Theo nhận định chung thì IMF được coi là một tổ chức uy tín lớn có tính độc lập cao và cho rằng Quỹ đề ra những chính sách kinh tế tối ưu cho các nước thành viên theo đuổi và áp đặt các
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -Môn: QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI : “ TÌM HIỂU VỀ TỔ CHỨC
QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
MỐI QUAN HỆ CỦA 2 TỔ CHỨC NÀY
VỚI VIỆT NAM”
GVHD: Tiêu Vân Trang
Lớp : 12DQT1
TP HCM, 09/09/2015
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 3
MỤC LỤC
I QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ (IFM) 4
1 Tổng quan về IMF: 4
2 Lịch sử 5
3 Số liệu hiện nay: 5
4 Mục đích hình thành của tổ chức: 6
5 Cơ cấu quản trị 6
6 Hoạt động của IMF 6
II NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WORLD BANK) 7
1 Giới thiệu 7
2 Cơ cấu 8
3 Mục tiêu 8
4 Các hoạt động chính của WB 8
III QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ IMF 9
IV QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ WORLD BANK 11
Trang 4NỘI DUNG
I QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ (IFM)
Vào thập kỷ 30, đã có nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức để giải quyết những vấn đề tiền tệ thế giới Tuy nhiên điều đó không có kết quả Những giải pháp bộ phận và mang tính chất thăm dò đã hoàn toàn tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu Ðiều cần có là một sự hợp tác với quy mô lớn chưa từng có giữa tất cả các quốc gia để xây dựng nên một hệ thống tổ chức tiền
tệ cách tân và một tổ chức để điều hành hệ thống này
Mùa hè năm 1940, một sự trùng hợp kỳ lạ đã xảy ra Hai tư tưởng độc đáo và táo bạo của Harry Dester White – Người Mỹ và John Maynard Keynes – Người Anh đã gần như đồng thời đưa ra dự thảo xây dựng một tổ chức tiền tệ quốc tế mà hành động của nó được giám sát thường xuyên bởi một tổ chức hợp tác chứ không phải bằng những cuộc gặp gỡ quốc tế thoảng hoặc
Tuy nhiên, phải sau nhiều lần thương thuyết trong điều kiện khó khăn của thời chiến, cộng đồng quốc tế mới chấp nhận một hệ thống tiền tệ mới và một tổ chức để giám sát nó Những thương thuyết cuối cùng về thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (viết tắt là IMF) đã diễn ra ở Bretton Woods, NewHamsphire, Hoa kỳ vào năm 1945 Tổ chức IMF chính thức đi vào hoạt động như một cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc Khi đó IMF có 49 thành viên
Một nước có thể trở thành thành viên của IMF nếu nó sẵn sàng gắn bó, trung thành với các chức năng và nguyên tắc chủ đạo của IMF Từ l945 đến nay con số thành viên của IMF lên tới 189 quốc gia Số lượng thành viên tăng đều đặn, không có biến động chứng tỏ uy tín của IMF theo năm tháng là không thay đổi và ngày càng được củng cố
Theo nhận định chung thì IMF được coi là một tổ chức uy tín lớn có tính độc lập cao và cho rằng Quỹ đề ra những chính sách kinh tế tối ưu cho các nước thành viên theo đuổi và áp đặt các quyết định cho các nước thành viên và sau đó giám sát việc thực hiện
1 Tổng quan về IMF:
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) là một tổ chức gồm 189 quốc gia, được thành lập nhằm thúc đẩy hợp tác tiền tệ toàn cầu, đảm bảo ổn định tài chính, tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế, kích thích việc làm và phát triển kinh tế bền vững, giảm đói nghèo trên toàn thế giới
Được thành lập vào năm 1945, IMF được quản lý và chịu trách nhiệm trước 189 quốc gia, hình thành một mạng lưới thành viên gần như toàn cầu
Trang 52 Lịch sử
IMF đã góp phần trong việc định hình nền kinh tế toàn cầu kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới II
Hợp tác và tái thiết (1944-1971)
Khi Thế chiến thứ hai kết thúc, công cuộc tái thiết nền kinh tế quốc gia bắt đầu IMF chịu trách nhiệm giám sát hệ thống tiền tệ quốc tế để đảm bảo ổn định tỷ giá và khuyến khích các thành viên loại bỏ các hạn chế về trao đổi gây cản trở thương mại
Sự kết thúc của hệ thống Bretton Woods (1972-1981)
Sau khi hệ thống tỷ giá hối đoái cố định sụp đổ vào năm 1971, các quốc gia được tự do lựa chọn cách thức trao đổi của mình Các cú sốc về dầu xảy ra vào những năm 1973-1974 và
1979, và IMF bước chân vào giúp các nước giải quyết hậu quả
Cải cách nợ (1982-1989)
Các cú sốc về dầu đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng nợ quốc tế, và IMF hỗ trợ điều phối các phản ứng toàn cầu
Thay đổi xã hội ở Đông Âu và Châu Á (1990-2004)
IMF đóng một vai trò trung tâm trong việc giúp đỡ các quốc gia trong quá trình chuyển đổi khối Liên Xô cũ từ kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường
Toàn cầu hoá và Khủng hoảng (2005 - nay)
Hàm ý của việc tăng vốn liên tục cho các chính sách kinh tế và sự ổn định của hệ thống tài chính quốc tế vẫn chưa rõ ràng Cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay và cú sốc về giá lương thực và dầu là những dấu hiệu rõ ràng cho thấy những thách thức mới đối với IMF đang chờ đợi chúng ta
3 Số liệu hiện nay:
Thành viên: 189 quốc gia
Trụ sở chính: Washington, D.C
Ban điều hành: 24 Giám đốc, một người đại diện cho một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia
Trang 6Nhân viên: Khoảng 2.700 từ 148 quốc gia
Tổng hạn ngạch: 668 tỷ đô la Mỹ (tính đến 13/9/2016)
Con nợ lớn nhất: Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Ucraina, Pakistan
Các khoản nợ phòng ngừa lớn nhất: Mexico, Ba Lan, Colombia, Ma-rốc
4 Mục đích hình thành của tổ chức:
Thúc đẩy hợp tác tiền tệ quốc tế;
Tạo thuận lợi cho việc mở rộng và tăng trưởng cân bằng thương mại quốc tế;
Thúc đẩy sự ổn định về trao đổi;
Hỗ trợ thiết lập một hệ thống thanh toán đa phương;
Cung cấp các nguồn lực sẵn có (với các biện pháp bảo vệ thích hợp) cho các thành viên gặp khó khăn trong cán cân thanh toán
5 Cơ cấu quản trị
Hội đồng thống đốc: là cơ quan quyết định tối cao Thống đốc được chỉ định bởi quốc gia thành viên và thông thường là bộ trưởng tài chính hoặc thống đốc ngân hàng trung ương
Các ủy ban Bộ trưởng: Hội đồng thống đốc được tham vấn bởi hai Ủy ban Bộ trưởng:
Ủy ban Tiền tệ và Tài chính quốc tế( IMFC- International Monetary and Financial Committee) và Ủy ban Phát triển (Development Committee)
Ban Giám đốc điều hành: Ban Giám đốc điều hành có 24 thành viên chịu trách nhiệm quản lý các công việc hàng ngày của IMF 24 thành viên của Ban Giám đốc Điều hành này thay mặt cho 189 quốc gia thành viên Ban Giám đốc Điều hành bàn luận và giải quyết tất cả các vấn đề từ việc xem xét tình trạng kinh tế của các nước thành viên được chuẩn bị bởi nhân viên của IMF cho đến các vấn đề về chính sách kinh tế có liên quan đến nền kinh tế toàn cầu
6 Hoạt động của IMF
Sứ mệnh nền tảng của IMF là đảm bảo sự ổn định của hệ thống tiền tệ quốc tế Điều này được thực hiện trên 3 phương diện: theo dõi nền kinh tế toàn cầu và nền kinh tế của các nước thành viên; Cho vay đối với các nước có khó khăn trong cán cân thanh toán; Và giúp đỡ thực tế cho các thành viên
Giám sát
Trang 7IMF giám sát hệ thống tiền tệ quốc tế và giám sát các chính sách kinh tế và tài chính của 189 nước thành viên Như một phần của quá trình, nó diễn ra ở cả cấp độ toàn cầu và ở từng quốc gia, IMF nêu bật những rủi ro có thể có đối với sự ổn định và tư vấn về những điều chỉnh chính sách cần thiết
Cho vay
Trách nhiệm chính của IMF là cung cấp các khoản vay cho các nước thành viên gặp vấn đề thực sự hoặc vấn đề tiềm tàng về cán cân thanh toán Sự trợ giúp tài chính này giúp các nước
có thể xây dựng lại dự trữ quốc tế, ổn định tiền tệ, tiếp tục trả tiền nhập khẩu và khôi phục các điều kiện tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong khi vẫn thực hiện các chính sách nhằm giải quyết các vấn đề nằm bên dưới Không giống như các ngân hàng phát triển, IMF không cho vay đối với các dự án cụ thể
Phát triển năng lực
Phát triển năng lực IMF - hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo - giúp các nước thành viên thiết kế và thực hiện các chính sách kinh tế thúc đẩy sự ổn định và tăng trưởng bằng cách tăng cường năng lực và kỹ năng về thể chế của họ IMF tìm cách tạo ra sự hiệp lực giữa hỗ trợ kỹ thuật
và đào tạo nhằm tối đa hóa hiệu quả của họ
II NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WORLD BANK)
1 Giới thiệu
Nhóm Ngân hàng Thế giới (World Bank Group), thường được gọi tắt là Ngân hàng Thế giới, viết tắt là WB, được thành lập vào năm 1944 và có trụ sở chính ở thủ đô Washington D.C., Hoa Kỳ Ngân hàng Thế giới (WB) cùng với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) là những sản phẩm của Hệ thống Bretton Woods Tổ chức này bao gồm hai cơ quan phát triển đặc biệt được sở hữu bởi 186 nước thành viên: Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (International Bank for Reconstruction and Development – IBRD), và Tổ chức Phát triển Quốc Tế (International Development Association – IDA) Mỗi cơ quan có một vai trò khác nhau, nhưng luôn hợp tác với nhau trong việc thực hiện mục tiêu làm cho toàn cầu hóa trở thành một quá trình mang tính bền vững và đồng đều hơn
IBRD có nhiệm vụ giảm đói nghèo ở các nước có thu nhập ở mức trung bình và những nước nghèo có uy tín trong việc vay vốn Trong khi đó, IDA tập trung chủ yếu vào các nước nghèo nhất thế giới Các nhiệm vụ của hai cơ quan này được hỗ trợ bởi Công ty Tài chính Quốc tế (International Finance Corporation – IFC), Tổ chức Đảm bảo Đầu tư Đa phương (Multilateral
Trang 8Investment Guarantee Agency – MIGA) và Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (International Center for the Settlement of Investment Disputes – ICSID)
WB bắt đầu hoạt động từ năm 1946 với 38 quốc gia thành viên ban đầu Nhiệm vụ ban đầu của WB là cung cấp các khoản vay tái thiết cho các nền kinh tế bị tàn phá của Châu Âu Trong những năm 1950 và 1960, khi châu Âu bắt đầu phục hồi từ đống đổ nát của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, WB bắt đầu chuyển trọng tâm của mình sang Châu Phi, Châu Á và
Mỹ Latinh Ngân hàng Thế giới hiện có 186 quốc gia thành viên, với hơn 10.000 nhân viên và hơn 100 cơ quan đại diện trên thế giới
2 Cơ cấu
Cơ cấu hiện hành của Nhóm Ngân hàng Thế giới gồm có Hội đồng Thống đốc, Ban Giám đốc Điều hành, Chủ tịch, 5 Tổng giám đốc và các cán bộ của WB Các Nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới: Nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (tên gọi đầy đủ của chức vụ này là "Phó tổng giám đốc phụ trách phát triển và kinh tế học, nhà kinh tế trưởng") làcấp bậc quản lý cao nhất về chuyên môn trong Ngân hàng Thế giới Người giữ chức vụ này là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất tới kinh tế thế giới, và thường là những học giả kinh
tế xuất chúng
3 Mục tiêu
Mục tiêu chung là giúp các nước đang phát triển trong các nước hội viên nâng cao năng lực sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế, tiến bộ xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân
4 Các hoạt động chính của WB
Tạo quỹ: IBRD tạo những nguồn vốn vay cho các nước đang phát triển thông qua việc
bán cổ phiếu được xếp hạng AAA trên thị trường tài chính thế giới Trong khi IBRD đạt được một phần nhỏ lợi nhuận từ những nguồn cho vay này, nguồn thu lớn hơn của tổ chức này đến từ việc cho vay những nguồn vốn mà nó sở hữu Nguồn vốn này bao gồm những khoản dự trữ được tích trữ qua nhiều năm và những nguồn đóng góp của 185 cổ đông (là các quốc gia thành viên) của WB Nguồn thu của IBRD cũng được dùng để chi trả cho chi phí vận hành của WB và hỗ trợ hoạt động của IDA cũng như chương trình xóa nợ cho các nước nghèo
Trang 9 Cung cấp các nguồn vốn vay: Thông qua IBRD và IDA, WB đưa ra hai loại vốn cho
vay và tín dụng: (1) những hoạt động đầu tư và (2) hoạt động liên quan đến chính sách phát triển Các quốc gia sử dụng nguồn vốn và tín dụng loại một để đầu tư vào hàng hóa, lao động và dịch vụ nhằm ủng hộ cho các dự án phát triển kinh tế và xã hội trong nhiều khối ngành khác nhau Loại vốn vay và tín dụng thứ hai được sử dụng để cung cấp những nguồn tài chính được giải ngân nhanh nhằm hỗ trợ cho chính sách nào đó của một quốc gia và những chương trình cải cách bộ máy hành chính Đơn vay vốn của các nước thành viên sẽ được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo những dự án mà WB cho vay đầu tư phải bền vững về mặt kinh tế, xã hội, và môi trường Trong quá trình đàm phán, WB và nước vay vốn phải thỏa thuận về mục đích phát triển, đầu ra của dự án, những chỉ số cho thấy tốc độ
và chất lượng thực hiện dự án, kế hoạch thực hiện dự án cũng như quy trình giải ngân nguồn vốn Những nguồn tín dụng dài hạn thường không có lãi suất, nhưng có một khoản thu nhỏ cho chi phí dịch vụ, tương đương khoảng 0,75% nguồn vốn được cho vay
Quản lý các quỹ tín thác (trust funds) và cung cấp các khoản viện trợ không hoàn lại: Các nhà tài trợ chính phủ và tư nhân gửi tiền vào quỹ tín thác được cất giữ tại WB.
Những nguồn vốn này được sử dụng cho nhiều mục đích phát triển khác nhau WB cũng huy động những nguồn vốn từ bên ngoài để cung cấp cho những hoạt động phi lợi nhuận của IDA và những khoản viện trợ không hoàn lại, cũng như những nguồn vốn cho các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật nhằm đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của các quốc gia đang phát triển Những nguồn vốn hỗ trợ không hoàn lại của IDA thường được dùng cho các mục đích: giảm hoặc xóa nợ cho các quốc gia nghèo không có khả năng trả nợ; cải thiện
vệ sinh và nguồn nước; ủng hộ cho những chương trình tiêm chủng; chống lại HIV/AIDS; ủng hộ cho các tổ chức dân sự; tạo ra những sáng kiến để cắt giảm khí thải và hiệu ứng nhà kính
Cung cấp dịch vụ tư vấn: WB cũng đóng vai trò cung cấp những dịch vụ phân tích tình
hình, tư vấn và cung cấp thông tin cho các nước thành viên nhằm giúp các nước này phát triển kinh tế – xã hội
Xây dựng năng lực: WB có vai trò nâng cao năng lực của các đối tác, nguồn nhân lực
ở các nước đang phát triển, và nhân viên của chính tổ chức này để giúp họ có được những kiến thức và kỹ năng cần thiết để cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, cải thiện hiệu suất của chính phủ và cung cấp dịch vụ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và duy trì các chương trình xóa đói giảm nghèo
III QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ IMF
Trang 10 Trong giai đoạn 1976-1983 : Nhà nước tích cực chủ động làm việc với IMF để vay 200 triệu trong Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) theo các điều kiện ưu đãi về lãi suất và thời hạn
để giúp Việt Nam khắc phục các khó khăn trong cán cân thanh toán
Trong giai đoạn 1985-1993 :
Quan hệ giữa VN và IMF bước vào thời kì khó khăn khi IMF đình chỉ quyền vay vốn của Việt Nam do các khoản nợ quá hạn Trong thời gian này, dưới sự chỉ đạo của chính phủ, NHNN đã phói hợp với các cán bộ, ngành liên quan kiên trì nổ lực ngoại giao nhằm duy trì mối quan hệ hội viên tại IMF, tạo tiên fđề cho việc nối lại quan hệ tín dụng sau này Trợ giúp của IMF được thực hiện thông qua các đoàn công tác về kinh tế vĩ mô và hỗ trợ
kĩ thuật
Đến tháng 10-1993: Với nổ lực to lớn và quyết tâm cải cách chính phủ Việt Nam cùng với
sự vận động dàn xếp tài chính thiện chí của các nhà tài trợ thuộc câu lạc bộ Paris, quan hệ tín dụng giữa IMF và VN chính thức được nối lại Đây là kết quả cả quá trình đàm phán kiên trì của Chính phủ ta với chính phủ và ngân hàng nước ngoài để huy động nguồn tài trợ cho việc trả hết các khoản nợ quá hạn
Trong giai đoạn 1993-2004 : IMF cung cấp cho VN 4 khản vay vốn với tổng vón cam kết 1.094 triêu USD, trong đó, chương trình vay cuối cùng là Tăng trưởng và Giảm nghèo
Năm 200 9, IMF đã tiến hành 2 đợt phân bổ SDR tổng thể và đặc biệt vào các tháng 8 và 9 nhằm giúp các nước hội viên tăng dự trứ ngoại đối, chống đỡ trước tắc động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, trong đó có VN
Hiện nay , quan hệ Việt Nam - IMF tiếp tục trên nhiều lĩnh vực như giám sát kinh tế vĩ mô, đối thoại, tư vấn chính sách, đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam Cụ thể là:
- Giám sát kinh tế vĩ mô: Hàng năm theo định kỳ, IMF thực hiện các đợt đánh giá về tình
hình kinh tế vĩ mô Việt Nam thông qua 2 Đoàn công tác: Đoàn Điều IV và Đoàn cán bộ
để nghiên cứu cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam để đưa ra các tư vấn, đánh giá, đề xuất về chính sách vĩ mô trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại, cải cách DNNN v.v…
- Hỗ trợ kỹ thuật: Từ 1994 - 2015, IMF đã cung cấp gần 65 đoàn hỗ trợ kỹ thuật cho các
cơ quan Chính phủ Việt Nam, bao gồm NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư trong các lĩnh vực như thống kê khu vực đối ngoại, quản lý ngân sách, hoạt động tiền tệ và ngoại hối, nghiệp vụ ngân hàng trung ương, thanh tra giám sát ngân hàng, phòng chống rửa tiền và chống tài trợ cho khủng bố, số liệu thống kê kinh tế, v.v Ngoài ra, IMF cũng thường xuyên tổ chức đối thoại tư vấn chính sách và thông tin cho các cơ quan đoàn thể của Đảng, Nhà nước và Chính phủ khác;