1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người mã lai đa đảo và môn khmer ở trường sơn tây nguyên tt

25 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 286 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học của đề tài: Khảo sát so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người dưới góc độ thể loại, type vàmotif sẽ tạo một cái nhìn khái quát để từ đó có thể nêu lên được những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- — —

– -PHAN XUÂN VIỆN

NGHIÊN CỨU SO SÁNH TRUYỆN DÂN GIAN CỦA HAI NHÓM TỘC NGƯỜI MÃ LAI ĐA ĐẢO VÀ MÔN KHMER Ở

TRƯỜNG SƠN-TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 62.22.34.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2017

Trang 2

Luận án được hoàn thành tại:

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh

Người hường dẫn khoa học:

PGS Chu Xuân Diên

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Khoa học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh

- Thư viện Khoa học Xã hội TP Hồ Chí Minh

- Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG.HCM

Trang 3

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 “Sử thi tộc người Stiêng ‘Krông Kơ Laas đoạt hồn nàng Rơ Liêng Mas’”, (viết chung với

Phùng Thị Thanh Lài), Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 1 năm 2010, tr.3-25.

2 “Tìm hiểu truyện cổ tộc người Stiêng ở Bình Phước”, in trong Thông báo văn hoá 2010, Viện

nghiên cứu Văn hóa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011, tr.129-156.

3 “Mô típ đá thiêng / hóa đá và tín ngưỡng thờ đá trong truyện kể dân gian Nam Đảo”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Số X2 năm 2011,

tr.10-21.

4 “So sánh tín ngưỡng hồn lúa trong đời sống văn hoá cổ truyền của hai nhóm tộc người Nam

Đảo và Môn Khơ Me ở Trường Sơn-Tây Nguyên”, Tạp chí Khoa học xã hội vùng Nam bộ, số 8

năm 2013, tr.76-90

5 “Type truyện thanh gươm thần và tục thờ gươm qua truyền thuyết của các dân tộc Trường

Sơn-Tây Nguyên”, Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 1 năm 2015, tr.44-58.

6 “Lửa, sắt, nghề rèn và thanh gươm: những biểu tượng của quyền năng và sự thay đổi”, Tạp chí

Nghiên cứu văn học, Số 4 năm 2015, tr.112-116.

7 Về loại truyện cổ tích lũy tích ở các dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên, trong sách Bình luận văn học niên giám 2015 (chuyên san của Tạp chí Đại học Sài Gòn), xuất bản năm

10 Tìm hiểu truyện cổ Chăm Nam Bộ, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Những vấn đề Văn học

và Ngôn ngữ Nam Bộ”, Tập 1, Nxb Đai học Quốc gia TPHCM, 2016, tr 242-253

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do và mục đích của đề tài:

Vùng văn hóa Trường Sơn-Tây Nguyên (TS-TN) là vùng văn hóa khép kín, ít giao lưunên còn bảo lưu văn hóa truyền thống với tính bản địa Đông Nam Á (ĐNÁ) cổ đại-tiềnĐông Dương trước khi tiếp xúc với hai nền văn minh Trung Quốc và Ấn Độ / nền văn hóa

“phi Ấn, phi Hoa” Về quan hệ lịch sử-cội nguồn, trong vùng có 20 tộc người thuộc hainhóm ngữ hệ Mã lai Đa đảo (MĐ) gồm 5 tộc người và Môn Khmer (MK) gồm 15 tộcngười cư trú lâu đời và có quan hệ giao lưu-ảnh hưởng qua lại từ hàng nghìn năm nay.Truyện dân gian là một bộ phận cấu thành nền văn hóa dân gian của các dân tộc trongvùng Những giá trị văn hóa tinh thần kết tinh trong đó-nhóm MĐ với 632 truyện và nhóm

MK với 1,108 truyện là di sản phi vật thể to lớn của vùng TS-TN Từ trước đến nay, chưa

có công trình nào đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộcngười này Nhiệm vụ của luận án là nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trongtruyện dân gian của hai nhóm tộc người, cố gắng nêu rõ nguyên nhân của chúng

2 Ý nghĩa khoa học của đề tài:

Khảo sát so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người dưới góc độ thể loại, type vàmotif sẽ tạo một cái nhìn khái quát để từ đó có thể nêu lên được những sắc thái riêng củatruyện dân gian của từng nhóm tộc người nói chung và của từng tộc người nói riêng

3 Lịch sử vấn đề

3.1 Về lý thuyết so sánh

Trên tạp chí Văn học số 5.1982, Đỗ Nam Liên có bài viết về một phương pháp so sánh

truyện dân gian Vài nét về phương pháp so sánh loại hình lịch sử trong khoa nghiên cứu folklore ở Liên Xô Năm 1983, tại Liên Xô, luận án tiến sĩ về phương pháp nghiên cứu so

sánh loại hình lịch sử của Lê Chí Quế đã làm sáng tỏ những nguyên tắc, bình diện những lýluận cơ bản về nghiên cứu loại hình học so sánh lịch sử của cổ tích học Xô Viết dưới ánhsáng của phương pháp hệ thống

3.2 Về so sánh truyện dân gian trong nước

Năm 1982, Nguyễn Thị Huế công bố bài nghiên cứu so sánh truyện thần thoại của haitộc người Việt và Mường trong cùng nhóm Việt-Mường trên tạp chí Văn học (số 2.1982)

có nhan đề Về những nét tương đồng giữa truyện Họ Hồng Bàng (người Việt) và truyện Đẻ Đất Đẻ Nước (người Mường) Trong công trình tập thể So sánh Folklore (2012), Lê Hồng Phong có bài viết Motif cổ tích Mạ và K’Ho so với cổ tích người Việt, trích từ luận án tiến

sĩ Đặc điểm truyện cổ Mạ-K’Ho Lâm Đồng (bảo vệ năm 2003).

3.3 Về so sánh truyện dân gian các dân tộc Việt Nam và thế giới

Năm 1996, có luận án tiến sĩ so sánh truyện dân gian hai dân tộc Việt và Lào của Lại

Phi Hùng So sánh một số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và Việt Nam tại Trường

ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN Năm 2008, tại Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN, có luận

án tiến sĩ So sánh kiểu truyện Cô Lọ Lem của một số dân tộc miền Nam Trung Quốc và kiểu truyện Tấm Cám của Việt Nam của nghiên cứu sinh Trung Quốc Đường Tiểu Thi.Trên

tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3.2009, Toàn Huệ Khanh (Jeon Hye Kyung) người Hàn

Trang 5

Quốc có bài viết Nghiên cứu so sánh truyện Kông Chuy Pát Chuy của Hàn Quốc và truyện

Tấm Cám của Việt Nam Năm 2010, bài viết Truyện cổ Tây Nguyên trong tương quan

truyện cổ Đông Nam Á của Lê Hồng Phong có phân tích so sánh một số thể loại, kiểu

truyện, tác phẩm hay motif tương đồng giữa truyện cổ Tây Nguyên và truyện cổ ĐNÁ

Năm 2012, trong công trình tập thể So sánh Folklore của Chi hội văn nghệ dân gian tỉnh Lâm Đồng, Lưu Thị Hồng Việt có bài nghiên cứu trên phương diện nghệ thuật về So sánh truyện cổ tích Việt-Hàn.

3.4 Về so sánh type truyện và motif truyện

Năm 2000, tại Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN, có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị

Nguyệt Khảo sát và so sánh một số tip và môtip truyện cổ dân gian Việt Nam-Nhật Bản Năm 2001, trong công trình Đọc truyện dân gian bằng Type và Motif, Nxb KHXH, Nguyễn Tấn Đắc qua bài viết Từ truyện Quả Bầu Lào đến Huyền thoại Lụt Đông Nam Á đã khảo

sát các dị bản thuộc type truyện này ở các quốc gia ĐNÁ và cả ở hai khu vực Trung

Đông-Hy Lạp và Châu Mỹ Ở cuối bài viết có bảng so sánh huyền thoại lụt giữa ba vùng này.Xung quanh type truyện Tấm Cám, Nguyễn Tấn Đắc có loạt bài nghiên cứu so sánh type

và motif để tìm hiểu sự giao lưu tương tác văn hóa giữa các dân tộc trong khu vực ĐNÁ

4 Nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi đề tài

Nhiệm vụ: khảo sát các tư liệu lịch sử, văn hóa về vùng đất và các tộc người bản địa

MĐ và MK ở TS-TN; sưu tầm điền dã, sưu tập, phân loại, thống kê; phân tích, so sánh cácthể loại, type và motif truyện tiêu biểu; lý giải những điểm tương đồng và khác biệt chung

và riêng giữa hai nguồn truyện dân gian; đề xuất những hướng tiếp cận thiết thực và những

đề tài chưa khai thác góp phần tìm hiểu những giá trị cơ bản của truyện dân gian MĐ và

MK Đối tượng: xác định các thuật ngữ thể loại, type truyện và motif truyện, từ đó nêu ra

ba đối tượng khảo sát nghiên cứu so sánh gồm toàn bộ các văn bản truyện dân gian sưu

tầm và sưu tập được của hai nhóm tộc người Phạm vi khảo sát của luận án được giới hạn

về tiêu chí không gian là vùng văn hóa TN mở rộng và về tiêu chí thời gian là từ thờinguyên thủy đến cuối thế kỷ 20; công việc so sánh được tiến hành trên cơ sở có sự lựachọn, qua các bảng thống kê phân loại, năm thể loại truyện dân gian và một số type truyện

và motif truyện tiêu biểu

1 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp sưu tầm điền dã

5.2 Phương pháp thống kê

5.3 Phương pháp so sánh

5.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đóng góp mới: là công trình đầu tiên có ý nghĩa đóng góp về đề tài này

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án được triển khai trong bachương và bốn phần phụ lục:

Chương 1: Lý thuyết so sánh truyện dân gian và tổng quan truyện dân gian hainhóm tộc người MĐ và MK

Trang 6

Chương 2: So sánh thể loại

Chương 3: So sánh type truyện và motif truyện tiêu biểu

Phụ lục:

Phụ lục 1: Tóm tắt cốt truyện truyện dân gian các tộc người MĐ (PL1)

Phụ lục 2: Tóm tắt cốt truyện truyện dân gian các tộc người MK (PL2)

Phụ lục 3: Các bảng thống kê, phân loại, so sánh truyện dân gian hai nhóm tộcngười MĐ và MK (PL3)

Chương 1

LÝ THUYẾT SO SÁNH TRUYỆN DÂN GIAN VÀ TỔNG QUAN TRUYỆN DÂN GIAN HAI NHÓM TỘC NGƯỜI MÃ LAI ĐA ĐẢO VÀ MÔN KHMER

1.1 Lý thuyết so sánh truyện dân gian

Những thành tựu nghiên cứu của các lĩnh vực như văn học so sánh, nhân học sosánh và folklore học so sánh, trải nghiệm bằng các lý thuyết Ấn-Âu (anh em Grimm), lịchsử-địa lý Phần Lan (Antti Aarne), tiến hóa đơn tuyến (E.B.Tylor), truyền bá luận (G.ElliotSmith), thi pháp lịch sử (A.N Veselovski), di chuyển cốt truyện hay giao lưu tiếp biến vănhóa (Theodor Benfey), sinh thái học văn hóa (Julian Steward), loại hình lịch sử(V.Zhirmunski) đã tạo một bước thuận lợi cơ bản về mặt tiền đề phương pháp luận chongười nghiên cứu so sánh truyện dân gian thuộc lĩnh vực folklore ngôn từ Nghiên cứu sosánh đã trở thành một hướng đi quan trọng và cần thiết trong nghiên cứu truyện dân gian

Từ hướng nghiên cứu so sánh, người nghiên cứu có thể giải quyết được nhiều vấn đề thiếtyếu mang tính quy luật và đặc thù của truyện dân gian Trên bình diện khái quát, folklorengôn từ vừa mang tính cộng đồng cao vừa có đặc thù quan trọng là sự lặp đi lặp lại của cácmotif và có nhiều dị bản Tính chất toàn nhân loại của văn học nói chung và folklore ngôn

từ nói riêng đã khiến cho các truyện dân gian trở thành những đối tượng nghiên cứu phùhợp của người nghiên cứu so sánh và phương pháp so sánh trở nên cần thiết trong việckhảo sát và đối chiếu các bản kể đa dạng và phong phú này Việc nghiên cứu có thể pháthiện ra những đặc thù của truyện dân gian trong bối cảnh quan hệ giao lưu ảnh hưởng giữacác vùng văn hóa đồng thời xác định những mối quan hệ văn hóa giữa vùng văn hóa đangnghiên cứu với các vùng văn hóa là trung tâm hoặc ngoại vi của nó Bên cạnh đó, việcnghiên cứu so sánh cũng có thể ứng dụng trong nghiên cứu truyện dân gian ở những vùngvăn hóa không có mối liên hệ giao lưu ảnh hưởng trực tiếp bằng cách xác định mối quan

hệ về loại hình giữa các đối tượng nghiên cứu Điều quan trọng trong khi triển khai nghiêncứu so sánh truyện dân gian là việc khảo sát được càng nhiều bản kể sẽ càng mang lại hiệuquả cao và kết quả nghiên cứu chính xác hơn Người nghiên cứu có thể dùng phương phápnày để xâu chuỗi, liên kết các nguồn truyện dân gian xuất phát từ nhiều vùng văn hóa địa

lý, nhiều dân tộc khác nhau lại với nhau trên một bình diện chung để lý giải những đặctrưng mang tính quy luật Những hiện tượng trùng lặp, tương đồng về motif và cốt truyện ởcác truyện dân gian có thể là hiện tượng nội sinh, cũng có thể là hiện tượng vay mượn, tiếp

Trang 7

biến mang tính quy luật Hướng nghiên cứu so sánh truyện dân gian có thể giúp xác địnhđược mối quan hệ giữa các đối tượng nghiên cứu Đó là mối quan hệ giao lưu ảnh hưởng,

đó cũng có thể là mối quan hệ loại hình Ngoài những phát triển từ nội tại của một nền vănhọc dân tộc thì những giao lưu về văn hóa và hiện tượng di chuyển cốt truyện trong đờisống folklore ngôn từ đã đóng góp cho di sản chung của văn học dân gian nguồn truyện kểphong phú và đa dạng

1.2 Tổng quan truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK

1.2.1 Về hai nhóm tộc người MĐ và MK ở TS-TN-đặc điểm lịch sử, xã hội, kinh tế, văn hóa

+ Giai đoạn trước-sau CN, các tộc người ở TS-TN không / chưa bị Hán hóa, Ấn hóa hay Nhà nước hóa Một số nét cơ bản: 1 Buôn làng là một cộng đồng sở hữu; 2 Tư

duy, tâm lí của con người bị chi phối sâu đậm bởi ý thức cộng đồng; 3 Đời sống cộngđồng vận hành dựa trên những nguyên tắc của luật tục; 4 Mối quan hệ nguồn gốc và lịch

sử khá chặt chẽ: hoặc MĐ ở đây vốn là MK sau đó bị MĐ hóa, hoặc là các tộc MK ở đây vốn gốc MĐ sau bị MK hóa; 5 Cùng chung nền văn hóa Nam Á với cơ tầng văn hóa ĐNÁ, qua so chiếu với nhiều giá trị văn hóa, nhiều phong tục tập quán ĐNÁ, theo quy luật hóa thạch ngoại biên (peripheral fossilization, fossilisation périphérique) nhiều giá trị văn hóa,

lịch sử phong tục quý và lâu đời đã bị mất đi ở các vùng thuộc về trung tâm văn hóa củadân tộc, lại được lưu giữ ở vùng ngoại biên là các dân tộc thiểu số

+ Ngoại trừ tộc người Chăm, xã hội cộng đồng các tộc người MĐ và MK ở TS-TN

thuộc loại hình xã hội chưa hình thành giai cấp / tiền giai cấp với những đặc điểm riêng biệt không thể lẩn với các loại hình xã hội-văn hóa khác: chỉ có văn hóa dân gian, chưa có

văn hóa bác học

+ Tính chất cộng đồng, tinh thần dân chủ cao là đặc điểm cơ bản của sự phân phối văn hóa trong loại hình văn hóa tiền giai cấp Tính chất này là sản phảm của xã hội, đồng thời chính nó tác động trở lại để củng cố và phát triển tính chất dân chủ, công bằng nguyên thủy của xã hội.

1.2.2 Kho tàng truyện dân gian hai nhóm tộc người (sưu tầm/tập từ 153 tài liệu)

* Các dân tộc TS-TN với vốn folklore cổ xưa đã tạo nên một ĐNÁ với dạng thu hẹp Truyện dân gian của họ vừa mang những nét riêng, nét đặc trưng của dân tộc vừa

mang những nét chung, luôn có những chủ đề riêng bên cạnh những chủ đề chung Nhữngtương đồng và khác biệt trong truyện dân gian ĐNÁ nói chung và các tộc người TS-TN nói

riêng bắt nguồn từ những hình thái sản xuất văn hóa tinh thần như nhau đến những thể chế

xã hội như nhau hoặc giống nhau, đến những công cụ sản xuất giống nhau, những quan niệm tôn giáo, đời sống nghi lễ, ngôn ngữ và tư duy,v.v…

** Các dân tộc MĐ như Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, Chu Ru đều là bà con thân thuộccủa người Chàm với yếu tố Chàm thể hiện rõ trong truyện cổ, đượm chất Ấn Độ… Tổ tiên

họ đã vượt biển vào đất liền và một bộ phận đã chiếm lấy vùng Tây Nguyên trở thành cư

Trang 8

dân bản địa Yếu tố biển trong truyện MĐ khá đậm đặc so với truyện MK Đa số truyện dân

gian MĐ xuất hiện vào giai đoạn cuối thuộc thời kỳ tiền nhà nước, tiền quốc gia được nhậnbiết ở các thể / tiểu loại như truyền thuyết, truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt,truyện cười, truyện ngụ ngôn và sử thỉ anh hùng Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai và Chăm Hơroi

*** Ở VN, cư dân Nam Á bản địa trên toàn cõi Đông Dương là những chủ nhân lâuđời của miền sơn nguyên Trung và Nam Trung bộ VN… Chịu ảnh hưởng của văn hóaViệt, Chăm, Khmer, Lào, truyện cổ MK vừa giữ được những sắc thái dân tộc địa phương,vừa hằn in dấu vết của các nét văn hóa vùng, bên cạnh hiện tượng vay mượn hẳn cốt truyện

của các tộc láng giềng Đã có quá trình tiếp biến văn hóa thật nhuần nhuyễn, bằng phương pháp so sánh lịch sử mới thấy được nhiều câu chuyện vay mượn được địa phương hóa Xã

hội MK trong truyện dân gian còn ở trình độ rất thấp, bị khép kín trong những vùng khắc

nghiệt về địa lý nên bị suy thoái rõ rệt: họ chưa qua ngưỡng cửa của xã hội nguyên thủy, còn ở thời kỳ dân chủ quân sự với những công xã láng giềng (những làng) đơn lẻ, còn giữ được nhiều nét trong sinh hoạt văn hóa cổ xưa… Tuy nhiên, sự khác biệt không lớn về

nhiều mặt chưa đủ sức cản trở truyện MK mang một phong cách chung với truyện MĐ

1.2.2.1 Về truyện dân gian của nhóm tộc người MĐ

1.2.2.1.1 Tài liệu sưu tầm và sưu tập

Về nhóm tài liệu sưu tầm: Có 125 truyện được tác giả luận án sưu tầm và công bố

thành 2 tập truyện cổ Ra Glai (1990, có tái bản bổ sung), truyện cổ Chu Ru (2007, chưa táibản bổ sung)

Về nhóm tài liệu sưu tập: Có 507 truyện được sưu tập từ hai nguồn tài liệu: các

công trình nghiên cứu và các công trình sưu tầm

1.2.2.1.2 Thực trạng kho tàng truyện dân gian MĐ: Có 632 truyện dân gian của

5 tộc người MĐ được khảo sát so sánh gồm: 91) 216 truyện Chăm, (2) 114 truyện RaGlai, (3) 68 truyện Chu Ru, (4) 128 truyện Ê Đê, (5) 106 truyện Gia Rai

1.2.2.1.3 Phân loại và miêu tả, thống kê, tổng hợp truyện dân gian MĐ

Thể loại thần thoại có 35 truyện (5,53%) gồm: 16 thần thoại về vũ trụ (2,53%), 12 thần thoại về nhân loại (1,89%) và 7 thần thoại sáng tạo văn hóa (1,10%) Thể loại truyền thuyết có 106 truyện (16,77%) gồm: 3 truyền thuyết thần thoại (0,47%), 15 truyền thuyết

lịch sử (2,37%), 15 truyền thuyết anh hùng (2,37%), 39 truyền thuyết địa danh (6,17%), 32

truyền thuyết phong tục tín ngưỡng (5,06%) và 2 truyền thuyết Phật giáo (0,31%) Thể loại

cổ tích có 469 truyện (74,20%) gồm: 81 cổ tích loài vật (12,81%), 287 cổ tích thần kỳ (45,41%) và 101 cổ tích sinh hoạt (15,98%) Thể loại truyện cười có 15 truyện (2,37%) Thể loại truyện ngụ ngôn có 7 truyện (1,10%).

1.2.2.2 Về truyện dân gian của nhóm tộc người MK

1.2.2.2.1 Tài liệu sưu tầm và sưu tập

Trang 9

Về nhóm tài liệu sưu tầm: Có 288 truyện gồm 53 truyện Mơ Nông và 235 truyện

Xtiêng được tác giả luận án sưu tầm từ 1995 đến 2015

Về nhóm tài liệu sưu tập: Có 820 truyện của 13 tộc người MK sưu tập từ hai nguồn

tài liệu: các công trình nghiên cứu và các công trình sưu tầm

1.2.2.2.2 Thực trạng kho tàng truyện dân gian MK: Có 1108 truyện của 13 tộc

người MK: (1) 110 truyện Ba Na; (2) 43 truyện Bru-Vân Kiều; (3) 36 truyện Chơ Ro; (4)

62 truyện Cor; (5) 36 truyện Cơ Tu; (6) 46 truyện Giẻ Triêng; (7) 40 truyện Hrê; (8) 101truyện Kơ Ho; (9) 93 truyện Mạ; (10) 165 truyện Mơ Nông; (11) 51 truyện Tà Ôi; (12) 90truyện Xơ Đăg; (13) 235 truyện Xtiêng

1.2.2.2.3 Phân loại và miêu tả, thống kê, tổng hợp truyện dân gian MK:

Thể loại thần thoại có 122 truyện (11,01%) gồm: 31 thần thoại về vũ trụ (2,79%),

51 thần thoại về nhân loại (4,60%), và 40 thần thoại sáng tạo văn hóa (3,61%) Thể loại truyền thuyết có 177 truyện (15,97%) gồm: 4 truyền thuyết lịch sử (0,36%), 7 truyền

thuyết anh hùng (0,63%), 57 truyền thuyết địa danh (5,14%), 109 truyền thuyết phong tục

(9,83%) Thể loại cổ tích có 795 truyện (71,75%) gồm: 161 cổ tích loài vật (14,53%); 477

cổ tích thần kỳ (43,05%) và 157 cổ tích sinh hoạt (14,16%) Thể loại truyện cười có 12 truyện (1,08%) Thể loại truyện ngụ ngôn có 5 truyện (0,45%).

1740 truyện dân gian của hai nhóm tộc người được tóm tắt cốt truyện trong haiphần phụ lục PL-truyện MĐ và PL2-truyện MK, từ sau ngày 16.06.2015, chúng tôi có tiếptục sưu tầm và sưu tập thêm một số truyện được mã hóa với ký hiệu bổ sung bằng các ký

tự la-tinh a, b, c,… sau các con số thứ tự của truyện

Chương 2

SO SÁNH THỂ LOẠI 2.1 Về thực trạng phân loại truyện dân gian của hai nhóm tộc người

2.1.1 Danh xưng bản ngữ các thể loại truyện dân gian của hai nhóm tộc người

4/5 tộc người MĐ có danh xưng bản ngữ gọi chung cho các thể loại, còn tên gọiriêng cho các thể loại chỉ có 3 danh xưng của người Chăm và người Ra Glai Trong khi đó,nhóm MK gồm 13 tộc người mà chỉ có 6 tên gọi chung cho các thể loại, nhưng lại có đến

24 danh xưng riêng ở các thể loại Về đại thể, 4 tộc người MĐ gồm Ra Glai, Chu Ru, Ê Đê

và Gia Rai đã / đang còn chưa chú ý đến việc phân loại Ngược lại, một số tộc người MKnhư Kơ Ho, Mơ Nông và Xtiêng lại có gần như đầy đủ tên gọi riêng cho từng thể loại, điểnhình là nhóm Mơ Nông Preh ở tỉnh Đăk Nông có nhiều hơn cả các thuật ngữ về các thể /tiểu loại truyện dân gian - nhờ công trình nghiên cứu dạy tiếng Về số lượng truyện, ở vùngNam TN có ba tộc người Kơ Ho, Mơ Nông và Xtiêng vừa có số truyện nhiều hơn cả vừaphong phú hơn cả về thể loại (khoảng 250 truyện / tộc người), gồm chủ yếu các thể loạilớn như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười

Trang 10

2.1.2 Về nhóm truyện dân gian của hai nhóm tộc người có độ dài khác thường hay loại truyện sử thi được cổ tích hóa

Đa số truyện trong dạng truyện kể bằng văn xuôi dài hơi này (10-64 trang) làtruyện cổ tích thần kỳ (32/61truyện) tập trung kể về hai đề tài chính “nhân vật dũng sĩ” và

“nhân vật xấu xí mà tài ba”, số truyện còn lại thuộc các thể / tiểu loại khác kể về các đề tàinhư “nhân vật mồ côi”, “vật trả ơn”, “lấy vợ / chồng tiên”, “trộm cánh tiên”,… Tham khảo

ý kiến của V.Ia.Propp, Nguyễn Xuân Kính và Phan Thị Hồng, chúng tôi tạm gọi đó là

những câu chuyện cổ tích thần kỳ chuyển tiếp sử thi anh hùng hay là những tiểu tinh sử thi-cổ tích anh hùng / sử thi anh hùng cổ tích hóa (tên gọi tạm thời)

2.2 So sánh thể loại

+ Về thể loại thần thoại

Điểm tương đồng: Cả hai nhóm tộc người có đủ các nhóm thần thoại suy nguyên

về vũ trụ, nhân loại tộc người và sáng tạo văn hoá với tỷ lệ truyện vừa tương ứng vừa cómức chênh lệch phù hợp với đặc trưng bản địa lâu đời của nhóm MK so với nhóm MĐ dunhập muộn vào VN: về vũ trụ tự nhiên có 16/31 truyện, về nhân loại tộc người 12/51, và

về nhân vật sáng tạo văn hoá 7/40

Điểm khác biệt: (1) Người Chu Ru thừa nhận mình có nguồn gốc từ người Chăm ở

đồng bằng ven biển di cư lên miền cao cho nên không có riêng thần thoại sáng thế, suynguyên về nhân loại tộc người (2) Người Chơ Ro - một nhóm Kơ Ho địa phương, khôngsáng tạo thần thoại thời nguyên thủy về vũ trụ tự nhiên và nhân loại tộc người nên vaymượn thần thoại của người Kơ Ho (3) Người Hrê thiếu khuyết hai nhóm thần thoại suynguyên về vũ trụ tự nhiên và về nhân loại tộc người là do họ được hình thành rất muộn ở

thời hiện đại sau Cách mạng tháng Tám 1945, tập Truyện cổ Hrê chỉ hai thể loại truyện:

truyền thuyết và cổ tích (4) Yếu tố Chăm mang tính riêng với thần thoại về thần Mẹ xứ sở

Pô Inư Naga-vừa là thần thoại nhân loại tộc người vừa là thần thoại sáng tạo văn hoá

+ Về thể loại truyền thuyết

Điểm tương đồng: (1) Các tộc người trong hai nhóm đều có nhiều câu chuyện

truyền thuyết địa danh đặc sắc thuộc type truyền thuyết về “Bàu, vũng, ao, hồ, sông, suối, đầm, thác, đảo, hòn, biển” (2) Khảo sát so sánh nhóm truyền thuyết phong tục tín ngưỡng

về “sự tích các dòng họ”, có thể ghi nhận có hai trung tâm vật tổ ở hai tiểu vùng văn hóa:

Nam TN với tộc người Ra Glai (MĐ) và Bắc TN với hai tộc người MK là Tà Ôi và GiẻTriêng

Điểm khác biệt: So với văn hóa-văn học dân gian của các dân tộc khác trong cả hai

nhóm tộc người, văn hóa-văn học dân gian Chăm vượt trội hơn hẳn với các nhóm truyền

thuyết: nhóm truyền thuyêt lịch sử-anh hùng dân tộc về “các vị vua Chăm có công tích”, nhóm truyền thuyết về “thi xây tháp”, và nhóm truyền thuyết Phật giáo kể về mức ảnh

hưởng của Phật giáo đến nền văn hoá Chămpa xưa nói chung và cụ thể ở thành Đồ Vijaya nói riêng (trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa của một quản hạt, một vương quốcdưới thời Chămpa)

Trang 11

Bàn-+ Về thể loại truyện cổ tích

Điểm tương đồng: So sánh số lượng truyện cổ tích của hai nhóm tộc người (MĐ so

với MK) có nét tương đồng về tỷ lệ xấp xỉ ½ chung ở cả ba tiểu loại truyện cổ tích: truyện

cổ tích loài vật (81/161), truyện cổ tích thần kỳ (287/477) và truyện cổ tích sinh hoạt(101/157) Tiểu loại truyện cổ tích lũy tích ít được biết đến ở VN nay được tìm thấy ở vùngTS-TN có 9 truyện, trong đó nhóm MĐ có 3 truyện Ê Đê và nhóm MK có 6 truyện (1truyện Kơ Ho, 1 truyện Mạ, 1 truyện Mơ Nông, 2 truyện Tà Ôi, 1 truyện Xơ Đăng)

Điểm khác biệt: Người Chăm có riêng hai nhóm truyện cổ tích sinh hoạt về tình

yêu chung thủy và về tình yêu khác đạo

+ Về thể loại truyện cười

Điểm tương đồng: Số truyện cười của hai tộc người MĐ Ra Glai (3 truyện) và Ê

Đê (9 truyện) ngang bằng với 12 truyện cười Xtiêng (MK); tất cả 24 truyện cười này đềuthuộc nhóm truyện cười khôi hài mua vui giải trí

Điểm khác biệt: Người Chăm có riêng truyện cười trào phúng thù kết chuỗi

(N612Lật đời).

+ Về thể loại truyện ngụ ngôn

Điểm tương đồng: Có hai chủ đề phổ biến được thấy ở truyện Chăm và truyện các

tộc người MK: ở cùng chủ đề “dũng cảm-đấu tranh-đoàn kết” có 1 truyện Chăm và 1 truyện Ba Na; ở cùng chủ đề “ba hoa-khoác lác-hợm mình-khoe khoang” có 2 truyện

Chăm có cùng lời qui chăm với 5 truyện của 4 tộc người MK (1 truyện Cor, 1 truyện GiẻTriêng, 2 truyện Xơ Đăng và 1 truyện Xtiêng)

Điểm khác biệt: Hai truyện Chăm vượt trội hơn hẳn về nội dung tư tưởng với chủ

đề mang tính triết lý nhân sinh “qui luật-chân lý” (N626Ông vua Chăm nuôi khỉ và N627Ai mạnh hơn hết?)

2.2.1 So sánh thể loại thần thoại

Những điểm tương đồng giữa thần thoại của hai nhóm tộc người MĐ và MK được

thấy ở ba chủ đề lớn: 1 Các dân tộc có cùng nguồn gốc chung và cùng nền văn hoá chung;

2 Tổ tiên họ đã có công khai phá thiên nhiên, sáng tạo ra những thành tựu văn hóa; 3 Tổtiên họ là những nhân vật kiệt xuất đầy mưu trí và dũng cảm, đứng lên chống lại thù tronggiặc ngoài, bảo vệ thành quả lao động, thành tựu văn hóa, cuộc sống cộng đồng Có mộttrường hợp ngoại lệ, ở tộc người Chu Ru giai đoạn khởi thủy của vũ trụ, sự ra đời củamuôn loài không tìm thấy trong huyền thoại của họ

2.2.1.1 So sánh thần thoại suy nguyên về nhân loại, tộc người: nhóm truyện về

lũ lụt (hồng thủy)

Trang 12

Điểm tương đồng: (1) Motif anh trai-em gái sống sót sau trận lụt phải kết hợp thành

vợ chồng để tái tạo loài người là một nét có tính chất đặc trưng của huyền thoại lụt Đông

Nam Á Khảo sát hai bảng liệt kê của hai type truyện Nạn lụt và sự tái tạo loài người và Nạn lụt và sự tái tạo loài người từ quả bầu, có thể ghi nhận ở hai type truyện này đều có

các dị bản của các dân tộc thuộc hai nhóm tộc người (2) Nguyên nhân gây ra lũ lụt trongcác truyện rất đa dạng (3) Về phương tiện tránh nạn, có thể là giường, hòm gỗ, trống, cốigiã, ổ rơm, bè, thuyền, tàu, khúc gỗ đục rỗng lòng,… là những vật dụng có sẵn trong nhà,trong làng vì những công cụ tránh lụt tùy tiện này không mang một ý nghĩa biểu tượng gìđáng kể (4) Độc đáo nhất là quả bầu tránh lụt mang ý nghĩa biểu trưng nuôi sống người và

thúc đẩy xã hội phát triển Ở type Nạn lụt và sự tái tạo loài người từ quả bầu, không thấy

có mối quan hệ loạn luân giữa cặp người còn sống sót sau nạn lũ lụt, dạng truyện này xuấthiện ở người Ê Đê (MĐ), Bru-Vân Kiều và Tà Ôi (MK)

Điểm khác biệt : (1) Vài trường hợp hợp logic là không nhất thiết hư cấu cần đến

phương tiện tránh lụt vì cư dân đang cư trú trên đỉnh núi cao (Xê Đăng) hay đang leo lênngọn cây trên đỉnh núi cao (Cơ Tu) (2) Sau trận lũ lụt, cô gái Cơ Tu duy nhất còn sống sótmang thai không rõ nguyên do sinh ra hai con một trai một gái và cô em gái của cặp anh

em Tà Ôi còn sống sót lại mang thai với con chó từ nước tiểu chó phóng uế nơi nằm ngủ

2.2.1.2 So sánh nhóm truyện thần thoại về ma lai

Về khái niệm ma lai: Phần nhiều các dân tộc TS-TN gọi đó là ča, čà, čạ, phiên ra

tiếng Việt là chà ăn người thường mang dáng dấp người, người-ma, ma lai/malai… Với tín

ngưỡng nguyên thủy còn rơi rớt lại, người ta tin rằng không chỉ có thần thánh, ma quỷ màmột số con người nào đó cũng có phép thuật hại người Từ đó, khi có những hiện tượng bấtthường nào đấy, trong cộng đồng làng và các làng với nhau luôn có mối nghi kỵ dẫn đến lo

sợ người nào đó có ma thuật gây dịch bệnh, chết chóc… Niềm tin sai lạc đó đã chi phối đời

sống xã hội, cách ứng xử trong cộng đồng, tạo nên mối nghi ngờ có người-ma…

Vấn đề xác định thể loại của truyện ma lai: Tham khảo quan niệm của hai nhà

folklore học và ngữ văn học người Nga V.Ia.Propp và X.Iu Nekliuđôv, luận án cho rằng

truyện về nhân vật ma lai là dạng thần thoại cấp thấp thuộc loại truyện đời xưa với nội dung có thật nói về ma quỷ / ma lai / ma cà rồng trong hệ thống thần thoại-tôn giáo được hình thành trong đời sống hàng ngày gần như thường xuyên có sự tiếp xúc với con người

và được chuyển tải bằng một thể tài văn xuôi dân gian không được thiêng hóa Nó khác

với cổ tích vì không phải là chuyện bịa đặt, khác với truyền thuyết vì không mang cảm hứng tôn vinh hoặc ca ngợi cộng đồng, và trên hết, cùng với một số thể loại tự sự dân gian khác nó có những mưu toan truyền đạt hiện thực

So sánh truyện thần thoại về ma lai: Tổng cộng có 17 truyện gồm: 7 truyện MĐ

(1 truyện Chăm Hơroi, 3 truyện Ê Đê và 3 truyện Gia Rai), và 10 truyện MK (2 truyện Kơ

Ho, 1 truyện Mạ, 3 truyện Mơ Nông, 1 truyện Tà Ôi và 3 truyện Xtiêng)

Điểm tương đồng: (1) Có 3 truyện kể về nguồn gốc hay sự tích của ma lai: 1 truyện

Chăm Hơroi, 1 truyện Ê Đê (MĐ) kể sự tích ma lai có từ nguồn gốc thần linh / mang yếu

tố thần thoại rõ nét, còn 1 truyện Kơ Ho (MK) kể sự tích về nguồn gốc của ma lai mang

Ngày đăng: 30/11/2017, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w