MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu Năng lượng là yếu tố có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, là dòng máu nuôi sống nền kinh tế. Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng năng lượng cũng gây ra những tác động tiêu cực đối với con người và môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu, nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu… Đây là một trong những vấn đề mang tính nổi cộm trên phạm vi thế giới cũng như đối với mỗi một quốc gia. Để giải quyết vấn đề nói trên, Hội nghị lần thứ 21 của Liên hợp quốc (COP 21) ngày 12-12-2015, tại Pa-ri nước Pháp đã thông qua Công ước khung về biến đổi khí hậu. Đây là một bước đột phá quan trọng trong nhằm giảm lượng khí thải gây ô nhiễm và hiệu ứng nhà kính nhằm hạn chế gia tăng nhiệt độ của trái đất. Một trong những biện pháp đã được hội nghị thông qua với sự nhất trí cao của các nước thành viên là tăng cường việc thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững. Một trong những giải pháp để thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững là sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, trong đó việc tăng cường sử dụng các sản phẩm tiết kiệm năng lượng đóng vai trò quan trọng. Bởi vì, sản phẩm tiết kiệm năng lượng (TKNL) là những sản phẩm trong quá trình sử dụng tiêu hao ít năng lượng hoặc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo. Việc tăng cường sử dụng các sản phẩm TKNL sẽ góp phần giảm thiểu các nguy cơ mất an toàn, ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng. Ngoài ra, các sản phẩm TKNL còn góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu và nhất là nhằm bảo đảm an ninh năng lượng. Do những đặc tính ưu việt nêu trên nên cùng với các sản phẩm xanh, sản phẩm thân thiện với môi trường, các sản phẩm TKNL đang được các nước trên thế giới khuyến khích phát triển sản xuất và tiêu dùng. Việt Nam là nước đang phát triển, nhu cầu sử dụng năng lượng trong các năm qua ở mức khá cao và còn tiếp tục duy trì trong nhiều năm nữa, theo dự tính, giai đoạn 2014 - 2030 nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tăng với tốc độ bình quân 5,9%/năm [5]. Do đó, tiết kiệm năng lượng là một chủ trương lớn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, nhiều chính sách tiết kiệm năng lượng đã được ban hành và bước đầu đưa lại kết quả nhất định. Sau một thời gian triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia về tiết kiệm năng lượng trong giai đoạn 2011 – 2015, mức năng lượng tiết kiệm ở Việt Nam đạt gần 6% tổng tiêu thụ năng lượng quốc gia [62], đây là con số rất có ý nghĩa, bởi nếu không có tiết kiệm này phải xây dựng thêm những nhà máy điện mới có thể bù đắp được lượng điện thiếu hụt, thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng đã có bước phát triển nhanh. Công tác quản lý nhà nước đối với các sản phẩm TKNL ngày càng được chú trọng. Đã xây dựng các tiêu chuẩn quy định về chất lượng sản phẩm, quy chuẩn và tiêu chuẩn về hiệu suất năng lượng, những chuẩn mực cho từng sản phẩm. Đặc biệt là bước đầu đã tạo hành lang pháp lý để quản lý thị trường các sản phẩm TKNL. Cấm nhập khẩu và lưu thông trên thị trường trong nước các sản phẩm có mức độ tiêu hao năng lượng cao. Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiêp sản xuất và lưu thông các sản phẩm có mức tiêu hao năng lượng thấp. Công tác phát triển thị trường nhằm tiêu thụ các sản phẩm xanh nói chung và sản phẩm TKNL đã từng bước được chú trọng. Hoạt động truyền thông, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng đã được đẩy mạnh… Trên thị trường trong nước, các sản phẩm tiết kiệm năng lượng ngày càng nhiều, nhận thức của người tiêu dùng ngày càng nâng cao và đã ưu tiên mua sắm các sản phẩm TKNL. Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đã đạt được, theo cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), để tạo nên 1 USD tổng sản phẩm quốc nội GDP Việt Nam tiêu tốn 1,02 kWh điện (hoặc 0,463 kg TOE), gần gấp hai lần Hàn Quốc, gấp ba lần rưỡi Pháp, gấp ba lần Hoa Kỳ [31, 62] và Việt Nam là một trong số ít quốc gia có cường độ tiêu thụ năng lượng gia tăng, việc cung ứng và tiêu dùng sản phẩm TKNL vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển bền vững, các sản phẩm TKNL chưa được thương mại hóa một cách rộng rãi. Trong sản xuất, mức tiêu thụ năng lượng trong một đơn vị sản phẩm còn cao, trong tiêu dùng, nhiều khách hàng vẫn chưa am hiểu về lợi ích của các sản phẩm TKNL. Chính sách đã ban hành còn nặng về khâu sản xuất, còn xem nhẹ công tác phát triển thị trường tiêu thụ các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, các biện pháp nhằm khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường các sản phẩm TKNL chưa thực sự mang lại kết quả mong muốn, công tác quản lý thị trường còn lỏng lẻo, chế tài xử phạt chưa đủ mạnh để ngăn chặn và giảm thiểu việc tiêu thụ hàng nhái và hàng giả. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng sản xuất và kinh doanh các sản phẩm TKNL, chưa mạnh dạn đầu tư áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nhằm cung ứng cho thị trường các các sản phẩm TKNL với chất lượng và giá cả hợp lý. Hệ thống phân phối các sản phẩm tiết kiệm năng lượng còn hạn chế, các cơ sở kinh doanh lớn còn chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn; mức độ chuyên môn hoá còn thấp. Chưa hình thành được các kênh phân phối riêng đối với các sản phẩm TKNL, các cơ sở bán lẻ vẫn còn lẫn lộn các sản phẩm TKNL với các sản phẩm khác, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua sắm các sản phẩm TKNL. Việc thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tiêu dùng bền vững còn dàn trải, nặng về hình thức, thiếu các nội dung thiết thực. Công tác quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp trong một số trường hợp còn thái quá, công bố của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm nhiều khi còn khác xa so với thực tế, gây phản cảm, làm mất niềm tin của người tiêu dùng. Để phát huy vai trò của thị trường trong việc thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm TKNL nhằm góp phần thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, cần nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước; phân tích, đánh giá làm rõ thực trạng và chỉ ra các nguyên nhân hạn chế sự phát triển của thị trường các sản phẩm TKNL nước ta thời gian qua; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường các sản phẩm năng lượng nước ta trong thời gian tới, góp phần nâng cao hiệu quả tiêu thụ năng lượng, giảm thiểu mức độ biến đổi khí hậu và sự nóng lên của trái đất, tiến tới việc thực hiện các mục tiêu của tăng trưởng xanh và phát phát triển bền vững đã đề ra. Xuất phát từ những lý do trên đây, NCS chọn đề tài “Phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam” cho luận án tiến sĩ của mình là có ý nghĩa về cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn nhằm góp phần bổ sung lý luận, đề xuất các giải pháp hiệu quả cho tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam và quan trọng hơn là nâng cao trình độ nghiên cứu đạt trình độ tiến sỹ. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng ở nước ta đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG THƯƠNG
BÙI VĂN PHÚ
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM
TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh doanh Thương mại
Mã số : 62.34.01.21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Trịnh Thị Thanh Thủy
2 PGS.TS Nguyễn Thế Chinh
Trang 2HÀ NỘI - 2017
Trang 31.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại sản phẩm tiết kiệm năng lượng21
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại thị trường sản phẩm tiết kiệm nănglượng 29
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm nănglượng 34
1.1.4 Vai trò của phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng 39
1.2 Nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng 43
1.2.1 Nội dung phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng
Trang 41.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam về phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng 60
1.4.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển thị trường sản phẩm tiếtkiệm năng lượng 60
1.4.2 Bài học cho Việt Nam về phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm nănglượng 68
2.4 Đánh giá chung về thực trạng thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng nước ta giai đoạn 2006-2015 106
2.4.1 Những thành tựu đã đạt được 106
2.4.2 Những hạn chế, yếu kém113
2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 118
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 121
Trang 5CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 VÀ TẦM NHÌN 2030 122
3.1 Xu hướng phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng 122
3.1.1 Xu hướng phát triển thị trường sản phẩm TKNL trên thế giới 1223.1.2 Xu hướng phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng ở ViệtNam 125
3.2 Quan điểm và định hướng phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam 127
3.2.1 Quan điểm phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng 1273.2.2 Định hướng phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng 130
3.3 Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm
3.3.1 Giải pháp phát triển nguồn cung các sản phẩm tiết kiệm năng lượng133
3.3.2 Giải pháp phát triển trung gian thị trường sản phẩm tiết kiệm nănglượng 141
3.3.3 Giải pháp phát triển tiêu dùng sản phẩm tiết kiệm năng lượng 147
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
* Tiếng việt
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BVMT Bảo vệ môi trường
Bộ KHCN Bộ khoa học và công nghệ
DN Doanh nghiệp
HTPP Hệ thống phân phối
HTPPHH Hệ thống phân phối hàng hóa
MTQG Mục tiêu quốc gia
TK NL&HQ Tiết kiệm năng lượng và hiệu quả
TTTM Trung tâm thương mại
TKNL Tiết kiệm năng lượng
TT SP TKNL Thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
SP TKNL Sản phẩm tiết kiệm năng lượng
* Tiếng Anh
AD Aggregate demand Tổng Cầu
AS Aggregate supply Tổng Cung
ASEAN Association of Southeast Asian
EE Energy Efficiency Hiệu suất năng lượng
ESCO Energy Service Company Công ty dịch vụ năng lượngGDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa
GEF Global Environment Facility Quỹ môi trường toàn cầuMUTRAP Multiple Trade Asistant
Projects
Dự án hỗ trợ chính sách thương mại đa biênMEPS Minimum Energy Performance
Kênh mua hàng xanh quốc tế
OECD Organization for Economic Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Trang 7Cooperation and Development Kinh tếUNFCCC United Nations Framework
Convention on Climate Change
Công ước khung của Liên HiệpQuốc về Biến đổi Khí hậuTWh Terawatt-hour
TOE Ton of Oil Equivalent Hệ số chuyển đổi năng lượngVNGPN VietNam Green Purchasing
Trang 8DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 1.1 Phân loại sản phẩm và thiết bị tiết kiệm năng lượng 25
Bảng 1.2 Chức năng nhiệm vụ và mục tiêu của các chủ thể trong phát triển thị trường các sản phẩm tiết kiệm năng lượng 38
Bảng 2.1 Tỷ trọng một số sản phẩm tiết kiệm năng lượng chủ yếu 78
Bảng 2.2 Thực trạng nhập khẩu các sản phẩm tiết kiệm năng lượng chủ yếu 79
Bảng 2.3 Thực trạng phát triển doanh nghiệp thương mại của nước ta 87
Bảng 2.4 Số lượng siêu thị ở Việt Nam 91
Bảng 2.5 Số lượng trung tâm thương mại ở Việt Nam 92
Bảng 2.6: Thực trạng bán lẻ các sản phẩm TKNL trên thị trường trong nước 95
Bảng 2.7 Tỷ trọng bán lẻ một số sản phẩm tiết kiệm năng lượng chủ yếu 96
Bảng 2.8 Thực trạng nhận thức của các đối tượng khách hàng về sản phẩm tiết kiệm năng lượng 101
Bảng 2.9 So sánh thực trạng tiêu dùng sản phẩm tiết kiệm năng lượng với một số sản phẩm khác 105
Hình 1.1 Nhãn năng lượng một số nước trên thế giới 28
Hình 1.2 Nhãn năng lượng Việt Nam 28
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Năng lượng là yếu tố có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗiquốc gia, là dòng máu nuôi sống nền kinh tế Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụngnăng lượng cũng gây ra những tác động tiêu cực đối với con người và môi trườngdẫn đến biến đổi khí hậu, nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu… Đây là một trongnhững vấn đề mang tính nổi cộm trên phạm vi thế giới cũng như đối với mỗi mộtquốc gia
Để giải quyết vấn đề nói trên, Hội nghị lần thứ 21 của Liên hợp quốc (COP21) ngày 12-12-2015, tại Pa-ri nước Pháp đã thông qua Công ước khung về biến đổikhí hậu Đây là một bước đột phá quan trọng trong nhằm giảm lượng khí thải gây ônhiễm và hiệu ứng nhà kính nhằm hạn chế gia tăng nhiệt độ của trái đất Một trongnhững biện pháp đã được hội nghị thông qua với sự nhất trí cao của các nước thànhviên là tăng cường việc thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững
Một trong những giải pháp để thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững là sửdụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, trong đó việc tăng cường sử dụng các sảnphẩm tiết kiệm năng lượng đóng vai trò quan trọng Bởi vì, sản phẩm tiết kiệm nănglượng (TKNL) là những sản phẩm trong quá trình sử dụng tiêu hao ít năng lượnghoặc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo Việc tăng cường sử dụng các sản phẩmTKNL sẽ góp phần giảm thiểu các nguy cơ mất an toàn, ô nhiễm môi trường trongquá trình sử dụng Ngoài ra, các sản phẩm TKNL còn góp phần giảm thiểu biến đổikhí hậu và nhất là nhằm bảo đảm an ninh năng lượng Do những đặc tính ưu việtnêu trên nên cùng với các sản phẩm xanh, sản phẩm thân thiện với môi trường, cácsản phẩm TKNL đang được các nước trên thế giới khuyến khích phát triển sản xuất
và tiêu dùng
Việt Nam là nước đang phát triển, nhu cầu sử dụng năng lượng trong các nămqua ở mức khá cao và còn tiếp tục duy trì trong nhiều năm nữa, theo dự tính, giaiđoạn 2014 - 2030 nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tăng với tốc độ bình quân5,9%/năm [5] Do đó, tiết kiệm năng lượng là một chủ trương lớn được Đảng và
Trang 10Nhà nước hết sức quan tâm, nhiều chính sách tiết kiệm năng lượng đã được banhành và bước đầu đưa lại kết quả nhất định Sau một thời gian triển khai Chươngtrình Mục tiêu quốc gia về tiết kiệm năng lượng trong giai đoạn 2011 – 2015, mứcnăng lượng tiết kiệm ở Việt Nam đạt gần 6% tổng tiêu thụ năng lượng quốc gia[62], đây là con số rất có ý nghĩa, bởi nếu không có tiết kiệm này phải xây dựngthêm những nhà máy điện mới có thể bù đắp được lượng điện thiếu hụt, thị trườngsản phẩm tiết kiệm năng lượng đã có bước phát triển nhanh Công tác quản lý nhànước đối với các sản phẩm TKNL ngày càng được chú trọng Đã xây dựng các tiêuchuẩn quy định về chất lượng sản phẩm, quy chuẩn và tiêu chuẩn về hiệu suất nănglượng, những chuẩn mực cho từng sản phẩm Đặc biệt là bước đầu đã tạo hành langpháp lý để quản lý thị trường các sản phẩm TKNL Cấm nhập khẩu và lưu thôngtrên thị trường trong nước các sản phẩm có mức độ tiêu hao năng lượng cao.Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiêp sản xuất và lưu thông các sản phẩm cómức tiêu hao năng lượng thấp Công tác phát triển thị trường nhằm tiêu thụ các sảnphẩm xanh nói chung và sản phẩm TKNL đã từng bước được chú trọng Hoạt độngtruyền thông, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng đã được đẩy mạnh…Trên thị trường trong nước, các sản phẩm tiết kiệm năng lượng ngày càng nhiều,nhận thức của người tiêu dùng ngày càng nâng cao và đã ưu tiên mua sắm các sảnphẩm TKNL.
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đã đạt được, theo cơ quan năng lượng quốc tế(IEA), để tạo nên 1 USD tổng sản phẩm quốc nội GDP Việt Nam tiêu tốn 1,02 kWhđiện (hoặc 0,463 kg TOE), gần gấp hai lần Hàn Quốc, gấp ba lần rưỡi Pháp, gấp balần Hoa Kỳ [31, 62] và Việt Nam là một trong số ít quốc gia có cường độ tiêu thụnăng lượng gia tăng, việc cung ứng và tiêu dùng sản phẩm TKNL vẫn còn nhiều bấtcập, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển bền vững, các sản phẩmTKNL chưa được thương mại hóa một cách rộng rãi Trong sản xuất, mức tiêu thụnăng lượng trong một đơn vị sản phẩm còn cao, trong tiêu dùng, nhiều khách hàngvẫn chưa am hiểu về lợi ích của các sản phẩm TKNL
Trang 11Chính sách đã ban hành còn nặng về khâu sản xuất, còn xem nhẹ công tác pháttriển thị trường tiêu thụ các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, các biện pháp nhằmkhuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường các sản phẩm TKNLchưa thực sự mang lại kết quả mong muốn, công tác quản lý thị trường còn lỏnglẻo, chế tài xử phạt chưa đủ mạnh để ngăn chặn và giảm thiểu việc tiêu thụ hàngnhái và hàng giả
Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng sản xuất và kinh doanh các sản phẩmTKNL, chưa mạnh dạn đầu tư áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nhằm cungứng cho thị trường các các sản phẩm TKNL với chất lượng và giá cả hợp lý Hệthống phân phối các sản phẩm tiết kiệm năng lượng còn hạn chế, các cơ sở kinhdoanh lớn còn chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn; mức độ chuyên môn hoá cònthấp Chưa hình thành được các kênh phân phối riêng đối với các sản phẩm TKNL,các cơ sở bán lẻ vẫn còn lẫn lộn các sản phẩm TKNL với các sản phẩm khác, chưathực sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua sắm các sản phẩm TKNL
Việc thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tiêu dùng bền vữngcòn dàn trải, nặng về hình thức, thiếu các nội dung thiết thực Công tác quảng básản phẩm của doanh nghiệp trong một số trường hợp còn thái quá, công bố củadoanh nghiệp về chất lượng sản phẩm nhiều khi còn khác xa so với thực tế, gâyphản cảm, làm mất niềm tin của người tiêu dùng
Để phát huy vai trò của thị trường trong việc thúc đẩy sản xuất và tiêu dùngcác sản phẩm TKNL nhằm góp phần thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởngxanh và phát triển bền vững, cần nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, nghiên cứu kinhnghiệm của các nước; phân tích, đánh giá làm rõ thực trạng và chỉ ra các nguyênnhân hạn chế sự phát triển của thị trường các sản phẩm TKNL nước ta thời gianqua; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường các sản phẩmnăng lượng nước ta trong thời gian tới, góp phần nâng cao hiệu quả tiêu thụ nănglượng, giảm thiểu mức độ biến đổi khí hậu và sự nóng lên của trái đất, tiến tới việcthực hiện các mục tiêu của tăng trưởng xanh và phát phát triển bền vững đã đề ra
Trang 12Xuất phát từ những lý do trên đây, NCS chọn đề tài “Phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam” cho luận án tiến sĩ của mình là có ý nghĩa
về cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn nhằm góp phần bổ sung lý luận, đề xuấtcác giải pháp hiệu quả cho tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam và quan trọng hơn lànâng cao trình độ nghiên cứu đạt trình độ tiến sỹ
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đề xuất quan điểm, định hướng và giảipháp nhằm phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng ở nước ta đến năm
2025 và tầm nhìn đến năm 2030
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) về phát triển thị trường sảnphẩm tiết kiệm năng lượng
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước nhằm rút ra bài học về phát triểnthị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng cho Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm nănglượng của Việt Nam giai đoạn 2006-2015 (tập trung giai đoạn 2011-2015)
- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển thị trường sản phẩmtiết kiệm năng lượng của Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháttriển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam
Trang 13Nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng củaViệt Nam giai đoạn 2006- 2015, định hướng và giải pháp phát triển thị trường sảnphẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn 2030;
+ Về nội dung:
Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng các yếu tố liên quan đến pháttriển thị trường là:
(1) Nguồn cung của thị trường hay các sản phẩm TKNL được gọi tắt là
nguồn cung của thị trường, nguồn cung này bao gồm các sản phẩm TKNL được sảnxuất trong nước và nhập khẩu
Năng lượng được tiêu thụ bởi các sản phẩm TKNL có thể dưới dạng điệnnăng, nhiệt năng hoặc các loại năng lượng khác Theo tính chất sử dụng, nguồncung các sản phẩm tiêu thụ năng lượng bao gồm: các sản phẩm, thiết bị tiêu dùngcho sản xuất và các sản phẩm, thiết bị tiêu dùng cho sinh hoạt, hay tiêu dùng cuốicùng… Do diện các sản phẩm nghiên cứu là khá lớn, nên luận án tập trung nghiêncứu nhóm các sản phẩm, thiết bị tiêu thụ năng lượng điện phục vụ cho tiêu dùngcuối cùng như: các thiết bị làm mát, làm lạnh, đun nấu, chiếu sáng, nghe nhìn, thiết
bị văn phòng… Các phương tiện, thiết bị này chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng trongcác văn phòng công sở, các cơ sở kinh doanh dịch vụ (khách sạn, nhà hàng, khu vuichơi giải trí…) và các hộ gia đình
(2) Trung gian thị trường là tổng hợp toàn bộ các yếu tố nhằm kết nối sản
xuất với tiêu dùng bao gồm: Thể chế, chính sách, hạ tầng vật chất kỷ thuật, lựclượng thương nhân và một số yếu tố khác… tạo thành môi trường thương mại đểkết nối sản xuất với tiêu dùng
(3) Người tiêu dùng các sản phẩm TKNL bao gồm: Các văn phòng công sở,
các cơ sở của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ (khách sạn, nhà hàng, khu vui chơigiải trí…) và các hộ gia đình
Trên cơ sở phân tích làm rõ thực trạng các yếu tố cấu thành thị trường, luận ántiến hành đánh giá chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân của các chủ thể là nhà nước,các hiệp hội, các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong việc phát triển thị trường
Trang 14để làm cơ sở cho việc đề xuất quan điểm định hướng và giải pháp phát triển thịtrường trong thời gian tới.
4 Phương thức tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
Theo hướng tiếp cận chung nhất, phát triển thị trường thường được hiểu là mộtquá trình tác động của các chủ thể vào các yếu tố liên quan đến thị trường (Nguồncung, trung gian, người tiêu dùng) theo hướng tiến bộ
Trong nghiên cứu này, luận án tiếp cận theo hướng thị trường sản phẩm, nghĩa
là để phát triển thị trường các sản phẩm tiết kiệm năng lượng cần phát triển các yếu
tố tạo nên thị trường như phát triển nguồn cung sản phẩm, phát triển sức mua củathị trường và phát triển các trung gian thị trường như cơ sở hạ tầng, vật chất kỷthuật và môi trường, thể chế- chính sách Phát triển thị trường nói chung và thịtrường các sản phẩm TKNL nói riêng là nhiệm vụ của nhà nước, doanh nghiệp vàcủa người tiêu dùng mà tổ chức đại diện là hiệp hội người tiêu dùng Sự tác độngcủa các chủ thể cụ thể vào các thành phần thị trường cụ thể sẽ hướng tới các mụctiêu phát triển cụ thể như: Phát triển nguồn cung các SPTKNL; tạo môi trườngthương mại thuận lợi cho các SPTKNL và Phát triển nhu cầu tiêu dùng các
SPTKNL Tất cả các mục tiêu này đều hướng tới mục tiêu chung là Tăng trưởng
xanh và phát triển bền vững Phương pháp tiếp cận nghiên cứu của luận án được
biểu diễn qua sơ đồ sau:
Trang 15Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu phát triển thị trường các sản phẩm TKNL
4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Với góc độ nghiên cứu của luận án là phát triển thị trường sản phẩm tiếtkiệm năng lượng dựa trên tiếp cận các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến sự pháttriển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng Luận án sử dụng phương pháp luậnduy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê nin để nhìn nhận vàphân tích các sự vật hiện tượng trong quá trình vận động tất yếu của thị trường sảnphẩm tiết kiệm năng lượng Theo đó, khi xem xét sự phát triển của thị trường phảixem xét các yếu tố cấu thành thị trường trong điều kiện lịch sử cụ thể và trong mốiliên hệ tác động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu (nghiên cứu tại bàn), được tiến hành từviệc thu thập và nghiên cứu các tài liệu thứ cấp, hệ thống hóa các tài liệu đã cónhằm hình thành cơ sở lý luận cho việc phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp,
Chủ thể phát
triển
Các yếu tố cấu thành thị trường
Người tiêu dùng
Phát triển thị trường SPTKNL theo hướng tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Phát triển nguồn cung các SPTKNL
Tạo môi trường thương mại thuận lợi cho các SPTKNL
Phát triển nhu cầu tiêu dùng các SPTKNL
Trang 16đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và rút ra bài học cho Việt Nam về pháttriển thị trường các sản phẩm tiết kiệm năng lượng
- Phương pháp điều tra, khảo sát, được triển khai dựa trên việc tổ chức điềutra xã hội học bằng phiếu điều tra Trong phiếu điều tra, ngoài các câu hỏi chung làcác câu hỏi cụ thể cho các nhóm đối tượng khác nhau bao gồm các đại diện chodoanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp kinh doanh thương mại bán lẻ và các đạidiện cho người tiêu dùng Trong đó, số phiếu điều tra đối với mỗi đối tượng doanhnghiệp sản xuất và kinh doanh bán lẻ là 200 Có phân theo tỷ lệ nhất định, căn cứtheo loại hình doanh nghiệp Với đối tượng là người tiêu dùng, số phiếu phát ra là
300 Trong đó, khách hàng công sở và các cơ sở kinh doanh dịch vụ, mỗi đối tượng
là 50 phiếu còn các hộ gia đình là 200 phiếu Các câu hỏi liên quan đến nội dungchính sẽ được thiết kế theo mức đánh giá từ thấp đến cao (Chi tiết về mẫu phiếuđiều tra và kết quả điều tra được trình bày tại phần phụ lục)
Các phiếu điều tra sau khi thu thập được sẽ tiến hành xử lý bằng các phầnmềm thống kê và dùng để phân tích đánh giá định lượng theo các tiêu chí xác định.Tuy nhiên, do phạm vi quá rộng, các số liệu điều tra chưa đủ cơ sở để đưa ra cácnhận định đánh giá Cho nên, để có thể đánh giá một cách khoa học, ngoài việc căn
cứ vào kết quả số liệu sơ cấp (kết quả của điều tra), luận án còn sử dụng các thôngtin số liệu thứ cấp thông qua các tài liệu, số liệu thu thập được Một số bảng số liệuđược tình bày trong luận án là sự tổng hợp từ kết quả điều tra và sự tham khảo cácthông tin từ các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án
- Phương pháp phân tích, tổng hợp kinh tế, được sử dụng để phân tích nhằmlàm rõ thực trạng thị trường và sau đó được tổng hợp để xây dựng báo cáo luận án,phương pháp này được sử dụng để thu thập, nghiên cứu, phân tích, hệ thống hoá cácvấn đề lý luận liên quan đến phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượngcủa Việt Nam Đồng thời, thu thập các số liệu thứ cấp để làm rõ được một phầnthực trạng về thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam
- Phương pháp đánh giá, so sánh, được sử dụng để đưa ra các nhận định từ
đó chỉ ra các mặt mạnh, mặt yếu và đặc biệt là các nguyên nhân, hạn chế, trong đó
Trang 17tập trung làm rõ thực trạng phát triển thị trường các sản phẩm tiết kiệm năng lượng
ở Việt Nam so với các nước khác Việc đánh giá được tiến hành theo cả 2 phươngthức là định tính và định lượng, tùy theo các nguồn thông tin, tài liệu, số liệu thuthập được Đối với một số tiêu chí, việc đánh giá có thể được tiến hành theo địnhlượng dựa trên việc so sánh các số liệu tính toán, đối với một số tiêu chí khác, dothiếu số liệu, hoặc việc phân tích đánh giá không cần thiết về mặt định lượng thìđược tiến hành theo đánh giá định tính
- Phương pháp dự báo, dùng để nhận định xu hướng phát triển và các mụctiêu có thể đạt được trong tương lai, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển thịtrường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam cho những năm tiếp theo;Phương pháp này sẽ là cơ sở để tác giả hoàn thiện chương 3 của luận án
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng là gì? Bao gồm nhữngnội dung nào?
- Cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) để phát triển thị trường sản phẩm tiếtkiệm năng lượng là gì?
- Thực tiễn phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của ViệtNam thời gian qua như thế nào?
- Giải pháp đẩy mạnh phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượngcủa Việt Nam trong thời gian tới là gì?
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
- Ý nghĩa khoa học của luận án
Đề tài góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường vàphát triển thị trường sản phẩm mới đó là sản phẩm tiết kiệm năng lượng; đã làm rõmột số khái niệm, đặc điểm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thịtrường sản phẩm tiết kiệm năng lượng
Bổ sung thêm phương pháp tiếp cận nghiên cứu về phát triển thị trường sảnphẩm là phát triển nguồn cung sản phẩm, phát triển cầu về thị trường sản phẩm vàphát triển các trung gian thị trường (đó là phát triển cơ sở hạ tầng vật chất - kỹ thuật
và tạo dựng môi trường thể chế, chính sách) Đồng thời, luận án cũng chỉ rõ phươngpháp luận phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng bằng cách luận giải
Trang 18thực chất các nhân tố ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến phát triển thị trường sản phẩmtiết kiệm năng lượng của một quốc gia.
- Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Góp phần làm rõ vai trò, ý nghĩa của việc tiêu dùng các sản phẩm tiết kiệmnăng lượng;
Luận án đã tiến hành phân tích thực trạng thị trường sản phẩm tiết kiệm nănglượng của nước ta trong giai đoạn 2006-2015 (tập trung chủ yếu giai đoạn 2011-2015) theo các nội dung nguồn cung sản phẩm, cầu về thị trường sản phẩm và trunggian thị trường như cơ sở hạ tầng vật chất- kỷ thuật và môi trường thể chế, chínhsách, các nguyên nhân, hạn chế của phát triển thị trường;
Đề xuất 3 nhóm giải pháp là: Giải pháp phát triển nguồn cung các sản phẩmtiết kiệm năng lượng; Giải pháp phát trung gian thị trường và Giải pháp phát triểntiêu dùng gắn liền với các chủ thể là nhà nước, doanh nghiệp mà chủ thể đại diện làhiệp hội các doanh nghiệp và người tiêu dùng mà chủ thể đại diện là hiệp hội ngườitiêu dùng đẩy mạnh phát triển thị trường sản phẩm TKNL nước ta, góp phần thựchiện chiến lược quốc gia về an ninh năng lượng và phát triển bền vững
7 Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu, tổng quan, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungluận án được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm của nước ngoài về phát triển thị trường
sản phẩm tiết kiệm năng lượng
Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng
của Việt Nam giai đoạn 2006-2015
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm
năng lượng của Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn 2030
Trang 19TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trong thời gian qua, trong nước và nước ngoài đã có các công trình nghiêncứu liên quan đến phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng, có thể kểđến các nghiên cứu sau đây:
1 Công trình nghiên cứu về phát triển thị trường, thị trường sản phẩm
1.1 Công trình nghiên cứu của nước ngoài
Trong số các công trình nghiên cứu của ngoài nước liên quan đến đề tài, có hainội dung chủ yếu thường được đề cập đến là: Lý thuyết về thị trường, phát triển thịtrường sản phẩm và nghiên cứu liên quan đến thị trường bán lẻ hàng hóa hay là pháttriển hệ thống phân phối sản phẩm, hàng hóa Cụ thể:
Cơ sở lý luận về phát triển thị trường, thị trường sản phẩm hàng hóa nói chunghay thị trường sản phẩm tiết kiệm nói riêng, bắt nguồn từ các lý thuyết cổ điển củakinh tế học Lý thuyết này tập trung vào việc lý giải: Ba vấn đề chung của kinh tếhọc là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Trong nền kinh tếthị trường, các vấn đề này thường được giải quyết dựa trên nền tảng thị trường vàthị trường là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng Thông qua thị trường, hànghóa và dịch vụ được trao đổi Việc lý giải các vấn đề trên đây liên quan đến tên tuổigắn liền với các lý thuyết nổi tiếng như David Begg, Philip Cotler và một số nhàkhoa học khác
* David Begg, Stanley Fisher, Rudiger Dornbusch [68], Kinh tế học, NXB
Thống kê Hà Nội (2008) do nhóm Giảng viên khoa Kinh tế- Đại học kinh tế quốc
dân Hà Nội dịch, thị trường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: “Thị trường là biểu hiện của sự thu gọn quá trình mà thông qua đó
quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào, quyết định của các công ty
về sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và các quyết định của người công nhân về
việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hoà bằng sự điều chỉnh của giá cả” Theo nghĩa hẹp: “Thị trường là sự tập hợp các sự thoả thuận thông qua đó người mua và
Trang 20người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ” Các nhân tố tham giavào thị trường: Các chủ thể tham gia trao đổi (chủ yếu là bên mua và bên bán); Đốitượng trao đổi (là hàng hóa, dịch vụ); Các mối quan hệ giữa các chủ thể (Quan hệcung- cầu, quan hệ giá cả, quan hệ cạnh tranh); Địa điểm trao đổi (Chợ, cửa hàng…diễn ra trong một không gian nhất định) Do đó, bản chất của phát triển thị trườngchính là quá trình phát triển từ các yếu tố cấu thành thị trường như: Phương thứctiêu thụ, chủng loại sản phẩm (quy mô, chất lượng),…
* Philip Cotler, Kevin Lane Keller [79], Quản trị Marketing, NXB Thống kê
Hà Nội (2008), thị trường được phát biểu như sau: Thị trường bao gồm toàn bộnhững khách hàng tiềm ẩn có cùng nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và cókhả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó Phát triển thịtrường được hiểu thực chất là phát triển sản phẩm (nguồn cung sản phẩm hànghóa và dịch vụ), phát triển khách hàng (cầu về sản phẩm hàng hóa và dịch vụ),phát triển thị trường (phương thức tiêu thụ) theo chiều rộng và phát triển theochiều sâu Trong đó:
- Phát triển thị trường theo chiều rộng: Là việc khai thác các nỗ lực làm tăngsản lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra thị trường Có thể triển khai theo hai hướng:Làm tăng sản lượng trên thị trường hiện tại và phát triển thị trường mới
- Phát triển thị trường theo chiều sâu: Xem thị trường là tổng hòa các nhu cầutiêu dùng, các mối quan hệ liên quan đến nhau khi tiêu dùng các loại hàng hóa vàdịch vụ
Sự phát triển của thị trường sản phẩm liên quan trực tiếp phát triển hệ thốngphân phối sản phẩm hay phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, có thểliệt kê các tài liệu liên quan, nhưng chủ yếu đề cập đến một số khía cạnh cụ thểtrong lĩnh vực quản lý đối với hoạt động dịch vụ bán lẻ:
* Rodolfo, Ignacio, Ana, (2000) tại Tây Ban Nha về các yếu tố cấu thành chấtlượng trong bán lẻ chỉ ra 4 yếu tố: i) yếu tố hữu hình; ii) tính tin cậy; iii) tương táccon người trong siêu thị; iv) chính sách siêu thị.v.v
Trang 21* Mehta và cộng sự (2000), Vazquez và cộng sự (2001), Finn (2004),Gogliano và Hathecote (1994), đã nghiên cứu sâu về chất lượng trong bán lẻ, từ đó,cho thấy việc nâng cao và đo lường chất lượng trong bán lẻ không thể tiếp cận theocùng phương pháp với các ngành dịch vụ khác.
* Yue Pan, George (2005) chỉ ra rằng có 3 nhóm yếu tố quyết định sự trungthành của người tiêu dùng với cửa hàng bán lẻ: 1) nhóm yếu tố sản phẩm (chấtlượng sản phẩm, giá, chủng loại sản phẩm); 2) nhóm yếu tố cửa hàng (sự thuận tiện,chất lượng dịch vụ, sự thân thiện của nhân viên bán hàng, hình ảnh cửa hiệu, khôngkhí trong cửa hiệu, và thanh toán nhanh); 3) nhóm yếu tố nhân khẩu học
* Baker và cộng sự (2002); Darden và cộng sự (1983); Darley và Lim (1993);
Hu và Japer (2006); Phan và Zinkhan (2006); Roy và Tai (2003) đã chỉ ra môitrường cửa hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự trung thành của người tiêu dùng tớicửa hàng bán lẻ
* Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu và bài viết đề cập đến phát triển hệthống phân phối như: Boylaud Olivier and Giuseppe Nicoletti (2001), Cải cáchquản lý trong phân phối bán lẻ, Nghiên cứu kinh tế của OECD số 32, 2001/I;Francis Kwong (2002) A retail – Led distribution Model (Mô hình bán lẻ hàng đầu),China Resourcer Enterprise Ltd; Nordas, Hildegunn Kyvik, Massimo GelosoGrosso và Enrico Pinali (2007), Cơ cấu thị trường trong lĩnh vực bán lẻ và thươngmại hàng hóa, Tài liệu làm việc chính sách thương mại của OECD, số 68; ATKearney (2009), Những cánh cửa hy vọng cho bán lẻ toàn cầu – chỉ số phát triển
bán lẻ toàn cầu 2009; Fels, Allan “Quản lý bán lẻ - bài học từ các quốc gia đang phát triển”, Asia Pacific Business Review, quyển 15, số 1 năm 2009; Mutebi, Alex
M “Những thay đổi về quản lý đối với bán lẻ xuyên quốc gia quy mô lớn ở cácthành phố Đông Nam Á”, Nghiên cứu đô thị, số 44 kỳ 2 năm 2007
1.2 Công trình nghiên cứu trong nước
Khác với các công trình nghiên cứu của nước ngoài, các công trình nghiên cứutrong nước thường ít đề cập đến lý thuyết về thị trường, mà thường tập trung vàoviệc đề xuất giải pháp để phát triển thị trường;
Trang 22* Lê Trịnh Minh Châu (2003), trong “Các giải pháp phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (Đề tài khoa học
cấp Bộ, mã số 2002- 78- 013) [26], đã làm rõ một số lý luận cơ bản về quản lý hệthống phân phối hàng hóa như: khái niệm về hệ thống phân phối hàng hóa, cácthành viên tham gia hệ thống phân phối, cấu trúc và phân loại các hệ thống phânphối hàng hóa…; Đánh giá thực trạng và chỉ ra các nguyên nhân cản trở việc pháttriển hệ thống phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam và qua đó đềxuất các định hướng tổ chức và hệ thống các giải pháp nhằm phát triển hệ thốngphân phối hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào phát triển các hệ thống phânphối hàng hóa nói chung, chưa đi sâu vào nghiên cứu phát triển hệ thống phân phốisản phẩm cụ thể như sản phẩm tiết kiệm năng lượng
* Trần Thị Diễm Hương (2005), trong "Tổ chức hoạt động marketing bán lẻ hàng tiêu dùng của các công ty thương mại trên thị trường đô thị lớn nước ta"
(Luận án tiến sĩ kinh tế Trường Đại học Thương mại) [56], đã nghiên cứu sâu vềthực trạng tổ chức hoạt động marketing bán lẻ hàng tiêu dùng của các công tythương mại trên thị trường đô thị lớn nước ta và đề xuất một số giải pháp tổ chứchoạt động marketing bán lẻ hàng tiêu dùng tại các đô thị lớn ở Việt Nam
* Nguyễn Thị Nhiễu (2005), trong “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu thị của nước ta hiện nay” (Đề tài khoa học cấp Bộ) [33], đã nghiên cứu
sâu về hệ thống siêu thị và đề ra giải pháp phát triển cho loại hình kinh doanh này
* Đinh Văn Thành (2006), trong “Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta” (Đề tài khoa học cấp Bộ)
[22], đã tập trung nghiên cứu về kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu (rau quả,thịt, hàng may mặc, sắt thép, phân bón, xi măng…)
* Nguyễn Thị Nhiễu (2007), “Nghiên cứu các dịch vụ bán buôn, bán lẻ của một số nước và khả năng vận dụng vào Việt Nam” (Đề tài khoa học cấp Bộ) [34], đã
nghiên cứu, tổng hợp một số kinh nghiệm phát triển dịch vụ bán buôn, bán lẻ của
Trang 23một số quốc gia trên thế giới và đề xuất các giải pháp để vận dụng vào phát triển ởViệt Nam.
* Phạm Hữu Thìn (2008), trong “Giải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán
lẻ văn minh, hiện đại ở Việt Nam” (Luận án tiến sĩ kinh tế) [42], đã nghiên cứu sâu về
thực trạng các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại ở nước ta và đề xuất một sốgiải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại ở Việt Nam
* Tài liệu Hội thảo quốc gia (2008), trong “Việt Nam- WTO: Mở cửa thị trường trong lĩnh vực dịch vụ phân phối - bán lẻ” do Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt
Nam và Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế phối hợp tổ chức thực hiện tại
Hà Nội năm 2008 [52], đã làm rõ những khó khăn, thách thức của doanh nghiệpphân phối bán lẻ Việt Nam khi mở cửa thị trường
* Từ Thanh Thủy (2009), “Hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển dịch vụ bán buôn, bán lẻ của Việt Nam” (Đề tài khoa học cấp Bộ) [57], đã nghiên
cứu tổng quan về dịch vụ bán buôn, bán lẻ ở Việt Nam, đánh giá thực trạng và đềxuất hoàn thiện môi trường kinh doanh cho lĩnh vực dịch vụ này theo một số tiêuchí chủ yếu từ góc độ thuận lợi hóa thương mại cho thương nhân
* Nguyễn Thị Thanh Hà (2009), trong “Giải pháp phát triển hệ thống kinh doanh bán lẻ trên mạng” (Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 047.09.RD) [32], trên cơ
sở nghiên cứu một số vấn đề cơ sở lý luận về kinh doanh bán lẻ trên mạng, khảo sátthực trạng, đề tài đã đề xuất một số giải pháp phát triển kinh doanh bán lẻ trên mạngnhằm thích ứng với sự phát triển của loại hình kinh doanh này cũng như nâng caotính hiệu quả của việc kinh doanh trên mạng Đề tài đã đề xuất một số giải pháp vềphía các cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh nhằmphát triển bán lẻ trực tuyến…
*Dự án MUTRAP (2009), trong “Báo cáo rà soát khuôn khổ pháp lý về dịch
vụ phân phối ở Việt Nam và những khuyến nghị về sự phù hợp của các quy định chuyên ngành với cam kết WTO” [29] Trên cơ sở rà soát khung khổ pháp lý về
ngành phân phối của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, kinh nghiệm, chínhsách của một số quốc gia trên thế giới, các thành viên của dự án đã đưa ra các
Trang 24khuyến nghị chính sách để tăng cường chất lượng quản lý trong ngành phân phốibán lẻ cho Việt Nam
* Bộ Công Thương (2010), trong “Xúc tiến thương mại và kích cầu nội địa thực trạng và giải pháp”, NXB Công thương, Hà Nội, 2010 [1], trên cơ sở đánh giá
chung về thị trường nội địa ở Việt Nam những năm gần đây như: Thực trạng về sứcmua trên thị trường nội địa, thực trạng hệ thống phân phối trên thị trường nội địa…;Tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiếnthương mại thị trường trong nước ở Việt Nam thời gian tới
* Bộ Công Thương (2010), trong “Thị trường nội địa tiềm năng còn bỏ ngõ”,
NXB Công thương, Hà Nội, 2010 [2], trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng chủtrương, chính sách, thực trạng thị trường nội địa Việt Nam trong thời gian qua đãđưa ra một số định hướng phát triển thị trường nội địa Việt Nam như: Khu vực thịtrường thành thị; Khu vực thị trường nông thôn; Khu vực vùng núi, vùng sâu, vùng
xa Đồng thời đã đề xuất các giải pháp chung để phát triển thị trường nội địa
* Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), trong “Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020” [4], đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu
và các định hướng phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020
* Nguyễn Thanh Bình (2012), trong “Hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” Luận án Tiến sĩ kinh
tế thực hiện tại Viện Nghiên cứu thương mại [37], đã hệ thống cơ sở lý luận về hoànthiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ trong điều kiện hội nhập quốctế; trên cơ sở đó đánh giá thực trạng các chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán
lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, chỉ ra những những tồn tại,bất cập của các chính sách hiện hành; đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu,phương hướng hoàn thiện khung chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻhàng hóa ở Việt Nam đến năm 2020
* Hồ Trung Thanh (2012), “Nghiên cứu hoàn thiện chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa ở Việt Nam hiện nay” (Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 58.11.RD/HĐ-
KHCN) [24], mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở khoa học của việc hoàn
Trang 25thiện chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa góp phần thúc đẩy tăng trưởng và ổnđịnh kinh tế vĩ mô ở Việt Nam trong thời gian tới.
* Phạm Hồng Tú (2012), trong “Phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn Việt Nam giai đoạn 2011-2020” Luận án Tiến sĩ kinh tế thực hiện tại
Viện Nghiên cứu thương mại [41], đã hệ thống cơ sở lý luận về hoàn thiện chínhsách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ ở thị trường nông thôn Việt Nam; trên cơ
sở đó đánh giá thực trạng các chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hànghóa ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020, chỉ ra những những tồn tại, bất cập củacác chính sách hiện hành; đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu, phương hướnghoàn thiện khung chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở ViệtNam đến năm 2020
* Lê Trịnh Minh Châu (2013), “Một số vấn đề về phát triển hệ thống thị trường hàng hóa ở Việt Nam”, tạp chí nghiên cứu thương mại số 02/2013 [27]; Tác
giả đã đưa ra các định hướng phát triển hệ thống thị trường hàng hóa ở nước ta nóichung, tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng thương mại, đó là: Định hướng pháttriển hệ thống thị trường hàng công nghiệp tiêu dùng (gồm có thị trường thành thị
và thị trường nông thôn); Định hướng phát triển hệ thống thị trường tư liệu sản xuất.Định hướng phát triển hệ thống thị trường hàng nông sản
2 Công trình nghiên cứu về phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng
2.1 Công trình nghiên cứu của nước ngoài
* EroCham và Roland Berger (2013), trong “Market potential in energy efficiency in Southeast Asia” [71] Báo cáo tập trung khảo sát tại Singapore,
Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam, năm nước chiếm tới 86% tổng GDPcủa ASEAN năm 2010 và có thị trường lớn cho các sản phẩm và công nghệ hiệusuất năng lượng Dựa trên dữ liệu phỏng vấn với nhiều doanh nghiệp bao gồm cácnhà cung cấp công nghệ hiệu suất năng lượng (EE), các công ty dịch vụ năng lượng(ESCOs) và người sử dụng sản phẩm hiệu suất năng lượng, theo kết quả của nghiêncứu này: Tiết kiệm năng lượng là giải pháp hiệu quả nhất về kinh tế để thúc đẩy an
Trang 26ninh năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu và cải thiện sức cạnh tranh trongcông nghiệp; Tăng cường tiết kiệm năng lượng chắc chắn sẽ giúp hệ thống nănglượng của thế giới bền vững hơn cả về kinh tế và môi trường và nhìn ở góc hẹp hơn,
sử dụng năng lượng hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và tăng khảnăng cạnh tranh trong thị trường
* ESCO, “Giải pháp tiết kiệm năng lượng và hiệu quả” [72]; Tác giả đánh giá
hiện nay Việt Nam là nước sử dụng năng lượng thứ 3 ở châu Á, chỉ đứng sau TrungQuốc và Ấn Độ Ngành điện của nước ta mỗi năm phải tăng trưởng gấp đôi so vớiGDP, trong khi bình quân trên thế giới, để tăng 1% GDP cũng chỉ tăng 1,2 - 1,5%năng lượng Sử dụng năng lượng không hiệu quả có nhiều nguyên nhân như trình
độ quản lý chưa tốt; sự phối hợp giữa các khâu trong quy trình sản xuất chưa tối ưu;công nghệ thiết bị chưa đạt hiệu quả năng lượng cao; chưa quan tâm nhiều đến việc
sử dụng năng lượng hiệu quả do mới chỉ quan tâm nhiều đến sản lượng hoặc tâm lý
sợ thay đổi hệ thống máy móc hiện hành… Do đó, theo tác giả cần thành lập cáccông ty dịch vụ năng lượng nhằm mục đích là thực hiện quản lý và phối hợp tất cảcác giai đoạn của một dự án liên quan tới năng lượng như: kiểm toán năng lượng; tưvấn, thiết kế, bố trí mặt bằng nhà xưởng, thiết bị máy móc để tối ưu việc sử dụnghiệu quả năng lượng; đào tạo về quản lý, vận hành, bảo trì…
2.2 Công trình nghiên cứu trong nước
* Nguyên Long (2011), trong “Để phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng”, nghiên cứu đánh giá những tiềm năng tiết kiệm năng lượng của nước
ta trong giai đoạn 2006-2015 sau 5 năm triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêuquốc gia về TKNL và đã chỉ ra một số nguyên nhân đang gây cản gây khó khăn chocông tác phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của nước ta Đồngthời, theo tác giả có 2 cách thức để đa dạng hóa sản phẩm thị trường sản phẩm tiếtkiệm năng lượng: Thông qua con đường chuyển giao công nghệ bằng hợp tác liêndoanh; nghiên cứu để chế tạo ra những sản phẩm mới Mặc dù vậy, tài liệu chưanghiên cứu các nội dung cụ thể của SP TKNL và phát triển thị trường SP TKNL củanước ta
Trang 27* Lê Văn Doanh (2009), trong “Sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm nhìn từ mọi phía” [28]; Tạp chí Tự động hóa ngày nay, Số 103 (4/2009), đã đề xuất
quan điểm và chính sách năng lượng của Việt Nam cần phải dựa trên trên sự hài hòagiữa hiệu quả kinh tế, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường Mặc dù vậy, tàiliệu chưa nghiên cứu các nội dung cụ thể của SP TKNL và phát triển thị trường SPTKNL của nước ta
* Nguyễn Thọ Nhân (2011), “Tiết kiệm năng lượng - Những rào cản”; Tạp chí
liên hiệp các hội khoa học và kỷ thuật Việt Nam số tháng 5/2011 [39], theo tác giảviệc tiết kiệm năng lượng ở nhiều nước đang phát triển, kể cả ở nước ta, không tiếntriển khả quan vì gặp rất nhiều rào cản như: Không có đầy đủ thông tin, kiến thức
về các biện pháp tiết kiệm năng lượng, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
và các hộ tiêu dùng nhỏ lẻ; không được tiếp cận với các nguồn vốn để các doanhnghiệp có thể bắt đầu những chương trình đổi mới kỹ thuật; lãi suất trên các tíndụng dùng cho tiết kiệm năng lượng thường quá cao; các rào cản về luật pháp vàhành chính làm cho các doanh nghiệp khó tiến hành các biện pháp tiết kiệm nănglượng…; Nếu vượt qua được các rào cản ấy, người ta có thể hy vọng tiết kiệm đếntrên 50% năng lượng cần thiết mà không làm cản trở tiến độ phát triển cũng nhưgây ô nhiễm môi trường của đất nước Mặc dù vậy, tài liệu chưa nghiên cứu các nộidung cụ thể của SP TKNL và phát triển thị trường SP TKNL của nước ta
* Thùy Trang (2013), trong “Sản phẩm tiết kiệm năng lượng trong nước vì sao khó cạnh tranh” nghiên cứu đã chỉ ra nghiên nhân sản phẩm tiết kiệm năng lượng
sản xuất và lắp ráp tại Việt Nam chưa phát triển, có tính cạnh tranh không cao.Nguyên nhân chủ yếu: Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này vẫn đang phải lệ thuộcnguồn nguyên liệu ngoại nhập; hầu như các sản phẩm TKNL trên thị trường ViệtNam hiện nay chủ yếu là nhập khẩu nguyên chiếc từ nước ngoài về hoặc muanguyên liệu rồi gia công, lắp ráp tại Việt Nam; chính sách cho sản phẩm TKNL hiệnnay còn quá ít, chưa kích thích được doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này và làmgiảm tính cạnh tranh; chưa có quy định cấm doanh nghiệp tự cam kết sản phẩm củamình TKNL khiến cho người tiêu dùng mất niềm tin vào sản phẩm TKNL… Mặc
Trang 28dù vậy, tài liệu chưa nghiên cứu các nội dung cụ thể của SP TKNL và phát triển thịtrường SP TKNL của nước ta.
* Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2013), trong “Nhãn tiết kiệm năng lượng: Người tiêu dùng chưa thực sự quan tâm” [60], nghiên cứu đã tiến hành khảo sát,
đánh giá việc thực hiện dán nhãn TKNL tại một số nhà sản xuất như: Philips ViệtNam, Rạng Đông, Điện Quang…, tại các siêu thị lớn cũng như phỏng vấn ngườitiêu dùng Từ kết quả nghiên cứu, tài liệu đã chỉ ra một số nguyên nhân như: Sựphức tạp của thị trường, việc thực hiện quy định không đồng nhất, sản phẩm không
rõ xuất xứ được lưu hành… đã khiến người tiêu dùng thời ơ với sản phẩm “tiết kiệm năng lượng” Mặc dù vậy, tài liệu chưa nghiên cứu các nội dung cụ thể của SP
TKNL và phát triển thị trường SP TKNL của nước ta
* Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), trong dự án “Bóng đèn tiết kiệm năng lượng Việt Nam” do Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ Viện Chiến lược, Chính
sách Tài nguyên và Môi trường và đơn vị chủ trì thực hiện với mục tiêu là hỗ trợ vàthay thế các bóng đèn sợi đốt bằng bóng đèn tiết kiệm điện giai đoạn 2014-2017
Qua tổng quan nghiên cứu ở cả trong nước và nước ngoài, với những nghiêncứu có liên quan cho thấy: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu nhưng chưa có côngtrình nào có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triểnthị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam Cụ thể là chưa có nghiêncứu nào làm rõ được thực trạng của thị trường các sản phẩm tiết kiệm năng lượng
và đặc biệt là chưa đề xuất được các chính sách và giải pháp nhằm phát triển thịtrường các sản phẩm TKNL ở nước ta một cách có thệ thống Để phát triển thịtrường các sản phẩm TKNL cần phải phân tích đánh giá làm rõ thực trạng phát triểncủa thị trường trên các yếu tố như nguồn cung sản phẩm, trung gian thị trường vàđặc biệt là đề xuất các chính sách, giải pháp phát triển thị trường sản phẩm TKNLnước ta trong thời gian tới Đó chính là khoảng trống khoa học của đề tài luận ánnày và luận án là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với một côngtrình nào đã công bố
Trang 291.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại sản phẩm tiết kiệm năng lượng
1.1.1.1 Sản phẩm tiêu dùng năng lượng
Sản phẩm (product) là kết quả của một quá trình lao động nhằm thỏa mãn mộthoặc một số nhu cầu nào đó của con người Sản phẩm sản xuất ra không chỉ để đápứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân của người sản xuất mà để bán hay để trao đổi trên thịtrường và khi đó sản phẩm trở thành hàng hóa Một sản phẩm hàng hóa bao giờ cũng
có 2 thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Trong đó, giá trị là sự kết tinh sức laođộng của người làm ra sản phẩm (hay người bán) và giá trị sử dụng chính đặc tínhcủa sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng sản phẩm (người mua).Sản phẩm tiêu dùng năng lượng thông thường là các thiết bị, trong quá trình
sử dụng các sản phẩm thiết bị này, kể cả cho sản xuất lẫn sinh hoạt cá nhân, conngười phải cần đến các yếu tố khác, một trong các yếu tố đó là năng lượng
Do đó: “Sản phẩm tiêu dùng năng lượng là sản phẩm mà trong quá trình sử dụng cần phải tiêu thụ năng lượng ở dạng này hay dạng khác”.
Năng lượng bao gồm nhiều dạng khác nhau, trong đó quan trọng nhất là điệnnăng, nhiệt năng Các dạng năng lượng này thu được thông qua quá trình cải tạo,chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng, các nguồn này bao gồm 2 dạng chính
là năng lượng không tái tạo và tái tạo Trong đó, năng lượng không tái tạo gồm than
đá, khí than, dầu mỏ, khí thiên nhiên… Tài nguyên tái tạo gồm năng lượng nước,năng lượng gió, năng lượng mặt trời, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học…
Thực tế phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng, năng lượng đóng vaitrò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội đối với mọi quốc gia, đây là đầuvào quan trọng của rất nhiều ngành sản xuất, là yếu tố quan trọng đối với tiêu dùngcủa người dân Chính vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những chính sách vànhững biện pháp cụ thể nhằm khai thác, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Trang 30Giải pháp phổ biến nhằm bảo tồn các nguồn năng lượng là giảm thiểu khai thác và
sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch, khuyến khích phát triển khai thác và sửdụng các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, địa nhiệt, gió, v.v Đồng thời giảm thiểu sử dụng các thiết bị có mức tiêu hao năng lượng cao, khuyếnkhích việc sản xuất và sử dụng các thiết bị có mức tiêu hao năng lượng thấp
1.1.1.2 Sản phẩm tiết kiệm năng lượng
a Khái niệm sản phẩm tiết kiệm năng lượng
Một sản phẩm tiêu dùng năng lượng, để trở thành một sản phẩm tiết kiệmnăng lượng thì sản phẩm đó phải đảm bảo các tiêu chí là đảm bảo hiệu quả và hiệusuất sử dụng năng lượng
Cùng một công dụng như nhau, nhưng hai sản phẩm thiết bị tiêu dùng nănglượng khác nhau có thể có mức tiêu hao năng lượng khác nhau Chẳng hạn, việccách nhiệt một công trình cho phép công trình đó sử dụng ít năng lượng hơn để sưởi
ấm và làm mát mà vẫn duy trì nhiệt độ thoải mái Lắp đặt đèn huỳnh quang hoặccửa sổ mái lấy ánh sáng tự nhiên góp phần làm giảm năng lượng cần thiết mà vẫnđạt được cùng một mức độ chiếu sáng so với sử dụng ánh sáng từ bóng đèn sợi đốttruyền thống Đèn huỳnh quang tiết kiệm điện tiêu thụ ít hơn 2/3 năng lượng và cóthể có tuổi thọ lâu hơn gấp 6 đến 10 lần so với đèn sợi đốt [62] Những cải tiến việc
sử dụng năng lượng hiệu quả thường đạt được chủ yếu thông qua việc áp dụng côngnghệ tiên tiến hoặc những quá trình quản lý sản xuất hiệu quả hơn
Mức tiêu hao năng lượng được xác định bằng tiêu chí hiệu suất năng lượng
Đó là chỉ số biểu thị khả năng của phương tiện, thiết bị chuyển hoá năng lượng tiêuhao khi sử dụng thành năng lượng hữu ích Sản phẩm thiết bị có hiệu suất nănglượng cao là sản phẩm tiết kiệm năng lượng Nếu so sánh 2 sản phẩm với nhau, thìsản phẩm nào có hiệu suất sử dụng năng lượng cao hơn, thì sản phẩm đó có mức tiếtkiệm năng lượng cao hơn Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu là mức hiệu suất nănglượng thấp nhất Mức này do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định đối vớiphương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng mà dưới mức đó, thiết bị sẽ cấm sản xuất,lưu thông hoặc chịu sự quản lý đặc biệt
Trang 31Căn cứ vào khái niệm về hiệu quả và hiệu suất năng lượng, có thể nhận biếtđặc tính nổi bật nhất của sản phẩm tiết kiệm năng lượng như sau:
Về nội dung: Sản phẩm tiết kiệm năng lượng là sản phẩm đảm bảo hiệu
quả và hiệu suất năng lượng cao; Hiệu suất năng lượng là chỉ số biểu thị khảnăng của phương tiện, thiết bị chuyển hoá năng lượng sử dụng thành năng lượnghữu ích Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu là mức hiệu suất năng lượng thấpnhất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định đối với phương tiện, thiết bị
sử dụng năng lượng
Về hình thức: Đối với các cơ quan quan lý nhà nước, một sản phẩm được gọi
là tiết kiệm năng lượng khi sản phẩm đó được cơ quan nhà nước có chức năng côngnhận thông qua việc dán nhãn năng lượng
Ở nước ta, theo quy định của “Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp
thứ 7 thông qua tại văn bản Số: 50/2010/QH12, ngày 17 tháng 6 năm 2010 [51] thì:
Sản phẩm tiết kiệm năng lượng là phương tiện, thiết bị có hiệu suất năng lượng cao phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
b Đặc điểm của sản phẩm tiết kiệm năng lượng
Các sản phẩm, thiết bị TKNL là một bộ phận của các sản phẩm tiêu dùng nănglượng Tuy nhiên, so với các sản phẩm khác, sản phẩm TKNL có mức tiêu hao nănglượng thấp, hay hiệu suất tiêu thụ năng lượng cao hơn mức cho phép Đó là đặcđiểm nổi bật nhất của các sản phẩm TKNL và cũng chính là ưu thế của sản phẩmnày so với các sản phẩm tiêu dùng năng lượng khác
Sản phẩm tiết kiệm năng lượng là kết quả của một trình độ sản xuất cao vớimột nền công nghệ sản xuất hiện đại và quy trình quản lý sản xuất tiên tiến Các sảnphẩm thiết bị tiêu dùng năng lượng khác chỉ là kết quả của một nền sản xuất vớimức độ công nghệ và trình độ quản lý sản xuất trung bình, trong khi đó quy trình đểsản xuất ra các sản phẩm thiết bị TKNL khá phức tạp, đòi hỏi các nhà sản xuất phảiđổi mới công nghệ và quy trình sản xuất Đây cũng chính là lý do giải thích, vì sao
tỷ trọng cung ứng và tiêu dùng các sản phẩm TKNL ở các nước phát triển thườngcao hơn so với các nước đang phát triển
Trang 32Giá cả của cản phẩm TKNL thường cao hơn nhiều so với các sản phẩm tiêudùng năng lượng cùng loại khác Vì rằng, sản phẩm TKNL là kết quả của một nềnsản xuất hiện đại, chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm TKNL cao hơn nhiều
so với các sản phẩm cùng loại khác, hơn nữa đối với các nước đang phát triển, rấtnhiều nguyên liệu, linh kiện để tạo ra một sản phẩm TKNL, không có sẵn mà phảinhập khẩu, góp phần làm tăng giá thành của sản phẩm TKNL Thực tế ở nước tahiện nay giá bán các sản phẩm TKNL thường cao gấp 5-20 lần so với các sản phẩmthiết bị tiêu dùng năng lượng cùng loại
Lợi ích của các sản phẩm tiết kiệm năng lượng cao hơn nhiều so với các sảnphẩm khác Tuy giá cả cao, nhưng sản phẩm mang lại nhiều lợi ích cho người tiêudùng cao hơn hẵn so với các sản phẩm cùng loại Ngoài các ý nghĩa về mặt môitrường, mức độ an toàn khi sử dụng và an toàn cho sức khỏe, một lợi ích quan trọngkhác là lợi ích kinh tế Do có độ bền cao, chất lượng tốt dựa trên công nghệ sản xuấttiên tiến, nên sản phẩm TKNL có tuổi đời cao hơn và mức tiêu thụ năng lượng thấphơn nhiều Theo tính toán của các chuyên gia việc mua sắm và tiêu dùng các sản phẩmTKNL có hiệu quả kinh tế cao hơn so với các sản phẩm tiêu dùng năng lượng khác
c Phân loại sản phẩm tiết kiệm năng lượng
Ở nước ta, theo Quyết định 51/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quyđịnh về phương tiện, thiết bị áp dụng phải dán nhãn năng lượng trước khi tiêu thụtrên thị trường, các sản phẩm TKNL được chia thành 04 nhóm là; (1) Nhóm thiết bịgia dụng, (2) Nhóm thiết bị văn phòng và thương mại, (3) Nhóm thiết bị côngnghiệp, (4) Nhóm phương tiện giao thông vận tải [45] Trong đó:
(1) Nhóm thiết bị gia dụng gồm: Đèn huỳnh quang ống thẳng, đèn huỳnhquang compact, chấn lưu điện từ và điện tử cho đèn huỳnh quang, máy điều hòanhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt sử dụng trong gia đình, nồi cơm điện, quạt điện, máythu hình
(2) Nhóm thiết bị văn phòng và thương mại gồm: Máy photocopy, màn hìnhmáy tính, máy in, tủ giữ lạnh thương mại
(3) Nhóm thiết bị công nghiệp gồm: Máy biến áp phân phối, động cơ điện.(4) Nhóm phương tiện giao thông vận tải gồm: Xe ô tô con (loại 7 chỗ trở xuống)
Trang 33Việc phân loại được dựa trên một số tiêu chí khác nhau như tính chất sử dụng,đối tượng sử dụng, tính khả thi trong việc dán nhãn và quan trọng nhất là mức tiêuhao năng lượng hay hiệu suất năng lượng tối thiểu Mức này được dựa trên các tiêuchuẩn quy định của Việt Nam, ứng với các sản phẩm khác nhau có các tiêu chuẩnkhác nhau Cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Phân loại sản phẩm và thiết bị tiết kiệm năng lượng
TCVN8249:2009 Bóng đèn huỳnh quang dạng ống –Hiệu suất năng lượngTCVN
1:2005
7451-Thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao –Phần 1: Mức hiệu suất năng lượng tốithiểu
TCVN7451-2:2005
Thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao –Phần 2: Phương pháp xác định hiệusuất năng lượng
Đèn huỳnh quangcompact TCVN7896:2008 Bóng đèn huỳnh quang compact –Hiệu suất năng lượngChấn lưu điện từ
cho đèn huỳnhquang
TCVN8248:2009 Balats điện từ - Hiệu suất năng lượng
Chấn lưu điện tửcho đèn huỳnhquang
TCVN7897:2008
Balat điện tử dùng cho bóng đènhuỳnh quang – Hiệu suất năng lượng
Máy điều hòakhông khí
TCVN7830:2007 Máy Điều hòa không khí – Hiệu suấtnăng lượngTCVN
7831:2007 Máy Điều hòa không khí – Phươngpháp xác định hiệu suất năng lượng
Máy điều hòakhông khí
TCVN7830:2012 Máy Điều hòa không khí không ốnggió – Hiệu suất năng lượng
TCVN7831:2012
Máy Điều hòa không khí không ốnggió – Phương pháp xác định hiệu suấtnăng lượng
7828:2007
Tủ lạnh, tủ kết đông lạnh – Hiệu suấtnăng lượng
Trang 34Tủ lạnh TCVN
7829:2007
Tủ lạnh, tủ kết đông lạnh – Phươngpháp xác định hiệu suất năng lượng
Máy giặt TCVN8526:2010 Máy giặt – Hiệu suất năng lượng tốithiểu và phương pháp xác định
Nồi cơm điện TCVN8252:2009 Nồi cơm điện – Hiệu suất năng lượng
Quạt điện
TCVN7826:2007 Quạt điện – Hiệu suất năng lượngTCVN
Máy thu hình – Phương pháp xác địnhhiệu suất năng lượng
TCVN9536:2012 Máy thu hình – Hiệu suất năng lượng
Máy biến áp phân phối – Hiệu suấtnăng lượng tối thiểu và phương phápxác định
Động cơ điện
TCVN 1:2005
7450-Động cơ điện không đồng bộ ba pharoto lồng sóc hiệu suất cao – Phần 1:Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu
TCVN7450-2:2005
Động cơ điện không đồng bộ rotolồng sóc hiệu suất cao – Phần 2:Phương pháp xác định hiệu suất nănglượng
Trang 35Việc phân loại các nhóm sản phẩm TKNL trên đây là căn cứ để xây dựng lộtrình thực hiện dán nhãn năng lượng Theo đó:
Đối với nhóm thiết bị gia dụng và nhóm thiết bị công nghiệp, việc dán nhãnnăng lượng tự nguyện được khuyến khích thực hiện đến hết ngày 31/12/2012 và từngày 01/01/2013 thực hiện dán nhãn năng lượng theo hình thức bắt buộc; Từ ngày01/01/2014, không được phép nhập khẩu và sản xuất các thiết bị có hiệu suất nănglượng thấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu
Đối với nhóm thiết bị văn phòng và thương mại, việc dán nhãn năng lượng tựnguyện và từ ngày 01/01/2014 thực hiện dán nhãn năng lượng theo hình thức bắtbuộc đối với tủ giữ lạnh thương mại Từ ngày 01/01/2015, không được phép nhậpkhẩu và sản xuất các thiết bị có mức hiệu suất năng lượng thấp hơn mức hiệu suấtnăng lượng tối thiểu
Đối với nhóm phương tiện giao thông vận tải, việc dán nhãn năng lượng tựnguyện được khuyến khích thực hiện đến hết ngày 31/12/2014 và từ ngày01/01/2015 thực hiện dán nhãn năng lượng theo hình thức bắt buộc
1.1.1.3 Sản phẩm dán nhãn năng lượng
Một trong những phương thức quản lý các sản phẩm tiết kiệm năng lượng củanhà nước là dán nhãn năng lượng Trên thị trường, một sản phẩm được gọi là tiếtkiệm năng lượng khi sản phẩm đó được cơ quan nhà nước có chức năng công nhậnthông qua việc dán nhãn năng lượng Nhãn năng lượng được dán, gắn, in, khắc lênbao bì sản phẩm trước khi lưu thông trên thị trường Nhãn năng lượng là nhãn cungcấp thông tin về loại năng lượng sử dụng, mức tiêu thụ năng lượng, hiệu suất nănglượng và các thông tin khác giúp người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn phươngtiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng
Trên thế giới, nhìn chung, nhãn năng lượng gồm 2 loại cơ bản: nhãn xác nhận
và nhãn so sánh
Nhãn so sánh: thể hiện mức độ tiêu thụ, hiệu suất năng lượng của phương
tiện, thiết bị so với sản phẩm cùng loại, cho phép người tiêu dùng so sánh và chọnlựa giữa các sản phẩm Nhãn so sánh đạt hiệu quả tốt nhất nếu mọi sản phẩm cùngloại đều bắt buộc dán nhãn
Nhãn xác nhận: cho biết giá trị hiệu suất/tiêu thụ năng lượng thực tế của
phương tiện, thiết bị Nhãn xác nhận chứng nhận sản phẩm đáp ứng hoặc vượt quá
Trang 36tiêu chuẩn năng lượng nhất định Các nhà sản xuất thường tự nguyện xin được cấpnhãn xác nhận như một yếu tố nâng cao giá trị thương hiệu Nhược điểm của nhãnxác nhận là người tiêu dùng khó nhận biết sản phẩm nào sử dụng năng lượng hiệuquả hơn.
Hình 1.1 Nhãn năng lượng một số nước trên thế giới
Nguồn:Chương trình mục tiêu quốc gia về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tietkiemnangluong.com.vn [87]
Nhãn năng lượng bắt đầu sử dụng ở Mỹ và châu Âu từ năm 1979 Các nhãnnăng lượng ban đầu chỉ hai màu đen trắng với rất nhiều thông số kỹ thuật nhưngkhông so sánh hiệu suất năng lượng giữa các thiết bị cùng loại như nhãn năng lượngngày nay Thiết bị đầu tiên được chọn dán nhãn năng lượng là lò nướng nhỏ, kế đến
là máy giặt, máy sấy, đèn, tủ lạnh và máy điều hòa không khí Các nhãn năng lượngngày nay được cải tiến nhiều màu sắc, dùng thêm các biểu tượng, ký tự mã hóa nhưA+, A++, B, C… và được áp dụng cho đủ loại sản phẩm, từ thiết bị gia dụng chođến các sản phẩm quy mô và phức tạp hơn như hệ thống sản xuất, nhà ở
Trang 37Hình 1.2 Nhãn năng lượng Việt Nam
Nguồn:Chương trình mục tiêu quốc gia về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tietkiemnangluong.com.vn [87]
Ở Việt Nam, việc dán nhãn năng lượng được tiến hành đầu tiên trên các sảnphẩm tiêu thụ điện, xăng, dầu… theo Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệuquả có hiệu lực từ tháng 1/2011 Nhãn năng lượng Việt Nam cũng gồm hai loại lànhãn xác nhận (hình ngôi sao) và nhãn so sánh (hình chữ nhật)
Nhãn xác nhận: chứng nhận phương tiện, thiết bị có mức hiệu suất năng lượng
đạt hoặc vượt mức hiệu suất năng lượng cao (HEPS) do Bộ Công Thương quy địnhtheo từng thời kỳ
Nhãn so sánh: gồm 5 cấp hiệu suất năng lượng từ 1 đến 5 sao, cho biết mức độ
hiệu quả năng lượng của phương tiện, thiết bị so với sản phẩm cùng loại Trong đó,nhãn 5 sao dành cho mức hiệu suất năng lượng tốt nhất Sản phẩm không đạt mứchiệu suất năng lượng cao (dưới mức HEPS) sẽ được dán nhãn hình chữ nhật không
có ngôi sao Nhãn năng lượng nước ta được Bộ Công Thương cấp chứng nhận dánnhãn năng lượng gồm máy thu hình, thiết bị chiếu sáng, quạt điện, điều hòa khôngkhí, máy giặt, nồi cơm điện, máy biến áp phân phối…
Quy trình dán nhãn năng lượng cho sản phẩm, thường bắt đầu bằng việc nhànước xây dựng các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu (Minimum EnergyPerformance Standard - gọi tắt là MEPS) Bước tiếp theo là thúc đẩy hoạt động thửnghiệm, đánh giá, chứng nhận và dán nhãn năng lượng
Trang 38Những năm đầu thông thường là dán nhãn tự nguyện, sau đó mới chuyển sangdán nhãn bắt buộc Trên cơ sở kinh nghiệm của các quốc gia đã thành công trongviệc thực hiện chương trình phát triển tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng và dán nhãnnăng lượng Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm vàhiệu quả của Việt Nam đã đưa ra một đề án tương tự trong giai đoạn 2006 – 2010 vàgiai đoạn 2011-2015 hướng sự tập trung vào một số nhóm sản phẩm như: Thiết bịchiếu sáng (bao gồm các loại bóng đèn và balast); Động cơ điện; Tủ lạnh; Điều hòakhông khí; Quạt điện; Nồi cơm điện; Bình đun nước nóng có dự trữ; Máy giặt…
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng
1.1.2.1 Khái niệm về thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng
Trong kinh tế học, thị trường là một phạm trù gắn liền với nhu cầu trao đổi củacon người, ở đâu có sự trao đổi hàng hoá là ở đó hình thành nên thị trường Cùngvới sự phát triển của kinh tế, có nhiều quan điểm, cách nhìn nhận, hiểu biết khácnhau về thị trường
Theo quan niệm cổ điển trước đây, thị trường được coi như một “cái chợ”, là
nơi diễn ra các quan hệ trao đổi mua bán hàng hoá, nó được gắn với không gian,thời gian địa điểm cụ thể Tại đó, người mua và người bán gặp nhau tiến hành traođổi mua bán hàng hóa hay dịch vụ nhằm giải quyết vấn đề lưu thông cho nền kinh
tế Ngoài ý nghĩa kinh tế, trên một góc độ nào đó, thị trường còn phản ánh mối quan
hệ xã hội, hay nét văn hóa của một vùng miền, một quốc gia hay một dân tộc
Ngày nay, sự phân công lao động xã hội diễn ra mạnh mẽ, sản xuất và lưuthông hàng hoá ngày càng phát triển, các quan hệ trao đổi mua bán ngày càng đadạng và phức tạp thì khái niệm thị trường cũng thay đổi Thị trường không còn làmột địa điểm hay một nơi cụ thể mà nó là một hoạt động tương tác giữa cung và cầu
để tạo nên giá cả Tuy vậy, cho đến nay vẫn có sự quan niệm khác nhau về thịtrường giữa các học giả, giữa các trường phái, cũng như giữa các quốc gia
Theo quan điểm của David Begg, thị trường được hiểu theo nghĩa rộng và theonghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: “Thị trường là biểu hiện của sự thu gọn quá
Trang 39trình mà thông qua đó quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào, quyếtđịnh của các công ty về sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và các quyết định củangười công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hoà bằng sự điều chỉnhcủa giá cả” Theo nghĩa hẹp: “Thị trường là sự tập hợp các sự thoả thuận thông qua
đó người mua và người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ”.Theo cách tiếp cận của trường phái Marketing, dưới giác độ quản trị doanhnghiệp xuất phát từ yêu cầu xác định thị trường để có những quyết định trong kinhdoanh thì khái niệm thị trường được phát biểu như sau: “Thị trường bao gồm toàn
bộ những khách hàng tiềm ẩn có cùng nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và
có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó”
Theo quan điểm kinh tế học: "Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá được sảnxuất ra và hình thành trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá cùng với quan hệkinh tế giữa người mua và người bán thông qua trao đổi hàng hoá"…
Qua các khái niệm khác nhau về thị trường, chúng ta thấy thị trường là mộtphạm trù riêng có của nền sản xuất hàng hoá, là tổng hoà các mối quan hệ kinh tế đểthực hiện việc trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế hàng hoá và cụ thể hơn, ở đócung, cầu về hàng hoá gặp nhau và được thoả mãn, thông qua thị trường chúng ta cóthể xác định được mối tương quan giữa cung và cầu của thị trường, đồng thời còn lànơi kiểm nghiệm giá trị, chất lượng của hàng hoá và dịch vụ
Như vậy, thị trường là một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, làtoàn bộ các mối quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán và chịu tác động củacác quy luật chung trong nền kinh tế thị trường Thị trường chứa đựng tổng cung,tổng cầu, mối quan hệ cung- cầu, mức giá và những yếu tố không gian, thời gian, xãhội đối với hàng hóa, dịch vụ của nền sản xuất hàng hóa; mức độ phát triển của thịtrường phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế
Theo cách tiếp cận thị trường chung và thị trường sản phẩm, ta có thể thấy:
“Thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng là toàn bộ các hoạt động mua bán, trao đổi các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, là quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán về các sản phẩm tiết kiệm năng lượng”
Trang 401.1.2.2 Đặc điểm của thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng
Cũng như các thị trường sản phẩm hàng hóa khác, thị trường sản phẩm tiếtkiệm năng lượng phải được vận hành theo các quy luật kinh tế thị trường như quyluật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh… Ngoài ra, thị trường còn phảichịu sự điều tiết hệ thống luật pháp trong việc cung cấp và sử dụng sản phẩm tiếtkiệm năng lượng
Các thành phần quan trọng để tạo nên thị trường là tổng cung, tổng cầu vàtrung gian thị trường để kết nổi giữa tổng cung và tổng cầu Trong đó:
Tổng cầu (AD- Aggregate demand) là tổng sản lượng trong nước mà các tác
nhân kinh tế hộ gia đình, hãng, chính phủ, người nước ngoài sản sàng mua tại mỗimức giá nhất định, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi Trong kinh tế học,tổng cầu là lượng nhu cầu có khả năng tài chính của toàn bộ nền kinh tế đối với cáchàng hóa cuối cùng Tổng cầu bao gồm nhu cầu có khả năng thanh toán trong nước
và nước ngoài Tổng cầu trong nước lại bao gồm đầu tư của xí nghiệp, tiêu dùngcủa cá nhân, chi tiêu ròng của chính phủ (chênh lệch giữa chi tiêu chính phủ và thucủa chính phủ từ thuế) Tổng cầu nước ngoài chính là xuất khẩu ròng (chênh lệchgiữa xuất khẩu và nhập khẩu) Tổng cầu trong nền kinh tế được biểu thị bằngphương trình: AD = C + I + G + NX Trong đó: C là chi tiêu hộ gia đình, I là đầu tư,
G là chi tiêu chính phủ, và NX là xuất khẩu ròng
Tổng cung (AD- Aggregate supply) là mức sản lượng trong nước mà các
doanh nghiệp có khả năng sản xuất, cung ứng tại một mức giá nhất định trong điềukiện các yếu tố khác không đổi Trong kinh tế học, tổng cung là tổng lượng cungcấp hàng hóa cuối cùng của toàn bộ nền kinh tế Khi tính tổng cung, các nhà kinh tếhọc loại trừ lượng cung cấp các hàng hóa trung gian dùng làm đầu vào cho sản xuất.Doanh thu từ bán tất cả các loại hàng hóa mà trừ đi phần doanh thu từ bán hàng hóatrung gian chính là phần giá trị gia tăng Chính vì thế, tổng cung cũng chính là tổnggiá trị gia tăng của toàn bộ nền kinh tế Giá trị gia tăng dùng để làm tiền công trảcho người lao động và làm lợi nhuận cho nhà đầu tư và tổng cung cũng là thu nhậpquốc dân Đối với một sản phẩm hàng hóa, điểm gặp nhau giữa tổng cung và tổngcầu trên thị trường tạo thành giá cả của hàng hóa đó và được gọi là giá thị trường