản lý nguồn nhân lực. Xuất phát từ yêu cầu đặt ra với ngành kiểm toán, từ những kiến thức đã học, và tham khảo qua các tài liệu chuyên ngành cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy giáo - TS Nguyễn Mạnh Dũng, em chọn đề tài “Tìm hiểu về đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC”, bởi việc đánh giá đúng đắn rủi ro kiểm toán có vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sở để xây dựng các bước công việc kế tiếp và ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của toàn cuộc kiểm toán. Bài viết của em bao gồm 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về rủi ro kiểm toán và đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chương 2: Thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính tại công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam. Chương 3: Nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán tại công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình lớn Hơn mộtnăm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, đón nhận cơn gió hộinhập mới, nhiều cơ hội song cũng đây thử thách, nền kinh tế Việt Nam đãtừng bước trưởng thành và vững vàng hơn trong một môi trường mới Sựphát triển, mở rộng theo chiều hướng đa dạng hoá, đa phương hoá của nềnkinh tế thị trường đã đặt ra cho các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tếtại Việt Nam một bài toán lớn
Sự hình thành và lớn mạnh của các doanh nghiệp trong và ngoài nướctrong một môi trường kinh doanh tạo nên nhiều kênh thông tin khác nhau.Nhu cầu sử dụng thông tin tài chính ngày càng nhiều và đa dạng do đó đặt
ra yêu cầu cung cấp những thông tin chính xác và kịp thời ngày càng tăng.Trong xu thế phát triển tất yếu đó, dịch vụ kiểm toán là có uy tín nhất trongviệc thẩm định thông tin tài chính của các doanh nghiệp Những ngườiquan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp coi báo cáo kiểm toán là
ý kiến cuối cùng trong việc thẩm định, xác minh tính trung thực, hợp lý củabáo cáo tài chính
Dịch vụ kiểm toán đã phát triển từ rất lâu trên thế giới, song tại ViệtNam mới bắt đầu hình thành từ năm 1991 Ra đời muộn nhưng đã nhanhchóng có một chỗ đứng quan trọng, góp phần đắc lực trong việc thúc đẩyphát triển nền kinh tế đất nước về mọi mặt Công ty TNHH Deloitte ViệtNam là một trong những công ty có lịch sử lâu đời nhất tại Việt Nam Hơn
15 năm hình thành và phát triển, Deloitte Việt Nam luôn thể hiện là mộttrong những công ty hàng đầu trong các dịch vụ kiểm toán, tư vấn và giảipháp doanh nghiệp, tư vấn thuế, đào tạo và quản lý nguồn nhân lực Xuấtphát từ yêu cầu đặt ra với ngành kiểm toán, từ những kiến thức đã học, vàtham khảo qua các tài liệu chuyên ngành cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫntận tình của thầy giáo - TS Nguyễn Mạnh Dũng, em chọn đề tài “Tìm hiểu
Trang 2về đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC”, bởi việc đánh giáđúng đắn rủi ro kiểm toán có vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sở để xâydựng các bước công việc kế tiếp và ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của toàncuộc kiểm toán
Bài viết của em bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về rủi ro kiểm toán và đánh giá rủi ro kiểm
toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
Chương 2: Thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính
tại công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam
Chương 3: Nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá rủi
ro kiểm toán tại công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI
RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
1.1 Bản chất rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.1 Khái niệm về rủi ro
Theo định nghĩa chung nhất, rủi ro là khái niệm chỉ khả năng mà một
sự kiện không may nào đó sẽ xuất hiện Từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bảnSài Gòn, xuất bản năm 2005 giải thích:’’ Rủi ro là điều không lành, khôngtốt bất ngờ xảy đến’’ Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm2003:’’ Rủi ro là hậu quả gây thiệt hại ít hay nhiều có thể dự kiến được củamột hành vi mà việc thực hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các bênđương sự Người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gâycho người kia’’
Những định nghĩa trên đây là các quan điểm khác nhau Tuy nhiênnghiên cứu các quan điểm nay cho thấy giữa chúng có một mối quan hệlogic với nhau Các định nghĩa trên đây đều đề cập đến sự không chắcchắn, mà chúng ta coi là bất ngờ trong tương lai Bên cạnh đó, các địnhnghĩa đều nói đến hậu quả do một hay nhiều nguyên nhân gây ra Chúng ta
có thể hiểu rủi ro ứng với một sự sai khác giữa thực tế và dự kiến và sẽđem lại bất lợi cho các đối tượng phải gánh chịu Rủi ro thường mang tínhchất bất ngờ và nằm ngoài dự kiến, nên dù không mong muốn, con ngườivẫn phải đối mặt với nó trong mọi hoạt động và mọi lĩnh vực Với mỗi lĩnhvực sẽ có những loại rủi ro khác nhau Trên lĩnh vực kinh tế, rủi ro thườnggặp là rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là rủi ro gắn với các loại tài sản các dòng thu nhập
và chi phí Đó là khả năng việc được nắm giữ được tài sản và được hưởngcác nguồn thu nhập dự kiến không xảy ra trong thực tế hoặc khả năng phải
Trang 4ghánh chịu chi phí thực tế cao hơn so với dự kiến vì lý do nào đó Ví dụ đốivới một doanh nghiệp, rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt là khả năngmất doanh thu, lạm phát gây tăng chi phí, giảm lợi nhuận, mất khả năngthanh toán… Trên thực tế, mọi lĩnh vực kinh tế đều có những rủi ro đặctrưng, và kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Theo Nguyên tắc kiểm toán quốc tế IAG 25- ‘ Trọng yếu vàv rủi rokiểm toán’ trong mục 9 Liên đoàn Kiểm toán Quốc Tế soạn thảo , địnhnghĩa rủi ro kiểm toán như sau: “ Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà kiểmtoán viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về cácthông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng”
Ở Việt Nam, kiểm toán ra đời tương đối muộn Tuy nhiên, nhữngchuẩn mực về kiểm toán được ban hành kịp thời phục vụ cho quá trình pháttriển của kiểm toán Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 “ Đánh giá rủi
ro và kiểm soát nội bộ” tại Mục 7- Những quy định chung đã giải thíchkiểm toán như sau : Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công tykiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đãđược kiểm toán còn những sai sót trọng yếu”
Mức rủi ro kiểm toán thường được xác định trong khoảng từ 0 tới 1.Với mức rủi ro kiểm toán bằng 1 tức là mức rủi ro cao nhất, khi đó cácthông tin trên báo cáo tài chính hoàn toàn là không đáng tin cậy Với mứcrủi ro kiểm toán bằng 0 thì đó là mức lý tưởng, thông tin trên báo cáo tàichính đã được kiểm toán hoàn toàn không có sai sót trọng yếu Khi mức rủi
ro kiểm toán bằng 0, thì người sử dụng báo cáo tài chính có thể hoàn toàntin tưởng tuyệt đối vào tính trung thực và hợp lý của các thông tin đã đượckiểm toán Tuy nhiên, điều này hầu như không xảy ra trong thực tế vì bất
cứ cuộc kiểm toán nào cũng chứa đựng và tồn tại rủi ro rủi ro do giới hạn
về quản lý, về kiểm toán mà trực tiếp nhất là chi phí kiểm toán Trong mốiquan hệ này, rủi ro kiểm toán và chi phí kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ
Trang 5nghịch với nhau Rủi ro luôn có nguy cơ xảy ra dù các kiểm toán viên vàcông ty kiểmtoán đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc kiểm toán
1.1.2 Các yếu tố cấu thành nên rủi ro kiểm toán
Do đối tượng kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiềugiai đoạn bằng các bộ mày kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũngđược xác định tương ứng với đối tượng kiểm toán từng loại: Rủi ro tiềmtàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
1.1.2.1 Rủi ro tiềm tàng ( Inherent Risk) – IR
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 “ Đánh giá rủi ro kiểmtoán và kiểm soát nội bộ” thì rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có dokhả năng từng hoạt động từng khoản mục trong BCTC chứa đựng nhữngsai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không cóHTKSNB
Mức độ rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinhdoanhcủa khách thể kiểm toán, loại hình kinh doanh, phụ thuộc vào quytổng thể, cơ cấu tổ chức doanh nghiệp và cả năng lực nhân viên của kháchthể kiểm toán Kiểm toán viên không thể tạo ra cũng không thể kiểm soátrủi ro tiềm tàng
1.1.2.2 Rủi ro kiểm soát (Control Risk) – CR
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 “Đánh giá rủi ro và kiểmsoát nội bộ” định nghĩa : Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếutrong từng hoạt động, từng khoản mục trong BCTC khi tính riêng rẽ hoặctính gộp mà hệ thống kế toán và KTKSNB không ngăn ngừa hết hoặckhông phát hiện và sửa chữa kịp thời
Rủi ro kiểm soát cho biết KTV biết có thể sử dụng kết quả củaHTKSNB hay không và ảnh hưởng tới việc KTV đưa ra các quyết định vềviệc sử dụng các thử nghiệm cần thiết Do vậy, rủi ro kiểm soát ảnh hướngtới việc lập kế hoạch, xây dựng trình tự, phương pháp kiểm toán cũng nhưnội dung, thời gian, phạm vi của các thử nghiệm kiểm toán
Trang 6Rủi ro kiểm soát tồn tại ro những hạn chế cố hữu của HTKSNB.Mức độ rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào hệ thông kế toán của doanh nghiệp,vấn đề về nhân sự và tính thích hợp của các thủ tục, trình tự kiểm soát củaHTKSNB.
1.1.2.3 Rủi ro phát hiện ( Detection Risk) – DR
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 “ Đánh giá rủi ro vàkiểm soát nội bộ” xác định : “ Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọngyếu trong từng hoạt động, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tínhriêng rẽ hoặc tính gộp trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công tykiểm toán không phát hiện được”
Rủi ro phát hiện chi phối số lượng bằng chứng kiểm toán cần thuthập, liên quan trực tiếp tới việc xác định phạm vi kiểm toán cũng nhưphương pháp kiểm toán được áp dụng Rủi ro tiềm tàng sẽ giảm nếu cáckiểm toán viên tăng các thử nghiệm chi tiết trên số dư hoặc nghiệm vụ, mởrộng phạm vi điều tra, hoặc tăng cường kích cỡ mẫu thực hiện Nếu rủi rophát hiện được yêu cầu xác định càng thấp có nghĩa rằng “khả năng màkiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được những sai sót vàBCTC còn tồn tại sai sót trọng yếu” được yêu cầu càng thấp do đó số lượngbằng chứng cần thu thập càng nhiều và ngược lại
1.1.3 Mô hình rủi ro kiểm toán- Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Quan hệ giữa các loại rủi ro trên có thể được phản ánh qua mô hìnhrủi ro sau đây:
AR= IR× CR× DR
Với mô hình này kiểm toán viên có thể sử dụng để điều chính rủi rophát hiện dựa trên các loại rủi ro khác được đánh giá nhằm đạt được mứcrủi ro kiểm toán ở mức thấp nhất như mong muốn Từ mô hình trên ta cóthể suy ra:
DR = AR/ (IR×CR)
Trang 7Mặc dù mô hình này có tính chất giản đơn nhưng có ý nghĩa rất lớncho kiểm toán viên trong việc lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán sao chohợp lý và đủ để đảm bảo duy trì rủi ro phát hiện ở mức thấp nhất Tuynhiên, khi sử dụng mô hình này, kiểm toán viên cần chú ý một số điểm sau: Kiểm toán viên không thể giả sử rằng rủi ro tiềm tàng là bằng 0 đểkhông cần đến các bước thu thập bằng chứng kiểm toán:
AR= IR× CR× DR ( =1 )
Kiểm toán viên có thể lựa chọn dựa hoàn toàn vào các bằng chứngthu được từ các thử nghiệm cơ bả, kể cả nếu kiểm toán viên cho rằng rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát ở mức cực đại Chẳng hạn mô hình dưới đây
Trang 8Theo CMKT Hoa Kỳ SAS 47, “ KTV nên xem xét rủi ro kiểm toán
và vấn đề trọng yếu trong khi lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế các thủ tụckiểm toán cũng như khi đưa ra các kết luận kiểm toán”
Theo CMKT quốc tế IAS số 320 về tính trọng yếu trong kiểm toán,mức độ trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ ngược chiều nhau.Điều này có nghĩa rằng nếu mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toáncàng thấp và ngược lại KTV phải quan tâm tới mối quan hệ này từ khi từkhi xác định bản chất , thời gian phạm vi của các thủ tục kiểm toán cầnthực hiện
Mặt khác, trong thực tiễn, rủi ro kiểm toán thường xảy ra do giớihạn về quản lý, về kiểm toán mà trực tiếp nhất là chi phí kiẻm toán Trongmối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và tính trọng yếu của bằng chứng kiểmtoán thì rủi ro kiểm toán và chi phí kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ nghịchvới nhau KTV cần phải đánh giá tính trọng yếu của các khoản mục, nghiệp
vụ nhằm mục đích tập trung sự quan tâm tới việc đánh giá các khoản mục,nghiệp vụ này khi tiến hành kiểm toán
Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và chi phí kiểm toán được thể hiện qua
sơ đồ sau:
1.2 Tầm quan trọng của việc tiếp cận rủi ro trong kiểm toán tài chính
Theo CMKT Việt Nam VSA 240, 300 và CMKT Quốc tế ISA 320,
400, Văn bản chỉ đạo quốc tế IAG 25, 29 thì việc tiếp cận rủi ro trong kiểmtoán có vai trò vô cùng quan trọng vì:
Việc tiếp cận và đánh giá rủi ro là công việc đầu tiên, xuyên suốt vàmang tính bắt buộc với mọi cuộc kiểm toán
Phương thức dựa vào rủi ro sẽ là một công cụ đắc lực và hiệu quả nhát đểthu thập bằng chứng kiểm toántrong phần lớn các tình huống
Việc khảo sát chi tiết sẽ được tập chung vào những khu vực có khả năngsai sót nhiều nhất
Trang 9Do đó thông qua việc đánh giá rủi ro KTV và công ty kiểm toán cóthể xác định đúng hướng kiểm toán, tránh được những thủ tục kiểm toánkhông cần thiết đồng thời tiết kiệm được chi phí khi lập kế hoạch kiểmtoán.
1.3 Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.3.1 Khái niệm, vai trò của việc đánh giá rủi ro kiểm toán
1.3.1.1 Khái niệm về ‘’ Đánh giá rủi ro kiểm toán”
Đánh giá rủi ro kiểm toán là một quá trình xét đoán thử nghiệm điềuchỉnh để xác định đo mức rủi ro có thể chấp nhận được cho toàn bộ cuộckiểm toán Đây là một trong những cơ sở để lập kế hoạch kiểm toán, thựchiện các thử nghiệm kiểm toán và đánh giá chất lượng của cuộc kiểm toán.Trên cơ sở mức trọng yếu được xác định cho toàn bộ BCTC và phân bổcho từng khoản mục, KTV cần đánh giá khẳ năng sai sót trọng yếu ở mức
độ toàn bộ BCTC cũng như đối với từng khoản mục để phục vụ cho việcthiết kế các các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình cho từngkhoản mục Công việc này gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán
Theo CMKT Việt Nam số 400- Đánh giá rủi ro và KSNB thì “Đánh giá rủi ro kiểm toán là việc KTV và công ty kiểm toán xác định mức
độ rủi ro kiểm toán có thể xảy ra là cao hay thấp, bao gồm đánh giá rủi rotiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Rủi ro kiểm toán được xácđịnh trước khi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán
1.3.1.2 Vai trò của việc đánh giá rủi ro kiểm toán
Đánh giá rủi ro kiểm toán có vai trò rất quan trọng trong việc thựchiện kiểm toán Như chúng ta đã biết, bất kì công ty kiểm toán nào cũngphải đối mặt với rủi ro kiểm toán và những điều kiện bị giới hạn không chophép kiểm toán chi tiết toàn bộ BCTC mà phải tiến hành kiểm toán trên cơ
sở mẫu chọn Rủi ro kiểm toán liên quan tới rủi ro kinh doanh, ảnh hưởngtới uy tín của công ty trong việc tìm kiếm và giữ quan hệ với khách hàngcủa công ty kiểm toán Đánh giá rủi ro kiểm toán là cơ sở để đưa ra các
Trang 10quyết định cần thiết trước khi tiến hành thực hiện kiểm toán nhằm tiết kiệmchi phí mà vẫn đảm bảo đưa ra các ý kiến xác đáng về BCTC được kiểmtoán.
1.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán
1.3.2.1 Xác định rủi ro kiểm toán mong muốn
Khi xác định rủi ro kiểm toán có 2 phương pháp để xác định : thứnhất, KTV có thể tiến hành xây dựng kế hoạch kiểm toán và đánh giá rủi rotiềm tàng, rủi ro kiểm soát dựa vào công thức : AR = IR*CR*DR Nếu mứcrủi ro kiểm toán được xác định ở mức phù hợp thì kế hoạch kiểm toán đượcđược chấp nhận Tuy nhiên trên thực tế, để kế hoạch kiểm toán có tính hiêuquả hơn KTV sẽ thiết lập một mức rủi ro mong muốn trước, sau đó dựatrên nhưng đánh gái về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, để đưa ra mức rủi
ro phát hiện dựa trên công thức : DR = AR /( IR* CR) Từ đó KTV lập kếhoạch thu thấp bằng chứng thích hợp để đạt mức rủi ro phát hiện đã xácđịnh
Sơ đồ 01: Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán
Bước 1: Thiết lập mức rủi ro mong muốn
Rủi ro kiểm toán mong muốn là rủi ro xác định một cách chủ quan
mà KTV sẵn sàng cho rằng BCTC không được trình bày một cách trungthực sau khi kết thúc quá trình kiểm toán và đi đén một kết luận chấp nhậnhoàn toàn Khi KTV quyết định một mức tỷ lệ rủi ro kiểm toán mong muốn
Trang 11thấp hơn, điều đó có nghĩa KTV muốn được chắc chắn hơn các BCTCkhông bị sai phạm trọng yếu.
Mức rủi ro kiểm toán mong muốn có thể được xác định là thấp, cao,hay trung bình Mức độ rủi ro này được xác định chủ yếu dựa vào nhữngkinh nghiệm và trình độ nghề nghiệp của KTV và thường do những kiểmtoán viên giỏi thực hiện Mức rủi ro kiểm toán mong muốn phụ thuộc vào 2yếu tố cơ bản: Mức độ quan tâm những người sử dụng bên ngoài tới BCTC
và khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính khi báo cáo kiểmtoán được công bố
Khi số lượng những người quan tâm và mức độ tin tưởng của họvào BCTC càng cao thì mức độ ảnh hưởng trên phạm vi xã hội càng lớn.Trong trường hợp này, tính chính xác và trung thực của các thông tin trênBCTC là trở nên quan trọng hơn Nếu xảy ra sai sót trọng yếu trên BCTCthì mức độ ảnh hưởng tới nhiều người sử dụng Do đó KTV cần xác địnhmột mức rủi ro kiểm toán để tăng số lượng bằng chứng kiểm toán cần thuthập và tăng độ chính xác trong các kết luận kiểm toán
Đối với khách hàng có khả năng gặp khó khăn về tài chính khi báocáo kiểm toán được công bố : Nếu khả năng này càng cao thì KTV phảithiết lập một múc rủi ro mong muốn thấp hơn so với khả năng khách hàng
ít gặp những khó khăn về tài chính do ảnh hưởng của kết luận kiểm toán, từ
đó số lượng bằng chứng cần thu thập và chi phí kiểm toán sẽ tăng lên Việcxác định xem khách hàng liệu có khả năng gặp khó khăn về tài chính haykhông là một công việc khá khó khăn đối với KTV vì nó mang tính chất dưbáo nhiều hơn Tuy nhiên, KTV có thể dựa vào một số yếu tố để phán đoán
sự kiện này như khả năng thanh toán kém, mở rộng quy mô vốn bằng hìnhthức vay nợ, tính chất rủi ro đặc thù của ngành nghề…
1.3.2.2 Đánh giá rủi ro tiềm tàng ( Inherent Risk ) –IR
Rủi ro tiềm tàng là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới việc lập kếhoạch.Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng là cái nhìn sơ lược nhưng tổng quát về
Trang 12khách thể kiểm toán Mức độ rủi ro tiềm tàng thu được là cơ sở để KTVthiết kế các khảo nghiệm ban đầu, xác định yêu cầu và biện pháp chungnhất để xác định rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện CMKT Việt Nam về “Đánh giá rủi ro và Kiểm soát nộ bộ” quy định: “ khi lập kế hoạch kiểmtoán, KTV và công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro tiềm tàng cho toàn bộBCTC của đơn vị được kiểm toán”.Ngoài ra việc đánh giá rủi ro tiềm tàngcòn được thực hiện đánh giá trên từng khoản chi, thu và số dư tài khoản.
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV có thể dựa vào nhiều nguồn thôngtin khác nhau Chẳng hạn như: KTV có thể dựa vào kết quả của cuộc kiểmtoán năm trước Ví dụ, nếu năm trước kết quả kiểm toán cho thấy rằngkhông phát hiện bất cứ sai phạm trọng yếu nào thì KTV nên đánh giá rủi rotiềm tàng sẽ lớn và phải chú trọng nhiều Hoặc nếu như qua thu thập thôngtin, tìm hiểu về ngành nghềkinh doanh của khách thể kiểm toán, về chínhsách kinh tế, tài chính kế toán của đơn vị được kiểm toán, KTv có thể hiểuđược bản chất kinh doanh của đơn vị, hiểu được tính chất phức tạp củanghiệp vụ và từ đó có thể đưa ra dự đoán của mình về rủi ro tiềm tàng.KTV cũng cần thu thập thông tin về năng lực, kinh nghiệm và tính liêmchính của BGĐ; những thay đổi trong trong HĐQT, thay đổi về nhân sự;các áp lực đối với BGĐ KTV có thể thu thập thông tin thông qua lập bảngcâu hỏi và tìm hiểu thông tin trả lời cho các câu hỏi sau đó tổng hợp và đưa
ra đánh giá đối với rủi ro tiềm tàng trên toàn bộ BCTC
1.3.2.3 Đánh giá rủi ro kiểm soát (Control Risk )- CR
Khi đánh giá về rủi ro kiểm soát trên toàn bộ BCTC, KTV sẽ dùng cáckĩ thuật kiểm toán thích hợp nnhư phỏng vấn, quan sát, kiểm tra tài liệu dểthu thập thông tin về HTKSNB HTKSNB bao gồm 4 yếu tố cơ bản : Môitrường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát và KSNB.HTKSNB có mối quan hệ chặt chẽ với rủi ro kiểm soát Nếu HTKSNBđược thiết kế vận hành một cách có hiệu quả để ngăn ngừa những sai sót
Trang 13trọng yếu có thể xảy ra thì rủi ro kiểm soát càng thấp Tuy nhiên, HTKSNBluôn tồn tại những hạn chế tiềm tàng do đặc tính cố hữu của nó:
Thứ nhất: Chi phí cho HTKS nội bộ không được lớn hơn lợi ích mà nómang lại trong tương lai
Thứ hai : Các thủ tục kiểm soát thường được thiết kế để kiểm soát cácnghiệp vụ thường xuyên Do đó, thủ tục kiểm soát thường giảm hiệu quảđối với các nghiệp vụ bất thuwòng xảy ra hoặc đối với những thay đổitrong môi trường kinh doanh
Thứ ba: KTKSNB của doanh nghiệp sẽ không phát hiện ra nhưng saisót trọng yếu khi có sự thông đồng, gian lận của các thành viên lãnh đạo Thứ tư : HTKSNB của doanh nghiệp thường được thiết kế dựa vàotình hình kinh doanh, cơ chế quản lý hiện tại của doanh nghiệp Mặc dùcũng có tính đến những thay đổi trong tương lai nhưng điều này thườngkhó để lường trước được hết những thay đổi trong môi trường kinh doanhtrong tương lai Do đó khi cơ chế quản lý thay đổi thì HTKSNB thì cũng bịảnh hưởng đáng kể trong việc kiểm soát những sai sót trọng yếu
Việc đánh giá HTKSNB được thực hiện qua một trình tự nhất định
và có thể khái quát theo 4 bước:
Bước 1: Thu thập thông tin về HTKSNB
Ở bước này, KTV tìm hiểu HTKSNB của đơn vị trên hai mặt chủyếu : thiết kế kiểm soát nội bộ bao gồm thiêt kế về quy chế kiểm soát vàthiết kế về bộ máy kiểm soát; hoạt động liên tục và có hiệu lực của kiểmsoát nội bộ Tìm hiểu HTKSNB của đơn vị dược thực hiện qua giai đoạnlập kế hoạch kiểm toán, trong đó KTV phải tìm hiểu về thiết kế và vậnhành của của HTKSNB của khách hàng theo từng yếu tố cấu thành để đánhgiá xem có các BCTC có thể kiểm toán được hay không KTV cũng phảithu thập thông tin về tính trung thực của ban quản trị nhằm mục đích : ● Đánh giá những sai phạm tiềm tàng,
Trang 14● Quyết định múc đánh giá thích hợp của rủi ro kiểm soát ảnh hưởng tớirủi ro phát hiện từ đó ảnh hưởng tới số lượng bằng chứng kiểm toán cần thuthập
● Để có kế hoạch thiết kế các cuộc khảo sát thích hợp
KTV có thể thu thập hiểu biết về HTKSNB theo 2 cách tiếp cận:theo chu trình nghiệp vụ và theo khoản mục KTV có thể dựa vào kinhnghiệm trước đây đói với khách hàng, kiểm tra thủ tục và chế độ kế toán sổsách và chứng từ, quan sát các mặt hoạt động của khách hàng, xem xét sổtay về khách hàng… Khi mô tả về HTKSNB của khách hàng KTV có thể
sử dụng phương pháp lập bảng câu hỏi hoặc là vẽ lưu đồ
Bước 2 : Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho cáckhoản mục trên báo cáo tài chính
Theo IAS 400, đánh giá rủi ro và KSNB “ Sauk hi tìm hiểu được hệthống kế toán và kiểm toán nội bộ, KTV phải thực hiện đánh giá ban đầu
về rủi ro kiểm soát theo các cơ sở dẫn liệu cho số dư của mỗi tài khoảntrọng yếu”
Theo CMKT Việt Nam số 400 quy định “ Đánh giá ban đầu về rủi rokiểm soát là việc đánh giá hiệu quả của HTKSNB của đơn vị trong việcngăn ngừa hoặc phát hiện và sửa chữa cacsai sót trọng yếu Dựa trên sựhiểu biết về hệ thống kế toán và HTKSNB, KTV và công ty kiểm toán phảiđánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dữ liệu cho từng số dưtài khoản hoặc các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu”
Sau khi thu thập thông tin và có hiểu biết về cách thiết kế vận hànhcủa HTKSNB, KTV sẽ đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát cho từng mụctiêu kiểm soát chi tiết Công việc này được tiến hành riêng rẽ cho từng loạinghiệp vụ kinh tế chủ yếu trong từng chu trình nghiệp vụ chủ yếu
Bước 3: Thực hiện thử nghiệm kiểm soát
Trang 15Việc thực hiện thử nghiệm này nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán
về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của HTKSNB, từ đó có thểđánh giá rủi ro kiểm soát thấp hơn mức ban đầu nhằm giảm bớt các thửnghiệm cơ bản trên số dư tài khoản và nghiệp vụ Thử nghiệm kiểm soátđược thực hiện bởi các phương pháp khác nhau tùy thuộc vào từng trườnghợp cụ thể, nếu thủ tục để lại các “dấu vết” trực tiếp trên tài liệu như chữ
ký phê duyệt, hóa đơn lưu lại thì phương pháp kiểm tra tài liệu hoặc thựchiện lại các thử nghiệm kiểm soát được áp dụng…KTV thực hiện lại cácthử nghiệm kiểm soát nếu các “ dấu vết” để lại là gián tiếp như kiểm trabảng đối chiếu tiền gửi ngân hàng, xem xét bảng kê ngân quỹ KTV tiếnhành quan sát các hoạt động liên quan tới kiểm soát nội bộ hoặc phỏng vấnnhân viên của đơn vị về các thủ tục kiểm soát đối với các thủ tục kiểm soátkhông đẻ lại dấu vết trong các tài liệu
Bước 4 : Lập bảng đánh giá kiểm soát nội bộ
KTV tiến hành tổng hợp các kết quả khảo sát về HTKSNB bằng cáchlập bảng đánh giá theo những thông tin và tiêu chuẩn đánh giá nhất định.Sau đó, KTV kết luận về mức độ rủi ro kiểm soát Trong trường hợp khôngthu thập được các bằng chứng đánh giá sự hữu hiệu của HTKSNB như dựkiến, KTV thiết kế lại các thử nghiệm cơ bản trên số dư tài khoản vànghiệp vụ Trường hợp kết quả thử nghiệm cho thấy các thủ tục kiểm soátthực hiện hữu hiệu như đánh giá ban đàu của KTV, KTV giữ nguyên đánhgiá ban đầu về rủi ro kiểm soát Bảng đánh giá thường bao gồn các thôngtin sau:
● Các mục tiêu kiểm soát nội bộ đối với từng khoản mục haynghiệp vụ
● Các thông tin mô tả thực trạng kiểm soát nội bộ do KTV thu thập ● Bản chất và tính hệ trọng của các rủi ro tương ứng
● Nguyên tắc thiết kế và vận hành các thủ tục kiểm soát
● Đánh giá về kiểm soát nội bộ đối với từng chu trình và nghiệp vụ
Trang 161.3.3.4 Dự kiến rủi ro phát hiện (Detection Risk ) –DR
Sau khi đánh giá rủi ro kiểm soát trên toàn bộ BCTC, KTV tiến hànhđánh giá về rủi ro phát hiện trên toàn bộ BCTC CMKT Việt Nam số 400quy định : “ KTV phải dựa vào đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
để giảm rủi ro kiểm toán thấp nhất đến mức có thể chấp nhận được” Mức
độ rủi ro phát hiện có thể liên quan trực tiếp đến thử nghiệm cơ bản củaKTV Ngay khi KTV kiểm tra chi tiết toàn bộ nghiệp vụ và các số dư tàikhoản thì cũng khó có thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro phát hiện Đánh giá củaKTV về các loại rủi ro có thể thay đổi trong quá trình kiểm toán Ba loại rủi
ro này thay đổi trong quá trình kiểm toán Ba loại rủi ro này thay đổi đốivới từng khoản mục trên BCTC nên sau khi đánh giá chúng trên toàn bộBCTC thì cần phải đánh giá trên từng khoản mục trên BCTC
Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện khoản mục: Dựa vàokinh nghiệm, sự xét đoán chuyên môn của mình cũng như các thông tin thuthập được về khách hàng, hồ sơ kiểm toán năm trước để đánh giá rủi rotiềm tàng trên phương diện số dư tài khoản và các loại nghiệp vụ KTVxem xét tới một số vấn đề chính: Bản chất của số dư tài khoản, số dư đầunăm của tài khoản, các sai sót có thể xảy ra đối với từng nhóm tài khoản;Kết quả kiểm toán lần trước tới từng tài khoản; mức biến động số dư tàikhoản; so với năm trước; Kết quả kiểm toán lần trước với từng tài khoản;Mức biến đọng số dư tài khoản so với năm trước; Các yếu tố rủi ro đượcxác định trong quá trình KTV tìm hiểu khách hàng…
Về đánh giá rủi ro kiểm soát trên phương diện khoản mục; KTV vớinhững thông tin thu thập được qua tìm hiểu HTKSNB, hiểu được hoạt đọngkiểm soát đối với từng khoản mục và đưa ra mức đánh giá cao, trung bìnhhoặc là thấp cho các khoản mục
Sau khi xác định được rủi ro kiểm toán mong muốn, rủi ro kiểm soáttrên từng khoản mục, KTV có thể đưa mức rủi ro phát hiện để xác định nên
Trang 17thử nghiệm cơ bản Nếu đánh giá rủi ro phát hiện thấp thì KTV tiến hànhcác thử nghiệm cơ bản Nếu đánh giá rủi ro phát hiện ở mức độ trung bìnhthì có thể giảm bớt các thử nghiệm cơ bảm và tăng thêm các thử nghiệmkiểm soát Nếu rủi ro phát hiện ở mức độ cao thì chủ yếu tiến hành các thửnghiệm kiểm soát và giảm thiểu các thử nghiệm cơ bản.
Trang 18CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN
DELOITTE VIET NAM
2.1 Khái quát chung về công ty Deloitte Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty kiểm toán Việt Nam (gọi tắt là VACO) được Bộ trưởng BộTài chính ký quyết định 165TC/QĐ/TCCB thành lập vào ngày 13 tháng 5năm 1991 và chuyển sang công ty TNHH một thành viên theo quyết định
số 1927/QĐ-BTC ngày 30 tháng 6 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính .Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty Trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên số 0104000112 ngày 19 tháng 01 năm 2004 do Sở Kế hoạch vàĐầu tư thành phố Hà Nội cấp VACO, hiện nay là Deloitte Việt Nam, đãhoàn thành việc chuyển đổi sở hữu và trở thành thành viên của DeloitteSoutheast Asia kể từ tháng 5 năm 2007 Theo giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh số 0102030181 ngày 18/10/2007 công ty Kiểm toán Việt Nam
từ ngày 1/11/2007 đã chuyển đổi thành công ty TNHH Deloitte Việt Nam.Tên gọi đầy đủ: Công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Tên Tiếng Anh: Deloitte Vietnam Company Limited
Tên viết tắt : Deloitte Viet Nam
Trụ sở chính : Số 8 Phạm Ngọc Thạch - Đống Đa – Hà NộiNhằm tiếp thu và đón nhận những kĩ thuật kiểm toán tiên tiến của thếgiới, ngay từ khi mới thành lập, Deloitte Việt Nam đã tăng cường hợp tácvới tất cả các hãng kiểm toán hàng đầu thế giới như Deloitte ToucheTohmatsu (DTT), Price Waterhouse Coopers (PWC), KPMG, Ernst &Young (E&Y), Arthur Andersen (A&A) Việc hợp tác kinh doanh củaDeloitte Việt Nam với các hãng kiểm toán quốc tế này không chỉ trongphạm vi các hợp đồng kiểm toán làm chung mà còn tập trung trong lĩnh