1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh kiên giang

86 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 616 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó còn có các đề tài khoa học liên quan trực tiếp đến việc nghiên cứu luận văn đã được đăng tải như: Nguyễn Hải Phong chủ biên, năm 2014, Một số vấn đề về Tăng cường trách nhiệm

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHÙNG THẾ VẮC

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiêu cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác

và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRẦN KHÁNH TRƯỜNG

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

SÁT TỐ GIÁC, TIN BÁO TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7

1.1 Khái niệm 7 1.2 Quy định pháp luật về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo

tội phạm và kiến nghị khởi tố 14

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 34

2.1 Các yếu tố tác động đến công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 34 2.2 Thực trạng công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố 41

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO TỘI PHẠM

VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ TỪ THỰC TIỄN TỈNH KIÊN GIANG 60

3.1 Dự báo những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc tiếp nhận, giải quyết

tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố 60

3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc

tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố 65

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

VKSND Viện Kiểm sát nhân dân

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số liệu thụ lý kiểm sát khởi tố án hình sự trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

từ năm 2012 đến năm 2016 37

Bảng 2.2 Số liệu thụ lý kiểm sát khởi tố vụ án hình sự theo nhóm tội trên địa

bàn tỉnh Kiên Giang từ năm 2012 đến năm 2016 38

Bảng 2.3 Thống kê số lượng KSV làm công tác kiểm sát giải quyết tố giác,

tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố đến tháng 12/2016 40

Bảng 2.4 Số liệu tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố VKS thụ lý

kiểm sát từ 2012 đến 2016 43

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

VKSND là một trong các cơ quan tiến hành tố tụng được pháp luật quy định, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Để thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, VKS đã tiến hành nhiều công tác kiểm sát khác nhau, trong đó công tác kiểm sát các hoạt động tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm của VKS có vị trí, vai trò và ý nghĩa tiên quyết để bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật Thực tiễn thực hành quyền công tố cho thấy, kiểm sát tốt việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm

sẽ quyết định chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử những bước quan trọng để có thể khẳng định có hay không có hành vi tội phạm xảy ra, người nào thực hiện hành vi phạm tội, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội đó gây ra như thế nào Đồng thời, thông qua hoạt động này để có cơ sở khẳng định việc khởi tố là đúng người, đúng tội và bảo đảm các căn cứ để xử lý tội phạm, bảo đảm cho mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý theo quy định của pháp luật, tránh làm oan, sai và không bỏ lọt tội phạm Kiểm sát tốt việc giải quyết tin báo và tố giác tội phạm sẽ giúp cho việc đồng ý hoặc hủy bỏ quyết định không khởi tố của VKS đối với CQĐT chính xác và có căn cứ Hoạt động của VKS nhằm bảo đảm hoạt động tiếp nhận, xử lý các thong tin liên quan đến tội phạm, các hành vi vi phạm, các hoạt động điều tra, xác minh làm căn cứ khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT đúng quy định của pháp luật, thu thập được đầy đủ các thông tin, tài liệu, chứng cứ phục vụ quá trình điều tra, khám phá

vụ án Trong những năm qua VKSND đã có nhiều cố gắng trong thực hiện công tác kiểm sát các hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội

Trang 8

phạm và kiến nghị khởi tố, góp phần quan trọng trong hoạt động điều tra khám phá vụ án, tránh bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội

Trong những năm qua, các cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã có những cố gắng tích cực trong việc thực hiện các hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố, đặc biệt

là vai trò của VKS ngày càng được quan tâm, chất lượng ngày càng được nâng lên, hạn chế đến mức thấp nhất việc khiếu kiện của công dân liên quan đến kết quả công tác giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố Tuy nhiên, ở một góc độ khách quan thì công tác kiểm sát tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Kiên Giang chưa thực sự đạt hiệu quả cao, vẫn có những hạn chế trong các quy định pháp luật và trong thực tiễn áp dụng Bên cạnh đó, nhận thức về tầm quan trọng và vai trò của công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố vẫn chưa thực sự được đề cao, dẫn đến nhiều vụ việc có dấu hiệu hình sự không được xử lý đúng quy trình, dẫn đến khả năng

bỏ lọt tội phạm là rất lớn, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào các cơ quan tư pháp

Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy cần phải hoàn thiện công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố sao cho hoạt động này đạt hiệu quả cao Như vậy, xét ở cả bình diện lý luận và thực tiễn thì

việc nghiên cứu đề tài: "Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Kiên Giang " là yêu cầu cấp thiết mang tính thời sự trong giai đoạn hiện

nay

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận liên quan đến công tác kiểm sát tố giác, tin báo tội phạm và

Trang 9

kiến nghị khởi tố, làm tiền đề cho việc nghiên cứu đề tài như: Giáo trình luật

tố tụng hình sự của Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Bình luận khoa học BLTTHS Việt Nam năm

2003, do PGS, TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên, NXB Chính trị Quốc Gia,

2009 Bên cạnh đó còn có các đề tài khoa học liên quan trực tiếp đến việc nghiên cứu luận văn đã được đăng tải như: Nguyễn Hải Phong (chủ biên, năm 2014), Một số vấn đề về Tăng cường trách nhiệm thực hành quyền công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, NXB Chính trị Quốc gia; Bài viết trên tạp chí chuyên ngành của Phạm Quốc Huy (2009) Bàn về khái niệm “tố giác về tội phạm”, “tin báo về tội phạm” và “kiến nghị khởi tố” trong BLTTHS, Tạp chí kiểm sát (số 17, năm 2009), Luận văn Thạc

sĩ “Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” của tác giá Trương Văn Chung; Bài viết của Thạc sĩ Nông Xuân Trường (Viện KSND Tối Cao) về Vai trò, trách nhiệm của VKS trong giải quyết tin báo, tố giác tội phạm thực

trạng và một số giải pháp,…

Có thể thấy, vấn đề tố giác, tin báo tội phạm đã được nghiên cứu dựa trên các quy định pháp luật hiện hành, tuy nhiên liên quan trực tiếp đến công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố từ thực tiễn địa bàn tỉnh Kiên Giang chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, sâu sắc Do vậy, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nào đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Kiên

Trang 10

Giang, luận văn đề xuất những giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết tố giác tin báo tội phạm, làm tiền đề quan trọng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với phạm vi nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:

- Luận giải những quy định pháp luật về công tác kiểm sát giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; trong đó tập trung nghiên cứu, phân tích quy định của BLTTHS

2003, các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan; các quy định của BLTTHS 2015

- Phân tích thực trạng công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (từ năm 2010 đến năm 2016); Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Kiên Giang về công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

- Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực trạng công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: từ năm 2012 đến năm 2016

- Về không gian: tỉnh Kiên Giang

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phép duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử

Trang 11

Một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử và phương pháp tổng hợp, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn về tố giác, tin báo tội phạm trong các công trình của một số nhà nghiên cứu khoa học Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong các báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án nhân dân Tỉnh Kiên Giang, VKSND Tỉnh Kiên Giang và thông tin trên mạng Internet để phân tích, đánh giá, tổng hợp các vấn đề thực tiễn xung quanh vấn

đề kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn sẽ so sánh, đánh giá những bước phát triển nổi bật của pháp luật Việt Nam quy định về kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố từ năm 2012 cho đến nay; Trên cơ sở phân tích thực tiễn vận dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố giai đoạn 2012 – 2016 và một số tồn tại, vướng mắc khi áp dụng trên trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật, làm nguồn tài liệu nghiên cứu, tham khảo phục vụ công tác ở địa phương

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng để kiến nghị các cơ quan chức năng áp dụng pháp luật vào thực tiễn một cách linh hoạt, đồng bộ, nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

7 Cấu trúc

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:

Trang 12

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm sát giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật Tố tụng Hình

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ

THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm

1.1.1 Khái niệm tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trong xã hội luôn phát sinh nhiều vấn đề mới và phức tạp kèm theo đó là các thông tin có dấu hiệu hoặc hành vi vi phạm, do đó cần phân biệt rõ thông tin nào là tố giác, tin báo về tội phạm, các thông tin nào thuộc kiến nghị, phản ánh, khiếu nại hoặc tố cáo Trong thực tiễn, thường nhầm lẫn giữa tố cáo và tố giác tội phạm do hai khái niệm này có những đặc điểm gần giống nhau dẫn đến việc phân loại không chính xác, kéo theo một loạt các hoạt động áp dụng pháp luật không phù hợp, làm cho việc xử lý, giải quyết không đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định pháp luật

Khái niệm tố cáo có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ pháp lý, theo khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 thì: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [12] Do vậy,

tố cáo là việc công dân báo tin về mọi hành vi vi phạm pháp luật cho cơ quan,

tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết Những vi phạm này có thể là vi phạm pháp luật về hành chính, dân sự…và mỗi lĩnh vực có trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo khác nhau Riêng đối với tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự

Trang 14

Theo Thông tư liên tịch số 06 giải thích: “Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết”.[1] Như vậy ở một khía cạnh nào đó có thể hiểu tố giác về tội phạm là tố cáo hành vi phạm tội, nếu hiểu theo cách này thì nội hàm khái niệm tố cáo đã bao hàm cả khái niệm tố giác về tội phạm Tuy nhiên, tố cáo và tố giác tội phạm

có sự khác biệt, thể hiện: Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật trong mọi lĩnh vực, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm Còn đối tượng của tố giác về tội phạm chỉ có hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm (Cũng cần thống nhất thêm cách hiểu về khái niệm “Có dấu hiệu tội phạm” theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Luật Tố cáo phải căn cứ vào các dấu hiệu được quy định của Bộ luật hình sự đối với tội phạm tương ứng chứ không căn cứ vào ý chí chủ quan của người tố cáo) Việc phân loại,

xử lý, giải quyết tố cáo phải tuân theo trình tự, thủ tục do Luật Tố cáo và các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định Việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự

và Thông tư 06/2013 Sự khác biệt giữa hai khái niệm này còn thể hiện ở chỗ:

Tố cáo là quyền, công dân có thể tố cáo, nhưng cũng có thể không Còn tố giác về tội phạm vừa là quyền nhưng cũng đồng thời là nghĩa vụ của công dân Sự khác biệt này có thể dẫn đến những hệ quả pháp lý rất khác nhau, tố cáo chỉ phát sinh quan hệ pháp lý khi công dân trực tiếp hoặc gửi đơn tố cáo đến cơ quan, cá nhân có thẩm quyền Còn tố giác tội phạm trong một số trường hợp phát sinh quan hệ pháp lý ngay từ thời điểm tội phạm xảy ra (trường hợp phạm tội Không tố giác tội phạm theo Điều 314 Bộ luật Hình sự)

Về khái niệm tố giác, tin báo tội phạm theo quy định pháp luật Việt Nam

có những định nghĩa khác nhau qua các giai đoạn lịch sử khác nhau

Trang 15

Thông tư liên ngành số 03/1992 định nghĩa như sau: Tố giác và tin báo

về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do công dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết, do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú Tố giác, tin báo về tội phạm có thể được thể hiện bằng các hình thức thông tin.[26]

Do sự thay đổi về các thành phần kinh tế, điều kiện xã hội, các hình thức thông tin về tội phạm và các hành vi phạm tội nên khái niệm trên không còn phù hợp với tình hình thực tế BLTTHS năm 2003 quy định theo hướng khái quát hóa về định nghĩa và chỉ mô tả hành vi, phương thức để công dân báo tin

về tội phạm: Công dân có thể tố giác tội phạm với CQĐT, VKS, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho CQĐT bằng văn bản [10]

Tuy nhiên với quy định của BLTTHS 2003, thực tiễn áp dụng gặp phải nhiều khó khăn, việc đánh giá thế nào là tố giác, thế nào là tin báo hoặc kiến nghị khởi tố không được hiểu rõ ràng và thi hành thống nhất Do vậy Thông

tư liên tịch số 06/2013 đưa ra các khái niệm cụ thể: [1]

Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm

do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết

Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết

Trang 16

Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị CQĐT xem xét khởi tố vụ án hình sự

Theo chúng tôi, để đảm bảo cho các khái niệm về tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố được hiểu thống nhất, đầy đủ và chính xác thì cần phải đưa ra một khái niệm ngắn gọn nhưng phải thể hiện được cả nội hàm và ngoại diên của nó Điều 144, BLTTHS 2015 đã đưa ra được khái niệm tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố một cách khái quát nhưng đầy đủ

cả về chủ thể, đặc điểm lẫn nguồn gốc của thông tin:

Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền

Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin

về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng

Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho CQĐT, VKS

có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm [15]

Chúng tôi hoàn toàn thống nhất với khái niệm của ba nhóm thuật ngữ nêu trên và với việc sửa đổi hoàn thiện các khái niệm tố giác, tin báo tội phạm

và kiến nghị khởi tố, BLTTHS 2015 giúp cho việc nhận thức các thuật ngữ này ở một góc độ đầy đủ, toàn diện hơn

1.1.2 Khái niệm kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

Quyền lực nhà nước là vấn đề quan trọng và phức tạp Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại quyền và lợi ích chính đáng cho nhân dân Tuy nhiên, trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước thường tiềm ẩn

Trang 17

rất nhiều hành vi mang tính tiêu cực từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền, có thể dẫn tới tác động tiêu cực cho sự phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước Do vậy pháp luật Việt Nam quy định các cơ chế để kiểm soát quyền lực Nhà nước, trong đó có hoạt động kiểm sát

Kiểm soát được hiểu là xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm phát hiện, ngăn chặn những điều trái với quy định Theo từ điển giải thích Tiếng Việt thì kiểm sát là kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước Nội dung của khái niệm kiểm sát là hoạt động kiểm tra và giám sát Đối tượng là việc chấp hành pháp luật của Nhà nước

Hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố là một giai đoạn hoạt động được quy định trong BLTTHS “VKS có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của CQĐT đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”

Mặc dù BLTTHS 2003 không nêu cụ thể thẩm quyền của VKS trong giai đoạn tiếp nhận nhưng căn cứ các quy định pháp luật hiện hành cần hiểu trách nhiệm của VKS không dừng lại ở giai đoạn giải quyết mà cả giai đoạn tiếp nhận và xử lý các tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố Cụ thể tại Điều 13 Luật tổ chức VKSND quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố bao gồm [13]: Tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố do các cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến và chuyển ngay cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo đầy đủ, kịp thời tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận cho VKSND; Trực tiếp kiểm sát; kiểm sát việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ và kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và

Trang 18

kiến nghị khởi tố; CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo đầy đủ, kịp thời kết quả xác minh, giải quyết cho VKSND;

Khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKSND yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động như: Tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đầy đủ, đúng pháp luật; Kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi

tố và thông báo kết quả cho VKSND; Cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người vi phạm; Ngoài ra VKS là cơ quan được giao thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của BLTTHS [13]

Như vậy có thể hiểu kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố là hoạt động của VKSND thông qua việc sử dụng các quyền năng pháp lý được quy định thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

Song song với chức năng kiểm sát, VKSND còn được giao chức năng thực hành quyền công tố trong quá trình kiểm sát Bởi lẽ, nếu đơn thuần chỉ giao cho VKS chức năng kiểm sát thì trách nhiệm của VKS chỉ dừng lại ở các hoạt động kiểm tra, giám sát để phát hiện vi phạm, tội phạm của cơ quan, cá nhân mà không có thẩm quyền xử lý Do vậy dẫn đến khả năng pháp luật không đảm bảo tính nghiêm minh, kịp thời xử lý các hành vi vi phạm và

Trang 19

phạm tội Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Luật tổ chức VKSND 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố bao gồm: Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Khi cần thiết đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thực hiện; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKSND đã yêu cầu nhưng không được khắc phục; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để thực hành quyền công tố theo quy định của BLTTHS nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội [13]

Bởi những phân tích trên, hoạt động kiểm sát tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố được thực hiện cả giai đoạn tiếp nhận và giải quyết của các CQĐT có thẩm quyền Đồng thời cần nhận thức rõ trong giai đoạn tiếp nhận

tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố, VKS có trách nhiệm kiểm sát nhưng giới hạn thẩm quyền và biện pháp tác động ở mức “yêu cầu”; còn trong quá trình kiểm sát giải quyết các tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT, VKS có cả chức năng thực hành quyền công tố với những biện pháp và quyền năng pháp lý nghiêm khắc hơn

Trang 20

1.2 Quy định pháp luật về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

1.2.1 Về chủ thể thực hiện quyền kiểm sát

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, kiểm sát là hoạt động riêng có của cơ quan kiểm sát, một cơ quan Hiến định VKS là một loại cơ quan Nhà nước, do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội) lập ra để kiểm soát quyền lực Cơ quan này, theo ý tưởng của những người thiết kế ra nó, chính là

cơ quan thay thế cho một số cơ quan kiểm soát quyền lực độc lập như Thanh tra Nghị viện, Thanh tra Nhà nước… Theo các Hiến pháp trước đây, tuy Quốc hội lập ra rất nhiều cơ quan, nhưng duy nhất chỉ có VKS mới được trao quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thật ra, khi lập VKSND ở nước ta, theo mô hình VKS các nước xã hội chủ nghĩa, nhiệm

vụ trọng tâm của cơ quan độc lập này là tập trung kiểm sát việc tuân theo pháp luật của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước - cơ quan hành pháp, do

đó trước đây VKS có chức năng “kiểm sát chung” cả về tư pháp lẫn hành chính Tuy nhiên, đến năm 2001, với Nghị quyết của Quốc hội khoá X- Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND nước ta bị thu hẹp đáng kể Giờ đây, VKSND chỉ thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp Tuy chưa có giải thích chính thức nào về nội dung kiểm sát hoạt động tư pháp, nhưng thực tiễn lập pháp và thực hiện pháp luật thời gian qua cho thấy, kiểm sát hoạt động tư pháp được nhìn nhận như là kiểm sát tố tụng tư pháp, tức là kiểm sát không chỉ quá trình xét xử mà còn là quá trình điều tra và thi hành án Đây là chức năng đặc thù của VKS cùng với chức năng thực hành quyền công tố, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để VKS thực hiện tốt chức năng, vai trò và quyền hạn của mình trong quá trình bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo về quyền con người và quyền công dân

Trang 21

Như vậy, VKSND là một cơ quan thuộc hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước với chức năng Hiến định là: VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp [13]

Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [13]

Theo quy định thì VKSND có hai chức năng cụ thể:

Thứ nhất, chức năng thực hành quyền công tố: là hoạt động của VKSND

trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Thứ hai, Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm

sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết

vụ án hình sự; trong lĩnh vực dân sự, thi hành án, khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên, tham gia “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong tố tụng hình sự không chỉ có VKS mà còn các chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cá nhân công dân và toàn thể xã hội nói chung Quyền của các chủ thể khác được “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong lĩnh vực tố tụng hình sự xuất phát

từ những chế định quan trọng của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy

Trang 22

Nhà nước và địa vị pháp lý cơ bản của công dân Điều 56 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội” Điều

13 Luật tổ chức CQĐT hình sự 2015 quy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, người có thẩm quyền điều tra hình sự theo quy định của pháp luật…” Về bản chất, các hoạt động của những chủ thể này như: theo dõi, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng báo cáo tình hình hoạt động, yêu cầu trả lời lý do ra các quyết định, yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm… cũng hướng tới việc “phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật” và “loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân” trong tố tụng hình sự Dù vậy, không thể coi đây là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật mà chỉ là các hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát của VKS và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là một số quyền mà pháp luật cho phép chỉ có VKS mới có khi thực hiện hoạt động kiểm sát, các quyền này cũng đồng thời là nghĩa vụ của VKS, tạo nên sự khác biệt về phương thức thực hiện hoạt động kiểm sát mà các chủ thể khác không có

Trên cơ sở phân cấp tổ chức theo quy định của Luật tổ chức VKSND

2014 (gồm 04 cấp: VKSND tối cao, cấp cao, cấp tỉnh và cấp huyện), VKSND thực hiện chức năng kiểm sát theo thẩm quyền được pháp luật quy định, đảm bảo cho các nguồn thông tin về tội phạm được tiếp nhận, xử lý và giải quyết đúng quy định, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm

1.2.2 Về mục đích, đối tượng và phạm vi kiểm sát

VKS thực hiện công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết của cơ quan

có thẩm quyền điều tra đối với tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trang 23

nhằm đảm bảo cho mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đều phải được tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm

và người phạm tội, không làm oan người vô tội Ngoài ra công tác kiểm sát còn nhằm mục đích đảm bảo cho việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, kịp thời, đúng pháp luật, những vi phạm pháp luật trong công tác này phải được phát hiện, khắc phục và xử lý nghiêm minh

Căn cứ vào khái niệm đã nêu có thể nhận thấy rõ đối tượng của công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi

tố có thể được hiểu là việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

Thông tư liên tịch số 06/2013 quy định Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm [1]: CQĐT trong Công an nhân dân; CQĐT trong Quân đội nhân dân; CQĐT của VKSND tối cao; CQĐT của VKS quân sự Trung ương; Bộ đội Biên phòng; Cơ quan Hải quan;

Cơ quan Kiểm lâm; Lực lượng Cảnh sát biển; Các cơ quan khác của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Các cơ quan khác của Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; VKS; Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an; Tòa án;

Cơ quan báo chí; Các cơ quan, tổ chức khác

Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận kiến nghị khởi tố bao gồm: CQĐT trong Công an nhân dân; CQĐT trong Quân đội nhân dân; CQĐT của VKSND tối cao; CQĐT của VKS quân sự Trung ương; VKS tiếp nhận và chuyển ngay đến CQĐT có thẩm quyền giải quyết

Về thẩm quyền giải quyết Thông tư 06 quy định: Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm: CQĐT trong Công an nhân

Trang 24

dân; CQĐT trong Quân đội nhân dân; CQĐT của VKSND tối cao; CQĐT của VKS quân sự Trung ương; Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý mà tiếp nhận tố giác, tin báo

về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình thì tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đó

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết kiến nghị khởi tố bao gồm: CQĐT trong Công an nhân dân; CQĐT trong Quân đội nhân dân; CQĐT của VKSND tối cao; CQĐT của VKS quân sự Trung ương

Như vậy, pháp luật hiện hành quy định trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố được chia thành hai nhóm gồm hệ thống CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Luật tổ chức CQĐT hình sự 2015 quy định hệ thống CQĐT bao gồm: CQĐT của Công an nhân dân, CQĐT trong Quân đội nhân dân, CQĐT của VKSND tối cao Đây là các cơ quan được phân công nhiệm vụ điều tra chuyên trách tức hoạt động điều tra là hoạt động chính được phân công, bao gồm cả việc tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết các tố giác, tin báo tội phạm

và kiến nghị khởi tố

Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Các cơ quan của Bộ đội biên phòng; Các cơ quan của Hải quan; Các cơ quan của Kiểm lâm; Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; Các cơ quan của Kiểm ngư; Các cơ quan của Công an nhân dân và Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân [9]

Xét ở góc độ hoạt động điều tra trong các vụ án hình sự, thì các cơ quan này không phải là cơ quan chuyên trách mà là các cơ quan quản lý hành chính

Trang 25

trong lĩnh vực được phân công Do vậy, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của BLTTHS hiện hành như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho VKS

có thẩm quyền,…

Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động này rất ít khi được các cơ quan này tiến hành Phần lớn các cơ quan này chỉ thực hiện việc tiếp nhận thông tin, lấy lời khai ban đầu và sau đó là thông báo và chuyển toàn bộ hồ sơ đến CQĐT

có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết theo thủ tục tiếp nhận tin báo tội phạm Bên cạnh việc quy định trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, pháp luật cũng đồng thời quy định nhiệm vụ và quyền hạn của những người trực tiếp thực hiện các hoạt động tương ứng trong hệ thống các cơ quan nói trên như Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, ĐTV, Viện trưởng, Phó viện trưởng, KSV, Kiểm tra viên,

Về phạm vi thực hiện các hoạt động kiểm sát, Điều 11 Thông tư liên tịch

số 06 quy định: “Sau khi nhận được Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của CQĐT theo quy định tại khoản

1 Điều 9 Thông tư liên tịch này, trong thời hạn 3 ngày làm việc, Viện trưởng VKS phải ra Quyết định phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản cho CQĐT đã ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố.”

“Sau khi nhận được văn bản thông báo của Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một

Trang 26

số hoạt động điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư liên tịch này, VKS tiến hành kiểm sát theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.”

Đây là quy định khởi đầu cho giới hạn phạm vi công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

Điều 13 thông tư 06 quy định : “Khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố phải gửi kết quả giải quyết cùng hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố cho VKS cùng cấp; trong thời hạn 06 ngày làm việc, VKS phải có văn bản thể hiện quan điểm đồng ý hoặc không đồng ý về kết quả giải quyết.”

Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành không quy định cụ thể phạm vi công tác kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, nhưng căn cứ nội dung quy định trên có thể thấy phạm vi này bắt đầu từ khi CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền thông báo về việc tiếp nhận cho VKS đến khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự và ban hành thông báo kết quả giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1.2.3 Quy trình kiểm sát tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1.2.3.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

CQĐT, VKS có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến VKS có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền CQĐT trong Công an nhân dân và VKS các cấp phải

tổ chức trực ban hình sự để tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm

Trang 27

và kiến nghị khởi tố; phân loại và chuyển ngay cho các đơn vị có thẩm quyền giải quyết Địa điểm tiếp nhận phải đặt ở nơi thuận tiện, có biển ghi tên cơ quan và thông báo rộng rãi để mọi người biết CQĐT trong Quân đội nhân dân, Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phân công cán bộ để tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận mọi tố giác về tội phạm [1]

CQĐT, VKS, Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố qua đơn thư, công văn kiến nghị hoặc nêu trên phương tiện thông tin đại chúng thì phải tiếp nhận và vào

sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Nếu cá nhân trực tiếp đến tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm Nếu cá nhân tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức báo tin về tội phạm qua điện thoại, các phương tiện thông tin khác thì phải tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nếu là tin quan trọng hoặc thấy cần thiết thì có thể ghi âm, ghi hình Trường hợp người phạm tội đến tự thú thì phải lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú Trên cơ sở kế thừa và bổ sung các quy định pháp luật hiện hành về công tác tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố, BLTTHS 2015 quy định: Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Trang 28

Về thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố,

BLHS 2015 quy định: Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin

về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì CQĐT, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận

Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền

VKS giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu

bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục, thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày VKS có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho VKS để xem xét, giải quyết

Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ

bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho CQĐT có thẩm quyền Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố

Trang 29

giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho CQĐT có thẩm quyền

Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho CQĐT có thẩm quyền Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho CQĐT nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho VKS cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền

Căn cứ các quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố, VKS thực hiện quyền kiểm sát của mình nhằm kịp thời phát hiện các sai phạm, thiếu sót để ban hành kiến nghị, yêu cầu khắc phục, chấn chỉnh kịp thời Pháp luật quy định trách nhiệm của VKS trong giai đoạn này bao gồm:

Thứ nhất, tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố do các cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến và chuyển ngay cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết Trong trường hợp công dân đến tố giác tại VKS, Viện trưởng phải phân công KSV tiếp nhận đầy đủ, ghi nhận vào sổ theo dõi và thực hiện việc phân loại, xử lý đơn đã tiếp nhận Sau đó, chuyển ngay đơn thư

tố giác kèm các tài liệu liên quan đến CQĐT có thẩm quyền đồng thời thực hiện việc kiểm sát giải quyết tin tố giác đó trong trường hợp thuộc thẩm quyền kiểm sát của mình Việc tổ chức thực hiện tiếp nhận đơn thư tố giác tại VKS được thực hiện do bộ phận kiểm sát giải quyết khiếu tố phụ trách tiếp nhận và theo dõi, đồng thời phối hợp với đơn vị kiểm sát điều tra án hình sự thực hiện quyền kiểm sát đối với các tố giác thuộc thẩm quyền

Trang 30

Thứ hai, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao

nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo đầy đủ, kịp thời

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận cho VKSND Thực tế hiện nay các CQĐT thường tiếp nhận tin nhưng không vào sổ thụ lý đầy đủ, dẫn đến việc thông báo cho VKS tình hình tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố không chính xác với thực tế xảy ra Do vậy, KSV được phân công ngoài việc thực hiện thẩm quyền kiểm sát đối với các tin tố giác đã được CQĐT thông báo cần phối hợp với các cơ quan hữu quan, các bộ phận nghiệp vụ khác để nắm bắt tình hình, kịp thời yêu cầu CQĐT thực hiện việc tiếp nhận và thụ lý theo quy định

Bên cạnh đó, VKS cũng cần thực hiện kiểm sát việc phân loại và xử lý các tố giác, tin báo mà CQĐT tiếp nhận, nhất là việc chuyển tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền Qua xác minh sơ bộ, nếu thấy

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền của đơn vị mình, KSV phải báo cáo lãnh đạo VKS hoặc lãnh đạo đơn vị có văn bản yêu cầu CQĐT cùng cấp chuyển cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết, đồng thời thông báo đến VKS nơi tiếp nhận để thực hiện việc kiểm sát Trường hợp xảy ra tranh chấp về thẩm quyền thì pháp luật quy định VKS có quyền giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Việc thực hiện các hoạt động trong kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố được tiếp hành thường xuyên, liên tục và hết sức chặt chẽ Do vậy, KSV cần nắm chắc các thông tin liên quan đến tội phạm, các quy định pháp luật tố tụng hình sự đồng thời cũng cần nghiên cứu các văn bản quy định của các cơ quan có thẩm quyền như Công an nhân dân,

Trang 31

Quân đội nhân dân để có kiến thức pháp luật toàn diện, nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động kiểm sát

Công tác phân loại tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố cần được thực hiện chính xác, kịp thời, đồng bộ, đảm bảo cho các tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố được phân loại và thụ lý, xử lý đúng quy trình

tố tụng Góp phần quan trọng cho công tác thống kê số liệu, làm cơ sở nhận định, đánh giá tình hình tố giác của công dân, báo tin về tội phạm của cơ quan, tổ chức và việc thực hiện trách nhiệm kiến nghị khởi tố của các cơ quan

Điều 9, Thông tư liên tịch 06 quy định: Sau khi tiếp nhận thông tin liên quan đến tội phạm, CQĐT phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu Nếu xác định thông tin đó là tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thủ trưởng CQĐT phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản đến VKS cùng cấp để kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố theo quy định của pháp luật Đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu tội phạm thì CQĐT ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại

Trang 32

khoản 3 Điều 104 BLTTHS năm 2003, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố

Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm

vụ trong lĩnh vực quản lý mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình thì khẩn trương tiến hành kiểm tra, xác minh, quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự; đồng thời, phải thông báo ngay bằng văn bản cho VKS có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của cơ quan mình Trường hợp ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự thì thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 104 BLTTHS năm 2003

Trường hợp sau khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, cơ quan tiến hành giải quyết ra quyết định không khởi tố vụ án hình

sự và xác định có hành vi vi phạm pháp luật khác xảy ra (vi phạm hành chính) thì trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ khi VKS có văn bản đồng ý về kết quả giải quyết, cơ quan tiến hành giải quyết sao hồ sơ để lưu và chuyển ngay

hồ sơ, tài liệu (bản chính) có liên quan đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý Căn cứ các quy định này, trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố, VKS phải Quyết định phân công Phó viện trưởng, lãnh đạo đơn vị, Kiểm sát việc kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố sau khi nhận được Quyết định phân công ĐTV của CQĐT đồng thời phải gửi cho CQĐT

để đưa vào hồ sơ xác minh Đối với tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố đã rõ về dấu hiệu cấu thành tội phạm, CQĐT Quyết định khởi tố vụ

án, thì VKS phân công KSV thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án đó Trong trường hợp ĐTV, KSV thuộc một trong các trường hợp

Trang 33

phải từ chối tiến hành tố tụng, thì KSV báo cáo đến lãnh đạo đơn vị thực hiện theo đúng quy định tại Điều 44 và Điều 45 – BLTTHS 2003 Việc thay đổi ĐTV do Thủ trưởng CQĐT quyết định, việc thay đổi KSV do Viện trưởng VKS cùng cấp quyết định Nếu ĐTV, KSV bị thay đổi là Thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng VKS thì do CQĐT cấp trên, Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp quyết định

Song song đó, VKS phải thực hiện các biện pháp kiểm tra, tác động, theo dõi xuyên suốt trong quá trình giải quyết của CQĐT, tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kiểm sát trình tự thu thập các chứng

cứ, trưng cầu giám định, định giá,…

KSV được phân công ở giai đoạn này phải chủ động đề ra yêu cầu xác minh bằng văn bản về những vấn đề cần xác minh ngay từ đầu và trong quá trình giải quyết Khi đề ra yêu cầu xác minh, KSV phải nêu rõ những nội dung cần xác minh để kiểm tra tính xác thực của nguồn tin; thu thập, củng cố chứng cứ để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, như: “Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Văn bản yêu cầu xác minh phải lưu vào hồ sơ kiểm sát

KSV kiểm sát chặt chẽ hoạt động giải quyết của ĐTV, nắm chắc nội dung và tiến độ giải quyết, bảo đảm kết quả giải quyết và các yêu cầu xác minh được thực hiện đầy đủ, khách quan, đúng pháp luật Khi thấy có vấn đề cần phải xác minh thêm, KSV kịp thời bổ sung yêu cầu xác minh, nếu ĐTV

Trang 34

chưa rõ, KSV có trách nhiệm giải thích nội dung những yêu cầu xác minh Trường hợp ĐTV không nhất trí thì KSV yêu cầu ĐTV nêu rõ lý do và báo cáo lãnh đạo VKS hoặc lãnh đạo đơn vị xem xét, kiến nghị với Thủ trưởng CQĐT; Trường hợp CQĐT không thực hiện được đầy đủ các yêu cầu xác minh thì phải nêu rõ lý do trong văn bản kết luận xác minh vụ việc

Ngoài việc kiểm sát nội dung, trình tự giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS còn phải thực hiện kiểm sát về thời hạn giải quyết BLTTHS 2003 quy định: “Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.”

Thông tư liên tịch 06 tiếp tục quy định về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố theo tinh thần Điều 103 BLTTHS 2003, theo đó: Trường hợp đã hết thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003 mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa

đủ căn cứ để quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì thông báo ngay bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết để thống nhất quan điểm giải quyết

Quá trình thực hiện các quy định này phát sinh nhiều bất cập, khó khăn, vướng mắc bởi lẽ thực tế có rất nhiều tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp, phải thẩm tra xác minh nhiều nơi, thực

Trang 35

hiện đối với nhiều đối tượng, phải tiến hành các hoạt động giám định, định giá Thêm vào đó Thông tư liên tịch 06 quy định định việc CQĐT thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp thống nhất quan điểm giải quyết nhưng lại

bỏ ngõ nội dung và trình tự, thời hạn giải quyết như thế nào Điều 147, BLTTHS 2015 đưa ra điểm mới quan trọng, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định thì Viện trưởng VKS cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng

Chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh CQĐT,

cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị VKS cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh

Điểm mới của BLTTHS 2015 là quy định thêm chế định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đồng thời quy định cụ thể việc gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo đó nâng tổng thời gian giải quyết lên không quá 04 tháng KSV cần thực hiện kiểm sát chặt chẽ thời hạn giải quyết, kịp thời kiến nghị, yêu cầu CQĐT nghiêm túc, khẩn trương xác minh giải quyết trên cơ sở kết quả thu thập được không cần thiết phải đợi đến khi hết thời hạn mới ban hành quyết định giải quyết

Trang 36

1.2.3.3 Kiểm sát kết quả giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố

Sau khi thực hiện các thao tác nghiệp vụ để thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, CQĐT có thẩm quyền phải tiến hành xác minh trong thời hạn 20 ngày, trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá

02 tháng

Khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải gửi kết quả giải quyết cùng

hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố cho VKS cùng cấp (hồ sơ khởi tố hoặc không khởi tố); trong thời hạn 06 ngày làm việc, VKS phải có văn bản thể hiện quan điểm đồng ý hoặc không đồng ý về kết quả giải quyết

Trường hợp đã hết thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003 mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa

đủ căn cứ để quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì thông báo ngay bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết để thống nhất quan điểm giải quyết

Trong thời hạn 12 ngày làm việc sau khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, các cơ quan, đơn vị tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã cung cấp thông tin hoặc kiến nghị khởi

tố biết kết quả giải quyết vụ việc hoặc đã chuyển tin, vụ việc đến cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết

Quá trình thực hiện các quy định của Điều 103 BLTTHS và Thông tư liên tịch số 06, nhận thấy đối với các trường hợp do nhiều nguyên nhân khách

Trang 37

quan mà CQĐT không thể thực hiện thẩm quyền giải quyết trong hạn luật định Hơn nữa với quy định của Thông tư 06 về việc thông báo ngay bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết để thống nhất quan điểm giải quyết, tuy nhiên pháp luật hiện hành lại không quy định cụ thể cách thức xử lý, thống kê, báo cáo như thế nào trong trường hợp quan điểm của VKS đồng ý hoặc không đồng vấn đề quá hạn giải quyết Do vậy, có những tố giác, tin báo tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố đã được thụ lý nhưng chưa có đủ căn cứ giải quyết do trở ngại khách quan thì CQĐT và VKS gặp lúng túng, gây khó khăn cho công tác báo cáo tình hình tiếp nhận, xử lý và thống kê liên ngành

BLTTHS 2015, đưa ra quy định về tạm đình chỉ giải quyết đối với tố giác, tin báo tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố giúp giải quyết triệt để những khó khăn nêu trên Theo đó, khi hết thời hạn giải quyết cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:

- Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;

- Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định tạm đình chỉ kèm theo tài liệu liên quan đến VKS cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát và gửi quyết định tạm đình chỉ đó cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Nhiệm vụ của VKS trong giai đoạn này là kiểm sát việc tạm đình chỉ của CQĐT có đúng căn cứ theo quy định pháp luật, có gửi quyết định tạm đình

Trang 38

chỉ cho VKS và các cơ quan có liên quan đúng thời hạn hay không Trường hợp quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục giải quyết Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi

ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, VKS phải gửi quyết định đó cho CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,

cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố Khi đó, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp theo là không quá 01 tháng kể từ ngày CQĐT, cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ

Trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả

Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định phục hồi cho VKS cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố [15]

Như vậy, trong trường hợp VKS hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ hoặc có quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì thời hạn giải quyết còn lại chỉ không quá 01 tháng Do vậy, khi thực hiện thẩm quyền kiểm sát, VKS phải kiểm sát thời hạn chặt chẽ đảm bảo đúng quy

Trang 39

định pháp luật Quy định này tạo điều kiện cho CQĐT giải quyết triệt để những vấn đề khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành Thực tế

có nhiều tố giác, tin báo cần phải chờ kết quả định giá tài sản hoặc kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền phải kéo dài hơn thời gian quy định Việc này dẫn đến các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố quá hạn luật định nhưng không do lỗi chủ quan của CQĐT Một vài trường hợp người dân bức xúc do vụ việc bị kéo dài thời gian giải quyết nên xảy ra khiếu kiện, gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác và tình hình trật tự an toàn xã hội

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI

PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH KIÊN GIANG 2.1 Các yếu tố tác động đến kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

2.1.1 Yếu tố kinh tế - xã hội

Kiên Giang là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, nằm tận cùng phía Tây-Nam Việt Nam, toàn tỉnh có 15 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên và 13 huyện chia làm 3 vùng: Vùng Tứ giác Long Xuyên gồm các huyện: Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất; vùng Tây sông Hậu gồm các huyện: Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng và Gò Quao; vùng

U Minh Thượng gồm các huyện: An Biên, An Minh, U Minh Thượng, và Vĩnh Thuận; vùng đảo và hải đảo gồm các huyện: Kiên Hải và Phú Quốc Dân số Kiên Giang gần 1,8 triệu người, trong đó dân tộc chủ yếu là người Kinh, Khmer và Hoa Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một số đảo lớn Tỉnh Kiên Giang có số lượng lao động dồi dào với lực lượng trong độ tuổi lao động trên

1 triệu người Cơ cấu lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 56,37%; khu vục công nghiệp và xây dựng là 12,74%; khu vực dịch vụ là 30,89% Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35,5%, trong đó đào tạo nghề đạt 32% Kiên Giang có lực lượng lao động trẻ, có tay nghề đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các nhà đầu tư và doanh nghiệp Hiện toàn tỉnh Kiên Giang

có 1 trường đại học, 5 trường cao đẳng, 1 trường trung cấp chuyên nghiệp, 14 trung tâm dạy nghề cấp tỉnh, huyện và nhiều cơ sở dạy nghề với quy mô nhỏ Toàn tỉnh có 616 trường, trong đó có 51 trường trung học phổ thông với hơn

Ngày đăng: 29/11/2017, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w