1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài

35 388 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài
Tác giả Phạm Thị Thanh Phương
Người hướng dẫn Thạc sĩ Đàm Quang Vinh
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
Thể loại Đề án môn học
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 218 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ khi Amstrong- người đầu tiên bước chân lên mặt trăng (1969), “một bước chân của tôi nhưng là cả một bước tiến vĩ đại của loài người”, đã đánh dấu một thời kỳ phát triển như vũ bão của nền khoa học công nghệ trên thế giới. Ngày nay, trong bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới có nhiều thay đổi, cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, thay vào đó là xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra sôi động, tác động đến mọi mặt của nền sản xuất xã hội, làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của nền kinh tế. Trước tình hình đó, để rút ngắn khoảng cách về mọi mặt, đặc biệt về kinh tế với các nước phát triển, các quốc gia đang phát triển phải tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Đây là giai đoạn phát triển tất yếu của mọi quốc gia từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế tiên tiến hiện đại. Dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước ở các quốc gia có trình độ khoa học - công nghệ kém phát triển không còn con đường nào khác là coi trọng việc tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ của thế giới.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ khi Amstrong- người đầu tiên bước chân lên mặt trăng (1969), “mộtbước chân của tôi nhưng là cả một bước tiến vĩ đại của loài người”, đã đánh dấumột thời kỳ phát triển như vũ bão của nền khoa học công nghệ trên thế giới.Ngày nay, trong bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới có nhiều thay đổi, cuộcchiến tranh lạnh kết thúc, thay vào đó là xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoáđang diễn ra sôi động, tác động đến mọi mặt của nền sản xuất xã hội, làm thayđổi nhanh chóng bộ mặt của nền kinh tế Trước tình hình đó, để rút ngắn khoảngcách về mọi mặt, đặc biệt về kinh tế với các nước phát triển, các quốc gia đangphát triển phải tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Đây là giaiđoạn phát triển tất yếu của mọi quốc gia từ nền kinh tế nông nghiệp sang nềnkinh tế tiên tiến hiện đại

Dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại,công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước ở các quốc gia có trình độ khoa học -công nghệ kém phát triển không còn con đường nào khác là coi trọng việc tiếpthu các thành tựu khoa học công nghệ của thế giới Đó cũng chính là bí quyếtthành công của Nhật Bản, các nước NIC và nhiều nước khác Nó chứng tỏ vaitrò to lớn của công nghệ đối với nền sản xuất vật chất trên quy mô toàn cầu nóichung và mỗi quốc gia nói riêng

Nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực

và quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới, mở cửa nềnkinh tế vào năm 1986 ; đồng thời đề cao vai trò công nghiệp hoá - hiện đại hoáđất nước, coi đây là giai đoạn phát triển tất yếu Đảng và Nhà nước ta khẳngđịnh chủ trương “lấy ứng dụng và chuyển giao công nghệ là chính “ là hoàn toànđúng đắn Trước tình hình nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn lạc hậu, sảnxuất nông nghiệp là chính, nền khoa học công nhgệ chưa phát triển Chuyểngiao công nghệ, đặc biệt là chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nướcngoài sẽ góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng sản xuất, nâng cao khả năngcạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước

Từ ý nghĩa trên, em đã chọn đề tài “Một số giải pháp góp phần nâng cao

hiệu quả chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài”.

Đề án gồm các nội dung chính như sau:

Chương I: Những vấn đề chung về chuyển giao công nghệ

Trang 2

Chương II: Thực trạng chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước

ngoài tại Việt Nam

Chương III: Phương hướng và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu

quả chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Do kiến thức còn hạn chế và thời gian nghiên cứu có hạn nên không thểtránh khỏi những thiếu sót nhất định, em rất mong được sự góp ý và sửa chữacủa thầy giáo Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo

hướng dẫn: Thạc sĩ Đàm Quang Vinh đã giúp đỡ em hoàn thành đề án này.

Em xin chân thành cảm ơn./.

Trang 3

- Theo tổ chức phát triển công nghiệp của LHQ(United Nation’s IndustrialDevelopment Organization – UNIDO):

“Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụngcác kết quả nghiên cứu và xử lý nói một cách có hệ thống và có phương pháp”

- Theo tổ chức ESCAP(Economic And Social Commision For ASIA AndThe Pacific – Uỷ ban kinh tế và xã hội Châu á - Thái Bình Dương):

“Công nghệ là một hệ thống kiến thức về quy trình và kĩ thuật dùng để chếbiến vật liệu và thông tin” Sau đó, định nghĩa này được mở rộng “nó bao gồmtất cả các kĩ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất chếtạo, dịch vụ, quản lý, thông tin”

Nếu như định nghĩa về công nghệ của UNIDO nhấn mạnh tính khoa học vàtính hiệu quả khi xem xét việc sử dụng công nghệ cho một mục đích nào đó thìđịnh nghĩa của ESCAP đã tạo ra một bước ngoặt trong các quan niệm về côngnghệ định nghĩa này đã mở rộng khái niệm công nghệ sang lĩnh vực dịch vụ vàquản lý Trên cơ sở tiếp thu những kiến thức của thế giới và thực tế hoạt độngkhoa học ở Việt Nam, định nghĩa có tính chất chính thức trong văn bản pháp

Trang 4

luật Việt Nam hiện hành tại thông tư số 28/TTQLKH ngày 22/01/1994 của Bộkhoa học công nghệ và môi trường được tóm tắt như sau:

Công nghệ là hệ thống các giải pháp được tạo nên bởi sự ứng dụng các kiếnthức khoa học, được sử dụng để giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ thực tiễntrong sản xuất, kinh doanh được thể hiện dưới dạng:

+ Các bí quyết kĩ thuật, phương án công nghệ, quy trình công nghệ, tài liệuthiết kế sơ bộ và thiết kế kĩ thuật

+ Các đối tượng sở hữu công nghiệp(sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,nhãn hiệu hàng hoá)

+ Các giải pháp nói trên có thể bao gồm máy móc thiết bị có hàm chứa nộidung công nghệ

+ Các dịch vụ hỗ trợ về tư vấn

Có thể đứng trên các giác độ nghiên cứu khác nhau, người ta có những địnhnghĩa công nghệ khác nhau Song một cách khái quát “ công nghệ là tất cảnhững cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra”.\

b Nội dung của công nghệ.

Bất cứ một công nghệ nào, từ đơn giản đến phức tạp đều bao gồm bốnthành phần: trang thiết bị(Technoware – T), kĩ năng của con người(Humanware– H), thông tin(inforware – I), tổ chức(Organware – O) có mối liên hệ chặt chẽ,tác động qua lại với nhau Điều đó được thể hiện qua sơ đồ sau:

Các yếu tố cấu thành công nghệ:

*.Phần cứng: Bao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, kết cấu nhàxưởng Phần cứng tăng năng lực cơ bắp và trí lực con người

Trang 5

+ Phần con người: Là đội ngũ nhân lực có sức khoẻ, kĩ năng, kĩ xảo, kinhnghiệm sản xuất, làm việc có trách nhiệm và năng suất ca Một trang thiết bịhoàn hảo nhưng nếu thiếu con người có trình độ chuyên môn tốt và kỉ luật laođộng cao sẽ trở nên vô tích sự.

+ Phần thông tin: Bao gồm các dữ liệu, thuyết minh, dự án, mô tả sáng chế,chỉ dẫn kĩ thuật, điều hành sản xuất

+ Phần tổ chức: Bao gồm những liên hệ, bố trí,sắp xếp đào tạo đội ngũ cán

bộ cho các hoạt động như phân chia nguồn lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch,kiểm tra, điều hành

+ Phần bao tiêu:nghiên cứu thị trường đầu ra là nhiệm vụ quan trọng vàcũng nằm trong phần mềm của hoạt động chuyển giao công nghệ

2 Phân loại công nghệ.

Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệhiện nay, trên thế giới tồn tại một số lượng rất lớn các công nghệ Vì vậy, tuỳtheo mục đích nghiên cứu, sử dụng khác nhau, người ta phân chia công nghệtheo các tiêu thức sau:

Phân theo sản phẩm mà công nghệ sản xuất ra: công nghệ ximăng, ô tô

2.5 Theo mức độ hiện đại.

Công nghệ cổ điển, công nghệ trung gian, công nghệ tiên tiến

Trang 6

II CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ.

Chuyển giao công nghệ như một tất yếu khách quan của quy luật phát triểncủa nền kinh tế thế giới, cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của nền côngnghệ, hoạt động chuyển giao công nghệ cũng trở nên phong phú và đa dạng hơn.Bởi vậy, việc đưa ra một hệ thống lí luận chung về chuyển giao công nghệ làhoàn toàn cần thiết

1 Khái niệm và đối tượng chuyển giao công nghệ

sự tích luỹ tri thức sâu hơn và rộng hơn” Cách nhìn nhận mới về chuyển giaocông nghệ đứng trên góc độ của một quốc gia đã và đang có những hoạt độngchuyển giao công nghệ tích cực vào các nước đang phát triển, trong đó có ViệtNam cho ta thấy sự đánh giá của họ về hiệuquả chuyển giao công nghệ, đặc biệt

là nhân tố con người Như vậy, trong một khuôn khổ nhất định, định nghĩa vềchuyển giao công nghệ chính là việc làm cần thiết đầu tiên

b Đối tượng chuyển giao công nghệ

Công nghệ gồm có hai phần: phần cứng và phần mềm Sự phức tạp, khókhăn không thể hiện nhiều ở phần cứng mà tập trung vào phần mềm Bởi phầnmềm rất trừu tượng, bí ẩn, giá cả không ổn định Về vấn đề này, bộ luật dân sựcủa nước CHXHCN Việt Nam quy định hoạt động chuyển giao công nghệ baogồm:

Quyền sở hữu, quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp

Trang 7

Chuyển giao thông qua mua bán, cung cấp các đối tượng(giải pháp kĩ thuật,

bí quyết kĩ thuật, phương án công nghệ, quy trình công nghệ, phần mềm máytính, tài liệu thiết kế sơ bộ và thiết kế kĩ thuật)

Các hình thức hỗ trợ tư vấn

Các giải pháp hợp lý hoá sản xuất

2 Các hình thức chuyển giao công nghệ.

a Phân theo luồng

Theo cách phân loại này, có hai luồng chuyển giao công nghệ là chuyểngiao dọc và chuyển giao ngang

- Chuyển giao dọc: là sự chuyển giao các công nghệ hoàn toàn mới mẻ, đòihỏi các bước đi khá đồng bộ từ nghiên cứu, thử nghiệm, triển khai sản xuất thửđến sản xuất hàng loạt để đảm bảo độ tin cậy về kinh tế và kĩ thuật

- Chuyển giao ngang: là sự chuyển giao công nghệ đã hoàn thiện từ doanhnghiệp này sang doanh nghiệp khác, từ nước này đến nước khác So với chuyểngiao dọc, kiểu chuyển giao này ít rủi ro hơn song thường phải tiếp nhận mộtcông nghệ dưới tầm người khác, không hoàn toàn mới mẻ

b Phân theo quyền lợi và trách nhiệm của người mua và người bán.

Phân loại theo kiểu này áp dụng trong trường hợp đánh giá mức độ tiên tiến

và giá cả của công nghệ; gồm các hình thức sau:

Chuyển giao giản đơn: là hình thức người chủ công nghệ trao cho ngườimua quyền sử dụng công nghệ trong một thời gian và phạm vi hạn chế

Chuyển giao đặc quyền: người bán trao quyền sử dụng công nghệ chongười mua giới hạn trong một phạm vi lãnh thổ

Chuyển giao độc quyền: là hình thức người bán trao toàn bộ quyền sở hữucông nghệ cho người mua trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng

c Phân theo kiểu chuyển giao hay chiều sâu của chuyển giao công nghệ.

Trao kiến thức: việc chuyển giao chỉ dừng lại ở mức truyền đạt kiến thứcbằng cách đưa công thức, hướng dẫn, tư vấn về kĩ thuật

Chuyển giao công nghệ dưới dạng chìa khoá giao tay: người bán phải thựchiện các công việc như lắp đặt máy móc, hướng dẫn quy trình, hoàn tất toàn bộquá trình sản xuất

Trao sản phẩm: người bán không những có trách nhiệm hoàn tất toàn bộdây chuyền sản xuất mà còn giúp người mua sản xuất thành công sản phẩm sửdụng kĩ thuật chuyển giao

Trang 8

Trao thị trường: ngoài trách nhiệm như ở mức độ “trao sản phẩm” ngườibán còn phải bàn giao một phần thị trường đã xâm nhập thành công cho bênmua công nghệ.

3 Cơ sở của hoạt động chuyển giao công nghệ

Ngày nay, sự phân công lao động diễn ra mạnh mẽ, xu hướng toàn cầu hoánền kinh tế thế giới, áp lực cạnh tranh gia tăng cùng với sự phát triển khôngđồng đều giữa các nền kinh tế đã tạo điều kiện cho hoạt động chuyển giao côngnghệ trên phạm vi toàn cầu Mặt khác, công nghệ có một thuộc tính quan trọng

là tính sinh thể, tức có giai đoạn phát triển và diệt vong Để thu được nhiều lợinhuận, các nhà nghiên cứu, nhà kinh doanh, các hãng đều muốn kéo dài vòngđời công nghệ Cùng với quá trình phát triển khoa học – công nghệ trên thế giới,các công nghệ cũng phải luôn được cải tiến được đổi mới Hơn nữa, tranh thủ sựđầu tư nước ngoài, các quốc gia tận dụng chuyển giao công nghệ như một giảipháp hữu hiệu để cải tiến nền sản xuất trong nước Đó là những cơ sở quan trọngcủa hoạt động chuyển giao công nghệ trong điều kiện hiện nay

4 Vai trò của chuyển giao công nghệ

Chuyển giao công nghệ có vai trò to lớn đối với nền kinh tế thế giới nóichung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng Chuyển giao công nghệ có lợicho cả hai bên, bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao Đối với bên tiếpnhận, họ có được công nghệ mới, có trình độ kĩ thuật cao hơn, trong khi đó lạitiết kiệm được nguồn lực Đối với bên chuyển giao, họ có thể thu lợi từ việcchuyển giao công nghệ, kéo dài vòng đời công nghệ, tạo điều kiện xâm nhập thịtrường nước ngoài Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giớicùng với trình độ phân công lao động, chuyên môn hoá đã ở tầm chuyên sâu đếntừng chi tiết sản phẩm, hoạt động chuyển giao công nghệ góp phần thúc đẩythương mại quốc tế phát triển, cho phép khai thác lợi thế so sánh giữa các quốcgia Mặt khác, nó làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế thế giới theo hướng gia tăng tỉtrọng dịch vụ và công nghiệp Cgcông nghệ tạo năng suất lao động cao hơn cùng

sự phong phú về chủng loại sản phẩm, phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao củangười tiêu dùng Nó là vũ khí cạnh tranh của các doanh nghiệp, các nền kinh tế

và có vai trò to lớn đối với vấn đề môi trường trong quá trình khai thác nguồn tàinguyên thiên nhiên và quá trình chế tác sử dụng

Trang 9

III KINH NGHIỆM CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CỦA MỘT SỐ NƯỚC.

Như vậy, một công nghệ thích hợp phải thoả mãn 3 tiêu chuẩn sau:

- Có hiệu quả kinh tế

- Có hiệu quả xã hội

- Có tính thích dụng với trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trongtừng thời kì

Trong hoạt động chuyển giao công nghệ, đòi hỏi bên tiếp nhận công nghệphải nắm vững các thông tin để lựa chọn được công nghệ thích hợp theo nhữngtiêu chuẩn nêu trên Đó là các thông tin liên quan đến bên cung cấp và bên nhậncông nghệ (lịch sử và kinh nghiệm ; địa vị hiện tại; chiến lược và kế hoạch củadoanh nghiệp ); các thông tin về mức độ tiên tiến của công nghệ cũng như vềtình hình công nghệ thế giới Thật vậy, lựa chọn công nghệ phải trên cơ sở chủđộng tích cực và xuất phát từ đòi hỏi của bản thân doanh nghiệp

2 Kinh nghiệm chuyển giao công nghệ của một số nước.

Để bắt đầu quá trình tìm hiểu kinh nghiệm chuyển giao công nghệ của một

số quốc gia tiêu biểu, chúng ta hãy cùng xem xét biểu đồ sau:

Biểu đồ: những mô hình đuổi kịp về công nghệ của Nhật Bản và các nước

đang phát triển ở Châu á, so sánh với các nước phát triển.

1860 1950 1980

Trang 10

Nguồn: Institute Of Developing Economies, Study on Technology And Trade Friction Between Japan And Developing Nations(Tokyo: IDE, 195).

Biểu đồ cho thấy những nỗ lực vươn lên để đuổi kịp nền công nghệ tiêntiến ở các nước phát triển của Nhật Bản và một số nước đang phát triển ở Châu

á Trong đó, chuyển giao công nghệ là một nhân tố quan trọng trong quá trìnhcông nghiệp hoá theo hướng hiện đại ngay từ thời kỳ những năm 60 Vậy, chúng

ta có thể rút ra được những kinh nghiệm gì từ quá trình chuyển giao công nghệđó?

Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, điều kiện chính trị xã hội nghiêm ngặt

đã bắt rễ sâu trong thời đại phong kiến và đặc biệt là những thiệt hại lớn lao dochiến tranh gây ra, người Nhật Bản đã rút ra bài học quý giá trong quá trìnhchuyển giao công nghệ của mình là: “Tinh thần Nhật Bản cộng kỹ thuật phươngtây” Người Nhật Bản đánh giá cao bốn năng lực trong các giai đoạn chuyểngiao công nghệ: năng lực lĩnh hội; năng lực thao tác; năng lực thích ứng và nănglực đổi mới Họ đặc biệt coi trọng nguồn tài nguyên con người với tư cách lànhân tố tích luỹ tri thức công nghệ Từ những kinh nghiệm về chuyển giao côngnghệ, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng: các nước đang phát triển nóichung và Việt Nam nói riêng có thể trước tiên phải làm chủ công nghệ ở phầnngoại vi của kĩ thuật, là phần mà hầu hết đầu tư nước ngoài có thể đem vào, vàdần dần họ phải mở rộng việc học tập để bao trùm lên phần cốt lõi của kĩ thuật.Các NIE Châu á thì sao? Nhận thức được rằng chuyển giao công nghệ cóvai trò to lớn trong giai đoạn công nghiệp hoá đất nước, khi mà cuộc cách mạngcông nghệ phát triển như vũ bão, khoảng cách giữa các nước phát triển và đangphát triển ngày càng cách xa nhau, lợi dụng kĩ thuật tiên tiến của nước ngoài làviệc làm cần thiết để thúc đẩy kinh tế phát triển Cgcông nghệ đã giúp các NIEChâu á trở thành “ những con rồng” với tốc độ tăng trưởng cao, FDI tăng liêntục, hoà nhập vào thị trường thế giới và đời sống nhân dân được cải thiện đángkể Trong thời gian qua, các NIE Châu á rất chú trọng việc nghiên cứu, phânloại, xác định tính chất, đặc điểm các kênh chuyển giao công nghệ trên thế giới.Đối với kênh chuyển giao công nghệ giữa các nước công nghiệp phát triển, cácNIE thông qua các công ty xuyên quốc gia(TNCs), cụ thể là thông qua các chinhánh đặt tại nhiều nước để tiếp cận với công nghệ hiện đại Đối với kênhchuyển giao công nghệ giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển,các NIE tập trung ưu đãi về tài chính, tạo điều kiện thuận lợi để nhập và sử dụngcông nghệ cho phù hợp điều kiện cụ thể Đối với kênh chuyển giao công nghệgiữa các nước đang phát triển, họ luôn ý thức được ưu thế của mình, tiến hànhđầu tư và chuyển giao công nghệ sang nhiều nước, đặc biệt là sang các nước

Trang 11

ASEAN Các NIE Châu á cũng thường sử dụng các hình thức tiếp thu chuyểngiao công nghệ như: qua liên doanh, tiếp nhận chuyển giao trọn gói, qua muabản quyền sở hữu công nghệ, thuê chuyên gia hướng dẫn, trao đổi thông tin vàđào tạo cán bộ kĩ thuật Thông qua các hình thức tiếp thu công nghệ như trêncùng với khả năng ứng dụng và đổi mới công nghệ, các NIE châu á đã đạt đượcnhững thành công rực rỡ, đặc biệt là trong phát triển công nghiệp.

Mặt khác, các NIE châu á đã thực hiện phương châm “ đón đầu, đi tắt trongcông nghệ” Thời kỳ đầu, với trình độ kỹ thuật còn thấp, họ chỉ tiến hành chuyểngiao dây chuyền công nghệ của nước ngoài để lắp ráp hoặc qua gia công sảnphẩm cho các công ty nước ngoài Sau khi đã đổi mới cơ cấu ngành, tăng sảnxuất những thành phẩm có hàm lượng công nghệ cao, không chỉ nhà nước quantâm mà cả các công ty tư nhân cũng quan tâm thực hiện đuổi bắt tiếp thu và làmchủ công nghệ như chính nước xuất khẩu công nghệ Các NIE cũng đưa ranhững chính sách ưu đãi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc trực tiếp muamáy móc trên thị trường.Trên thực tế, tuỳ theo đặc điểm kinh tế xã hội của riêngmình, mỗi NIE châu á đều có những chính sách chuyển giao công nghệ hết sứcthận trọng để mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế

Nghiên cứu kinh nghiệm tiếp nhận chuyển giao công nghệ của các quốc gianói trên cho ta những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu: cải thiện môi trườngđầu tư để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có hiệu quả, gắnđầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển giao công nghệ thích hợp; các hợp đồngchuyển giao công nghệ phải được chú trọng, được tính toán cẩn thận cả tronghiện tại và tương lai; chú trọng phát triển công nghệ truyền thống công nghệtruyền thống trong nước tạo cơ sở để tiếp nhận một cách hợp lý có chọn lọc,thích hợp với công nghệ mới ; xây dựng và thúc đẩy sự phát triển của khu côngnghệ cao là nơi thu hút các hoạt động chuyển giao công nghệ, đóng vai trò độnglực, đầu tàu trong việc đẩy mạnh phát triển công nghệ quốc gia; chuyển giaocông nghệ không được tách rời việc nâng cao đời sống của nhân dân - đây cũng

là mục tiêu “ xã hội công bằng văn minh ”của Đảng và Nhà nước ta đã đề ra; ởđây nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, điều tiết giúp chohoạt động chuyển giao công nghệ có hiệu quả

Trong quá trình học tập kinh nghiệm của các nước khác, không có một môhình nào là thước đo vạn năng, phổ biến rộng khắp, cần chú trọng điều kiện kinh

tế – xã hội cụ thể sẽ giúp chúng ta có được những bước đi thích hợp cho hoạtđộng chuyển giao công nghệ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước Đặc biệt, con người là nhân tố quyết định đối với mọithành quả kinh tế – xã hội Tri thức được tích luỹ bởi tài nguyên con người làbài học kinh nghiệm không bao giờ cũ cho chúng ta

Trang 12

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC

DƯ ÁN ĐẦU TƯ NƯƠC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

I ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ TRÌNH ĐỘ CÔNG

NGHỆ TẠI VIỆT NAM.

1 Đặc điểm kinh tế - xã hội Việt Nam

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta cùng đề cập đến những đặc điểm

cơ bản nhất của nền kinh tế - xã hội Việt Nam, đã và đang tạo ra những khókhăn, thuận lợi đối với quá trình chuyển giao công nghệ

Từ năm 1990- 1995, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực:nông nghiệp tăng 4,4% thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng chung là 8,2 % nên tỉtrọng trong GDP giảm 9% và từ chỗ là ngành có tỉ trọng cao nhất trở thànhngành có tỉ trọng thấp nhất ; ngành công nghiệp có tỉ trọng trong GDP tăng từ22,7 % (1990) lên 29,9% (1995) ; nhóm ngành dịch vụ có tốc độ tăng khá cao 9

%/năm cao hơn tốc độ chung nên tỉ trọng trong GDP thời kì này lầ cao nhất,chiếm 41,9% (1995) Sự chuyển biến tích cực về cơ cấu kinh tế tạo điều kiệncho sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế nước nhà Điều này cũng tạo ra sự hấpdẫn cao hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, giúp cho việc đảm bảo vốn đểđổi mới công nghệ, đồng thời tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động chuyển giaocông nghệ

Sự ổn định về chính trị tạo cho các nhà đầu tư cảm giác an toàn, ít rủi rokhi đầu tư vào nước ta Qua đó, họ có thể an tâm tiến hành chuyển giao côngnghệ qua các hình thức liên doanh hoặc 100 % đầu tư 100% vốn nướcngoài.Bên cạnh đó, việc mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, tham giavào ASEAN, tiến tới là WTO, đặc biệt hiệp định thương mại Việt - Mĩ được kýkết giúp chúng ta có nhiều cơ hội thu hút nhiều công nghệ mới chuyển giaovào Việt Nam

Cơ sở hạ tầng đang từng bước được hoàn thiện có thể đáp ứng một cáchđồng bộ nhu cầu đổi mới công nghệ và chuyển giao công nghệ trong thời giantới Nền công nghệ nước nhà cũng đã có được một số cơ sở vật chất nhất định và

Trang 13

đặc biệt là đội ngũ những nhà khoa học có trình độ cao cũng là một nhân tố thúcđẩy nền công nghệ phát triển.

Bên cạnh những mặt thuận lợi nói trên, chúng ta cũng gặp phải không ítnhững khó khăn Với xuất phát điểm thấp, trình độ hiện tại của nền kinh tế nước

ta còn kém xa so với các nước trong khu vực (cụ thể: mức thu nhập dưới 1000USD/1người/1năm) Là một nước nông nghiệp với 60 triệu dân sống ở nôngthôn, tỉ lệ đói nghèo tập trung tới 90% ở nông thôn và miền núi, đây thực sự làmột khó khăn lớn trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Mặtkhác, cơ sở hạ tầng kém phát triển, cùng với sự hoành hành của thiên tai ở cáctỉnh miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long đã tạo ra nhiều trở ngại đối vớiviệc phát huy nội lực và đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế Trong khi đó, đâylại là con đường đúng đắn nhất để tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế nói chung vànguy cơ tụt hậu của nền khoa học công nghệ nói riêng

2 Trình độ khoa học công nghệ tại các doanh nghiệp Việt Nam.

a Đánh giá chung

Để đánh giá trình độ công nghệ của một quốc gia nói chung, người tathường dựa vào các tiêu chí như: khả năng phục vụ của công nghệ đối với nềnkinh tế; khả năng thay thế và nâng cấp trong thời gian tới; khả năng thay mớicác công nghệ hiện có; khả năng hội nhập với khu vực và thế giới Dựa trênnhững cơ sở đánh giá này, chúng ta có thể đưa ra một số nhận định khách quan

về trình độ công nghệ tại các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.Nhìn chung, các doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu từ 15 đến 20 năm Dovậy, sự đóng góp của công nghệ trong giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp,tuỳ theo từng ngành mà tỷ lệ này từ 15 đến 20%.Còn cụ thể thì sao ? Theo đánhgiá của Bộ khoa học – công nghệ và môi trường thì thiết bị và công nghệ ViệtNam lạc hậu từ 50 đến 100 năm so với các nước có công nghệ trung bình tiêntiến trên thế giới đối với ngành cơ khí chế tạo, lạc hậu từ 1-2 thế hệ ở ngành lắpráp điện tử, ôtô, máy xây dựng Bức tranh về một nền công nghệ lạc hậu, tồi tàncho thấy trình độ công nghệ tại các doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp kém.Trình độ cơ khí hoá của nền kinh tế còn thấp Theo điều tra, hệ số cơ khíhoá chung trong nền kinh tế chỉ vào khoảng 20%, trong ngành công nghiệp tỷ lệnày có cao hơn nhưng trong nông nghiệp tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều Mức haomòn hữu hình của máy móc, thiết bị phổ biến khoảng 40-60%, có nơi còn hơnthế nữa Mức tiêu hao năng lượng, nhiên liệu và lãng phí nguyên liệu do nguyênnhân công nghệ và kỹ thuật quá cao Mức tiêu hao năng lượng để sản xuất mộtđơn vị sản phẩm ở một số ngành như sau: hoá chất-138%; sơn – 195%; xăm lốpcao su- 204%; quần áo xuất khẩu – 127%; luyện kim đen- 250%.Với độ tuổi

Trang 14

trung bình của máy móc thiết bị cao, tỷ lệ các công nghệ và thiết bị hiện đại tiêntiến cũng rất thấp, tập trung chủ yếu ở một số ngành như: bưu chính viễn thông,hàng không Cộng với hệ số sử dụng thiết bị thấp, chất lượng sản phẩm kém,khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài, đặc biệt trong xu thế

tự do hoá thương mại hiện nay

Sự đánh giá của các chuyên gia nước ngoài cũng không mấy sáng sủa hơn

so với sự tự đánh giá của các chuyên gia trong nước Chỉ tính riêng trong khuvực ASEAN, trình độ công nghệ của Việt Nam vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại.Với thang điểm 5 (5 là cao nhất), bức tranh công nghệ Việt Nam đặt trong sựtương quan so sánh với các nước trong khu vực ASEAN như sau:

BẢNG 1: ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHỆ Ở 10 NƯỚC ASEAN

Nước Singapore Malaysia Philipin Thái lan Bruney Indonesia Việt Nam Myanma Lào Campuchia Điểm 3,8 3,0 2,8 2,6 2,6 2,2 1,9 1,8 1,5 1,3

“chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài” như một giải pháptích cực để cải thiện nền công nghệ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

II TÍNH TẤT YẾU CỦA HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ diễn ra như vũ bão đã tạo sựchuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế thế giới, làm cho sự tăng trưởng kinh tế toànthế giới đạt mức chưa từng có.Ngày nay, tổng sản phẩm của thế giới ước tínhkhoảng 30 000 tỷ USD nghĩa là gấp khoảng trên 23 lần so với tổng sản phẩm thếgiới tính theo USD vào cuối những năm 1950 (1300 tỷ USD) Mặc dù trong thế

kỉ XX khủng hoảng kinh tế song kinh tế thế giới vẫn tăng 15 lần (3%/ năm), đó

là một con số kì lạ Điều kì lạ ấy chủ yếu do việc tăng năng suất, tức do khoahọc công nghệ tạo ra(60-70% của tăng trưởng kinh tế ) Nhưng việc này hầu hếtchỉ diễn ra ở các nước công nghiệp phát triển nơi có trình độ công nghệ cao

Trang 15

Trong khi đó, khoảng cách giữa các nước kém phát triển và nước phát triển ngàycàng gia tăng Làm thế nào để rút ngắn được khoảng cách này? Đây là câu hỏiđặt ra cho tất cả các nước kém phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.Trong xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, một số quốc gia nhưNhật Bản, Hàn Quốc đã nhanh chóng chớp lấy thời cơ, thu hút chuyển giaocông nghệ tiên tiến vào trong nước có hiệu quả, nhằm đẩy mạnh nền công nghệtrong nước phát triển, tăng năng suất lao động và họ đã thành công Học tậpkinh nghiệm của các quốc gia này, trước yêu cầu hội nhập nền kinh tế thế giới

và quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đát nước, Việt Nam nhất thiết phảiđẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt là chuyển giao công nghệqua các dự án đầu tư nước ngoài Sự hiệu quả của hoạt động chuyển giao côngnghệ sẽ góp phần nâng cao trình độ công nghệ, dần dần đổi mới và thay thế cáccông nghệ lạc hậu.Là quốc gia đi sau, chúng ta có những lợi thế riêng nếu biếttận dụng những lợi thế đó trong việc tiếp thu, đón đầu những công nghệ tiêntiến, hiện đại trên cơ sở phù hợp với điều kiện trong nước

Ngày nay, các công ty xuyên quốc gia nắm giữ tới 90% thị trường côngnghệ Các công ty này càng ngày càng có tầm hoạt động trên quy mô rộng lớn,đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư, xâm nhập thị trường nước ngoài Các hoạtđộng đầu tư thường gắn liền với chuyển giao công nghệ.Vì vậy, thị trườngchuyển giao công nghệ toàn cầu đã và đang diễn ra rất sôi động,không chỉ quacon đường đầu tư trực tiếp nước ngoài mà có thể qua nhiều con đường khác.Nằm trong xu thế vận động của các dòng công nghệ đó, một lần nữa ta khẳngđịnh: Chuyển giao công nghệ là quá trình tất yếu ở Việt Nam

III THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN ĐẦU

TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

1 Đánh giá chung về chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thời gian qua.

a Đặc điểm chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Cho đến hết tháng 8 – 1997 đã có 2137 dự án đầu tư nước ngoài được cấpgiấy phép với tổng vốn đăng ký là 32,341 tỷ USD, trong đó khoảng trên 70% dự

án có nội dung chuyển giao công nghệ Còn năm nay( kể từ 01/01/2000 đến15/09/2000), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp 69000 tỷ VND chotổng sản lượng công nghiệp, tăng 65,38% so với năm 1995 (26000 tỷ VND).Như vậy, vấn đề chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài có vaitrò quan trọng không chỉ ở tầm vi mô mà còn cả ở tầm vĩ mô của nền kinh tế.Trước khi đi vào đánh giá thực trạng của vấn đề, người ta đã tổng kết lại một số

Trang 16

đặc điểm của hoạt động chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoàinhư sau:

- Công nghệ đưa vào Việt Nam chủ yếu thông qua hoạt động đầu tư trựctiếp nước ngoài

- Nhà đầu tư thường là người chuyển giao công nghệ

- Công nghệ được sử dụng trong dự án đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài làbên chuyển giao hoặc giới thiệu

- Công nghệ trong dự án đầu tư 100% vốn đầu tư nước ngoài không nhấtthiết phải chuyển từ công ty ở chính quốc mà được chuyển giao từ một công tykhác

Đây cũng chính là cơ sở để đánh giá chung về hoạt động chuyển giao côngnghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thời gian qua

Nhóm 2: Bao gồm những thiết bị và công nghệ lạc hậu khoảng 2 – 3 thế hệ

so với mức trung bình của thế giới; tồn tại trong các ngành điện, giấy, đường,chế biến thực phẩm

Nhóm 3: Bao gồm các thiết bị và công nghệ lạc hậu từ 3 – 5 thế hệ so vớimức trung bình của thế giới; chủ yếu trong các ngành đường sắt, đường bộ, cơkhí, đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng

Nhóm 4: Bao gồm các loại thiết bị và công nghệ có độ lạc hậu cao hơn.Trong những năm qua, hoạt động chuyển giao công nghệ đã và đang diễn

ra trên hầu hết các ngành, các lĩnh vực nhưng với mức độ, trình độ khác nhau.Bước đầu chuyển giao công nghệ đã gắn với phương hướng kinh doanh và đượcđịnh hướng theo thị trường Đây là đòi hỏi tất yếu của quá trình cạnh tranh tronghoạt động kinh doanh: hoàn thiện sản phẩm trên cơ sở đáp ứng tối đa nhu cầucủa khách hàng Ngành dệt may, giày da là một trong những ngành thực hiện đổimới công nghệ theo hướng này, gắn đơn đặt hàng lớn với việc khai thác thịtrường tương đối ổn định Trong cơ chế thị trường, mọi thành phần kinh tế được

tự do kinh doanh trên cơ sở sự điều chỉnh của Nhà nước Do vậy, bản thân cácdoanh nghiệp đã chủ động nâng cao hiệu quả đầu tư sản xuất thông qua chuyểngiao công nghệ Mặc dù còn nhiều hạn chế song chính họ là người quyết định

Trang 17

hiệu quả của chuyển giao công nghệ thông qua quá trình tìm tòi, lựa chọn, đàmphán và kí kết các hợp đồng chuyển giao công nghệ Đồng thời, chuyển giaocông nghệ đã thực hiện một cách có trọng điểm gắn với đầu tư chiều sâu vànâng cao hiệu quả kinh tế Qua khảo sát, các doanh nghiệp đều tiến hành lầnlượt từng dây chuyền, từng sản phẩm hoặc một số giai đoạn trong toàn bộ dâychuyền, sau đó triển khai tiếp Trong xu thế khu vực hoá, quốc tế hoá nền kinh

tế thế giới hiện nay, cùng với sự mở rộng các quan hệ kinh tế song phương và đaphương, chuyển giao công nghệ cũng được thực hiện chủ yếu qua con đườngnày ở đây, phần chủ động thường thuộc về phía nước ngoài Phía Việt Nam dễphải chịu thua thiệt, đặc biệt là nếu người chịu trách nhiệm đàm phán lại thiếukiến thức về công nghệ và chuyển giao công nghệ Thực tế cho thấy, nhiều dự

án gặp vướng mắc trong vấn đề chuyển giao công nghệ mà hai bên phải đàmphán, thảo luận đi lại nhiều lần, phải bổ sung, điều chỉnh lại các văn bản liênquan khiến các bên tốn kém thời gian, tiền của mà hiệu quả rất hạn chế Bêncạnh đó, chuyển giao công nghệ gắn với hàng loạt các vấn đề kinh tế – xã hộikhác như: việc làm người lao động, mức sống, nền văn hoá dân tộc Điều nàyđòi hỏi các doanh nghiệp nói riêng và các cơ quan quản lý nói chung phải lưutâm trong việc lựa chọn công nghệ thích hợp Một vấn đề mà chúng ta đặc biệtquan tâm trong giai đoạn hiện nay là: chuyển giao công nghệ phần nhiều là yếu

tố kĩ thuật( máy móc, thiết bị ) mà những bí quyết kĩ thuật, phương pháp quảnlý lại ít được chuyển giao Phải chăng đây là một trong những vấn đề bức xúc

và rất có thể dẫn tới tình trạng lệ thuộc vào nền công nghệ chính quốc tại cácnước đang phát triển?

Đánh giá chung về chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nướcngoài, người ta không thể không đánh giá chất lượng công nghệ được chuyểngiao thông qua chính nhà đầu tư nước ngoài – người đóng vai trò quyết địnhtrong việc đưa công nghệ nào vào nước sở tại Đến nay, chưa có một số liệuthống kê chính xác cho biết cơ cấu đối tác chuyển giao công nghệ qua các dự ánđầu tư nước ngoài Nhưng nhìn vào bảng số liệu sau, người ta cũng có thể nhậnthấy được một phần điều băn khoăn trên:

BẢNG 2: CƠ CẤU ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP VÀO VIỆT NAM.

(Tính cho đến hết năm 1999) n h t n m 1999) ến hết năm 1999) ăm 1999)

Ngày đăng: 24/07/2013, 10:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2: CƠ CẤU ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP VÀO VIỆT NAM. - Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài
BẢNG 2 CƠ CẤU ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP VÀO VIỆT NAM (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w