1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phàn theo định hướng xã hội chủ nghĩa

31 402 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Nền Kinh Tế Hàng Hoá Nhiều Thành Phần Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 199,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện nay đang cố gắng không ngừng để tìm kiếm xây dựng những mô hình thể chế kinh tế thích hợp để đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao trong đó mô hình có sự kết hợp kế hoạch và thị trường mà trong đó cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là cốt lõi. Ở nước ta sau một thời gian duy trì nền kinh tế tập trung cao đã thấy xuất hiện những mặt không phù hợp của nó. Sau Đại hội VI (1986), Đảng và nhà nước ta mở ra con đường XHCN của đất nước bằng việc chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước. Sau khi có chính sách đổi mới chúng ta đã đạt được những thành tựu và bước đầu có ý nghĩa rất lớn nhưng hiện nay chúng ta đang đứng trước những khó khăn thách thức lớn, cái cũ và cái mới đan xen nhau triệt tiêu lẫn nhau. Bổn phận của chúng ta là phải làm sao cho cái mới cái tiến bộ thay thế cái cũ nhưng không có nghĩa là phủ định hoàn toàn cái cũ, nhận thức được điều này em đã chọn đề tài “ Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN là giải pháp cơ bản chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta hiện nay” làm đề tài cho tiểu luận của mình để qua việc tìm tài liệu nghiên cứu đề tài nâng cao hiểu biết của mình về kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường, giúp cho em trong quá trình học tập tại trường và hiểu biết thêm về hiện trạng của đất nước để sau khi ra trường có thể góp một phần công sức của mình xây dựng đất nước giàu đẹp. Đây là đề tài đầu tay của em trong bộ môn này nên chắc chắn không tránh khỏi những sai sót mong được sự góp ý nhiệt tình của thầy giáo .

Trang 1

Ở nước ta sau một thời gian duy trì nền kinh tế tập trung cao đã thấyxuất hiện những mặt không phù hợp của nó Sau Đại hội VI (1986), Đảng

và nhà nước ta mở ra con đường XHCN của đất nước bằng việc chuyển từnền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần có sự quản lý của nhà nước

Sau khi có chính sách đổi mới chúng ta đã đạt được những thành tựu

và bước đầu có ý nghĩa rất lớn nhưng hiện nay chúng ta đang đứng trướcnhững khó khăn thách thức lớn, cái cũ và cái mới đan xen nhau triệt tiêu lẫnnhau Bổn phận của chúng ta là phải làm sao cho cái mới cái tiến bộ thaythế cái cũ nhưng không có nghĩa là phủ định hoàn toàn cái cũ, nhận thứcđược điều này em đã chọn đề tài “ Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần theo định hướng XHCN là giải pháp cơ bản chuyển từ sản xuất nhỏlên sản xuất lớn ở nước ta hiện nay” làm đề tài cho tiểu luận của mình đểqua việc tìm tài liệu nghiên cứu đề tài nâng cao hiểu biết của mình về kinh

tế hàng hoá, kinh tế thị trường, giúp cho em trong quá trình học tập tạitrường và hiểu biết thêm về hiện trạng của đất nước để sau khi ra trường cóthể góp một phần công sức của mình xây dựng đất nước giàu đẹp

Đây là đề tài đầu tay của em trong bộ môn này nên chắc chắn khôngtránh khỏi những sai sót mong được sự góp ý nhiệt tình của thầy giáo

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 2

NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH NÓI CHUNG.

1/ Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về sự phát sinh phát triển của sản xuất hàng hoá:

a/ Sự ra đời của sản xuất hàng hoá:

Quá trình chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá làkiểu tổ chức kinh tế đầu tiên mà loài người sử dụng để giải quyết vấn đề sảnxuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai

Sản xuất tự cung tự cấp là kiểu tổ sản xuất mà trong đó sản phẩm củangười lao động làm ra được dùng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cho nội bộgia đình, từng công xã hay từng cá thể riêng lẻ Sản xuất tự cung tự cấp cònđược gọi là sản xuất tự cấp tự túc hoặc kinh tế tự nhiên

Đây là kiểu tổ chức sản xuất khép kín nên nó thường gắn với bảo thủ trì trệ,nhu cầu thấp, kỹ thuật thô sơ, lạc hậu Nền kinh tế tự nhiên tồn tại ở các giaiđoạn phát triển thấp của xã hội( công xã nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến )

Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế tự nhiên vẫn còn tồn tại ở vùng sâu vùng

xa vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên, đồng bào dân tộc thiểu số

Tuy nhiên khi lực lượng sản xuất phát triển cao, phân công lao động xãhội được mở rộng thì dần xuất hiện trao đổi hàng hoá khi trao đổi hàng hoátrở thành mục đích thường xuyên của sản xuất hàng hoá thì lúc đó sản xuấthàng hoá ra đời

Sản xuất hàng hoá : là sản xuất ra sản phẩm để trao đổi để bán trên thịtrường, sản phẩm ở đây không phải là sản xuất ra để thoả mãn nhu cầu nội

bộ của người sản xuất mà sản xuất ra để trao đổi

Cơ sở kinh tế- xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá làphân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa người sản xuấtnày và người sản xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sảnxuất quy định

Phân công lao động là việc phân chia người sản xuất vào các ngành nghềkhác nhau của xã hội hoặc nói cách khác đó là chuyên môn hoá sản xuất

Do chuyên môn hoá nên mỗi người chỉ sản xuất một hay một vài sảnphẩm nhất định.Song nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của mọi người đều cónhiều loại sản phẩm vì vậy họ đòi hỏi phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩmcho nhau, phụ thuộc vào nhau, phân công lao động là điều kiện của sản xuất

Trang 3

hàng hoá Điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hoá là sự tách biệt về kinh tếgiữa những người sản xuất do các quan hệ khác nhau về tư liệu sản xuấtquy định.

Dựa vào điều kiện này mà người chủ tư liệu sản xuất có quyền quyếtđịnh việc sử dụng tư liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất ra.Như vậy quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã chia rẽ người sảnxuất làm họ tách biệt nhau về mặt kinh tế Trong điều kiện đó người sảnxuất này muốn sử dụng sản phẩm của người sản xuất khác thì phải trao đổisản phẩm lao động cho nhau, sản phẩm lao động đây trở thành hàng hoá.Khi sản phẩm lao động xã hội trở thành hàng hoá thì người sản xuất trởthành người sản xuất hàng hoá, lao động của người sản xuất hàng hoá vùa

có tính chất xã hội vừa có tính chất tư nhân cá biệt

Tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hoá thể hiện ở chỗ do phâncông lao động xã hội nên sản phẩm lao động của người này trở nên cần thiếtcho người khác, cần cho xã hội

Tinh chất tư nhân cá biệt thể hiện ở chỗ sản xuất ra cái gì bằng công cụnào, phân phối cho ai là công việc cá nhân của chủ sở hữu tư liệu sản xuất,

do họ định đoạt Tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hoá chỉ đượcthưà nhận khi họ tìm được người mua trên thị trường và bán đưọc hàng hoá

do họ sản xuất ra

Vì vậy, lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sở hữu thống nhấtgiữa hai mặt đối lập là tính chất xã hội và tính chất cá biệt của lao động.Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội và tính chất cá biệt của lao động sản xuấthàng hoá là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá Những mâu thuẫn nàyđược giải quyết trên thị trường , đồng thời nó được tạo ra một cách liên tụcthường xuyên với tư cách là mâu thuẫn của nền kinh tế hàng hoá nói chung.Chính mâu thuẫn này là nguyên nhân kinh tế của khủng hoảng sản xuấtthừa

Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử sở hữu lâudài Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn dựa trên kỹ thuật thủ công vàlạc hậu Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, sản xuất hàng hoágiản đơn chuyển thành sản xuất hàng hoá quy mô lớn Quá trình chuyểnbiến này diễn ra trong thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tưbản

Trang 4

Hai thuộc tính này là 2 mặt đối lập cùng tồn tại trong hàng hoá, cũng từ haithuộc tính này mà lao động sản xuất hàng hoá mang tính hai mặt lao động

cụ thể là lao động cụ thể và lao động trừu tượng

Giá trị hàng hoá là một phạm trù rất trừu tượng vì nó là thuộc tính xã hộicủa hàng hoá và muốn tìm hiểu được giá trị hàng hoá ta phải xuất phát từviệc nghiên cứu giá trị trao đổi

Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng mà một giá trị sử dụng này traođổi với một giá trị sử dụng khác

Ví dụ : 1 rìu = 20 kg thóc

hai hàng hoá có công dụng khác nhau mà có thể trao đổi cho nhau là dochúng có chung một thuộc tính chung duy nhất, chúng đều là sản phẩm củalao động của con người

+ Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá

Lao dộng cụ thể là lao động được tiến hành dưới một hình thức nhấtđịnh, có mục đích, phương pháp hoạt động đối tượng và kết quả riêng biệtMỗi loại lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định có bao nhiêuloại sản phẩm hàng hoá thì có bấy nhiêu loại lao động cụ thể khác nhau, cácloại lao động đó hợp thành hệ thống phân công lao động ở từng quốc gia

Xã hội càng phát triển thì phân công lao động càng cao Lao động cụ thể làphạm trù vĩnh viễn nó tạo ra giá trị sử dụng cho hàng hoá

Lao động trừu tượng : Đó là hao phí lao động nói chung của người sảnxuất hàng hoá ( hao phí thần kinh và cơ bắp ) Khi có những lao động nàosản xuất ra hàng hoá thì mới quy thành lao động trừu tượng Không phải cóhai lao động cùng kết tinh trong một hàng hoá mà là lao động mang tínhchất hai mặt

+ Thời gian lao động xã hội cần thiết

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để làm ra 1hàng hoá trong những điều kiện sản xuất trung bình xã hội với một trình độkhéo léo trung bình, cường độ lao động trung bình của người sản xuất

Trang 5

Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá có

xu hướng nghiêng về thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất

mà họ cung cấp một hàng hoá nào đó trên thị trường

Hai nhân tố ảnh hưởng đến thời gian lao động xã hội cần thiết là năng suấtlao động và cường độ lao động

Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động hay sức sảnxuất của lao động Luồng giá trị của hàng hoá thay đổi theo tỉ lệ nghịch vớinăng suất lao động xã hội

Cường độ lao động là mức tiêu hao về lao động trong một đơn vị lao động

Nó cho biết mức độ khẩn trương của lao động

+ Lao động giản đơn và lao động phức tạp

Lao động giản đơn là sự tiêu hao sức lực giản đơn mà bất kỳ một ngườibình thường nào không cần biết đến tài nghệ đặc biệt đều có thể tiến hànhđược để làm ra hàng hoá

Lao động phức tạp là loại lao động phải đòi hỏi đào tạo tỉ mỷ công phu

và có sức khéo léo, tài nghệ, phải có sự tích luỹ lao động Trong cùng mộtđơn vị thời gian, lao động phức tạp sáng tạo ra nhiều giá trị hơn lao độnggiản đơn Vì vậy lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn

+ Thị trường và cơ chế thị trường

Thị trường là một hình thức trao đổi hàng hoá mà trong đó các chủ thểkinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá làm ra.Thị trường thường gắn với một địa điểm cụ thể nhất định như chợ, cửahàng, văn phòng giao dịch… Thị trường đầu ra bao gồm : lương thực thựcphẩm và những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu Cơ chế thị trường là một hìnhthức tổ chức kinh tế trong đó các vấn đề kinh tế được giải quyết thông quathị trường ( mua bán và trao đổi hàng hoá ) Cơ chế thị trường hoàn toàn đốilập với nền kinh tế tự nhiên Trong cơ chế thị trường người sản xuất vàngười tiêu dùng thường tác động qua lại lẫn nhau để giải quyết ba vấn đềtrung tâm của một tổ chức kinh tế: Sản xuất cho ai, sản xuất cái gì và sảnxuất như thế nào

Trong thị trường có 3 yếu tố chính : hàng hoá, tiền tệ, người mua bán, Động lực hoạt động của con người trong cơ chế thị trường là lợi nhuận, nó

bị chi phối bởi một số quy luật như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quyluật lưu thông tiền tệ

c/ Kinh tế hàng hoá:

Kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hình tháiphổ biến của sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để trao đổi, để bántrên thị trường

Trang 6

Kinh tế hàng hoá đối lập với kinh tế tự nhiên và kinh tế chỉ huy, khi sảnxuất hàng hoá lượng sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường ngàycàng đồi dào phong phú, thị trường được mở rộng, khái niệm thị trườngđược hiểu ngày càng đầy đủ hơn Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thôngqua tiền tệ làm môi giới ở đây người mua và người bán tác động qua lại lẫnnhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường.

Để phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta, cần đẩy mạnh và chú trọng pháttriển các loại thị trường Quá trình chuyển đổi ở nước ta cần phải từng bướchình thành thị trường thống nhất thông suốt cả nước Từng bước hình thành

và mở rộng đồng bộ thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ, thịtrường vốn tiền tệ… Cần phải mở rộng giao lưu hàng hoá, phát triển thịtrường trong nước chú trọng nông thôn, miền núi xoá bỏ triệt để mọi hìnhthức chia thị trường theo địa giới hành chính Đồng thời gắn thị trườngtrong nước với thị trường quốc tế, giải quyết mối quan hệ giữa tiêu dùngtrong nước và xuất khẩu Các chính sách khuyến khích sản xuất nội địa đểphát triển mạnh mẽ thị trường nước ta hội nhập với thị trường khu vực vàthế giới

Ở nước ta kinh tế hàng hoá mà Đảng chủ trương xây dựng và phát triểntrong thời kỳ quá độ lên CNXH là “nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầntheo định hướng XHCN, vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết củanhà nước”

+ Ưu thế của sản xuất hàng hoá

Lịch sử phát triển của xã hội là từ sản xuất tự cấp tự túc tiến lên sản xuấthàng hoá So với nền sản xuất tự cấp tự túc thì sản xuất hàng hoá có những

ưu thế hơn hẳn về nhiều mặt

- Thứ nhất : nền sản xuất tự cấp tự túc là nền sản xuất khép kín làm chonền sản xuất bị hạn chế không phát triển, mặt khác sản xuất hàng hoá

là sản xuất ra hàng hoá để đem đi bán nên nhu cầu là rất lớn và khôngngừng tăng lên bởi vậy nó là động lực để thúc đẩy sản xuất phát triển

- Thứ hai : nền kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc không có sự thay đổi kỹthuật và phát triển, hơn nữa những nguồn tự nhiên thì bị sử dụng mộtcách rất lãng phí Còn môi trường họat động cuả sản xuất hàng hoá làmột môi trường cạnh tranh gay gắt, quy mô sản xuất lớn, nguồn lực

tự nhiên ngày càng khan hiếm, điều này buộc các nhà sản xuất phảicải tiến kỹ thuật, linh động trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiêntrái với sản xuất tự cấp tự túc Đây là động lực mạnh mẽ cho sự pháttriển của xã hội

- Thứ ba : đối với sản xuất tự cấp tự túc do sản xuất phát triển thấp, sảnphẩm ít và nhu cầu thấp nên ở mỗi vùng và các vùng với nhau đờisống vật chất, văn hoá tinh thần nghèo nàn thấp kém, không có sự

Trang 7

giao lưu, trao đổi văn hoá giữa các vùng Nhưng sản xuất hàng hoá

đã khắc phục được tình trạng này, do sản xuất hàng hoá phát triển vớivai trò động lực của nhu cầu nên giao lưu văn hoá kinh tế được pháttriển nên đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân đều đượcnâng cao ngày càng phong phú đa dạng, tạo điều kiện cho phát triểnđộc lập, tự do, bình đẳng của mỗi cá nhân

- Thứ tư : nền sản xuất tự cấp tự túc thấp kém đã cản trở sự phát triển củaphân công lao động xã hội, trái lại do sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sởphân công lao động lao động xã hội, thúc đẩy sự chuyên môn hoá cácngành sản xuất làm cho các ngành sản xuất ngày càng được chuyên mônhoá và phát triển mạnh mẽ, trình độ kỹ thuật ngày càng được nâng cao.Trên thế giới hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển vô cùng nhanh chóngnhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử

+ Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá trong thời kì quá độ

Ta thấy rằng, từ khi CNXH ra đời và phát triển như một hệ thống thếgiới cho đến trước thập kỷ 80, vấn đề có hay không tồn tại của nền sản xuấthàng hoá trong chủ nghĩa xã hội luôn là đề tài tranh luận trong giới nghiêncứu lý luận macxít Nhìn chung về phương diện lý luận quan điểm chínhthống chi phối trong suốt mấy thập kỷ qua là quan niệm kinh tế XHCN lànền kinh tế phát triển theo quy luật cân đối và có kế hoạch cùng với các quyluật kinh tế đặc thù khác của CNXH Nhà nước có vai trò chủ yếu trong quátrình tái sản xuất và phân phối sản phẩm mà không cần đến những trao đổihàng hoá trên thị trường Kinh tế hàng hoá bị coi nhẹ được coi là đặc trưngriêng của CNTB cần phải được hạn chế và đi tới xoá bỏ

Nhưng trên thực tế chính diều đó là nguyên nhân chủ yếu làm trì trệ, làmkìm hãm đưa một số nền kinh tế của các quốc gia XHCN đến khủng hoảng

và tan vỡ Từ những thực tế trên quan điểm cho rằng “ sản xuất hàng hoá làđặc trưng riêng của CHTB” là hoàn toàn sai lầm Mặt khác theo Các Mácsản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở phân công lao động xã hội và chế độ tưhữu về tư liệu sản xuất bởi vậy sản xuất hàng hoá tồn tại trong thời kỳ quá

độ là một tất yếu khách quan vì:

- Thứ nhất : khi mà phân công lao động xã hội phát triển cao kéo theochuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu sắc, từ đó nảy sinh thêmnhững mối quan hệ kinh tế, những sự trao đổi hoạt động lao độngtrong xã hội

- Thứ hai: đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ là nền kinh tế nhiều thànhphần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhiềuchủ thể kinh tế khác nhau Những chủ thể kinh tế này tách biệt độclập với nhau nhưng họ đều nằm trong hệ thống phân công lao động

xã hội Do đó sản xuất và đời sống của họ vẫn có sự phụ thuợc lẫn

Trang 8

nhau và quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng con đườngtrao đổi hàng hoá tức là phải có sản xuất hàng hoá.

- Thứ ba : quan hệ hàng hoá tiền tệ là hình thức cần thiết thuận lợi đểđảm bảo sự công bằng trong quan hệ giữa kinh tế quốc doanh và kinh

tế tập thể, vì hai đơn vị này tuy cùng là sở hữu công cộng về tư liệusản xuất nhưng nó vẫn có sự tách biệt nhất định và có quyền tự chủsản xuất kinh doanh cạnh tranh hay hiệp tác với nhau, nó còn có sựkhác nhau về trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý, về hiệu quả sản xuấtkinh doanh dẫn đến có sự khác biệt nhau về lợi ích kinh tế, chúng takhông thể dùng phương pháp bình quân san bằng ở đây được

- Thứ tư : sản xuất hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền tệ còn chính làđiều kiện cần thiết và tất yếu trong quan hệ kinh tế đối ngoại giữa cácnước trên thế giới bởi vì mỗi nước vẫn còn là một quốc gia riêng biệt

là những chủ sở hữu khác nhau về sản phẩm hàng hoá

Từ những lý do trên đây ta nhận thấy trong thời kỳ quá độ sản xuất hànghoá tồn tại là một tất yếu cần thiết không thể cưỡng lại được và không thểdùng mệnh lệnh để ngăn cấm, xoá bỏ sản xuất hàng hoá

II TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN PHẢI PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM

1/ Phát triển kinh tế hàng hoá do yêu cầu của sự phát triển lực lượng sản xuất Thực chất là việc chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn.

Xuất phất từ quy luật chung phổ biến Mối quan hệ biện chứng giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất Thật vậy mỗi thành phần kinh tế baogiờ cũng thích ứng với một tính chất trình độ nhất định của lực lượng sảnxuất, theo đó lực lượng sản xuất là nội dung và luôn có vai trò quyết địnhtới quan hệ sản xuất và đồng thời với các thành phần kinh tế

Ở nước ta hiện nay do tính đa dạng về trình độ của lực lượng sản xuấtnên về hình thức quan hệ sản xuất và thành phần kinh tế được đa dạng hoá

là tất yếu

Vì vậy khi xác định các thành phần kinh tế cần phải xem xét đến tínhchất và trình độ của lực lượng sản xuất và tất nhiên phải xem xét trongtrạng thái động

Một trong những tư tưởng xuyên suốt do hội nghị lần thứ 4 ban chấphành TƯ Đảng khoá VIII nhằm cụ thể hoá và thực hiện thành công nhữngmục tiêu kinh tế xã hội mà Đại hội VIII của Đảng đề ra là ưu tiên phát triểnlực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng quan hệ sản xuất cho phù hợp theođịnh huớng XHCN Đây là bước phát triển mới trong tư duy lý luận củaĐảng ta đã bắt nguồn từ việc tất yếu phải giải phóng mọi năng lực sản xuất,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng việc nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo

Trang 9

định hướng XHCN Xét từ quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất luôn là yếu tố động nhất, quyết địnhđối với sự phát triển của sản xuất xã hội.

Chính vì vậy để đạt được mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệpvào năm 2020, Đảng ta đã xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướcbằng cách ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất thực chất là việc chuyển từsản xuất nhỏ lên sản xuất lớn

2/ Phát triển kinh tế hàng hoá do ở Việt Nam tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần

Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế đó là do cònnhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Đại hội Đảng VIIIkhẳng định : “ Các thành phần kinh tế tồn tại khách quan tương ứng với tínhchất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong giai đoạn lịch sửhiện nay đó là kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, kinh tế tưbản và kinh tế tư bản nhà nước

Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trườngnước ta là nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế Việt Nam vượt khỏitình trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển cả trong điều kiệnngân sách hạn hẹp

Để có những chính sách và chiến lược phát triển thích hợp cho từng thời kỳ

ta phải tìm hiểu rõ các thành phần kinh tế đang tồn tại hiện nay

- Thứ nhất thành phần kinh tế nhà nước là những đơn vị tổ chức trực tiếpsản xuất kinh doanh hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh mà toàn bộ nguồnlực thuộc sở hữu nhà nước, hoặc phần của toàn nhà nước chiếm tỷ lệ khốngchế Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, các tài sảnthuộc sở hữu Nhà nước

Các doanh nghiệp nhà nước là bộ phận quan trọng cơ bản nhất của kinh

tế nhà nước Các doanh nghiệp này trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho

xã hội Chẳng hạn như cac nhà máy thuỷ điên Hoà Bình, công ty gang thépThái Nguyên…

Các ngành kinh tế thuộc sở hữu nhà nước cung cấp hàng hoá hay dịch

vụ cho xã hội Bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, bưu điện, hệthống ngân hàng tài chính, bảo hiểm( ngân hàng công thương Việt Nam,ngân hàng đầu tư và phát triển, kho bạc ) Các xí nghiệp liên doanh trong

đó nhà nước chiếm tỷ lệ khống chế (51%)

Những lực lượng vật chất thuộc sở hữu nhà nước bao gồm: đất đai, tàinguyên thiên nhiên, ngân hàng, tài chính, dự trữ quốc gia…

Cac doanh nghiệp ở nước ta đựoc hình thành qua ba con đường:

- Nhà nước đầu tư vốn để hình thành ngay từ đầu

- Nhà nước cấp vốn để liên doanh với các ngành khác

Trang 10

- Nhà nước tiến hành việc đòi nợ, quốc hữu hoá các xí nghiệp tư bản tư nhân

Ngoài ra với bản chất nhà nước XHCN, Nhà nước xác định đất đai tàinguyên thiên nhiên, tài chính, ngân hàng…do Nhà nước nắm giữ, chi phối

để điều tiết, định hướng sự phát triển kinh tế xã hội Kinh tế nhà nước thuộc

sở hữu nhà nước, sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc hạch toán kinh tế,thực hiên phân phối theo lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh Theochủ trương của Đảng ta, kinh tế Nhà nước cần tập trung vào những ngành,lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội,hệ thống tài chính,ngân hàng, những cơ sở như giải quyết kinh doanh thương mại,dịch vụquan trọng, những cơ sở kinh tế phục vụ an ninh quốc phòng và vấn đề xãhội, để đảm bảo cân đối lớn chủ yếu của nền kinh tế và thực hiện trò chủđạo của nền kinh tế thị trường

Tiếp tục đổi và phát triển kinh tế nhà nước để đảm bảo những mục tiêukinh tế xã hội Trước hết cần hoàn thiện chế độ chính sách luật pháp đảmbảo doanh nghiệp nhà nước thực là một đơn vị có tư cách pháp nhân Phânđịnh dứt khoát quyền sở hữu Nhà nước với quyền đại diện chủ sở hữu Nhànước; quyền sở hữu Nhà nước với quyền sử dụng, quản lý…

- Thứ hai, thành phần kinh tế hợp tác là sự liên minh liên kết kinh tế tựnguyện của các chủ thể kinh tế với các hình thức đa dạng, linh hoạt,phù hợp với nhu cầu, khả năng và lợi ích của các bên tham gia, có thểhoặc không dẫn tới pháp nhân

Hình thức tồn tại của kinh tế hợp tác là: Hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác

xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng

Các hợp tác xã được hình thành với các quy mô góc độ khác nhau, tuỳthuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, ở đây người lao động cóquyền tự do tham gia và rút lui khỏi hợp tác xã

Trong những năm đổi mới, kinh tế hợp tác có những thay đổi cơ bản: hộnông dân được coi là đơn vị kinh tế tự chủ, ruộng đất được giao sử dụng lâudài Thực tế xuất hiện những hình thức hợp tác giản đơn, từng khâu nhưhợp tác xã cổ phần, hợp tác xã dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho kinh tế

hộ gia đình và kinh tế trang trại phát triển

- Thứ ba, thành phần kinh tế tư bản nhà nước là sản phẩm của sự canthiệp của nhà nước vào hoạt động của các tổ chức, đơn vị kinh tế tưbản trong và ngoài nước

Thành phần kinh tế tư bản nhà nước bao gồm tất cả các hình thức hợptác, liên doanh sản xuất kinh doanh giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bảntrong và ngoài nước, nhằm sử dụng, khai thác phát huy thế mạnh của mỗibên tham gia, dưới sự kiểm soát giúp đỡ của nhà nước

Trang 11

Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước có vai trò quan trọng trong việchuy động vốn, kỹ thuật công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý của cácNhà nước tư bản Lênin chỉ rõ “ trong một nước tiểu nông phải đi xuyênqua chủ nghĩa tư bản Nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Nhà nước cần đa dạng hoá các hình thức liên doanh liên kết với các tổchức và công ty tư bản nước ngoài, nâng dần tỷ lệ đầu tư ở phía Việt Nam.Đồng thời áp dụng nhiều hình thức góp vốn kinh doanh giữa Nhà nước vàcác nhà kinh doanh tư nhân trong nước dưới nhiều hình thức công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm tạo thế và lực mới cho các doanhnghiệp trong nước phát triển tăng sức cạnh tranh và hợp tác với bên ngoài

- Thứ tư thành phần kinh tế cá thể là thành phần kinh tế hoạt động sảnxuất kinh doanh dựa vào kinh nghiệm của bản thân là chính

Kinh tế cá thể, tiểu chủ của nông dân thợ thủ công những người bánbuôn dịch vụ cá thể Sở hữu của thành phần kinh tế này là sở hữu tư nhân,sản xuất kinh doanh phân tán manh mún, trình độ công nghệ kỹ thuật thủcông, mục đích kinh doanh chủ yếu là để nuôi sống mình, còn tiểu chủ, bảnthân vừa lao động trực tiếp vừa thuê một số công nhân Thế mạnh của thànhphần kinh tế cá thể là phát huy nhanh, có hiệu quả, tiền vốn, sức lao động,say nghề, sản phẩm truyền thống Vì thế nó có vai trò quan trọng trong nềnkinh tế, có khả năng đóng góp phát triển kinh tế xã hội

Do các ưu thế của nó, Nhà nước và các thành phần kinh té khác khôngthể tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn các thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ

về vốn và kỹ thuật…Để nó từng bước tham gia kinh tế hợp tác một cách tựnguyện hoặc làm “ Vệ sinh” cho các doanh nghiệp của nền kinh tế

Thành phần kinh tế thứ năm và cũng là thành phần kinh tế cuối cùng.Thành phần kinh tế tư bản tư nhân: là các đơn vị kinh tế mà vốn do mộthoặc một số nhà tư bản trong nước và ngoài nước đầu tư để sản xuất kinhdoanh dịch vụ

Kinh tế tư bản tư nhân tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân,công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…

Từ năm 1991 sau khi có luật doanh nghiệp tư nhân ở nước ta, kinh tế tưbản tư nhân phát triển mạnh và đóng gopá nhất định vào sự phát triển kinh

tế xã hội

Cần khẳng định nhất quán chủ trương phát triển kinh tế tư bản tư nhânbình đẳng với các thành phần kinh tế khác, khuyến khích tư bản tư nhânđầu tư và sản xuất, bảo vệ quyền sở hữu và lợi ích hợp lí, tạo điều kiệnthuận lợi và củng cố lòng tin cho các nhà đầu tư phát triển

Tuy nhiên cần lưu ý rằng mỗi thành phần kinh tế đồng thời vừa tồn tạiđộc lập tương đối vừa tác động qua lại lẫn nhau, vừa hợp tác cạnh tranh vớinhau vừa thống nhất vừa mâu thuẫn trong một chỉnh thể kinh tế xã hội

Trang 12

Không nên hiểu mỗi thành phần kinh tế như những bộ phận tách rời, nhữnglực lượng tự trị và theo đó cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là sự hợp nhất

tế quốc dân theo định hướng tư bản chủ nghĩa Cần phải luôn nhớ rằngthành phần TBCN đã đang và sẽ có sự hậu thuẫn quốc tế rất mạnh Nhất làtrong tình hình hiện nay, các thế lực chống phá XHCN đang tìm cách chokinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa ở nước ta thắng thế

Ta phải phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần để sản xuất liêntục, không bị gián đoạn, tạo sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế trong

cơ chế thị trường

3/ Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần do đòi hỏi nâng cao đời sống nhân dân.

Việt Nam đi lên từ một nước phong kiến thuộc địa lạc hậu, tiếp theo đó

là chiến tranh kéo dài Khi kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước ViệtNam có thời gian nhìn lại mình thì đã tụt hậu về kinh tế quá xa so với thếgiới Sự hỗ trợ to lớn của các nước XHCN là hậu thuẫn mạnh mẽ cho cuộckháng chiến Nhưng ở thời kì hoà bình xây dựng, hỗ trợ đó hầu như không

có hiệu quả, thể hiện ở tình trạng lạc hậu về kỹ thuật so với các nước tư bảnphát triển, ở cơ cấu kinh tế bất hợp lý, và kinh nghiệm quản lý theo nềnkinh tế kế hoạch tập trung…Cùng với sự sụp đổ của hệ thống XHCN ởĐông Âu, Việt Nam đứng bên bờ của cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội Thunhập bình quân đầu người được đánh giá vào nhóm các nước nghèo nhấtthế giới

So sánh m t s ch tiêu kinh t xã h i gi a Vi t Nam v các nột số chỉ tiêu kinh tế xã hội giữa Việt Nam và các nước ố chỉ tiêu kinh tế xã hội giữa Việt Nam và các nước ỉ tiêu kinh tế xã hội giữa Việt Nam và các nước ế xã hội giữa Việt Nam và các nước ột số chỉ tiêu kinh tế xã hội giữa Việt Nam và các nước ữa Việt Nam và các nước ệt Nam và các nước à các nước ướccASEAN n m 1993ăm 1993

Chỉ tiêu Việt Nam Indônêxia Malaixia Philipin Singapo Thái Lan GDP bình quân đầu

Trang 13

Trước đây,việc thực hiên chính sách và cơ chế quản lý kế hoạch hoá tậptrung quan liêu bao cấp khiến cho sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng,giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh, đới sốngmột bộ phận nhân dân, nhất là ở một số vùng căn cứ cách mạng và khángchiến cũ, đồng bào dân tộc, còn quá khó khăn vất vả.Chất lượng giáo dụcđào tạo, y tế ở nhiều nơi rất thấp kém Người nghèo không đủ tiền chữabệnh và cho con em đi học Trong khi đó nguồn tài chính từ ngân sách vàcác nguồn lực khác có thể huy động cho yêu cầu phúc lợi xã hội vừa hạnchế vừa chưa được sử dụng có hiệu quả Tình trạng ùn tắc giao thông, ônhiễm môi trường sinh thái, huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên ngày càngtăng Văn hoá phẩm độc hại lan tràn, tệ nạn xã hội phát triển, trật tự an toàn

xã hội còn nhiều phức tạp

Xuất phát từ nhu cầu thực tế của đời sống xã hội, để ổn định kinh tếtrong nước và hội nhập quốc tế ta phải xây dựng một nền kinh tế mở, mộtnền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu

Sự thành công của một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng cao mà còn ở chỗ mứcsống thực tế của mọi tầng lớp dân cư đều được nâng lên, y tế giáo dục đềuphát triển, khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp, đạo đức truyền thống bảnsắc văn hoá dân tộc được giữ vững, môi trường được bảo vệ

III NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HOÁ Ở VIỆT NAM

Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hìnhthái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra hàng hoá để bán, để trao đổi trênthị trường

Nội dung của phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo địnhhướng XHCN ở Việt Nam là:

Phát triển nền kinh tế hàng hoá dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thànhphần

Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ kinh tế kémphát triển, mang nặng tính tự cấp tự túc và quản lý theo cơ chế kế hoạchhoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơchế thị trường

Đại hội Đảng VII đã khẳng định, các thành phần kinh tế đang tồn tạitương ứng với tính chất và trình độ sản xuất Trong giai đoạn lịch sử hiệnnay, đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế

tư bản nhà nước

Nền kinh tế nhiều thành phần vừa phản ánh tính đa dạng phong phú trongviệc đáp ứng nhu cầu xã hội vừa phản ánh tính chất phức tạp trong việc

Trang 14

quản lý theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó việc “ Phát triển kinh tếhàng hóa nhiều thành phần phải đi đôi với việc tăng cường quản lý nhànước về kinh tế xã hội Để hạn chế và khắc phục hậu quả của mặt trái củanền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trườngmang lại, giữ cho công cuộc đổi mới đúng hướng và phát huy bản chất tốtđẹp của chủ nghĩa xã hội Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý kinh

tế xã hội bằng luật pháp, kế hoạch, chính sách, thông tin, truyền thống, giáodục và một số công cụ khác

Nhận thức tính chất nhiều thành phần của nền kinh tế là một tất yếukhách quan, từ đó có thái độ thật đúng đắn trong việc khuyến khích sự pháttriển của chúng theo nguyên tắc tự nhiên của kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp

đi lên của chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cũng có nghĩa là cócác quy luật kinh tế khác nhau hoạt động Sự vận động và phát triển của cácthành phần kinh tế trong giai đoạn này chịu sự chi phối trực tiếp của cácquy luật thị trường Thông qua hoạt động của các quy luật thị trường mà nóđào thải những mặt, yếu tố bất hợp lý, thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoásản xuất

1 Phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài.

Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá đã làm phá vỡ các mối quan

hệ kinh tế truyền thống của nền kinh tế khép kín, kém phát triển, bảo thủ trìtrệ Đặc biệt đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa sự phát triển của kinh tế hànghóa đã làm cho thị trường dân tộc hoạt động gắn bó với thị trường thế giới.Việc mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài là tất yếu vì sản xuất vàtrao đổi hàng hoá tất yếu vượt qua phạm vi quốc gia, mang tính chất quốc

tế, đồng thời đó cũng là tất yếu sự phát triển nhu cầu Biệt lập trong sự pháttriển kinh tế một tất yếu trong sự phát triển, khi trình độ phát triển khoa học

kỹ thuật của thế giới cho phép đáp ứng nhu cầu về cả sản xuất lẫn tiêudùng Thông qua mở rộng quan hệ quan hệ hợp tác với nước ngoài để biếnnguồn lực bên ngoài thành nguồn lực bên trong Điều đó tạo thuận lợi choquá trình phát triển rút ngắn ở nước ta

Mở rộng quan hệ kinh tế với các nước bằng nhiều cách như: Tăng cườnghoạt động ngoại thương, hợp tác, liên doanh, liên kết để thu hút vốn đầu tưcho nước ta, gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực Tranh thủ nắm bắtnhững mặt hàng mũi nhọn có trong tương lai, gắn với công nghệ mới, tiếntới có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới… nhanh chóng đưa nềnkinh tế nước ta hội nhập vào nhịp điệu của nền kinh tế thế giới

Việc “mở cửa” về kinh tế phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng tôn trọnglẫn nhau, bảo đảm chủ quyền và cùng có lợi

Trang 15

2 Phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua bản chất và vai trò quản lý của nhà nước.

Mặc dù có rất nhiều ưu điểm nhưng nền kinh tế thị trường không thể nàogiải quyết được những vấn đề do chính cơ chế và đời sống kinh tế xã hộiđặt ra Vì vậy sự tác động của nhà nước- một chủ thể có khả năng nhận thức

và vận dụng các quy luật khách quan vào nền kinh tế là một tất yếu cho sựphát triển kinh tế xã hội Thiên sử “can thiệp” của nhà nước vào kinh tế, đểcho thị trường tự do hoạt động, thì việc điều tiết kinh tế kinh tế nước ta sẽkhông có hiệu quả

Nhà nước sử dụng luật pháp và các công cụ kinh tế vĩ mô khác để quản

lý kinh tế hàng hoá, làm cho nền kinh tế “ lành mạnh” hơn, giảm bớt cácthăng trầm, đột biến xấu trên con đường của nó, khắc phục được tình trạngphân hoa bất bình đẳng, bảo vệ được tài nguyên môi trưởng của đất nước

Sự vận dụng của nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của nhà nước ở nươc ta là sự vận động được điều tiết bởi sự thống nhấtgiữa cơ chế thị trường-“ bàn tay vô hình”, và sự quản lý của nhà nước- “bàn tay hữu hình”

1 Thực trạng kinh tế hàng hóa nước ta hiện nay.

Nước ta đang từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua giaiđoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, xu hướng vận động và phát triển kinh tếhàng hoá gắn liền với các đặc điểm sau:

Một là kinh tế thị trường bao gồm nhiều loại hình đan xen nhau: nhiều

thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu khác nhau tham gia vào nềnkinh tế thị trường Mỗi kiểu hàng hóa, tham gia vào nền kinh tế thị trường

có những nét đặc thù về bản chất kinh tế và xã hội và trình độ phát triển,nhưng nó đều là các bộ phận khác nhau của nền kinh tế quốc dân thốngnhất Bởi vậy chúng ta vừa hợp tác, vừa cạnh tranh nhau, bình đẳng trướcpháp luật, được pháp luật bảo vệ Nhân tố kinh tế và quan hệ kinh tế trongmỗi kiểu sản xuất hàng hóa của mỗi thành phần kinh tế đều xuất hiện cáimới Trong đó, sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chủ đạo, địnhhướng với các kiểu sản xuất hàng hoá khác Nhận thức được tính chất nhiềuthành phần kinh tế là một tất yếu khách quan từ đó có thái độ đúng đắntrong khuyến khích sự phát triển của chúng theo nguyên tắc tự nhiên củakinh tế, phục cụ cho việc đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Hai là nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh

tế kém phát triển mang nặng tính tự cấp tự túc và quản lý theo cơ chế kếhoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá, vận hành theo cơ chế thịtrường Tuy nhiên, kinh tế thị trường ở nước ta vẫn còn ở trình độ kém phattriển Biểu hiện ở số lượng và chủng loại hàng hoá nghèo nàn, khối lượnghàng hoá lưu thông thị trương và kim nghạch xuất khẩu còn nhỏ, chi phí

Ngày đăng: 24/07/2013, 10:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w