Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình.
Trang 1+++++++++++++S ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT TRỨNG CỦA GÀ LƯƠNG PHƯỢNG NUÔI TẠI TRẠI GIA ĐÌNH HUY ANH XÃ LIÊN GIANG HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT TRỨNG CỦA GÀ LƯƠNG PHƯỢNG NUÔI TẠI TRẠI GIA ĐÌNH HUY ANH XÃ LIÊN GIANG HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Lớp: K45 Chăn nuôi thú y N03 Khóa học: 2012-2017
Giảng viên hướng dẫn: TS Hồ Thị Bích Ngọc
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên cùng 6 tháng thực tập tại cơ sở em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và bạn bè Em có được ngày hôm nay, ngoài sự nỗ lực của bản thân thì phần lớn có sự giúp đỡ của nhà trường, thầy cô, gia đình, bạn bè và xã hội
Với suy nghĩ đó, em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo đã giảng dạy em trong suốt quá trình học tập và thực tập
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Hồ Thị Bích Ngọc đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá
trình thực tập
Một lần nữa em xin kính chúc toàn thể các thầy cô giáo cùng toàn thể gia đình sức khỏe, hạnh phúc thành công hơn nữa trong công tác giảng dạy và nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 4ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch dùng vắc - xin 25
Bảng 4.1 Thời gian chiếu sáng cho gà 38
Bảng 4.2 Tổng hợp kết quả công tác thú y tại cơ sở 38
Bảng 4.3 Tuổi đẻ của gà Lương Phượng 39
Bảng 4.4 Khối lượng cơ thể của gà Lương Phượng 40
Bảng 4.5 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng 42
Bảng 4.6 Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng và 10 trứng giống 43
Bảng 4.7 Các chỉ tiêu ấp nở của gà Lương Phượng 45
Trang 6iv
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU - 1
1.1 Đặt vấn đề - 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề - 2
1.2.1.Mục tiêu nghiên cứu - 2
1.2.2.Yêu cầu của đề tài - 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU - 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập - 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất - 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở - 8
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước - 11
2.2.1.Cơ sở khoa học của đề tài - 11
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước - 21
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành - 24
3.3 Nội dung nghiên cứu - 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi - 24
3.4.1 Công tác thú y tại cơ sở - 24
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi - 25
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu - 25
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu - 27
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN - 28
4.1 Công tác chăn nuôi và thú y tại cơ sở thực tập - 28
4.1.1 Công tác phòng và trị bệnh - 28
4.1.2 Công tác chăn nuôi tại cơ sở - 32
4.2 Kết quả thực hiện chuyên đề - 39
Trang 7v
4.2.1 Tuổi thành thục về sinh dục - 39
4.2.2 Khối lượng cơ thể gà Lương Phượng bố mẹ - 40
4.2.3 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng - 41
4.2.4 Tiêu tốn thức ăn/10 trứng trong giai đoạn sinh sản - 43
4.2.5 Kết quả ấp nở - 44
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ - 47
5.1 Kết luận - 47
5.2 Đề nghị - 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 48
Trang 81
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng chăn nuôi là giải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Hiện nay, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp nước ta chiếm khoảng 25% khả năng có xu hướng tăng lên đạt 38% vào năm
2015 và 42% vào năm 2020 Phát triển chăn nuôi nhằm tạo việc làm nâng cao thu nhập của khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần cải thiện chất lượng dinh dưỡng cho người dân và thúc đẩy tiến trình giảm nghèo Sản phẩm chăn nuôi không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn cho nhu cầu xuất khẩu
Chăn nuôi gia cầm chiếm vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật cho con người Các sản phẩm trứng và thịt gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao, tương đối đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng Trứng gia cầm có tới 12,5% protein, thịt gia cầm có 22,5% protein, trong khi
đó ở thịt bò là 20% protein và ở thịt lợn là 18% protein Trên thực tế chăn nuôi gia cầm đã trở thành một nghề không thể thiếu trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của mọi quốc gia Ở nước ta chăn nuôi gia cầm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế nông hộ, chiếm 19% tổng thu nhập nông hộ, xếp thứ hai sau chăn nuôi lợn Do nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển nên nhu cầu đời sống nhân dân ngày càng cao Vì vậy, phát triển chăn nuôi gia cầm không chỉ để thoả mãn về nhu cầu về thực phẩm mà còn phải đáp ứng được nhu cầu về chất lượng sản phẩm
Chính vì vậy mà trong những năm gần đây Nhà nước ta đã cho nhập, lai tạo một số giống gia cầm có năng suất, chất lượng sản phẩm tốt như: gà
Ri, Lương Phượng, F1(Ri×LP)… nhằm đáp ứng được nhu cầu của người dân
Trang 92
Để giúp người chăn nuôi có thêm cơ sở khoa học tìm ra các yếu tố ảnh hưởng
và biện pháp nâng cao sản xuất và chất lượng trứng của gà Lương Phượng em
tiến hành thực hiện đề tài : “Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại trại gia đình Huy Anh xã Liên Giang Huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định đặc điểm sinh lý sinh sản của gà Lương Phượng
- Đánh giá khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng tại trại Huy Anh xã Liên Giang huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
- Trên cơ sở đó khuyến cáo cho người nông dân cách lựa chọn con giống và hướng nuôi giống gà có hiệu quả kinh tế cao nhất trong điều kiện nông hộ
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nắm được và thực hiện tốt quy trình chăn nuôi gà mái sinh sản và quy trình ấp trứng
- Đánh giá được khả năng sinh sản của gà Lương Phượng
- Thực hành công tác sát trùng khử trùng, phòng bệnh và chữa bệnh tại cơ sở
Trang 10
3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
*Vị trí địa:
Cùng với thành phố Thái Bình, huyện Đông Hưng nằm giữa trung tâm tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp huyện Thái Thụy, phía Bắc giáp huyện Quỳnh Phụ, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Hưng Hà, phía Tây Nam giáp huyện Vũ Thư, chính giữa phía Nam giáp thành phố Thái Bình, phía Đông Nam giáp huyện Kiến Xương Con sông Trà Lý chảy men theo ranh giới phía Nam của huyện với các huyện Vũ Thư và Kiến Xương
Trên địa bàn huyện có một mạng lưới nhằng nhịt các con sông nhỏ lấy nước từ hai con sông là sông Luộc và sông Trà Lý để cấp nước cho sông Diêm Hộ Trong đó con sông lớn nhất là con sông Tiên Hưng, là nhánh lớn của sông Diêm Hộ, lấy nước từ sông Luộc, chảy qua thị trấn huyện lỵ Đông Hưng
Cực Đông của huyện là xã Đông Kinh, cực Bắc là xã Đô Lương, cực Tây là xã Bạch Đằng
Huyện có diện tích tự nhiên là 191,76 km², toàn bộ là đồng bằng Dân số: 246.335 người (2007)
Mặt khác, Đông Hưng - Thái Bình nằm trong phạm vi ảnh hưởng của địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có đường bờ biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế Thành phố Thái Bình cách thành phố Hải Phòng 70km và cách thủ đô Hà Nội 110 km, là những thị trường tiêu thụ rộng lớn trong việc hỗ trợ đầu tư kĩ thuật, kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ và thông tin cho tỉnh Vị trí địa lý trên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi
Trang 114
cho Thái Bình phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế trong mọi lĩnh vực với các tỉnh trong cả nước và quốc tế
* Điều kiện tự nhiên:
+ Địa hình: Thái Bình là một tỉnh đồng bằng có địa hình nhìn chung bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam Song ở từng khu vực lại có nơi trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung, độ cao so với mặt nước biển dao động từ 1-2m Vùng có độ cao trên 2m chiếm diện tích nhỏ
Địa hình đồng bằng Thái Bình chủ yếu có 3 kiểu: Đồng bằng tích tụ cao, đồng bằng tích tụ thấp, đồng bằng tích tụ phù sa mới thấp
+ Khí hậu và thủy văn: Điều kiện khí hậu và thủy văn Thái Bình nhờ có thiên nhiên ưu đãi nên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với cây lúa nước
- Khí hậu Thái Bình về cơ bản mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa.Nhiệt độ trung bình năm từ 23-320 C, số giờ nắng trung bình trong năm 1.300-1.700 giờ Độ ẩm tương đối cao, khoảng 85-90% Khí hậu có sự thay đổi theo mùa, lượng mưa phân theo hai mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng V cho đến tháng X, chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm, tháng VII và tháng VIII là hai tháng có lượng mưa cao nhất Mùa khô bắt đầu từ tháng XI đến tháng IV năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15-20% tổng lượng mưa trong năm Trong mùa mưa, hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam, còn mùa khô là gió Đông Bắc
Tuy nhiên, do giáp biển nên khí hậu Thái Bình có những sắc thái riêng
Về mùa đông thường ẩm hơn những tỉnh nằm sâu trong đất liền Những ngày giá lạnh của mùa đông thường không kéo dài liên tục mà xen kẽ có những ngày ấm áp Mùa hạ tuy nóng những cũng có những ngày mát dịu, thường được hướng không khí mát mẻ của gió biển vào buổi chiều Điều kiện khí hậu
đó có nhiều thuận lợi cho thâm canh, xen canh trong sản xuất Song nhược
Trang 125
điểm khí hậu ở Thái Bình là độ ẩm cao nên việc bảo quản máy móc, thực phẩm gặp nhiều khó khăn, dịch bệnh dễ lây lan và phát triển ở diện rộng Trong mùa mưa thường có bão, mùa khô thì có những ngày lạnh giá, sương muối làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gia súc và cây trồng
- Về thủy văn: Thái Bình là tỉnh bốn bề có sông, nước bao quanh, một mặt là biển, ba mặt khác là sông Phía Bắc và Đông Bắc có sông Hóa chảy qua địa phận ranh giới tỉnh dài 38km, phía Bắc và Tây Bắc có sông Luộc chảy qua dài 53km, phía Nam và Tây Nam có sông Hồng chảy qua dài 77km Giữa tỉnh có sông Trà Lý (dài 67 km) chảy qua phân tỉnh thành hai bộ phận: phía bắc gồm 4 huyện, phía nam gồm 3 huyện và thành phố Thái Bình
+ Đất đai và sinh vật
Do ảnh hưởng của địa hình và hệ thống sông, biển, ở Thái Bình có nhiều nhóm đất khác nhau như đất mặn, đất cát ven biển, đất chua phèn, đất phù sa, đất bạc màu và đất xói mòn Nhìn chung, đất đai ở đây khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sự phân bố đất đai giữa các huyện trong tỉnh, tạo nên những nét khác biệt trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp của mỗi địa phương trong tỉnh
- Hệ thống sinh vật của Thái Bình không nhiều, chủ yếu là rừng ngập mặn ven biển, phân bố ở hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy với các loại cây chính là sú, vẹt… Các thảm thực vật tự nhiên khác hầu như không có mà thay vào đó là các hệ sinh thái đồng ruộng với các loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả… Giới động vật trên cạn vì vậy cũng có rất ít
*Các điều kiện kinh tế - xã hội
+ Dân cư, lao động
- Đông dân là một trong những lợi thế cơ bản cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Thái Bình Tính đến hết năm 2011, số dân Thái Bình là 1.786,3 nghìn người, với mật độ 1.138 người/km2 Dân số đông, tạo nguồn lao động
Trang 13Tuy nhiên, sức ép về dân số ở Thái Bình hiện đang là vấn đề cần được quan tâm giải quyết Vì sự gia tăng dân số trên địa bàn tỉnh đã gây ra các hiện tượng như thất nghiệp, sự nghèo đói, giáu dục và bảo vệ sức khỏe kém, thu nhập không công bằng và sự thiếu hụt về tài nguyên thiên nhiên, môi trường Đặc biệt dân số gia tăng sẽ dẫn đến sự thiếu hụt lương thực, ruộng đất sẽ sử dụng quá độ, đất đai bị thoái hóa, làm giảm diện tích canh tác…
Trang 147
- Đối với ngành công nghiệp tỉnh Thái Bình, những năm qua giá trị sản xuất của riêng ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm luôn giữ ở mức tương đối ổn định
- Các sản phẩm của ngành nông nghiệp, công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến nói riêng được tiêu thụ không chỉ ở trong khu vực nội địa mà còn xuất khẩu ra nước ngoài thông qua các hoạt động dịch vụ Các mặt hàng nông thủy sản như thịt lợn, tôm đông lạnh., gạo là một trong những mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của tỉnh Thái Bình Năm 2011, các mặt hàng này đã mang lại cho Thái Bình 12.855 nghìn USD Tuy nhiên, do năng lực quản lý, kinh doanh hạn chế nên các sản phẩm thường bị chèn ép về giá, bị các tư thương chiếm dụng vốn nên hiệu quả kinh doanh chưa cao Thị trường tiêu thụ bấp bênh, người lao động không yên tâm nên chưa mạnh dạn đầu tư lớn cho sản xuất
2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
*Cơ cấu tổ chức:
Vì trại mới thành lập, nguồn vốn và kinh nghiệm thực tế vẫn còn hạn chế nên cơ cấu tổ chức vẫn còn mỏng gồm: 1 chủ trại kiêm bảo vệ, 1 bác sĩ thú y, 2 công nhân
* Hệ thống chuồng trại:
Trại nằm trên địa bàn xã đồng bằng có hệ thống đường giao thông thuận lợi rất tiện cho việc đi lại và vận chuyển Để đảm bảo cho việc chăn nuôi được tốt trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:
Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc có cổng ra vào riêng, chuồng được xây theo hướng Đông Nam.Chuồng trại được quy hoach bố trí xây dựng phù hợp: Hệ thống chuồng úm, nền đệm lót cho gà mái, tổ đẻ Hệ thống nước và máng ăn
Trang 15để bảo quản vắc - xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất
- Nhiệm vụ chính của trại là sản xuất con giống
- Theo quy mô: Nhỏ
- Đặc thù nuôi: Hộ chăn nuôi
- Giống gà nuôi: Gà Lương Phượng
2.1.2.2 Tình hình sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
+ Chăn nuôi
Năm 2013, trại đã nuôi 800 gà ta thương phẩm tỉ lệ sống đạt 88%
Trang 169
Năm 2014, trại nuôi 1000 gà thịt và xuất bán được 3 tấn 3 gà
Hiện nay, trung bình gà mái đẻ khoảng 5 quả/ tuần Tỷ lệ trứng có phôi đạt 88,6-91,71% Tổng số con giống đưa ra thị trường đạt khoảng 128.220 con + Thú y
Công tác thú y hết sức được quan tâm Với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” trại đã triệt để thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y đồng thời công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cũng chú ý đúng mức nên dịch bệnh ít xảy ra, đàn gia cầm tiếp tục duy trì, số lượng đầu con không ngừng tăng lên
Hệ thống chuồng nuôi được đảm bảo thông thoáng về mùa hè, ấm áp về mùa đông Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt và vòi phun nước, mùa đông có bạt chắn gió…trại có rào chắn Hằng ngày chuồng trại, máng ăn, máng uống dụng cụ cho ăn được quét dọn cọ rửa sạch sẽ trước khi cho ăn Quy trình tiêm phòng cho đàn gia cầm được thực hiện nghiêm túc với các loại vắc-xin: Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, bệnh viêm phế quản truyền nhiễm Chuồng trại thường xuyên thay chất độn và định kỳ tổng vệ sinh khu vực trại Hàng ngày theo dõi phát hiện gia cầm nhiễm bệnh và tiến hành điều trị hoặc loại thải kip thời Phòng chống dịch bệnh và nâng cao sức
đề kháng cho đàn lợn tại trại cần phải được đẩy mạnh
Các bệnh đã gặp và điều trị tại cơ sở
Phổi và túi khí có những chấm tổn thương màu trắng, vàng, xanh lá
- Dùng kháng sinh: Mycostatin trộn 2g/kg thức ăn không dùng các kháng sinh có nguồn gốc từ nấm: Penicillin, Streptomycin,
Trang 17Gà bị bệnh giun đũa có thể dùng các thuốc tẩy sau:
- Hỗn hợp Phenothiazin 500mg/kgTT + Adipinat piperazin
200mg/kgTT
- Mebendazol liều: 0,5g/kgTT
- Nova – Levasol liều: 1g/5 - 6kgTT, dùng một liều duy nhất Trộn
và thức ăn hoặc một ít nước cho uống
Có thể dùng thuốc này để phòng bệnh: Gà con 2 tháng dùng một lần, gà 6 tháng dùng một lần
* Bệnh đậu gà
Nổi nhiều mụn mủ bằng hạt đậu ở đầu, mắt quanh miệng, mồng Đôi khi làm mù cả mắt hoặc nổi mụn trong miệng làm gà đau đớn không ăn uống được cậy vẩy mụn đậu, rửa sạch bằng nước muối loãng
+ Hàng ngày bôi dung dịch 1%Xanhmetylen lên mụn đậu, sau ít ngày mụn đậu sẽ khô dần và tự bong
+ Nếu gà bị vết loét ở niêm mạc miệng bôi thuốc sát trùng nhẹ
Lugol 1%
+ Làm sạch các mụn đậu rồi bôi các chất sát trùng nhẹ như
Glycerin10%, CuSO4 5% Thể niêm mạc có thể lấy bông làm sạch màng giả ở miệng rồi bôi các chất sát trùng nhẹ hay kháng sinh Nếu đau mắt có
Trang 1811
thể dùng thuốc nhỏ mắt
+ Bổ sung thêm Vitamin đặc biệt Vitamin-A
+ Nếu bệnh nặng cần dùng kháng sinh phòng vi khuẩn bội nhiễm + Đốt chất thải của gà, chất độn chuồng, chất độn ổ đẻ
+ Phun sát trùng thường xuyên trong thời gian gà bị bệnh
+ Chủng đậu cho các đàn chưa mắc bệnh ở khu vực xung quanh đàn
gà bị bệnh
* Bệnh tiêu chảy do E.coli
+ Gà con: Gà ủ rũ, bỏ ăn, sốt cao, tiêu chảy phân trắng dễ nhầm với bệnh bạch lỵ
+ Gà lớn: Gà ốm, chết rải rác, xác chết gầy
+ Gà đẻ: Giảm năng suất chất lượng trứng do buồng trứng bị viêm
Vệ sinh môi trường thức ăn nước uống, khử trùng chuồng nuôi và môi trường xung quanh Dùng loại thuốc sau: Ampicoli 1g/1 lít nước dùng trong 3-5 ngày liên tục Bổ sung thuốc trợ sức, trợ lực tăng cường sức đề kháng
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước
2.2.1.Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm,tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng
*Nguồn gốc:
Gà Lương Phượng có xuất xứ từ bờ sông Lương Phượng tỉnh Triết Giang - Trung Quốc, được nhập vào nước ta từ năm 1989 về Trung tâm giống gia cầm Thụy Phương và Viện chăn nuôi Ba Vì, đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài Mục tiêu của hãng là nhân
Trang 19* Tính năng sản xuất:
- Gà bố mẹ: (Trần Thanh Vân và cs 2015) [8]
Khối lƣợng ở 20 tuần tuổi:1,7-1,8kg (gà mái)
2,0-2,2 kg (gà trống)
Tuổi đẻ đầu: 24 tuần tuổi;
Năng suất trứng quả/năm/mái: 150-170 quả
Bản chất di truyền và các tính trạng sản suất của gia cầm
Khi nghiên cứu các tính trạng sản xuất của gia cầm các nhà khoa học không những nghiên cứu về đặc điểm di truyền mà còn nghiên cứu đến các yếu tố ngoại cảnh tác động lên tính trạng đó
Trang 20
13
Bản chất di truyền các tính trạng sản xuất:
Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về năng xuất của gia cầm như: Sinh trưởng sinh sản, cho lông, cho trứng, cho thịt,…phần lớn là tính trạng số lượng và do các gen nằm cùng trên nhiễm sắc thể (NST) quy định Phần lớn sự thay đổi trong quá trình tiến hóa của sinh vật cũng là sự thay đổi của các tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là: Là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau
về mức độ giữa các cá thể rõ nét hơn là sự sai khác về chủng loại Sự sai khác nhau này chính là nguồn vật liệu cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo Các tính trạng số lượng được quy định bởi nhiều gen, các gen điều khiển tính trạng số lượng phải có môi trường phù hợp mới được biểu hiện hoàn toàn
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [5] thì giá trị đo lường của tính trạng
số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (Phenotypicvalue) của
cá thể đó Các giá trị liên quan tới kiểu gen (Genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi trường là sự sai lệch môi trường (Environmental deviation)
Như vậy kiểu gen quy định một giá trị nào đó của kiểu hình và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác
Quan hệ đó được biểu thị như sau:
Trang 2114
kiểu gen khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau Trái lại, cùng một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác nhau Nghĩa là các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có thể phát huy hoặc hạn chế các đặc tính di truyền của vật nuôi Thông qua việc nắm các yếu tố di truyền, môi trường ngoại cảnh tối thích, bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật hợp lý, con người sẽ không chỉ bồi dưỡng duy trì được các đặc tính của một phẩm chất giống mà còn tạo ra các giống mới theo hướng sản xuất khác nhau
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của một giống gà, nó
có hệ số di truyền tương đối cao thể hiện ở đặc điểm trao đổi chất, kiểu hình của dòng, giống Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo (dài lườn, rộng ngực, )
Để nâng cao năng lực sản xuất thịt của một giống gà nào đó, người ta thường cho lai giữa mái của giống đó với trống của một giống khác có tốc độ sinh trưởng lớn hơn
Năng lực tăng đàn của một giống gà được quyết định bởi khả năng sinh sản bao gồm: khả năng đẻ trứng, tỉ lệ trứng cho phôi, tỉ lệ ấp nở, tỉ lệ nuôi sống của gà Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng ấp trứng của gà mái, nguồn thức ăn (với gà nuôi thả)
2.2.1.2 Một số đặc điểm sinh học của gia cầm đẻ trứng
*Cơ quan sinh dục cái của gia cầm:
+ Buồng trứng:
Buồng trứng nằm bên trái xoang bụng, được giữ bằng màng bụng Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loại gia cầm
Ở gà 1 ngày tuổi có kích thước l - 2 mm, khối lượng 0,03 g Gà thời kỳ
đẻ, buồng trứng hình chùm nho, chứa nhiều tế bào trứng, có khối lượng 45 -
Trang 2215
55 g, khi gà đẻ thay lông và gà dò có khối lượng buồng trứng 5 g Sự hình thành buồng trứng, kể cả các tuyến sinh dục (bộ sinh dục) xảy ra vào thời kỳ đầu của sự phát triển phôi: phôi gà vào ngày thứ 3, vịt, ngỗng vào ngày thứ 4
và 5 Trong buồng trứng có chất vỏ và chất tuỷ Bề mặt vỏ được phủ bằng một lớp biểu mô gồm các tế bào hình trụ Dưới chúng có màng cứng liên kết mỏng, sau nó có hai lớp nang với các tế bào trứng
Chất tuỷ nằm ở góc buồng trứng và được cấu tạo từ mô liên kết với một lượng mạch máu và dây thần kinh lớn Trong chất tuỷ có những khoang (lỗ hổng) được phủ bằng lớp biểu mô dẹt và tế bào kẽ Gà có 4 - 5 giai đoạn tuổi: 0-6 (9); 7 (10); 19 (20); 21-25 và 26-66 (72) tuần tuổi Mỗi lứa tuổi xảy ra những thay đổi về cấu trúc và chức năng của buồng trứng
Chức năng của buồng trứng là tạo trứng Quá trình phát triển của tế bào trứng có 3 thời kỳ: Tăng sinh, sinh trưởng và chín
+ Ống dẫn trứng:
Ống dẫn trứng gà đẻ dài 10 - 20 cm, đường kính 0,3 - 0,8 mm Trong khi đẻ trứng với cường độ cao có thể dài 40 - 60 cm, đường kính 1 cm
Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lý: Ống dẫn trứng chia làm
5 phần loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo
Chức năng của ống dẫn trứng chủ yếu là nhận tế bào trứng rụng, hình thành nên các bộ phận và thành phần khác (lòng trắng bao quanh lòng đỏ, màng vỏ cứng của trứng…) và di chuyển trứng từ phễu đến âm đạo
- Loa kèn: Phần mở rộng của phía đầu ống dẫn trứng dài 4 – 7 cm, đuờng kính 8 - 9 cm Nó nằm dưới buồng trứng Loa kèn có thân (loa kèn) và
cổ Bề mặt niêm mạc phễu gấp nếp, không có tuyến Lớp niêm mạc cổ loa kèn
có tuyến hình ống, chất tiết của nó tham gia vào tạo trứng Thành nhu động theo một chiều nhờ lóp dây co từ mép đến cuống Nhờ kiểu nhu động sóng một chiều nên có thể hút được tế bào trứng rụng về mình và không thể rơi vào
Trang 2316
xoang bụng Tế bào trứng nằm ở loa kèn không quá 20 - 30 phút Có nhiệm vụ hứng tế bào trứng rụng, nhu động tạo ra lực đẩy tế bào trứng xuống phần ống dẫn
- Phần tiết lòng trắng: Là phần dài nhất của ống dẫn trứng Ở thời kỳ gà mái đẻ rộ phần tạo lòng trắng dài 30 - 50 cm Niêm mạc có gấp nếp dọc, trong
đó có tuyến hình ống giống cổ phễu tiết ra chất lòng trắng đặc và lòng trắng loãng Trứng lưu lại đoạn này không quá 3 giờ Ở đây tiết ra chất lòng trắng đặc
và loãng bổ sung vào lòng trắng đặc ở trong, còn lòng trắng loãng ở ngoài
- Phần eo: Phần hẹp của ống dẫn trứng dài 8 cm Niêm mạc nếp gấp sít Các tuyến ở eo tiết ra chất hạt giống như keratin tạo nên lớp sợi chắc quấn lấy nhau để hình thành màng chắc tạo ra dung dịch muối đi vào lòng trắng Trứng nằm ở đoạn này gần 1 giờ
- Tử cung: Đoạn tiếp của đoạn eo dài 10 – 12 cm, hình túi dày Niêm mạc phát triển nhiều nếp nhăn xếp theọ hướng ngang và xiên Tuyến của vách
tử cung tiết ra chất dịch lỏng, chất dịch này thấm qua các màng dưới vỏ trứng vào màng trắng Ở đây trứng được hình thành hoàn toàn Khối lượng trứng tăng gấp đôi (đạt cao nhất) Lớp vỏ cứng được tạo thành bao quanh lòng trắng Nó cấu tạo bởi các sợi colagen nhỏ đan chéo dày lên nhau như “cốt sắt, tấm bê tông” Còn chất vô cơ – muối canxi – cacbonat canxi chiếm 99% và canxi photphat -1% được tổng hợp trong suốt thời gian trứng hình thành ở tử cung khoảng 18 - 20 giờ
- Âm đạo: Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, sau khi hình thành thì trứng rơi vào đó Giữa tử cung và âm đạo có phần thu hẹp, ở đó có van cơ
Âm đạo dài 7 - 12 cm, niêm mạc nhẵn, không có tuyến
* Những trường hợp dị hình:
Trang 2417
- Trứng vỏ mềm: Do thức ăn thiếu các chất khoáng (Ca, P) hoặc do cơ thể bị chấn động thần kinh quá mạnh, chưa kịp tạo vỏ trứng, hoặc do các bệnh khác … Trứng đẻ ra có màng lòng trắng tương đối dày và dai
- Trứng không có lòng đỏ: Do trong cơ thể có những tế bào chết rơi vào loa kèn và ống dẫn trứng không phân biệt và vậy vẫn có quá trình tạo trứng và hình thành trứng nhỏ
- Trứng hai lòng đỏ: Do hai trứng cùng rụng vào một thời điểm hoặc cách nhau không quá 20 phút vì vậy hình thành nên quả trứng rất to
- Trứng trong trứng: Thường ít gặp, do bị kích động đột ngột một quả trứng hoàn chỉnh bị ống dẫn trứng co lại gây ra nhu động ngược lên phía trên gặp tế bào trứng mới rụng, trứng sẽ nằm cùng với lòng đỏ của trứng mới bên ngoài được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng
- Ngoài ra còn có trứng méo mó, không có vỏ do thiếu khoáng, vitamin D hoặc do co bóp của ống dẫn trứng …
2.2.1.3 Tuổi thành thục sinh dục, khối lượng cơ thể gà mẹ
+ Tuổi thành thục sinh dục:
Tuổi thành thục sinh dục là thời điểm đàn gà đã thành thục về tính, hay còn gọi là tuổi đẻ Tuổi thành thục sinh dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giống, hướng sản xuất, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Sự thành thục về tính sớm hay muộn còn liên quan chặt chẽ đến khối lượng cơ thể, cũng như sự hoàn thiện các cơ quan bộ phận của cơ thể Những giống gia cầm có tầm vóc nhỏ thường có tuổi thành thục sớm hơn những giống gia cầm có tầm vóc lớn Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, điều kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn Nhiều công trình
Trang 25Khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục của gà mái Nhưng thực tế, gà nặng cân lại đẻ ít trứng Hocking và cs (dẫn theo Chambers, 1990) [11] giải thích rằng nguyên nhân gây nên hiện tượng đẻ trứng ít của gà nặng cân là do tồn tại nhiều bao noãn, chúng thường xuyên lấn át buồng trứng
2.2.1.4 Sản lượng trứng
Sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Sản lượng trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Sản lượng trứng được đánh giá qua cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm:
Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động nó chịu ảnh hưởng của tổng hợp yếu tố bên trong và bên ngoài
- Ảnh hưởng của các yếu tố bên trong:
+ Giống và dòng
Ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp Cụ thể dòng leghorn trung bình có sản lượng 250-270 trứng/năm Về sản lượng trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ
Trang 2619
khoảng 15 – 30% về sản lượng Trần Thanh Vân dẫn theo Nguyễn Duy Hoan (2015) [8]
+ Ảnh hưởng của tuổi gia cầm:
Tuổi của gia cầm có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó Như một quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất, còn vịt thì ngược lại, năm thứ hai cho sản lượng trứng cao hơn 9 - 15%
+ Tuổi thành thục sinh dục:
Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ rệt đến sản lượng trứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu kỳ đẻ tiếp theo Theo Chamber (1990) [11] thì gà thành thục về tính sớm sẽ đẻ nhiều trứng hơn trong một năm sinh học Nhưng nếu gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ kéo dài
+ Ảnh hưởng của sự thay lông đến sản lượng trứng
Sự thay lông là một quá trình sinh lý học tự nhiên Ở gia cầm hoang thì thời gian thay lông thường phụ thuộc vào mùa Thông thường, chúng thay lông vào mùa thu Thời gian thay lông càng dài thì sản lượng trứng càng thấp
Ở điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là những điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu Gà thường ngừng đẻ khi thay lông cánh, nhưng vẫn có khả năng tiếp tục đẻ trong khi thay lông ở các phần khác của cơ thể
+ Ảnh hưởng của bệnh tật đến sản lượng trứng của gia cầm thông qua việc làm giảm đầu con, giảm khả năng đẻ trứng
- Ảnh hưởng của môi trường bên ngoài
+ Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sản lượng trứng
Nhiệt độ ảnh hưởng tới sản lượng trứng thông qua mức độ tiêu tốn thức
ăn Ở điều kiện nước ta nhiệt độ chăn nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng là
14 – 220C Nếu nhiệt độ dưới giới hạn thấp thì gia cầm phải huy động năng lượng chống rét, tiêu tốn thức ăn cho việc sản xuất một quả trứng cao Nhiệt
Trang 2720
độ cao sẽ làm giảm mức tiêu thụ thức ăn, lượng thức ăn vào không đáp ứng
đủ nhu cầu sản xuất và như vậy sản lượng trứng sẽ bị giảm
+ Ảnh hưởng của độ ẩm đến sản lượng trứng của gia cầm
Khi độ ẩm quá cao làm cho chất độn chuồng bị ướt, tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian của chuồng nuôi Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự hô hấp của gia cầm và làm ảnh hưởng đến năng suất
và tiêu tốn thức ăn Độ ẩm quá thấp (< 31%) sẽ làm cho gia cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ hao hụt và khả năng sản xuất
Theo Letner và cs (1987) [14] thời gian gà đẻ trứng thường từ 7 – 17giờ, nhưng đa
số đẻ vào buổi sáng Cụ thể số gà đẻ 7 - 9 giờ đạt 17,7% so với tổng gà đẻ trong ngày Ở nước ta do khí hậu khác với các nước, cho nên cường độ đẻ trứng ở gà cao nhất là khoảng từ 8 -12 giờ chiếm 60% đến gần 70% so với gà
đẻ trứng trong ngày
+ Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng đến sản lượng trứng:
Theo Bạch Thị Thanh Dân (1999) [1] cho biết gà nội (gà Ri) đẻ 90 -
120 trứng/mái/năm Đối với giống gà nội thì ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng là không lớn nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu dinh dưỡng cần được chú ý Nhu cầu dinh dưỡng của gà nuôi nhốt phải tăng gấp đôi về protein, cacbonhydrate, lipit và phải bổ sung thêm khoáng so với gà chăn thả
Trang 2821
Tác giả cũng cho biết hàm lượng protein, canxi, photpho và lipit trong máu
gà đang đẻ trứng cao gấp 2, 3 thậm chí đến 4 lần so với trong máu gà không
đẻ trứng Sự tăng lên về hàm lượng các chất này trong máu chứng tỏ gà cần protein để tạo noãn hoàng Khi gà ngừng đẻ thì hàm lượng các chất này trong máu lại giảm đi Tỷ lệ Ca/P thích hợp ở gà đẻ là: 5/1
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau cũng cho sản lượng trứng khác nhau Gà nuôi chuồng lồng thì sản lượng trứng đạt 223 quả/năm, trong khi đó đối với gà nuôi nền chỉ đạt 201 trứng/năm, còn
gà nuôi chăn thả chỉ đạt 170 trứng/năm
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Mc Dowell (1989) [15], Pardue (1984) [17] đã nhận thấy khi bổ sung vitamin C cho gà mái đẻ, làm tăng sản lượng trứng, độ bền vững của vỏ trứng, tăng khả năng sinh sản, tỷ lệ trứng có phôi Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu người ta không thấy hiệu quả dương tính, khi bổ sung vitamin C vào khẩu phần ăn của gia cầm
Kết quả nghiên cứu của Nakaya và cs (1986) [16] cho thấy bổ sung vitamin C giúp nâng cao sản lượng trứng, độ vững chắc của vỏ trứng
Theo Raleich (1989) [18], gà đẻ sống trong môi trường nhiệt độ cao, khi bổ sung vitamin C đã làm tăng sản lượng trứng, nâng cao khối lượng trứng, không thấy có sự thay đổi về chất lượng vỏ trứng Các nghiên cứu khác
về ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin C cho thấy, với liều 200mg/kg thức
ăn chỉ làm tăng chất lượng trứng, mà không làm tăng sản lượng trứng
Khautov (1983) [13] nhận thấy khi bổ sung 100 mg/kg thức ăn cho vịt
đẻ, đã làm tăng sản lượng trứng từ 11,11 - 13,56% và tăng hàm lượng carotenoid trong lòng đỏ trứng lên 19,97 - 28,7% Bổ sung vitamin C với liều