VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LỮ THỊ THANH HUYỀN NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY Nghiên cứu trường
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LỮ THỊ THANH HUYỀN
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC VẤN ĐỀ
MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
và Đại học Khoa học tự nhiên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LỮ THỊ THANH HUYỀN
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC VẤN ĐỀ
MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
và Đại học Khoa học tự nhiên)
Chuyên nghành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TUẤN ANH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý Thầy/Cô giảng dạy khóa Cao học năm 2015-2017, quý Thầy/Cô Khoa Xã hội học và các cán bộ phòng Sau đại học, Ban Giám đốc Học viện Khoa học Xã hội đã cung cấp cho tôi những kiến thức khoa học và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến hơn 240 bạn Sinh viên của hai trường: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh đã tham gia trả lời phỏng vấn trong đề tài của tôi, nếu không có các bạn tôi không thể hoàn thành được luận văn này
Trên tất cả, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh Qua hướng dẫn chuyên môn cũng như những lời động viên, chia sẻ của Thầy đã giúp tôi tăng thêm ý chí và nghị lực trong suốt quá trình làm luận văn Nếu không có sự tận tâm hướng dẫn mà Thầy dành cho tôi thì thực sự luận văn này không thể hoàn thành
Tôi cũng đã rất cố gắng để thực hiện đề tài này một cách hoàn chỉnh nhất Nhưng do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như bản thân tôi còn nhiều hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy/Cô và các bạn
để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý thầy, cô, bạn bè và người thân
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên thực hiện
Lữ Thị Thanh Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh Mọi trích dẫn từ các tài liệu đều được ghi xuất
xứ rõ ràng; các sự kiện, tư liệu trong luận văn này là trung thực Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên thực hiện
Lữ Thị Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 20
1.1 Các khái niệm làm việc 20
1.2 Tiếp cận lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu 21
1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu và đặc điểm mẫu nghiên cứu 25
Chương 2 QUAN NIỆM, ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VÀ NGUỒN THÔNG TIN VỀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG MÀ SINH VIÊN TIẾP CẬN 28
2.1 Dẫn nhập 28
2.2 Thực trạng các vấn đề môi trường dưới góc nhìn của sinh viên 28
2.3 Đánh giá của sinh viên về các vấn đề môi trường và mức độ ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh 34
2.4 Nguồn thông tin về các vấn đề môi trường mà sinh viên tiếp cận 46
2.5 Tiểu kết 53
Chương 3 SINH VIÊN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG, HOẠT ĐỘNG THU GOM, PHÂN LOẠI CHẤT THẢI VÀ SỰ THAM GIA CỦA SINH VIÊN VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 55
3.1 Dẫn nhập 55
3.2 Đánh giá của sinh viên về hoạt động thu gom và phân loại chất thải 55
3.3 Tác động của các vấn đề môi trường đến đời sống, sức khỏe của người dân từ quan điểm của sinh viên 61
3.4 Sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động bảo vệ môi trường 67
3.5 Tiểu kết 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: So sánh tỷ lệ nhóm sinh viên năm thứ nhất và nhóm sinh viên năm thứ tư
biết về các vấn đề môi trường nổi bật 31
Bảng 2.2: So sánh sinh viên hai trường biết về các vấn đề môi trường nổi bật 32
Bảng 2.3: Đánh giá về mức độ nghiêm trọng của các vấn đề môi trường nổi bật 33
Bảng 2.4: Mức độ ưu tiên xử lý các loại rác thải 37
Bảng 2.5: Mức độ ưu tiên xử lý các loại nước thải 38
Bảng 2.6: Đánh giá về nguyên nhân của vấn đề rác thải 41
Bảng 2.7: Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nước thải 44
Bảng 2.8: Nguồn thông tin về các vấn đề môi trường mà sinh viên tiếp cận 47
Bảng 2.9: So sánh tỷ lệ nguồn thông tin về các vấn đề môi trường của sinh viên phân theo năm học 50
Bảng 3.1: Nhận định về việc thu gom rác 57
Bảng 3.2: So sánh sự hiểu biết về phân loại rác tại nguồn giữa hai trường 60
Bảng 3.3: Đánh giá môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống người dân 62
nơi sinh viên cư trú 62
Bảng 3.4: So sánh việc đánh giá mức độ tác hại của rác thải của sinh viên hai trường 63
Bảng 3.5: So sánh đánh giá của sinh viên hai trường mức độ ảnh hưởng của nước thải 66
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Những sự kiện môi trường nổi bật tại Việt Nam năm 2016 29 Biểu đồ 2.2: Đánh giá của sinh viên đối với thực trạng các vấn đề môi trường 34 Biểu đồ 2.3: Ý kiến của sinh viên về hai vấn đề môi trường đáng quan tâm nhất 35 Biểu đồ 2.4: Nhận định của SV về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại nơi cư trú 39 Biểu đồ 2.5: Nguồn thông tin về các vấn đề môi trường của SV phân theo vùng sống 48 Biểu đồ 2.6: Nguồn thông tin về các vấn đề môi trường của SV phân theo trường 49 Biểu đồ 2.7: Thông tin về môi trường mà sinh viên quan tâm 52 Biểu đồ 3.1: Mục đích phân loại rác tại nguồn 61 Biểu đồ 3.2: Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường 67 Biểu đồ 3.3: So sánh sự tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường của sinh viên năm 1 và năm 4 70 Biểu đồ 3.4: So sánh sự tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường của sinh viên hai trường 71
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người Trong quá trình sống con người luôn đào thải các chất thải
ra môi trường, con người đã biết tận dụng và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho đời sống của mình Tuy nhiên, cùng với đó loài người đang phải gánh chịu những hậu quả tất yếu từ thiên nhiên trong quá trình đi lên này Báo cáo Triển vọng Hóa chất toàn cầu UNEP 2012 chỉ ra rằng: Việc gia tăng sản xuất,
sử dụng và thải bỏ hóa chất ở các nước đang phát triển đã tạo ra các nguy cơ đến môi trường và sức khỏe con người; Từ năm 2000 đến năm 2010, khoảng 50.000
km2 rừng đã tiếp tục bị mất; Kết quả là phát thải CO2 từ mất rừng và suy giảm rừng chiếm khoảng 12% tổng phát thải do con người gây ra; Khoảng 25% diện tích đất toàn cầu đang bị suy thoái, tập trung ở châu Phi, Đông Nam Á, phía Nam Trung Quốc và vùng đồng cỏ Papas Mỹ La tinh; Suy thoái đất ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của khoảng 1,5 tỷ người; Trữ lượng thủy sản toàn cầu đang suy giảm ở mức báo động; Khoảng 85% trữ lượng cá toàn cầu đã bị suy giảm do khai thác quá mức, hết chu kỳ khai thác hoặc ở giai đoạn phục hồi sau khi bị khai thác quá mức [12]
Tại Việt Nam hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại các giống loài, ảnh hưởng xấu sức khỏe con người là cái giá rất đắt phải trả cho quá trình tự do hóa thương mại mới được tiến hành chỉ trong vòng hơn 10 năm trở lại đây ở nước ta Mới đây hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia của Mỹ thực hiện khảo sát ở 132 quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy: Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123/132 quốc gia khảo sát;
về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe đứng vị trí 77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80 Tính theo chỉ số chung EFI, Việt Nam xếp thứ 79 [10] Nước
ta đang chịu tác động và ảnh hưởng nhiều của biến đổi khí hậu trong thời gian vừa qua
ở hầu hết các tỉnh, thành phố, vùng miền trong cả nước
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố có lịch sử hình thành
và phát triển hơn 300 năm Thành phố là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học, công
Trang 92
nghệ, giáo dục – đào tạo, y tế của cả nước và là cửa ngõ giao thương về kinh tế, giao lưu văn hóa lớn của khu vực Đông Nam Á Thành phố tiếp giáp với các địa phương có nền kinh tế và công nghiệp phát triển nhất cả nước Bên cạnh đó Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang phải gánh chịu những hậu quả tiêu cực của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đặc biệt là các vấn đề môi trường xuống cấp và ô nhiễm nặng do rác thải, khí thải, nước thải của các nhà máy, xí nghiệp, rác thải sinh hoạt của người dân…vấn đề ô nhiễm môi trường càng tăng khi mảng xanh đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng thu hẹp, quỹ đất đa phần dành cho nhà ở, khu công nghiệp, chế xuất, đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp.[18,tr.1] Hiện nay, tổng lượng nước được khai thác, cấp sử dụng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng 1.850.000 m3/ngày (lượng nước cấp là 1.200.000 m3/ngày, nước ngầm khai thác khoảng 650.000 m3/ngày), tương ứng với lượng nước thải vào khoảng 1.750.000 m3/ngày [18,tr.2] Chất lượng không khí và tiếng ồn tại Thành phố đang
bị tác động bởi nguồn ô nhiễm do giao thông, khí thải công nghiệp, do sinh hoạt trong dân cư, do hoạt động xây dựng, nguồn ô nhiễm lan truyền từ các địa phương lân cận [18,tr.3] Bên cạnh đó chất thải rắn phát sinh từ các khu vực dân cư, y tế và xây dựng cũng là một vấn đề môi trường lo ngại của Thành phố khi chất thải rắn sinh hoạt phát sinh mỗi ngày là khoảng 8.300 tấn, chất thải rắn công nghiệp ước phát sinh khoảng 1.500-2.000 tấn/ngày, chất thải y tế nguy hại hiện nay trên địa bàn thành phố khoảng 22 tấn/ngày phát sinh từ hơn 6.000 cơ sở y tế công lập và tư nhân Chất thải rắn từ cá công trình xây dựng trên địa bàn thành phố khoảng 1.200–1.600 tấn/ngày Hầu hết chất thải rắn đô thị trên địa bàn thành phố đều được thu gom, xử lý hàng ngày bằng nhiều phương thức khác nhau Tuy nhiên tại một số khu vực của thành phố vẫn còn hiện tượng thải bỏ chất thải rắn không đúng quy định tại các khu vực công cộng hoặc các khu vực đất trống, vứt chất thải rắn xuống kênh rạch gây ô nhiễm môi trường [18,tr.4-5]
Một trong những yêu cầu cần đề ra để cải thiện môi trường là nâng cao nhận thức của người dân với các vấn đề môi trường Việc nâng cao nhận thức về môi trường là cả một quá trình lâu dài và đòi hỏi mọi tầng lớp xã hội đều nhận thức rõ
Trang 103
ràng về vấn đề này Tìm hiểu nhận thức của con người về các vấn đề môi trường có
ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết Trong khuôn khổ đề tài với tài lực, nhân lực và thời gian có hạn tác giả chỉ đi vào nghiên cứu về nhận thức của sinh viên về các vấn đề môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Bản thân sinh viên có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi liên quan đến môi trường theo hướng tích cực cũng như góp phần đáng kể trong việc tuyên truyền và kêu gọi mọi người chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nếu như họ được trang bị tốt các kiến thức về môi trường trong bối cảnh môi trường bị xuống cấp
Tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về nhận thức của sinh viên về
vấn đề môi trường, nên tôi đặc biệt tâm đắc chọn đề tài “Nhận thức của sinh viên
về các vấn đề môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” với mong muốn
tìm hiểu một phần nào đó nhận thức của sinh viên về các vấn đề môi trường dưới góc nhìn xã hội học Tôi cũng mong muốn nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp một số
số liệu mang tính sơ bộ phục vụ cho các nghiên cứu có liên quan chuyên ngành sâu
và rộng sau này để có thể tìm ra những giải pháp hiệu quả nhất nâng cao hiểu biết về các vấn đề môi trường và ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ sự sống của nhân loại
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Nhận thức về các vấn đề môi trường
Thế giới đã và đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu, một trong số đó là vấn đề môi trường sống Nhiều tổ chức quốc tế, nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học trên thế giới đã lên tiếng cảnh báo mức độ nghiêm trọng, sự tiếp tục gia tăng theo chiều hướng xấu của những vấn đề môi trường Để
có thể xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái thì phải có những biện pháp, cách thức hiệu quả nâng cao nhận thức về môi trường Nghiên cứu nhận thức về các vấn đề môi trường cũng có khá nhiều sách, báo, tạp chí, nghiên cứu, bài viết Đây không phải là mảng nghiên cứu mới nhưng nó luôn cần thiết ở mọi thời đại Để có cách ứng xử đúng với môi trường thì phải có nhận thức đúng về nó
Trong đề tài này tác giả tổng quan một số nghiên cứu nhận thức về các vấn
đề môi trường ở trong nước và nước ngoài
Trang 114
Tác giả Lê Quốc Tuấn đã tiến hành điều tra ý thức thải rác đúng quy định của sinh viên ở 3 trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình thải rác trong các khu giảng đường, ký túc
xá và đưa ra nhận định tổng quát về vấn đề này Qua đó, có một cái nhìn khách quan về vấn đề mang tính ý thức và trách nhiệm của mỗi người dân, đặc biệt là sinh viên trong cộng đồng Từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính giáo dục nhằm góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên trong việc bảo vệ môi trường sống Đề tài đã tiến hành điều tra ở 3 trường đại học trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với tổng
số 300 phiếu, kết hợp phỏng vấn tại chỗ, ghi hình, thực hiện các đoạn phim ngắn, tổng hợp số liệu và nhận định Kết quả điều tra và khảo sát ban đầu cho thấy tình trạng thải rác không đúng nơi quy định của sinh viên vẫn đang diễn ra phổ biến ở một số trường đại học trên địa bàn thành phố Nguyên nhân của tình trạng này phụ thuộc vào cả yếu tố khách quan như bố trí thùng rác chưa hợp lý, còn ít, hoặc rác ít được thu gom nên thùng bị lấp đầy và cả yếu tố chủ quan của sinh viên (ý thức về việc thải rác đúng nơi quy định) Ý thức của của sinh viên trong việc thải rác là yếu
tố quan trọng Sinh viên có thể xem việc xả rác là bình thường, không gây ảnh hưởng
gì đến môi trường Chỉ là một bao ni lông, một vỏ kẹo cao su, một hộp sữa tươi đã được sử dụng, theo sinh viên thường không ảnh hưởng đến ai và không gây tác hại đến môi trường Tuy nhiên, đây là cách ứng xử không hợp lý đối với cộng động, đối với môi trường mà sinh viên đang sống, làm việc và học tập trong đó [14]
Ưu điểm của nghiên cứu này đã nêu bật được thực trạng thải rác hiện nay ở các trường đại học đồng thời cũng tìm ra một số nguyên nhân của vấn đề thải rác
Đề tài cũng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu định lượng, định tính để làm rõ thêm vấn đề cần nghiên cứu
Hạn chế của đề tài là những kết quả điều tra trong đề tài chưa mang tính thống kê Đề tài chưa đi vào tìm hiểu một số quan niệm, đánh giá của sinh viên đối với việc xả rác và cũng không tìm hiểu để đưa ra được một số nhận định mấu chốt
là yếu tố nào ảnh hưởng sâu sắc nhất đến nhận thức về việc xả rác để đề xuất phương thức xử lý phù hợp Hơn nữa đề tài nghiên cứu trên phạm vi 3 trường đại
Trang 12Đề tài nghiên cứu về nhận thức của sinh viên về biến đổi khí hậu, nghiên cứu đã sử dụng phiếu điều tra bán cấu trúc để tìm hiểu thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội về biến đổi khí hậu Kết quả phân tích cho thấy nhận thức của sinh viên về vấn đề biến đổi khí hậu ở mức độ trung bình Sinh viên có nhận thức khá tốt về tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đời sống người dân khu vực nông thôn Việt Nam Đề tài cũng có sự so sánh giữa sinh viên khóa 54 với khóa 55,56,57, sinh viên khóa trước nhận thức cao hơn sinh viên khóa sau, sinh viên khoa Tài nguyên và Môi trường nhận thức cao hơn sinh viên khoa khác Nghiên cứu cũng chỉ được sinh viên có những hiểu biết cơ bản về khái niệm, nguyên nhân và biểu hiện của Biến đổi khí hậu Tuy nhiên nhận thức của sinh viên các khóa, các khoa có sự khác nhau về điểm trung bình, sinh viên năm cuối ở các khoa đều có nhận thức cao hơn Đề tài cũng đi vào nghiên cứu nhận thức của sinh viên về ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến đời sống và sản xuất của người dân Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% sinh viên đều cho rằng “Biến đồi khí hậu đã làm tăng tỷ lệ người dân bị đói nghèo” Sinh viên có nhận thức khá tốt về những việc cần làm để góp phần cùng cộng đồng chống Biến đổi khí hậu Nghiên cứu cũng chỉ ra mặc dù sinh viên đã có nhận thức khá tốt về những hoạt động cần làm để góp phần cùng cộng đồng chống Biến đổi khí hậu nhưng khi hỏi về các giải pháp, các hoạt động của cộng đồng quốc tế và Chính phủ Việt Nam trong việc thích ứng và giảm nhẹ Biến đổi khí hậu thì đại đa số sinh viên trả lời không biết Đề tài cũng tìm hiểu nhận thức của sinh viên về các biện pháp sản xuất của người dân và các hoạt động của
Trang 136
sinh viên ứng phó với Biến đổi khí hậu Và nguồn thông tin sinh viên biết qua: mạng internet, ti vi, báo chí, tài liệu và bài giảng của thầy cô, qua thực tiễn cuộc sống các em tiếp xúc với bà con nông dân ở địa phương, tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp Ngoài ra đề tài cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của sinh viên về Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến sự phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và đời sống người dân khu vực nông thôn Việt Nam [13]
Về chọn mẫu và phương pháp nghiên cứu của đề tài : Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra 800 sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà nội theo phương pháp ngẫu nhiên phân lớp theo khoa, theo khóa, tập trung vào sinh viên các ngành nông nghiệp Đề tài sử dụng các dữ liệu thứ cấp được thu thập để tìm hiểu, phân tích các khái niệm, nguyên nhân, tác dộng của Biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến nông, lâm, ngư nghiệp và đời sống người dân ở khu vưc nông thôn Việt Nam Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định lượng các kết quả được thu được qua phiếu điều tra bằng phần mềm SPSS, sử dụng phương pháp phân tích định tính để phân tích câu trả lời tự luận.[13]
Ưu điểm của đề tài: Nghiên cứu chọn mẫu khảo sát là sinh viên trường Đại học nông nghiệp Hà nội rất phù hợp với đề tài nghiên cứu vì đa số sinh viên ở đây
họ xuất thân từ vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, ngành nghề và thu nhập chính của người dân là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Đây là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu gây ra Hơn nữa lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn là địa chỉ công tác sau khi tốt nghiệp của sinh viên Đề tài giúp các nhà quản lý giáo dục và giảng viên có đánh giá tổng thể về mức độ nhận thức của sinh viên về Biến đổi khí hậu Từ đó có thể đề ra kế hoạch hành động nhằm nâng cao nhận thức, hình thành kĩ năng ứng phó và thái độ ứng xử đúng đắn với vấn đề biến đổi khí hậu
Đề tài nghiên cứu với dung lượng mẫu khá lớn, mẫu là sinh viên các chuyên ngành liên quan đến các vấn đề môi trường nên nhận thức của họ về biến đổi khí hậu
đa số tốt Nhưng không thể vì thế mà kết luận được tổng thể sinh viên có nhận thức tốt
Trang 14Nội dung của đề tài chủ yếu tập trung vào việc phân tích nhận thức, thái độ của người dân về vệ sinh môi trường và cuộc vận động thực hiện nếp sống văn minh đô thị như: Nhận thức về môi trường, trách nhiệm bảo vệ môi trường, thái độ của người dân về cuộc vận động Qua đó phản ánh được thực trạng vệ sinh môi trường trước và sau cuộc vận động, đặc biệt là nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ của người dân trong cuộc thực hiện nếp sống văn minh đô thị Đề tài
sử dụng phương pháp thu thập thông tin Xã hội học: phân tích tư liệu sẵn có, bảng hỏi, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm [20]
Về ưu điểm: Đề tài đã đưa ra và chứng minh nhận thức, thái độ, mối quan hệ giữa chính quyền và người dân chưa cao trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường Đồng thời đề tài cũng chỉ ra được nguyên nhân tác động đến nhận thức và thái độ của người dân trong việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị
Về hạn chế: Đề tài chưa nêu được sự tác động của kiểm soát xã hội đến nhận thức, thái độ của người dân Trong phần đưa ra nguyên nhân tác động đến nhận thức thái độ của người dân thì đề tài chỉ mới đưa ra nguyên nhân do hoạt động của chính quyền, học vấn, nghề nghiệp, nhóm xã hội mà chưa chỉ ra được nguyên nhân văn hóa mà cụ thể là phong tục, tập quán, lối sống của người dân Chưa đề cập đến nguyên nhân kiểm soát nội tại ảnh hưởng đến nhận thức thái độ của người dân trong việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị Một số giải pháp trong đề tài đưa ra mang tính chung chung
Trang 158
2.2 Hoạt động thu gom chất thải
Tìm hiểu về hoạt động thu gom, xử lý chất thải có nghiên cứu về việc sử dụng thùng rác công cộng của cư dân thành phố Hồ Chí Minh trong năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị 2009 của Trịnh Văn Hay (Chủ nhiệm) thực hiện vào năm
2010 Nghiên cứu trường hợp trước bệnh viện Chợ Rẫy đoạn đường Nguyễn Chí Thanh từ đường Thuận Kiều đến đường Lý Nam Đế, đã tìm hiểu về thực trạng sử dụng thùng rác công cộng trong đó cụ thể vệ sinh môi trường trước Bệnh viện Chợ Rẫy luôn trong trạng thái chưa được đảm bảo Các nhóm dân cư khác nhau có những cách thức ứng xử với rác thải khác nhau thông qua việc sử dụng thùng rác công cộng Với số lượng dân cư sinh sống, buôn bán và đi lại đông, số lượng thùng rác công cộng ít, khoảng cách bố trí không thuận tiện nên người dân ít sử dụng thùng rác công cộng Nghiên cữu cũng chỉ ra tính cố kết cộng đồng ở đây ít bền chặt nên quyền lực cộng đồng không chi phối được các hành vi sai phạm Kiểm soát phi chính thức ở đây không cao, “tính nông thôn” trong xã hội đô thị còn tồn tại Dư luận cộng đồng chỉ phát huy hiệu quả với chính người trong cộng đồng, bởi nhóm khách thể có hành vi lệch chuẩn nhiều nhất, xả rác nhiều nhất là nhóm người không
cư trú tại địa bàn, rất ít gắn bó với cộng đồng Hơn nữa nghiên cứu cũng chỉ ra dư luận công cộng tại địa bàn nghiên cứu không đủ mạnh để tác động đến hành vi bỏ rác không đúng nơi quy định của người dân Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra yếu tố kiểm soát chính thức và yếu tố tự kiểm soát trong đó, kiểm soát chính thức càng mạnh mẽ, càng triệt để thì khả năng điều tiết các lệch chuẩn của cư dân sống tại địa bàn càng cao, hoạt động thu gom còn hạnh chế, hoạt động tuyên truyền có nhưng hiệu quả không cao, hoạt động chế tài chưa có tính răn đe
` Nghiên cứu sử dụng các tư liệu sẵn có, dùng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với 150 bảng hỏi để thu thập thông tin của người dân chia ra tạm trú, thường trú, buôn bán và khách vãng lai Và đưa ra các tiêu chí cho các nhóm điều tra dân cư sinh sống, dân cư kinh doanh và khách vãng lai về tuổi, diện thường trú, tạm trú, kinh doanh cố định, di động Ngoài ra còn sử dụng phương pháp quan sát bán cơ cấu không tham dự và phương pháp phỏng vấn sâu (12 cuộc) chia cho 3
Trang 16Nhược điểm: Đề tài chỉ mới tìm hiểu sơ bộ về thực trạng của việc sử dụng thùng rác công cộng trên phạm vi nhỏ, chỉ trên một đoạn đường Nguyễn Chí Thanh
từ đường Thuận Kiều đến đường Lý Nam Đế Vì phạm vi nghiên cứu là trước một bệnh viện lớn của Thành phố Hồ Chí Minh nên lượng người qua lại tại khu vực này cũng khá đông, đôi khi vì liên quan đến mạng sống con người nên những người qua lại ở khu vực này bị tác động tâm lý và quên đi những ý thức trong việc xả rác, trong nghiên cứu chưa thấy đề cập đến
Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường luôn là mối quan tâm của toàn xã hội Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường Trong đó, rác thải sinh hoạt chưa được phân loại, thu gom và xử lý thích hợp của người dân và chính quyền địa phương là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường Nghiên cứu cho thấy, rất nhiều người dân quan tâm đến vấn đề môi trường và nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với đời
sống hàng ngày Đề tài Tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về
ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của Nguyễn Thị Tuyết năm 2009 cho thấy vấn đề môi trường rất được người dân quan tâm Đa số người dân có nhận thức tốt về việc ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt nhưng thái độ và hành vi còn chưa đúng Đặc biệt trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt Chính quyền đã cố gắng giải quyết vấn đề rác thải
Trang 1710
nhưng chưa triệt để và chưa triển khai tốt các biện pháp tuyên truyền cho người dân Người dân cần thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi để phù hợp với cuộc sống đô thị Đề tài đã tìm hiểu thái độ nhận thức của người dân trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, thực trạng phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của người dân, những thuận lợi và khó khăn trong việc phân loại, thu gom và
xử lý rác thải của người dân Phương pháp nghiên cứu là phương pháp định lượng
và phương pháp định tính Điều tra bằng bảng hỏi, xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5 với câu hỏi mở và câu hỏi đóng thể hiện qua hai dạng bảng chủ yếu là bảng mô tả
và mảng kết hợp Phương pháp phỏng vân sâu sử dụng bảng hỏi mang tính chất gợi
mở, phỏng vấn thêm đối tượng là cán bộ phường Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, quan sát [17]
Ưu điểm đề tài này cho thấy rõ thái độ, nhận thức của người dân trong việc bảo
vệ môi trường thông qua việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải Cung cấp những thông tin và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân trong việc bảo
vệ môi trường Đề tài mang tính chất thăm dò nhận thức và thái độ của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường thông qua việc phân loại, thu gom rác thải sinh hoạt hàng ngày và qua công tác xử lý rác thải sinh hoạt Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu vấn đề này sâu hơn và cho các sinh viên khoá sau Qua đề tài, nhóm tác giả cũng đề ra những biện pháp giúp địa phương tham khảo trong việc quản lý và hướng dẫn người dân trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải
Đề tài tuy nghiên cứu về nhận thức của người dân nhưng chưa có sự tìm hiểu việc người dân biết các thông tin về phân loại, thu gom và xử lý rác thải qua nguồn thông tin nào vì đây là yếu tố quan trọng để từ kết quả nghiên cứu có hướng đưa ra giải pháp giúp cho công tác nâng cao nhận thức về vấn đề này tốt hơn Trong đề tài cũng không thấy khảo sát về việc người dân có tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường về rác thải mà địa phương tổ chức không
2.3 Sự tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường của người dân
Quản lý môi trường đô thị có một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, đặc biệt là ở các khu đô thị song song với sự tham gia hưởng ứng của
Trang 18về hạ tầng kỹ thuật đã ảnh hưởng đến việc xử lý nước thải, vận chuyển rác thải Đồng thời do sự kém hiểu biết về vệ sinh môi trường, sự tồn tại của tập quán sinh hoạt và lối sống nông thôn và ý thức tự giác giữ gìn vệ sinh môi trường còn thấp là nguyên nhân dẫn đến môi trường đô thị bị xuống cấp Đề tài cũng chỉ ra được các yếu tố liên quan đến việc quản lý và xử lý rác thải không tốt, tình trạng thiếu các luật lệ, văn bản mang tính pháp lý và hiệu lực thi hành còn thấp đối với việc xử lý các hành vi vi phạm, gây ảnh hưởng dến môi trường cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường tại Hà nội Ngoài ra thực trạng đời sống xã hội là yếu tố tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi môi trường của con người, vì vậy sự tham gia của cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường [6]
Vai trò của người dân trong việc tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường rất quan trọng, nghiên cứu về vấn đề này có đề tài khảo sát vai trò của người dân trong việc tham gia quản lý và cải thiện môi trường sống tại các cộng đồng nghèo
đô thị chủ nhiệm đề tài Thạc sỹ Trần Đan Tâm, đề tài chủ yếu đề cập đến việc tìm hiều các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý và cải tạo môi trường sống của người nghèo đô thị Và tìm hiểu về ý thức của người dân trong việc tham gia quản lý cải
thiện môi trường [16] Nhưng tác giả không đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến ý thức của nguời dân và cũng không nghiên cứu đến thái độ, hành vi của
họ đối với môi trường
Nghiên cứu về tham gia các hoạt động môi trường trên thế giới, tác giả có tìm hiểu từ sự kiện động đất dẫn đến sóng thần vào ngày 11/3/2012 đã làm thiệt
Trang 1912
mạng 15.854 người, làm mất tích 3.155 người, phá hủy hàng chục thị trấn, làng mạc
ở các tỉnh Đông Bắc đảo Bản Châu (Honsu), Nhật bản Một trong các hậu quả của sóng thần là sự cố rò rỉ phóng xạ tại Nhà máy điện nguyên tử Fukushima Để giải quyết hậu quả ô nhiễm phóng xạ, chính phủ Nhật đã quyết định khoanh vùng đất sẽ được xử lý là vùng có cường độ phóng xạ Trong thực tế, ngay cả ở Nhật Bản không có nhiều người hiểu biết về xử lý chất thải phóng xạ nên để đánh giá về công tác tổ chức và hiệu quả xử lý Takenhiko Myrayama, Giáo sư Đại học Công nghệ Tokyo và Cộng tác viên đã tổ chức nghiên cứu tham vấn cộng đồng tại vùng có mức phóng xạ này 3 loại hình tham vấn cấp vùng đã được nghiên cứu thực hiện: Thứ nhất thảo luận về các ảnh hưởng sức khỏe và biện pháp xử lý ô nhiễm phóng
xạ Thứ hai Thảo luận vệ các biện pháp bảo quản chất thải phóng xạ Thứ ba thảo luận về triển khai các biện pháp xử lý Qua tổng hợp các ý kiến của các bên tham gia nhóm nghiên cứu đã đánh giá mức độ công khai thông tin của Chính phủ về ô nhiễm phóng xạ và đưa ra quy trình về tham gia của cộng đồng địa phương trong triển khai xử lý phóng xạ Như vậy tham vấn cộng đồng không phải là hình thức đối phó thực chất có đóng góp thiệt thực cho giải quyết vấn đề rất phức tạp và nóng bỏng: xử lý an toàn chất thải hạt nhân trên diện rộng [8]
2.4 Giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường
Tác giả Bùi Cách Tuyến, Tổng cục Môi trường, đã có nghiên cứu về vai trò của giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức về môi trường cho các đối tượng trong
xã hội, đã nêu rõ giáo dục môi trường có vai trò rất quan trọng nhằm giúp cộng
đồng hiểu được bản chất phức tạp của hệ thống môi trường thiên nhiên và nhân tạo
để giúp con người đối xử thân thiện với môi trường, trang bị cho cộng đồng những
kỹ năng hành động bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn Ông cũng nêu rõ phương pháp hiệu qủa nhất là giáo dục kiến thức về môi trường trong một môi trường cụ thể, nhằm giúp cộng đồng nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục môi trường trong công tác bảo vệ môi trường Trong bài viết tác giả cũng đã nêu rõ, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách, chương trình hành động cụ thể, các chương trình giáo dục môi trường bao gồm cả chính khóa và ngoại khóa được
Trang 2013
triển khai tới các cấp học trong hệ thống giáo dục Việt Nam, các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng Hệ thống thông tin và dữ liệu môi trường cũng được xây dựng và ngày càng hoàn thiện Đồng thời tác giả cũng nêu những hạn chế, tồn tại
trong công tác giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường [15]
Ưu điểm của nghiên cứu là tác giả đã nêu rõ vấn đề khi có hiểu biết về môi trường sẽ có thái độ đúng đắn với môi trường và dẫn đến khả năng hành động hiệu quả vào bảo vệ môi trường
Tuy nhiên cũng có mặt hạn chế là tác giả không đề cập sâu về vấn đề nhận thức với các vấn đề môi trường mà cốt lõi nêu lên giải pháp để nâng cao nhận thức chính là sự giáo dục và tác giả đề cập đến tất cả các đối tượng chứ không nêu riêng một đối tượng nào
Một sáng kiến kinh nghiệm của cô giáo Nguyễn Thị Xuân thực hiện từ tháng 11/2012 đến tháng 3/2013 tại trường mầm non ở Thành phố Hồ Chí Minh về việc đưa ra một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Tác giả nêu rõ con người được sống trong một môi trường lành mạnh thì việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được hình thành và rèn luyện từ rất sớm, từ lứa tuổi mầm non giúp con trẻ có những khái niệm ban đầu về môi trường sống của bản thân mình nói riêng và con người nói chung là cần thiết Từ đó biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của cơ thể và trí tuệ [23]
Với đề tài này tác giả khẳng định và minh chứng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về môi trường phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ nhằm tạo thái độ, hành vi đúng của trẻ đối với môi trường xung quanh Tác giả đưa ra nhưng biện pháp giáo dục môi trường cho trẻ mầm non rất đơn giản, thiết thực và dễ nhớ Tuy nhiên hạn chế của đề tài chỉ đi vào việc đưa ra các biện pháp giáo dục dành cho trẻ mầm non nên khó có thể áp dụng các biện pháp này cho các đối tương khác để nâng cao nhận thức môi trường
Vấn đề giáo dục môi trường cho cộng đồng trở thành vấn đề cấp thiết, đặc biệt lứa tuổi học sinh, thế hệ tương lai của đất nước Việc giáo dục môi trường cho lứa tuổi này có vai trò rất quan trọng vì nếu các em được giáo dục tốt, các em sẽ là
Trang 2114
những tuyên truyền viên đắc lực cho gia đình và cộng đồng dân cư trong việc bảo
vệ môi trường Nhóm tác giả Lê Thị Minh - Quách Toàn Em đã có nghiên cứu về việc nâng cao nhận thức về môi trường cho học sinh ở một số trường Trung học cơ
sở Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh Bằng biện pháp tập huấn các nội dung về môi trường và tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức về môi trường cho học sinh, đồng thời từ đó học sinh có những điều chỉnh đúng đắn về thái độ và hành vi bảo vệ môi trường Nghiên cứu về trình độ nhận thức về môi trường của học sinh, đề tài đã chỉ ra nhận thức về môi trường của học sinh hệ công lập tốt hơn so với hệ bán công, cũng dễ hiểu vì đầu vào của hệ công lập cao hơn Ngoài ra các phương tiện dạy học, cơ sở vật chất của hệ thống các trường công lập được đầu tư tốt hơn trường bán công Thái độ của học sinh biết phản đối quan niệm sai trái về môi trường, đồng tình quan niệm đúng đắn Các em học sinh có ý thức về hành vi của mình đối với việc giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường Học sinh hệ bán công thường xuyên tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường hơn học sinh hệ công lập Đề tài được thực hiện dùng các phương pháp điều tra bằng phiếu, tập huấn, xử lý số liệu bằng phương pháp dùng toán thống kê để xử
lí các số liệu thu được và ứng dụng thống kê toán học trong sinh học, sử dụng phần mềm Excel 2003 để xử lý các số liệu [7]
Đề tài tiến hành điều tra không phải dưới góc nhìn xã hội học mà dưới dóc nhìn sư phạm đã chỉ ra được nhận thức về môi trường của học sinh đều được nâng cao sau khi được tuyên truyền, tập huấn các nội dung về môi và học sinh ở hệ công lập nhận thức cao hơn học sinh bán công Kết quả này tạo tiền đề cho các nhà nghiên cứu chuyên sâu để tìm ra giải pháp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường Tuy nhiên đề tài không kết hợp sử dụng phương pháp định tính nên trong quá trình phân tích tính thuyết phục còn hạn chế
Qua các đề tài mà tác giả đã tổng quan ở nội dung trên cho thấy có nhiều nghiên cứu về các vấn đề môi trường, trong đó có cả nghiên cứu về nhận thức về môi trường, hoạt động thu gom chất thải, sự tham gia của người dân trong các vấn
đề môi trường và việc giáo dục nâng cao nhận thức về môi trường Trong các tài
Trang 2215
liệu tổng quan không có tài liệu nào đi sâu nghiên cứu nhận thức cuả sinh viên về các vấn đề môi trường Chính vì thế điểm khác biệt mà đề tài nghiên cứu này mang lại chính là làm rõ quan niệm, đánh giá của sinh viên về các vấn đề môi trường và nguồn thông tin về các vấn đề môi trường mà sinh viên tiếp cận Làm rõ đánh giá của sinh viên về tác động của các vấn đề môi trường đến đời sống của người dân và
sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động bảo vệ môi trường
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là mang lại sự hiểu biết tương đối có hệ thống đối với nhận thức của sinh viên về các vấn đề môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay qua nghiên cứu trường hợp sinh viên Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn và sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn triển khai các nhiệm vụ cụ thể sau đây Làm rõ quan niệm, đánh giá của sinh viên về các vấn đề môi trường và nguồn thông tin về các vấn đề môi trường mà sinh viên tiếp cận
Làm rõ đánh giá của sinh viên về tác động của các vấn đề môi trường đến đời sống của người dân và sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động bảo vệ môi trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của sinh viên về các vấn đề môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 234.2.3 Về không gian nghiên cứu
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn và trường Đại học Khoa học
Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
4.2.4 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 8 năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả đưa ra một
số câu hỏi nghiên cứu như sau:
Đánh giá của sinh viên về các vấn đề môi trường như thế nào?
Sinh viên tiếp cận thông tin về các vấn đề môi trường qua những nguồn nào? Sinh viên đánh giá như thế nào về tác động của các vấn đề môi trường đến đời sống của người dân?
Sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động bảo vệ môi trường như thế nào?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Từ những câu hỏi nêu trên thì giả thuyết nghiên cứu được đặt ra như sau:
Đa số sinh viên đánh giá nhiều vấn đề môi trường hiện nay ở mức độ nghiêm trọng
Sinh viên tiếp cận thông tin về các vấn đề môi trường chủ yếu dựa vào internet và các phương tiện truyền thông đại chúng khác
Sinh viên đánh giá nhiều vấn đề môi trường tác động tiêu cực đến đời sống của người dân
Sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động bảo vệ môi trường còn hạn chế
Trang 2417
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp định lượng là phương pháp chủ yếu, kết hợp với phương pháp định tính để giải thích, làm rõ và bổ sung cho kết quả định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan cho đề tài
5.3.1 Phương pháp định tính
Tìm hiểu và sử dụng các tài liệu thứ cấp như: sách, báo, các tạp chí xã hội học liên quan, các công trình nghiên cứu, tài liệu trên internet từ đó rút ra những thông tin liên quan để làm dẫn chứng cho đề tài của mình Cùng với đó là phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu để thu thập những thông tin một cách sâu nhận thức của sinh viên về các vấn đề môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Đề tài thực hiện 8 cuộc phỏng vấn sâu: Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn: 2 sinh viên nam, 2 sinh viên nữ Trường Đại học Khoa học tự nhiên: 2 sinh viên nam, 2 sinh viên nữ
5.3.2 Phương pháp định lượng
Thu thập số liệu qua bảng hỏi anket, tiêu chí chọn mẫu căn cứ vào các tiêu chí như giới tính, trường, số năm theo học tại trường Địa điểm lấy mẫu, địa bàn tiến hành nghiên cứu là hai trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh
Dung lượng mẫu: 240 sinh viên
Phương pháp chọn mẫu: Thực hiện cách chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng không tỷ lệ Phân chia tổng thể thành các nhóm (tầng) không trùng lắp, sau đó chọn ngẫu nhiên một số mẫu nhất định trong từng nhóm tầng Ưu điểm khả năng nâng cao mức độ chính xác cho kết quả khảo sát đo lường Cho phép tạo ra các nhóm khá thuần nhất do phương sai nhỏ, làm giảm sai số đại diện trong quá trình chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu này còn cho phép lựa chọn được số lượng đơn vị nghiên cứu cần thiết để các phép tính thống kê có ý nghĩa, trong trường hợp khi số lượng một nhóm cơ bản nào đó quá nhỏ nếu chọn theo dạng tỷ lệ
Trang 25Năm học của sinh viên
Nhận thức của sinh viên
Tác động đến đời sống, sức khỏe của người dân
Tham gia các hoạt động bảo
vệ môi trường
Trang 2619
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài
Với tính chất cấp thiết và thực tiễn của đề tài, các thông tin định lượng và định tính thu thập được mong muốn kết quả nghiên cứu có thể đóng góp vào hệ thống lý luận và phương pháp luận về nhận thức của sinh viên đến các vấn đề môi trường tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay dưới góc độ xã hội học
Mong muốn nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp một số số liệu mang tính
sơ bộ phục vụ cho các nghiên cứu có liên quan chuyên ngành sâu và rộng sau này
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nhận thức về môi trường là một trong những chiến lược cần được thực hiện nhanh chóng và gấp rút đến từng người dân để từ đó nâng cao thái độ, hành vi, ý thức bảo vệ môi trường Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn nhấn mạnh tìm hiểu quan niệm, đánh giá của sinh viên về các vấn đề môi trường, nguồn thông tin về các vấn đề môi trường mà sinh viên tiếp cận Đến việc đánh giá tác động của các vấn đề môi trường, hoạt động thu gom, phân loại chất thải và sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động Bảo vệ môi trường Qua đó có những thông tin cơ sở ban đầu trong việc nâng cao ý thức, điều chỉnh hành vi của sinh viên với vấn đề môi trường
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu đề tài
Chương 2 Quan niệm, đánh giá của sinh viên về các vấn đề môi trường và nguồn thông tin về các vấn đề môi trường mà sinh viên tiếp cận
Chương 3 Sinh viên đánh giá tác động của các vấn đề môi trường, hoạt động thu gom, phân loại chất thải và sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động Bảo vệ môi trường
Trang 2720
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm làm việc
Sinh viên
Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992 của nhà xuất bản Giáo dục thì “SV là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông và hiện đang theo học ở các trường trung học, cao đẳng, đại học khác nhau.” Khái niệm này không có sự phân biệt về các trường học của họ (trung học, cao đẳng, đại học) độ tuổi đến trường, đặc điểm
tâm lý và sự trưởng thành về nhân cách của họ [11]
Nhận thức
Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong
tư duy, nhận biết và hiểu biết về thế giới khách quan, quá trình ấy cứ đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức [25] Trong quá trình nhận thức, con người có thể đạt được những trình độ nhận thức khác nhau Trong đề tài này xem xét sự hiểu biết của sinh viên về các vấn đề môi trường
Môi trường
Môi trường là tất cả các điều kiện, yếu tố xung quanh và tự nhiên, không phải các yếu tố xã hội – nhân văn trong đó con người tồn tại…Với nghĩa rộng nhất môi trường ở đây đồng nghĩa với Trái đất nói chung [1, tr.16]
Các vấn đề môi trường
Ô nhiễm không khí là một trong các loại ô nhiễm môi trường bắt nguồn từ hai nguyên nhân: Thứ nhất là do đốt nhiên liệu để nấu ăn và sưởi ấm, thứ hai là do các loại khí thải được tạo ra trong quá trình sản xuất công nghiệp và vận hành xe cộ [1,tr.18]
Ô nhiễm nước được hiểu theo nghĩa rộng là tình trạng nước bị nhiễm các chất độc hóa học, khoáng chất, thuốc trừ sâu, hoặc nước thải chưa được xử lý [1,tr.22]
Rác thải rắn trong quá trình sản xuất và sinh hoạt, con người đã tạo ra nhiều loại rác thải rắn khác nhau Rác đang tràn ngập khắp châu lục, các đại dương và trên
cả bầu trời, tác động nghiêm trọng đến cuộc sống của con người và gây khó khăn cho việc thực hiện ba chức năng của môi trường [1,tr.24]
Trang 2821
Ô nhiễm môi trường
Theo tổ chức Y tế thế giới : “Ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường” [19] Theo khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”
1.2 Tiếp cận lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu
Trong đề tài này tác giả sử dụng Khuynh hướng duy thực và khuynh hướng kiến tạo, lý thuyết cạnh tranh giữa các chức năng của môi trường và lý thuyết hành
động xã hội làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
1.2.1 Khuynh hướng duy thực và khuynh hướng kiến tạo
Khuynh hướng kiến tạo là một hướng tiếp cận nghiên cứu các vấn đề xã hội
và được vận dụng để nghiên cứu các vấn đề môi trường Khuynh hướng kiến tạo cho rằng những vấn đề môi trường được kiến tạo về mặt xã hội, tức là những tuyên
bố về môi trường là kết quả của sự tạo dựng theo quan điểm chủ quan của con người Tự nhiên không nói về tự nhiên được; chỉ có con người thay mặt tự nhiên để nói về tự nhiên thôi Nhưng khi nói về tự nhiên, con người thể hiện quan điểm chủ quan của mình đối với các vấn đề tự nhiên Những người theo khuynh hướng này nhấn mạnh rằng có thể giải thích, xem xét, hiểu quá trình kiến tạo các vấn đề môi trường, và điều này tạo cho công chúng cơ sở để đánh giá xem một vấn đề môi trường có thật sự nghiêm trọng như người ta tuyên bố hay không Những người theo khuynh hướng kiến tạo hướng đến giải quyết hai vấn đề Một là: Tại sao một số vấn
đề môi trường lại được chú ý, được quan tâm, được cho là quan trọng Trong khi
đó, có những vấn đề môi trường khác lại không được chú ý, không được quan tâm, thậm chí bỏ qua Hai là: Những vấn đề môi trường được coi là quan trọng nhất có thực sự là những vấn đề nghiêm trọng nhất hay không, và người ta có cần những hành động khẩn cấp để giải quyết vấn đề này [1,tr84]
Trang 2922
Để giải quyết hai vấn đề nêu ra trên những người theo khuynh hướng kiến tạo xem xét hàng loạt khía cạnh khác nhau liên quan đến các vấn đề môi trường Thứ nhất, lịch sử vấn đề môi trường đó được phát triển như thế nào Thứ hai, xác định ai đã tuyên bố đó là một vấn đề môi trường Khi tuyên bố rằng đó là một vấn
đề môi trường thì họ được hưởng lợi ích gì không Hoặc là họ có đại diện cho lợi ích nào không khi đưa ra tuyên bố môi trường như thế Thứ ba, người đưa ra tuyên
bố về vấn đề môi trường đã nói gì, có dựa trên bằng chứng nào không, những bằng chứng đó thuộc loại luận cứ nào: Chính trị, đạo đức, khoa học, tình càm Thứ tư, người theo khuynh hướng kiến tạo xác định xem ai là người phản đối tuyên bố về vấn đề môi trường, tại sao lại phản đối, dựa trên cơ sở nào[1,tr84]
Một hướng tiếp cận khác và đối lập trong nghiên cứu môi trường là Khuynh hướng duy thực Những người theo khuynh hướng này tiếp cận vấn đề môi trường bằng con đường khoa học, nghĩa là xem xét vấn đề bằng cách đưa ra các bằng chứng khoa học Mục đích của họ là tìm ra các nguyên nhân đề giải thích tại sao các vấn đề môi trường lại xuất hiện Khuynh hướng này chú trọng tìm ra các nguyên nhân chiều sâu của các sự kiện và vấn đề môi trường Các nhà duy thực chuẩn bị các kiến thức và bằng chứng từ các khoa học tự nhiên và khoa học môi trường để chấp nhận hay tranh luận khi nghiên cứu vấn đề môi trường Họ sử dụng nhiều ngành khoa học khác nhau như: sinh học, động vật học, sử học, xã hội học, chính trị học Điều mà những người theo khuynh hướng duy thực giống với những người theo khuynh hướng kiến tạo là cũng thừa nhận các vấn đề môi trường được nhào nặng về mặt xã hội Tuy nhiên các nhà khuynh hướng duy thực lại tìm kiếm những cách giải thích nhân quả đối với các vấn đề môi trường[1,tr 87]
Tác giả vận dụng khuynh hướng duy thực và khuynh hướng kiến tạo để phân tích những khác biệt trong quan điểm của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn với trường Đại học Khoa học Tư nhiên, của sinh viên nam và sinh viên
nữ trong việc nhận thức về các vấn đề môi trường, việc tiếp cận các nguồn thông tin
về môi trường, đưa ra nhận định về các nguyên nhân dẫn đến các vấn đề môi trường và xem xét các vấn đề môi trường hiện nay trong bối cảnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hiện nay
Trang 3023
1.2.2 Lý thuyết cạnh tranh giữa các chức năng của môi trường
Lý thuyết cạnh tranh giữa các chức năng của môi trường được đề xuất bởi Catton và Dunlap(1989) qua công trình nghiên cứu Cạnh tranh giữa các chức năng của môi trường: Không gian sống, trạm cung cấp và kho chứa rác thải) Dunlap đã giải thích cơ sở của sự suy thoái môi trường thông qua mô hình về sự canh tranh giữa ba chức năng của môi trường Dunlap cho rằng môi trường tự nhiên có ba chức năng phục vụ cho con người
Thứ nhất với chức năng là trạm cung cấp, môi trường đem lại cho chúng ta
từ nước uống, thực phẩm cho đến nguyên liệu để làm nhà ở và sản xuất Có những loại tài nguyên có thể tái sinh (như rừng, nước) nhưng cũng có những loại tài nguyên không thể tái sinh (như dầu mỏ hay than đá) Có thể nói môi trường cung cấp các nguồn tài nguyên để đảm bảo sự sinh tồn của con người[1,tr.67]
Thứ hai chức năng của môi trường là kho chứa rác thải Qúa trình con người sinh tồn, cũng như các loài sinh vật khác, là quá trình tạo ra rác thải, đặc biệt trong
xã hội công nghiệp, con người thải ra rất nhiều loại rác khác nhau với số lượng lớn Môi trường thực hiện chức năng quan trọng là thẩm thấu nhiều loại rác, và tái sinh nhiều loại rác thành các tài nguyên hữu ích hay không gây hại [1,tr.67]
Chức năng thứ ba của môi trường là chức năng không gian sống Môi trường cung cấp cho chúng ta chổ ăn, nơi vui chơi, nơi làm việc và các hoạt động khác Nói cách khác môi trường cung cấp không gian cho chúng ta sinh sống [1,tr.68]
Nghiên cứu đến ba chức năng của môi trường, Dunlap nếu lên vấn đề lạm chức dụng chức năng môi trường Khi lạm dụng chức năng thứ nhất chúng ta đang phải đối mặt với việc các vấn đề môi trường bị khan hiếm, thiếu hụt nguồn tài nguyên Khi chúng ta lạm dụng chức năng chứa đựng và làm sạch chất thải con người đã tạo ra rác thải vượt qua khả năng xử lý của môi trường và hậu quả của vấn
đề này là các loại ô nhiễm môi trường mà con người đang phải đối mặt mà nhất là ô nhiễm rác thải, nước, không khí, tiếng ồn Và tại Thành phố Hồ Chí Minh là một minh chứng cho việc chúng ta đang lạm dụng chức năng thứ ba, chức năng cung cấp không gian sống, khi có quá nhiều người sống trên một không gian xác định
Trang 3124
dẫn đến tình trạng quá tải, tắc nghẽn khi nghiên cứu về sinh viên của hai trường trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh tác giả cũng đã vận dụng lý thuyết này trong xem xét các vấn đề môi trường tại đây
Dunlap nhấn mạnh rằng khi chúng ta sử dụng một môi trường xác định nào
đó để đảm nhiệm một chức năng cụ thể thì việc môi trường cụ thể này đảm nhiệm các chức năng khác sẽ suy yếu Nói cách khác, ba chức năng của môi trường cạnh tranh với nhau [1,tr68] Qua lý thuyết cạnh tranh giữa các chức năng của môi trường tác giả đã vận dụng để nghiên cứu về các vấn đề môi trường đang diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh nhất là hai vấn đề rác thải, nước thải, chức năng không gian sống, kho chứa rác và trạm cung cấp của hệ sinh thái trong những thập kỷ gần đây đã tăng lên nhanh chóng nhất là trong khu đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng này cũng có nghĩa là sự cạnh tranh giữa ba chức năng của môi trường ngày càng gia tăng, việc làm của con người đã và đang vượt quá khả năng chịu đựng của Trái đất
1.2.3 Lý thuyết Hành động xã hội
Max Weber nhận diện bốn loại hình hành động xã hội như sau: Thứ nhất hành động hợp lý định hướng tới việc đạt được một giá trị tuyệt đối; mục tiêu mà người ta theo đuổi ở loại hành động này là lợi ích bản thân chứ không phải triển vọng giành thắng lợi Thứ hai hành động định hướng mục tiêu hợp lý, trong đó mục tiêu và phương tiện được lựa chọn một cách hợp lý Thứ ba hành động cảm tính được xác định bởi những tác động tình cảm lên chủ thể hành động Thứ tư hành động truyền thống bị dẫn dắt bởi phong tục và thói quen[9]
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng cách tiếp cận lý thuyết hành động xã hội của Weber để lý giải hành động duy lý của sinh viên trước những sự kiện môi trường đang diễn ra hiện nay
Trang 3225
1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu và đặc điểm mẫu nghiên cứu
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 30-3-1996, trường mang tên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc hệ thống Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 1233/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, có lịch sử gần 60 năm hình thành và phát triển [21]
Hiện nay, Trường đào tạo các trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân và các khóa đào tạo ngắn hạn theo nhu cầu xã hội Toàn trường có hơn 20.000 sinh viên các hệ đại học và sau đại học được đào tạo theo 54 chương trình giáo dục (phân ngành) thuộc 27 ngành đào tạo bậc đại học, 43 chương trình sau đại học và trên 10 chương trình liên kết quốc tế Nhiều thành quả nghiên cứu của giảng viên Trường đã được công bố chính thức qua các tạp chí, sách giáo khoa, sách tham khảo Nhiều đối tác
là các trường đại học, viện nghiên cứu trên thế giới, Nhà trường còn là cầu nối và là đối tác học thuật quan trọng để tiếp nhận và áp dụng nhiều khung lý thuyết mới, phương pháp mới, cách tiếp cận mới và góc nhìn mới trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn tại Việt Nam Nhà trường là nơi khởi đầu của Chiến dịch Xuân tình nguyện mà nay đã trở thành hoạt động tình nguyện quốc gia; là nơi mà lễ hội văn hóa các ngành học trở thành bản sắc [21]
1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Trường Đại học Khoa học tự nhiên được chính thức thành lập năm 1996 theo quyết định 1236/GDĐT của Bộ GD&ĐT ngày 30/3/1996 trên cơ sở tách ra từ Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh để tham gia vào Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Trường hiện có 09 Khoa, 16 trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ Hiện nay, Trường đang có 32 chuyên ngành ở bậc đại học, sau đại học và 13 ngành (52 chuyên ngành) đào tạo ở bậc đại học Hằng năm Trường có trên 2.500 Cử nhân và gần 250 Thạc sĩ, Tiến sĩ ra trường, cung cấp đội ngũ cán bộ khoa học tự nhiên cho Thành phố Hồ Chí Minh và các Tỉnh trong toàn quốc [22]
Trang 3326
Các năm qua, Trường được Nhà nước đầu tư kinh phí xây dựng các ngành mũi nhọn như: Công nghệ thông tin, Công nghệ Sinh học, Khoa học vật liệu với các phòng thí nghiệm có thiết bị hiện đại Bên cạnh đó, trường còn luôn là đơn vị tiên phong trong nghiên cứu cơ bản, phát triển và ứng dụng các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn vào thực tiễn sản xuất Trường đã được nhà nước tặng Huân chương Lao động Hạng I năm 2000; năm 2003 và năm 2009, Trường vinh dự đón nhận Huân chương Độc lập hạng III và hạng II Đặc biệt, ngày 11/9/2010, Chủ tịch nước
đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho tập thể Cán bộ viên chức, giảng viên và sinh viên trường Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, những năm qua, nhà trường còn đón nhận các huân chương lao động hạng II và hạng III, bằng khen của chính phủ, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân Thành phố [22]
1.3.3 Một số đặc điểm của mẫu khảo sát
Nhằm tìm hiểu nhận thức của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh về các vấn
đề môi trường hiện nay, tác giả đã phỏng vấn bằng bảng hỏi 240 sinh viên, chia đều cho hai trường đại diện cho hai khối ngành là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh Với giả thuyết rằng các yếu tố nhân khẩu về giới, độ tuổi, năm học có ảnh hưởng nhất định đến nhận thức của sinh viên về các vấn đề môi trường, chúng tôi đã cân bằng dung lượng mẫu về các chỉ tiêu này, nhằm tìm hiểu có hay không sự khác biệt và khác biệt như thế nào giữa các nhóm khác biệt nhau về các đặc điểm nhân khẩu này đến nhận thức về các vấn đề môi trường của họ Cụ thể, về giới tính, nam chiếm 49,2% (118/240 người) cân bằng ở hai trường, nữ chiếm 50,8% (122/240 người) cân bằng ở hai trường Tại mỗi trường, khảo sát đã phỏng vấn sinh viên năm nhất và năm tư, dung lượng mẫu hai nhóm này cân bằng nhau, tổng mẫu có50,4% sinh viên năm nhất và 49,6% sinh viên năm 4 Nhóm sinh viên năm nhất hầu hết có độ tuổi từ 19-20 tuổi (chiếm 47,9%), nhóm sinh viên năm tư từ 21-23 tuổi (47,5%), ngoài ra còn có một số ít sinh viên trên 23 tuổi (4,6%) và hầu hết
Trang 3427
nhóm này là sinh viên năm tư Đề tài sẽ tìm hiểu sự khác biệt trong nhận thức về một số vấn đề môi trường của hai nhóm sinh viên khác nhau về năm học này
Sinh viên trong mẫu khảo sát đến từ các vùng khác nhau, trong đó 44,6% sống
ở vùng nông thôn (xã, huyện) trước khi đến học tại Thành phố Hồ Chí Minh, 55,4% còn lại đến từ đô thị (thị trấn, phường) hoặc sinh sống tại khu đô thị thuộc Thành phố
Hồ Chí Minh Hai nhóm này trong mẫu khảo sát cũng cân bằng nhau, đề tài cũng sẽ tìm hiểu có hay không sự khác nhau giữa hai nhóm này trong nhận thức về các vấn đề môi trường, thái độ và hành động của họ đối với việc bảo vệ môi trường
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài không quan tâm đến sự khác biệt về nhận thức môi trường của các nhóm sinh viên thuộc các dân tộc khác nhau, hầu hết (95%) sinh viên trong mẫu khảo sát thuộc dân tộc kinh
Trang 3528
Chương 2 QUAN NIỆM, ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC VẤN ĐỀ
MÔI TRƯỜNG VÀ NGUỒN THÔNG TIN VỀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
MÀ SINH VIÊN TIẾP CẬN 2.1 Dẫn nhập
Chương này sẽ bàn về nhận thức của sinh viên đối với các vấn đề môi trường
và nguồn thông tin về các vấn đề môi trường mà sinh viên tiếp cận Đối với nội dung nhận thức của sinh viên về các vấn đề môi trường, tác giả luận văn sẽ tìm hiểu quan niệm, đánh giá của sinh viên về các vấn đề môi trường Cụ thể là, đối với nội
dung này, tác giả luận văn sẽ đi sâu vào hai chiều cạnh Thứ nhất là thực trạng các
các vấn đề môi trường dưới góc nhìn của sinh viên Nói cách khác, quan niệm của các nhóm sinh viên khác nhau về thực tế các vấn đề môi trường, nhất là các vấn đề
môi trường liên quan đến nước thải, rác thải sẽ được phân tích sâu Thứ hai, tác giả
luận văn sẽ làm rõ đánh giá của sinh viên về nguyên nhân dẫn đến các vấn đề môi trường Nhiều nguyên nhân khác nhau qua quan niệm của sinh viên sẽ được phân tích ở đây Cụ thể là, các nguyên nhân đa dạng xuất phát từ sản xuất, sinh hoạt, cơ
sở hạ tầng, công tác quản lý sẽ được bàn đến
Phần thứ hai của chương sẽ đi sâu tìm hiểu các nguồn thông tin về các vấn
đề môi trường mà sinh viên tiếp cận Các nguồn thông tin khác nhau về những vấn
đề môi trường mà sinh viên tiếp cận rất đa dạng, bao gồm các phương tiện truyền thông đại chúng, truyền thông xã hội đến những người mà sinh viên thường tiếp xúc như bạn bè, những người cùng nơi cư trú, nhà trường, các cơ quan quản lý nhà nước Điều đáng lưu ý là nội dung này sẽ chỉ ra sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên đối với quan niệm về nguyên nhân dẫn đến các vấn đề môi trường
2.2 Thực trạng các vấn đề môi trường dưới góc nhìn của sinh viên
Phần viết này sẽ bàn về thực trạng các vấn đề môi trường dưới góc nhìn của sinh viên và có ba vấn đề chính sẽ bàn đến ở đây Vấn đề thứ nhất là sự quan tâm của sinh viên đối với các vấn đề môi trường nổi bật ở trong phạm vi toàn quốc và ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian gần đây Vấn đề thứ hai là quan niệm của
Trang 3629
sinh viên về mức độ nghiêm trọng của các sự cố môi trường này Vấn đề thứ ba là đánh giá của sinh viên về các vấn đề môi trường đáng quan tâm ở thành phố Hồ Chí Minh Vấn đề thứ tư là quan niệm của sinh viên về mức độ ưu tiên trong việc giải quyết các vấn đề môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trước hết, chúng ta quan tâm đến hiểu biết của sinh viên đối với các vấn đề môi trường nổi bật ở nước ta trong những năm gần đây Trên thực tế, những năm gần đây ở Việt Nam nhiều sự cố môi trường đáng lưu ý đã diễn ra Chẳng hạn, trong năm 2016, hạn hán và xâm mặn khốc liệt ở miền Trung, Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long; lũ lụt và xả lũ liên tiếp tại miền Trung, cá chết hàng loạt, sập hầm vàng và nhất là sự cố môi trường do Công ty Formosa xả thải đã gây ra ô nhiễm biển trên quy mô lớn miền Trung Ở thành phố Hồ Chí Minh, một số vấn đề, sự kiện môi trường nổi bật trong những năm qua có thể kể đến là sự kiện khoảng 70 tấn cá chết vào giữa năm 2016 trên kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè; khởi công dự án chống ngập 10.000 tỷ tại TP.HCM; Bãi rác Đa Phước là thủ phạm gây mùi hôi ở Nam Sài Gòn Trong phạm vi khảo sát của đề tài chúng tôi đã đặt câu hỏi về sự hiểu biết của sinh viên đối với các sự kiện, vấn đề môi trường này Kết quả khảo sát của
đề tài cụ thể ( Biểu đồ 2.1) như sau
Biểu đồ 2.1: Những sự kiện môi trường nổi bật tại Việt Nam năm 2016
Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn năm 2017
Trang 37là một sự cố cực kỳ nghiêm trọng, nếu không muốn nói là thảm họa môi trường chưa từng có ở Việt Nam
Thảm họa môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra quá nghiêm trọng, em theo dõi sự kiện này ngay từ khi truyền thông đưa tin và em cảm thấy rất bức xúc (Nam, 21 tuổi, sinh viên Đại học Khoa học Tự Nhiên Thành phố Hồ Chí Minh)
Từ lúc truyền thông đưa tin về sự cố môi trường do Formasa Hà Tĩnh gây nên tụi em không dám ăn cá, hải sản và thấy rất thương cho bao người dân biển tại Hà Tĩnh và vùng lân cận vì không thể sản xuất kinh doanh được từ nguồn lợi biển (Nữ, 19 tuổi, sinh viên Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh)
Biểu đồ trên cũng cho chúng ta thấy một bộ phận đáng kể sinh viên có biết đến sự kiện khoảng 70 tấn cá chết vào giữa năm 2016 trên kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè TP.HCM Cụ thể là có đến 183 sinh viên (chiếm 76,3% trong mẫu khảo sát) biết về sự kiện này Điều này chứng tỏ vấn đề môi trường đô thị, cụ thể là ô nhiễm các con sông ở thành phố Hồ Chí Minh cũng là vấn đề mà nhiều sinh viên quan tâm Một sự kiện môi trường khác cũng đáng lưu ý dưới góc nhìn của khoảng hơn một nửa sinh viên là sự kiện “khởi công dự án chống ngập 10.000 tỷ tại TP.HCM Kết quả khảo sát cho thấy 133 sinh viên trong mẫu khảo sát, chiếm tỷ lệ 55,4% biết đến sự kiện này Kết quả khảo sát cũng cho thấy bãi rác Đa Phước gây mùi hôi ở Nam Sài Gòn cũng được hơn một nửa sinh viên trong mẫu khảo sát biết đến Cụ thể
là 125 sinh viên trong mẫu khảo sát (52,1%) biết đến vấn đề môi trường này
Một vấn đề đáng quan tâm ở đây là sự khác biệt về hiểu biết giữa các nhóm sinh viên đối với những vấn đề môi trường đã đề cập đến ở trên Ở đây chúng ta sẽ quan tâm đến sự khác biệt trong quan niệm giữa nhóm sinh viên năm thứ nhất và
Trang 38Bảng 2.1: So sánh tỷ lệ nhóm sinh viên năm thứ nhất và nhóm sinh viên năm
thứ tư biết về các vấn đề môi trường nổi bật
(đơn vị: %)
Các sự kiện môi trường nổi bật Sinh viên
năm 1
Sinh viên năm 4 Tổng Formosa Hà Tĩnh xả thải gây ra thảm họa môi
Khởi công dự án chống ngập 10.000 tỷ tại TP
Bãi rác Đa Phước là thủ phạm gây mùi hôi ở
Khoảng 70 tấn Cá chết vào giữa năm 2016
trên kênh Nhiều Lộc – Thị Nghè TP.HCM 77.7 74.8 76.3
– Thị Nghè) Thứ hai, nhóm sinh viên năm thứ nhất có tỷ lệ biết về tất cả các vấn đề
Trang 3932
môi trường, sự kiện môi trường được đề cập đến cao hơn nhóm sinh viên năm thứ
tư như bảng số liệu trên đã chỉ ra Đây là một điều đáng nói vì quan niệm thông thường chúng ta có thể cho rằng nhóm sinh viên năm thứ tư với kiến thức được học nhiều hơn, và có thể độ tuổi lớn hơn thì tỷ lệ biết đến các vấn đề môi trường nổi bật
có thể caoh hơn Tuy nhiên, số liệu khảo sát lại cho thấy điều ngược lại Thực tế này
có thể được lý giải dưới nhiều chiều cạnh khác nhau Chẳng hạn, sinh viên năm thứ
tư có thể phải giành thời gian nhiều hơn cho việc học tập, thi cử để chuẩn bị tốt nghiệp, hoặc là nhóm sinh viên này cũng có thể đi làm thêm nhiều hơn nên ít có thời gian hơn để tìm hiểu các vấn đề môi trường
Nếu chúng ta quan tâm đến sự khác nhau giữa tỷ lệ sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn biết về các vấn đề/sự kiện môi trường nổi bật, kết quả khảo sát cho thấy có mối liên
hệ giữa biến số trường học và việc biết về các vấn đề môi trường nổi bật Về tỷ lệ khác nhau giữa nhóm sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và sinh viên Trường Đại học Tự nhiên đối với việc biết các vấn đề môi trường nổi bật được trình bày trong bảng số liệu dưới đây
Bảng 2.2: So sánh sinh viên hai trường biết về các vấn đề môi trường nổi bật
(đơn vị: %)
Các sự kiện môi trường nổi bật
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM
ĐH Khoa học Tự nhiên TPHCM
Tổng
Formosa Hà Tĩnh xả thải gây ra thảm họa môi
Khởi công dự án chống ngập 10.000 tỷ tại TP
Trang 4033
Bảng số liệu trên cho chúng ta mấy nhận xét như sau: Thứ nhất, nhìn một
cách tổng thể, bảng số liệu trên cho thấy tỷ lệ sinh viên Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn biết đến tất cả các vấn đề/sự kiện môi trường đáng lưu ý đã
được đề cập cao hơn tỷ lệ sinh viên Trường Đại học Tự Nhiên Thứ hai, sự khác
biệt giữa tỷ lệ sinh viên trong nhóm Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
và tỷ lệ sinh viên trong nhóm sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên khá khác nhau đối với những vấn đề môi trường cụ thể Số liệu ở bảng trên cho thấy, đối với dự án chống ngập mười ngàn tỷ, tỷ lệ khác biệt giữa nhóm sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên gần 12,0% (61,7% sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và 49,2% sinh viên Trường Đại học Tự nhiên biết về dự án chống ngập mười ngàn tỷ) Trong khi đó, sự chênh lệch tỷ lệ giữa sinh viên hai trường đối với vấn đề sự cố môi trường biển miền Trung chỉ là 5,0% (98,3% sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và 93,3% sinh viên Trường Đại học Tự nhiên biết về sự cố môi trường biển miền Trung) Điều này cho thấy đối với những vấn đề/sự kiện môi trường càng nổi bật thì sự chênh lệch về tỷ lệ sinh viên giữa hai trường đối với việc biết đến vấn đề/sự kiện môi trường càng thấp
Đánh giá của sinh viên về mức độ nghiêm trọng của các vấn đề môi trường nổi bật đã được đề cập đến ở trên Kết quả khảo sát của đề tài cho kết quả cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Đánh giá về mức độ nghiêm trọng của các vấn đề môi trường nổi bật
(đơn vị %)
Các sự kiện môi trường nổi bật
Không nghiêm trọng
Ít nghiêm trọng
Bình thường
Nghiêm trọng
Cực kỳ nghiêm trọng
Sự cố môi trường biển miền Trung 0,8 0,0 2,9 27,1 69,2
Cá chết ở kênh Nhiêu Lộc – Thị
Nghè
Dự án chống ngập mười ngàn tỷ 2,1 3,4 26,2 43,3 24,9
Ô nhiễm ở bãi rác Đa Phước 0,4 2,9 10,9 51,7 34,0
Nguồn: Kết quả khảo sát luận văn năm 2017
Bảng số liệu trên cho ta thấy đối với hai sự kiện, vấn đề môi trường là ô nhiễm môi trường biển ở miền Trung do Formosa gây ra và cá chết hàng loạt trên