Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngân sách nhà nước là nguồn lực tài chính của quốc gia. Việc quản lý quá trình hình thành và phân bổ một cách có hiệu quả ngân sách nhà nước là vấn đề quan trọng và cấp thiết của các quốc gia trên thế giới. Quản lý ngân sách nhà nước là một bộ phận cấu thành của quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội và được thực hiện bởi hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương. Trên phương diện lý thuyết cũng như tổng kết thực tiễn, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được thừa nhận là phương thức quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giải quyết mối quan hệ giữa các cấp ngân sách, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động của ngân sách nhà nước. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giúp cho việc xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp quản lý ngân sách, đảm bảo giải quyết kịp thời các nhiệm vụ quản lý nhà nước. Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành. Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất. Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, nhiệm vụ của Viện KSND càng được tăng cường và mở rộng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu rõ : Đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách cho các cơ quan và hoạt động tư pháp theo hướng ngân sách tư pháp do Quốc hội phân bổ và giao các cơ quan tư pháp địa phương quản lý và sử dụng, có sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan tư pháp trung ương; có cơ chế cho phép địa phương hỗ trợ kinh phí hoạt động cho cơ quan tư pháp từ khoản vượt thu ngân sách địa phương. [1] Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lấn thứ XI khẳng định: Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra. [2] Trong bối cảnh cải cách tư pháp mãnh mẽ như hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc đổi mới, tăng cường chức năng, nhiệm vụ các khâu công tác nghiệp vụ, tạo đột phá trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thì thực tiễn đặt ra trong công tác quản lý tài chính là phải nâng cao hiệu quả phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán trong ngành Kiểm sát nhân dân nhằm đảm bảo tốt hơn nữa điều kiện cơ sở, vật chất, kinh phí của ngành, tăng tính chủ động, trách nhiệm của đơn vị dự toán ngân sách các cấp trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nước nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả ngân sách nhà nước. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, học viên đã lựa chọn đề tài: “Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách từ thực tiễn ngành Kiểm sát nhân dân" làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHU THỊ QUYÊN
PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC ĐƠN VỊ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH TỪ THỰC TIỄN NGÀNH
KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số : 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM THỊ GIANG THU
HÀ NỘI, 2017
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC ĐƠN VỊ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH 7
1.1 Những vấn đề chung về quản lý ngân sách nhà nước 71.2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách 13
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC ĐƠN VỊ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH TRONG NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN 27
2.1 Khái quát về Viện kiểm sát nhân dân 272.2 Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách trong ngành Kiểm sát nhân dân 322.3 Đánh giá về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách trong ngành Kiểm sát nhân dân giai đoạn 2012-2015 51
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC ĐƠN VỊ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH TRONG NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN 62
3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước của ngành Kiểm sát nhân dân 623.2 Một số giải pháp thúc đẩy phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị
dự toán trong ngành Kiểm sát nhân dân 69
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 2.1: Tổ chức đơn vị dự toán ngân sách ngành Kiểm sát nhân dân 33
Bảng 2.1: Kinh phí cấp cho ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 2012-2015 38
Hình 2.2: Phân cấp lập dự toán ngân sách nhà nước ngành Kiểm sát nhân dân 40
Hình 2.3: Phân cấp giao dự toán ngân sách nhà nước ngành Kiểm sát nhân dân 43
Hình 2.4: Phân cấp quyết toán ngân sách nhà nước ngành Kiểm sát nhân dân 46
Bảng 2.2: Kết quả kiểm toán chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2012-2015 51
Trang 5Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là nguồn lực tài chính của quốc gia Việc quản lý quá trình hình thành và phân bổ một cách có hiệu quả ngân sách nhà nước là vấn đề quan trọng và cấp thiết của các quốc gia trên thế giới Quản lý ngân sách nhà nước
là một bộ phận cấu thành của quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội và được thực hiện bởi hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương
Trên phương diện lý thuyết cũng như tổng kết thực tiễn, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được thừa nhận là phương thức quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giải quyết mối quan hệ giữa các cấp ngân sách, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động của ngân sách nhà nước Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giúp cho việc xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp quản
lý ngân sách, đảm bảo giải quyết kịp thời các nhiệm vụ quản lý nhà nước
Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất
Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, nhiệm vụ của Viện KSND càng được tăng cường và mở rộng
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu rõ :
Đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách cho các cơ quan và hoạt động
tư pháp theo hướng ngân sách tư pháp do Quốc hội phân bổ và giao các cơ quan tư pháp địa phương quản lý và sử dụng, có sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan tư pháp trung ương; có cơ chế cho phép địa phương hỗ trợ kinh phí hoạt động cho cơ quan tư pháp từ khoản vượt thu ngân sách địa phương [1]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lấn thứ XI khẳng định:
Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực
Trang 6hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra [2]
Trong bối cảnh cải cách tư pháp mãnh mẽ như hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc đổi mới, tăng cường chức năng, nhiệm
vụ các khâu công tác nghiệp vụ, tạo đột phá trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thì thực tiễn đặt ra trong công tác quản lý tài chính là phải nâng cao hiệu quả phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán trong ngành Kiểm sát nhân dân nhằm đảm bảo tốt hơn nữa điều kiện cơ sở, vật chất, kinh phí của ngành, tăng tính chủ động, trách nhiệm của đơn vị dự toán ngân sách các cấp trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nước nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả ngân sách nhà nước Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, học viên đã lựa chọn đề tài: “Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách từ thực tiễn ngành Kiểm sát nhân dân" làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phân cấp quản lý nói chung và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước nói riêng
là đề tài được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trong những năm vừa qua Cụ thể như:
- Cuốn "Phân cấp ở Đông Á để chính quyền địa phương phát huy tác dụng" của Ngân hàng Thế giới do Nhà xuất bản Văn hoá thông tin ấn hành năm 2005 đã cung cấp nhiều vấn đề mang tính lý thuyết về phân cấp
- Cuốn sách “Trao quyền trong thực tế – từ sự phân tích đến thực hiện” của Ngân hàng thế giới, Nhà xuất bản văn hóa thông tin (năm 2006) đề cập đến vấn đề trao quyền-cách hiểu và áp dụng trong thực tiễn
Đề tài: “Thực hiện tốt sự phân cấp giữa chính quyền Trung ương với chính quyền địa phương" Viện quản lý kinh tế Trung ương thực hiện (2005) Cuốn sách
“Phân cấp quản lý nhà nước - Lí luận và thực tiễn" của PGS.TS Võ Kim Sơn, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2004 Cuốn sách “Phân cấp ngân sách cho chính quyền địa phương - Thực trạng và giải pháp” của tác giả PGS.TS Lê Chi Mai (2006) do Nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành Cuốn sách “Điều hòa ngân sách giữa trung ương và địa phương” của tác giả TS Bùi Đường Nghiêu (chủ biên 2006) do Nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành Ngoài ra còn nhiều công
Trang 7trình nghiên cứu liên quan đến quản lý ngân sách nhà nước của Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội, Học viện Tài chính, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Các công trình nghiên cứu, cuốn sách nói trên đã tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả về mặt lý luận và thực tiễn việc phân cấp quản lý ngân sách là nguồn
tư liệu tham khảo rất hữu ích cho tác giả trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu, cũng như trong quá trình triển khai viết luận văn Song những công trình nghiên cứu khoa học nêu trên chủ yếu nghiên cứu về phân cấp quản lý nhà nước nói chung và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, chưa nghiên cứu đầy đủ về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
Các công trình nghiên cứu mới tập trung vào hệ thống giải pháp đổi mới công tác quản lý ngân sách nói chung chứ chưa tập trung nhiều vào giải pháp về phân cấp quản lý ngân sách hoặc nếu có nghiên cứu về phân cấp quản lý ngân sách thì mới chỉ chú ý đến một số nội dung như: sự tác động qua lại tương hỗ giữa phân cấp và quản lý tài chính công; phân cấp quản lý hành chính nhà nước hay đánh giá tình hình phân cấp giữa Chính phủ và Chính quyền cấp tỉnh trên một số lĩnh vực như: quy hoạch, kế hoạch, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, ngân sách, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý các đơn vị cung ứng dịch vụ công cộng, về tổ chức bộ máy và nhân sự
Một số nghiên cứu đã xem xét vấn đề phân cấp quản lý ngân sách nhà nước song chủ yếu mới tiếp cận dưới giác độ quy định pháp luật về phân cấp mà chưa đi sâu phân tích việc thực hiện các quy định trên thực tế chẳng hạn như trong cuốn
“Phân cấp ngân sách cho chính quyền địa phương - Thực trạng và giải pháp” của tác giả PGS.TS Lê Chi Mai (2006) do Nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành, tác giả mới chỉ phân tích bản chất và nội dung của phân cấp ngân sách, các mô hình quản lý ngân sách, các tiêu chí và mức độ phân cấp ngân sách, những lợi ích và rủi
ro trong quá trình phân cấp phân cấp ngân sách, quy trình ngân sách, định mức phân
bổ và chi tiêu ngân sách
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các lý thuyết về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước nói chung và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách nói riêng, đồng thời xây dựng hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán là rất cần thiết
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài hệ thống hóa lý thuyết cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật phân cấp quản lý ngân sách cho các đơn vị dự toán ngân sách
Trên cơ sở tìm hiểu về thực trạng phân cấp quản lý ngân sách cho các đơn vị
dự toán ngân sách trong ngành Kiểm sát nhân dân; đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế trong việc phân cấp quản lý NSNN cho các đơn vị dự toán ngân sách ngành Kiểm sát nhân dân đưa ra phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản, các căn cứ pháp lý,
cơ chế điều hành, quản lý của nhà nước về quản lý ngân sách nhà nước trong ngành Kiểm sát nhân dân dân hiện nay
- Phân tích, đánh giá thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán NS ngành Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn 2012 - 2015 từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN cho các đơn vị
dự toán ngân sách trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
Phân cấp quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước;
Phân cấp trong quản lý chu trình ngân sách nhà nước;
Phân cấp trong giám sát, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước
Trang 9Nghiên cứu và phân tích thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho đơn vị dự toán các cấp ngành Kiểm sát nhân dân từ đơn vị dự toán cấp I đến các đơn vị dự toán cấp III trực thuộc trên cơ sở tổng hợp số liệu NSNN năm 2012,
2013, 2014, 2015 Luật Ngân sách Nhà nước 2015 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực từ 1.1.2017 và cho đến nay chưa thực sự có những vấn đề thực tiễn
để đánh giá xem xét Kết quả phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cũng được thể hiện rõ nhất thông qua việc phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước hàng năm Cho đến nay, quyết toán Ngân sách Nhà nước 2015 mới được Quốc hội thông qua
Vì vậy học viên đánh giá phân tích dựa trên kết quả đến 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống là tra cứu, sưu tầm tài liệu, kế thừa có chọn lọc và phát triển kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu có liên quan trong ngành Kiểm sát nhân dân cũng như các công trình nghiên cứu về phân cấp quản lý NSNN đã được công bố để làm rõ các vấn đề được đề cập trong luận văn
Bên cạnh đó, luận văn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp trên cơ sở thu thập thông tin, số liệu từ những báo cáo về số liệu ngân sách nhà nước, dự toán NSNN, quyết toán NSNN ngành Kiểm sát nhân dân để hệ thống hóa các dữ liệu nhằm minh họa giúp ta thấy rõ hơn về tình hình phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán trong ngành Kiểm sát nhân dân
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hóa, phân tích và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận; các qui định quản lý ngân sách nhà nước, phân cấp quản lý ngân sách cho các đơn vị dự toán ngân sách
- Phân tích, làm rõ thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho đơn vị
dự toán các cấp trong ngành Kiểm sát nhân dân, đánh giá những kết quả đạt được, chỉ rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp chủ yếu hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán của ngành Kiểm sát nhân dân nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy cơ quan Viện kiểm sát nhân dân để hoàn thành
Trang 10tốt các mục tiêu, nhiệm vụ trính trị mà Đảng và Nhà nước đã giao cho ngành Kiểm sát nhân dân gắn với yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp
7 Cơ cấu của luận văn
Chương 1 Cơ sở lý luận của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
Chương 2 Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách cho các đơn vị dự toán ngân sách ngành Kiểm sát nhân dân
Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách cho các đơn vị dự toán ngành Kiểm sát nhân dân
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHO CÁC ĐƠN VỊ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH 1.1 Những vấn đề chung về quản lý ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của ngân sách nhà nước Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế - xã hội là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của ngân sách nhà nước Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước”được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội mọi quốc gia
Ngân sách nhà nước trước hết là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học
Xét từ góc độ này, ngân sách nhà nước được hiểu là bản dự toán các khoản thu
và chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước quyết định để thực hiện trong thời gian nhất định
Không chỉ là thuật ngữ kinh tế, ngân sách nhà nước còn là một khái niệm pháp
lý Khái niệm này hàm chứa nội dung chính trị - pháp lý quan trọng như mối tương quan quyền lực giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp trong việc thiết lập và thi hành ngân sách; thủ tục soạn thảo, quyết định và chấp hành ngân sách cũng như
sự phân chia giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp trong việc kiểm soát quá trình ngân sách
Trong khoa học pháp lý, quan niệm về ngân sách nhà nước có phần khác biệt đáng kể so với định nghĩa ngân sách nhà nước về phương diện kinh tế Sự khác biệt giữa hai phương diện tiếp cận này được thể hiện ở chỗ, nếu các nhà kinh tế quan niệm NSNN là một kế hoạch tài chính khổng lồ của quốc gia, trong đó dự liệu các khoản thu và chi tiền tệ của quốc gia trong một tài khóa thì các nhà luật học lại quan niệm NSNN là một đạo luật đặc biệt do Quốc hội ban hành để cho phép Chính phủ thực hiện trong thời hạn xác định Tính chất đặc biệt của đạo luật này được thể hiện
ở hai khía cạnh: Thứ nhất, ngân sách nhà nước là đạo luật được cơ quan lập pháp làm ra theo một trình tự riêng, không hoàn toàn giống với trình tự lập pháp thông
Trang 12thường; thứ hai, hiệu lực về thời gian của đạo luật ngân sách thường xác định là một năm trong khi hiệu lực của các đạo luật thông thường là vô hạn [3, tr.11-15]
Luật Ngân sách nhà nước của Việt Nam năm 2015 quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước"
Các đặc điểm của ngân sách nhà nước
NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, NSNN có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, ngân sách nhà nước là một kế hoạch tài chính khổng lồ nhất cần
được Quốc hội biểu quyết thông qua trước khi thi hành Đặc điểm này cho thấy việc thiết lập NSNN không chỉ là kỹ thuật nghiệp vụ kinh tế (lập dự toán các khoản thu
và chi định thực hiện trong một năm) mà còn là vấn đề mang tính kỹ thuật pháp lý (nghĩa là phải trải qua giai đoạn xem xét, biểu quyết thông qua tại Quốc hội giống như việc ban hành một đạo luật để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định cho các chủ thể tham gia vào hoạt động ngân sách) Do ngân sách nhà nước bắt buộc phải được quốc hội biểu quyết thông qua như một kỹ thuật pháp lý nên ngân sách nhà nước khác hẳn với các loại ngân sách thông thường (ví dụ: ngân sách gia đình, ngân sách của các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội ) Sự khác biệt thể hiện ở chỗ, ngân sách nhà nước vừa phản ánh các hành vi kinh tế (lập
dự trù các khoản thu, chi sẽ thực hiện trong tương lai), vừa thể hiện các hành vi pháp lý của các chủ thể có thẩm quyền (cơ quan hành pháp có trách nhiệm lập dự toán ngân sách và cơ quan lập pháp có thẩm quyền quyết định bản dự toán đó) Trong khi đó, các loại ngân sách của các chủ thể khác thì chỉ phản ánh các hành vi thuần túy kinh tế (mang tính chất kỹ thuật tài chính) như lập dự trù kế hoạch thu chi tiền tệ mà không cần phải đệ trình cho một cơ quan lập pháp nào phê chuẩn trước khi đem ra thực hiện trên thực tế
Thứ hai, ngân sách nhà nước không phải là một bản kế hoạch tài chính thuần
túy mà còn là một đạo luật Theo thông lệ, sau khi bản dự toán ngân sách nhà nước
đã được soạn thảo bởi cơ quan hành pháp thì nó sẽ được chuyển sang cho cơ quan lập pháp xem xét quyết định và ban bố dưới hình thức một đạo luật để thi hành Quá
Trang 13trình "luật hóa" bản dự toán ngân sách nhà nước tại cơ quan lập pháp thể hiện sự khác biệt về phương diện pháp lý giữa ngân sách nhà nước so với các loại ngân sách của các chủ thể khác Sở dĩ có sự khác biệt này là vì ngân sách nhà nước có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của một đất nước nên cần thiết phải bảo đảm cho ngân sách nhà nước có được giá trị pháp lý như một đạo luật Việc chuyển hóa bản dự toán ngân sách nhà nước thành đạo luật chẳng những sẽ giúp cho quốc hội kiểm soát được chính phủ trong quá trình thu, chi ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm quyền lợi cho toàn thể dân chúng (là những người phải đóng thuế cho nhà nước) mà còn làm cho bản kế hoạch tài chính quan trọng bậc nhất này có thể thực hiện được dễ dàng hơn trong thực tế vì
nó được bảo đảm thực hiện như một đạo luật
Thứ ba, ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính của toàn thể quốc gia, được
trao cho chính phủ tổ chức thực hiện nhưng phải đặt dưới sự giám sát trực tiếp của quốc hội Việc thiết lập quyền giám sát của quốc hội đối với hoạt động thi hành ngân sách của chính phủ đã trở thành nguyên tắc hiến định, thực chất là nhằm kiểm soát nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành pháp trong quá trình thực thi ngân sách nhà nước Sự kiểm soát thường xuyên của quốc hội đối với chính phủ trong lĩnh vực này cũng là phương cách để củng cố và đề cao tính dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động tài chính nhà nước, góp phần quản trị tốt nền tài chính công trong
đó dân chúng đóng vai trò quyết định Đây chính là một trong những đặc điểm quan trọng giúp ta phân biệt giữa ngân sách nhà nước với các loại ngân sách của các chủ thể khác như ngân sách của các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, ngân sách
cá nhân hay ngân sách của hộ gia đình Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, việc thiết lập và thi hành ngân sách nhà nước rất cần có sự tham gia kiểm soát của dân chúng (có thể bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua cơ quan đại diện cho mình là quốc hội) với mục đích nhằm bảo vệ lợi ích chung, trong khi đối với các loại ngân sách của các chủ thể khác thì nhà nước cần phải để cho chính chủ thể đó tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về các hậu quả xảy ra cho mình trong quá trình xây dựng và thực thi ngân sách trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt đối với lợi ích riêng của các chủ thể đó Trong trường hợp cần thiết, việc thi hành ngân sách của các chủ thể này cũng chỉ chịu sự kiểm tra, giám sát của một số cơ quan hành pháp nhưng cũng bị giới hạn trong một phạm vi hợp lý theo quy định của pháp luật
Trang 14Thứ tư, ngân sách nhà nước được thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu
mưu cầu lợi ích chung cho toàn thể quốc gia, không phân biệt người thụ hưởng các lợi ích đó là ai, thuộc thành phần kinh tế này hay đẳng cấp xã hội nào Lợi ích chung là yếu tố ảnh hưởng mang tính quyết định đến việc tiến hành các nghiệp vụ tài chính (nghiệp vụ thu, chi ngân sách) của chính phủ mà ở đó chính phủ luôn tìm cách thỏa mãn tối đa các nhiệm vụ chi, tiêu đã được hoạch định và cho phép thực hiện bởi quốc hội Đôi khi, vì mục tiêu thỏa mãn lợi ích chung của toàn thể quốc gia
mà chính phủ buộc phải tiến hành những nhiệm vụ chi không chắc chắn đem lại một lợi ích cụ thể nào cho riêng mình, ví dụ như việc trợ cấp cho nhân dân các vùng
bị thiên tại, địch họa hay việc tài trợ cho các doanh nghiệp trong nước bằng biện pháp trợ giá nhằm phục hồi một ngành sản xuất quan trọng nào đó của đất nước Đặc điểm này khiến cho ngân sách nhà nước khác biệt đáng kể với ngân sách của các tổ chức khác, các cá nhân hay hộ gia đình, bởi lẽ ngân sách của các chủ thể này liên quan trực tiếp đến lợi ích riêng tư của mỗi chủ thể đó và bao giờ chúng cũng được thiết lập, thực hiện vì mục tiêu đem lại những lợi ích cụ thể cho chính họ Suy cho cùng, điểm khác biệt này giữa ngân sách nhà nước với ngân sách tư nhân thể hiện ở chỗ: nếu một khoản chi tiêu nào đó không đem lại một lợi ích kinh tế cụ thể nào cho tư nhân thì họ sẽ không bao giờ thực hiện và không bắt buộc phải thực hiện, trong khi chính phủ vì mưu cầu lợi ích chung nên có thể phải thực hiện những khoản chi rõ ràng không đem lại các lợi ích kinh tế cho mình Đặc điểm này giúp ta phân biệt rõ hơn địa vị và vai trò của chính phủ so với tư nhân trong nền kinh tế - xã hội đương đại
Thứ năm, ngân sách nhà nước luôn phản ánh mối tương quan giữa quyền lập
pháp và hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện ngân sách [4, Tr.16-19]
Trang 15Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành một thể thống nhất; các cấp ngân sách thống nhất có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách
Tính tập trung: thể hiện ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng Ngân sách cấp dưới chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đối ngân sách của ngân sách cấp mình
Tính dân chủ: thể hiện dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chi phối ngân sách cấp mình
1.1.3 Đơn vị dự toán ngân sách nhà nước
Đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách
Điểm 1.1 Khoản 1 Mục V Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước quy định về đơn
vị dự toán các cấp như sau:
“Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban Nhân dân giao Đơn vị dự toán cấp I thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc; chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị cấp dưới trực thuộc
Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán giao cho đơn vị dự toán cấp III (Trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I), chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện
Trang 16công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán của đơn vị cấp dưới
Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình
Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán theo quy định”
1.1.4 Quản lý ngân sách nhà nước trong đơn vị dự toán ngân sách
Quản lý nói chung được hiểu như là sự tác động của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu đã định
Quản lý Ngân sách nhà nước trong các đơn vị dự toán là hoạt động của chủ thể quản lý Ngân sách nhà nước thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý thích hợp để tác động và điều hành hoạt động của các đơn vị dự toán ngân sách nhằm đạt được những mục tiêu đã định
Quản lý ngân sách nhà nước trong các đơn vị dự toán NSNN được thực hiện thông qua việc hoạch định chính sách, cơ chế quản lý và Luật ngân sách đúng đắn
sẽ tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của các đơn vị dự toán trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà Đảng và nhà nước giao phó Quản lý ngân sách nhà nước trong các đơn vị dự toán là nghiệp vụ quản lý vi mô, có sự phân công, phân cấp cụ thể đối với từng cấp, từng đơn vị dự toán Tác động quản lý phải thông qua các hệ thống, các biện pháp phù hợp với đặc điểm và quy luật vận động của đối tượng quản lý và được biểu hiện qua nhiều mặt khác nhau như sau:
Việc quản lý ngân sách nhà nước trong đơn vị dự toán ngân sách nhà nước phải được tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật; hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước đều phải được quy định rõ ràng, chặt chẽ từ khâu lập dự toán ngân sách đến khâu chấp hành và quyết toán, kiểm tra ngân sách nhà nước hàng năm ; xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị dự toán nhà nước các cấp, của các cán
bộ nhà nước trong quản lý ngân sách
Quản lý ngân sách nhà nước trong đơn vị dự toán ngân sách nhà nước sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhưng rất coi trọng biện pháp tổ chức - hành chính: biện
Trang 17pháp này bảo đảm được tính thống nhất chỉ huy, quyền lực; nó thể hiện tính luật pháp trong quản lý ngân sách
Quản lý ngân sách nhà nước trong đơn vị dự toán ngân sách nhà nước là sự quản lý kết hợp yếu tố con người và yêu tố tài chính: Các đơn vị dự toán ngân sách nhà nước vừa là người thụ hưởng ngân sách nhà nước, vừa là người tổ chức các hoạt động ngân sách, cho nên trước hết phải quản lý con người; các hoạt động ngân sách nhà nước có liên quan đến tất cả các chủ thể nhằm phục vụ cho việc điều hành hoạt động của cơ quan nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do nhà nước giao
Hoạt động ngân sách là hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước Nhưng để hoạt động thu, chi mang lại hiệu quả tốt, phải có chính sách, cơ chế quản lý ngân sách đồng bộ và Luật ngân sách nhà nước làm công cụ pháp lý quan trọng để quản lý và điều hành ngân sách Trên cơ sở đó, phải không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách Một cơ chế quản lý ngân sách được coi là hợp lý khi các bộ phận trong
cơ chế đó mang tính hệ thống đồng bộ, không triệt tiêu lẫn nhau, làm hạn chế tác dụng tích cực của cơ chế
Hệ thống các phương pháp quản lý ngân sách nhà nước trong đơn vị dự toán được sử dụng đồng thời, có sự tác động, hỗ trợ, kiểm soát lẫn nhau như chính sách động viên, chi đầu tư phát triển, phân cấp ngân sách, cân đối ngân sách, quy trình ngân sách… trong đó quy trình ngân sách và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng
1.2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
1.2.1 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
Hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp, nhiều đơn vị
dự toán và mỗi cấp, mỗi đơn vị dự toán ngân sách đều được phân giao những nhiệm
vụ nhất định Để thực hiện những nhiệm vụ đó, mỗi cấp, mỗi đơn vị dự toán lại được phân giao những quyền hạn cụ thể về nhân sự, kinh tế, hành chính và ngân sách
Việc hình thành hệ thống ngân sách nhà nước gồm nhiều cấp, nhiều đơn vị dự toán thì việc phân cấp ngân sách nhà nước là một tất yếu khách quan Bởi vì mỗi cấp ngân sách nhà nước, mỗi đơn vị dự toán ngân sách nhà nước đều có nhiệm vụ thu, chi mang tính độc lập Trong việc tổ chức quản lý tài chính nhà nước nếu cơ
Trang 18chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được thiết lập phù hợp thì tình hình quản
lý tài chính và ngân sách nhà nước sẽ được cải thiện góp phần thúc đẩy sự phát triển
ổn định của nền kinh tế - xã hội
Sự phân giao về ngân sách cho các cấp chính quyền, các đơn vị dự toán ngân sách làm nảy sinh khái niệm về phân cấp quản lý ngân sách
Chế độ pháp lý về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phân định trách nhiệm, quyền hạn của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực ngân sách nhà nước và các quan hệ
xã hội phát sinh quá trình thực hiện việc phân giao nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp
Hiến pháp 1992 - văn bản pháp luật có giá trị cao nhất trong hệ thống pháp luật của Việt Nam là cơ sở nền tảng của hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật về tài chính ngân sách Việc Hiến pháp có quy định về tài chính, ngân sách trong đó có chế độ phân cấp ngân sách đã tạo cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng ban hành Luật Ngân sách Nhà nước
Ngày 20/3/1996 Luật ngân sách nhà nước được ban hành, quy định về phân cấp quản lý NSNN lần đầu tiên được thể chế hóa thành quy định của Luật Ngày 19/12/1996 Chính phủ ban hành Nghị định 87/NĐ-CP quy định chi tiết việc phân cấp, quản lý, lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước Theo đó ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương (NSTW) và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (ngân sách cấp tỉnh, huyện, xã) Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước bảo đảm nguyên tắc phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước NSTW giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản để bảo đảm thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước; Phân định rõ nguồn thu, nhiệm
vụ chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu, số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới từ 3 đến 5 năm
Sau 2 năm thực hiện, Luật ngân sách nhà nước ngày 20/6/1996 được sửa đổi,
bổ sung bằng Luật NSNN ngày 20/5/1998 Ngày 18/7/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 51/1998/NĐ-CP sửa đổ, bổ sung một số điều của Nghị định số 87/NĐ-
CP quy định chi tiết việc phân cấp, quản lý, lập, chấp hành và quyết toán NSNN
Trang 19Theo đó, quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo nguyên tắc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Số bổ sung là khoản thu của ngân sách cấp dưới Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi đã quy định, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ một số trường hợp ngoại lệ, ủy ban nhân dân các cấp được sử dụng ngân sách trong phạm vi được phân cấp để hỗ trợ cho các đơn vị do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn Quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSTW và ngân sách tỉnh, xã, thị trấn cũng được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 51/1998/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình mới
Năm 2002, nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý ngân sách nhà nước theo hướng đổi mới, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật ngân sách nhà nước (sửa đổi) và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 đã quy định nguyên tắc phân cấp: Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao
Luật ngân sách nhà nước cũng đã quy định cụ thể vai trò, quyền hạn của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong việc quyết định dự toán, phân bổ, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước và đồng thời cũng bảo đảm sự chỉ đạo điều hành thống nhất ngân sách nhà nước trong phạm vi cả nước của Chính phủ Quy định về phân cấp quản lý tài chính ngân sách trên cơ sở đảm bảo sự thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chủ đạo của ngân sách nhà nước, tăng cường chủ động, phát huy sáng tạo của địa phương, tăng khả năng tự cân đối của ngân sách địa phương trong việc đảm bảo các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh
Trang 20Luật ngân sách nhà nước 2002 đã phân cấp khá mạnh mẽ nguồn thu của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, tăng tính chủ động, tích cực của chính quyền địa phương
Việc quy định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách giữa Trung ương và địa phương đã góp phần lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực tài chính, xóa bỏ tình trạng địa phương quy định các khoản thu trái với quy định pháp luật Việc trao quyền nhiều hơn cho chính quyền địa phương trong quyết định các vấn đề về ngân sách cũng đòi hỏi địa phương phải tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực hiện ngân sách
Theo quy định tại Luật ngân sách nhà nước năm 2015:
"Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc xác định phạm vi, trách nhiệm
và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý Ngân sách nhà nước phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội"
Theo khái niệm này, bản chất phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc giải quyết mối quan hệ về vật chất và thẩm quyền giữa các cấp chính quyền từ trung ương đến các địa phương trong hoạt động quản lý ngân sách nhà nước, giữa các đơn
vị dự toán với các cơ quan chủ quản Mục tiêu của phân cấp quản lý ngân sách là làm rõ quyền và trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền nhà nước về ngân sách và của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách Phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước bao gồm quyền quyết định về ngân sách
và thẩm quyền quản lý ngân sách nhà nước
Như vậy, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách nhà nước là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của các đơn vị
dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách nhà nước
Mục tiêu của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
Một là, phát huy tính năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của các đơn vị dự toán nhằm phục vụ tốt nhất nhiệm vụ được giao nhằm góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng, xóa đói , giảm nghèo, thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính
Trang 21Hai là, tạo ra sự đồng bộ thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy phạm
pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và đảm bảo quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở Đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất về nguồn lực để đảm bảo khả năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội
Ba là, làm rõ quyền hạn và trách nhiệm, nguồn lực và nhiệm vụ của đơn vị dự
toán ngân sách trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nước, giải quyết mối quan hệ tài chính giữa các ngành và địa bàn lãnh thổ Khắc phục những chồng chéo hoặc thiếu sót trong từng nội dung quản lý
Bốn là, tạo ra mối liên kết đồng thuận giữa các cơ quan Tài chính, cơ quan Kế
hoạch đầu tư và các ngành chức năng liên quan với chính quyền các cấp, các đơn vị
dự toán ngân sách trong từng nội dung quản lý
Vai trò của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
Một là, đối với quản lý hành chính nhà nước: Việc phân cấp quản lý ngân sách
nhà nước cho các đơn vị dự toán là công cụ cần thiết khách quan để phục vụ cho việc phân cấp quản lý hành chính và có tác động quan trọng đến hiệu quả của quản
lý hành chính từ trung ương đến địa phương
Ngân sách nhà nước cung cấp phương tiện tài chính cho các cấp chính quyền nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách nhà nước từ trung ương đến địa phương hoạt động Tuy nhiên phân cấp quản lý ngân sách nhà nước không phụ thuộc hoàn toàn vào phân cấp hành chính mà nó có tính độc lập tương đối trong việc thực hiện mục tiêu phân phối hợp lý nguồn lực quốc gia Một cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước hợp lý sẽ tạo điều kiện giúp chính quyền nhà nước thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Ngược lại phân cấp không hợp lý sẽ gây cản trở, khó khăn đối với quá trình quản lý của các cấp hành chính nhà nước
Hai là, đối với điều hành vĩ mô nền kinh tế: Phân cấp quản lý ngân sách nhà
nước cho các cấp chính quyền và các đơn vị dự toán hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì phát triển hoạt động của các cấp chính quyền, các đơn vị dự toán ngân sách từ trung ương đến địa phương mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng địa phương trong cả nước Nó cho phép quản lý và kế hoạch hóa ngân sách nhà nước tốt hơn, điều chỉnh mối quan
Trang 22hệ giữa các cấp chính quyền cũng như mối quan hệ giữa các cấp ngân sách để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô ngân sách nhà nước
Mục đích phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
Phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách nhằm hướng tới các mục đích sau:
Một là, làm tăng hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước Nếu phân cấp quản lý
Ngân sách nhà nước một cách hợp lý sẽ làm tăng hiệu quả công tác quản lý Ngân sách nhà nước, phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của Quốc gia
Hai là, phát huy tính chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách: Khi các địa
phương được chủ động về ngân sách sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng ngân sách thông qua việc cung cấp dịch vụ công cộng cũng như phúc lợi kinh tế cho người dân của địa phương
Ba là, khuyến khích cung cấp hiệu quả hàng hóa công cộng: Mục đích của
phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là khuyến khích các địa phương chi ngân sách cho việc cung cấp các hàng hóa công cộng quan trọng và có giá trị lâu dài như giáo dục, y tế…
Bốn là, tăng cường năng lực quản lý cho các cấp chính quyền: Nếu phân cấp
quản lý ngân ngân sách nhà nước tốt hơn sẽ góp phần vào tăng năng lực quản lý nhà nước của chính quyền trung ương và địa phương qua đó làm tăng hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước
Năm là, tạo điều kiện cho việc giám sát ngân sách nhà nước: Giám sát là một
trong những chức năng cơ bản của Quốc hội, Hội đồng nhân dân Giám sát trong phân cấp quản lý ngân scahs nhà nước là để bảo đảm các yêu cầu luật pháp và chính sách về ngân sách nhà nước được chấp hành một cách dân chủ, đúng đắn, hiệu quả
và hiệu lực
Giám sát là cầu nối để qua đó Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia, của địa phương Thực tế cho thấy trong công tác xây dựng pháp luật về ngân sách, nếu chỉ quy định chung có tính nguyên tắc về cơ chế quản lý, mà không quy định rõ về định mức, tiêu chuẩn phân bổ kinh phí thì không thể nói đến sự công bằng trong sử dụng ngân sách và càng không thể có đủ
cơ sở để phát hiện các hành vi tiêu cực tham nhũng Hơn nữa các tiêu chuẩn định
Trang 23mức, thủ tục và chế độ trách nhiệm phải được công khai, minh bạch để các đối tượng nhận thức, thống nhất hành động và giám sát thực hiện
Giám sát thực hiện các quy định phân cấp quản lý NSNN sẽ góp phần kịp thời phát hiện các bất hợp lý, phát hiện các sai phạm trong sử dụng ngân sách không đúng mục đích, đối tượng hoặc các sai phạm gây thất thoát
Căn cứ phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
Một là, Hệ thống pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước: để quản
lý Ngân sách nhà nước có hiệu quả thì Nhà nước thường ban hành hệ thống những quy định pháp luật có liên quan đến việc tổ chức và quản lý ngân sách nhà nước, trong đó có những quy định cụ thể về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Trong hệ thống những quy định pháp luật về ngân sách nhà nước thì Luật ngân sách nhà nước là văn bản pháp luật quy định tập trung nhất những vấn đề có liên quan đến quản lý ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Thông thường trong luật ngân sách nhà nước sẽ có những quy định về hệ thống ngân sách nhà nước có những cấp nào, thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước là gì, quy định về phân chia nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước của các cấp ngân sách, những quy định về cách thức quản lý ngân sách nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước ở trung ương như Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan ở địa phương như Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, những quy định về giám sát và kiểm toán ngân sách nhà nước
Ngoài ra, để triển khai thực hiện Luật ngân sách nhà nước, Chính phủ ban hành nhiều văn bản pháp quy có tính dưới luật để hướng dẫn những nội dung cụ thể
về quản lý ngân sách nhà nước
Qua các văn bản quy định về chế độ phân cấp quản lý ngân sách cho thấy phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là vấn đề cơ bản trong quản lý ngân sách ngân sách nhà nước Ở các thời kỳ khác nhau, nội dung cơ bản của quy định pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đã thể hiện ở việc quy định tính tập trung, thống nhất của ngân sách nhà nước; vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và có
cơ chế hỗ trợ đặc thù cho ngân sách địa phương; sự phân công nhiệm vụ quyền hạn của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương ; phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ
Trang 24chi của các cấp ngân sách; bảo đảm tính tập trung dân chủ, phát huy tính chủ động sáng tạo của ngân sách địa phương
Hai là, tính chất đặc thù của hệ thống ngân sách nhà nước: Hệ thống ngân
sách nhà nước của mỗi quốc gia thường được phân thành các cấp tương ứng với hệ thống bộ máy nhà nước
Ba là, tính đặc thù của hoạt động quản lý nhà nước: điều này được thể hiện tại
các quốc gia mà quyền lực nhà nước có tính chất tập trung cao thì các nguồn thu ngân sách lớn là của cấp trung ương, địa phương được phân cấp những nguồn thu nhỏ, tại các quốc gia mà quyền lực nhà nước có sự phân cấp mạnh hơn thì cấp địa phương có nhiều quyền độc lập tương đối trong việc ban hành và thực thi nhiều quyết định về ngân sách địa phương
Bốn là, tính hiệu quả của việc cung cấp hàng hóa công cộng: Trong công tác
quản lý nhà nước, chính quyền trung ương và địa phương vừa đảm bảo chức năng quản lý nhà nước vừa phải đảm bảo cung cấp các hàng hóa công cộng Việc cung cấp hang hóa công cộng ở cấp trực tiếp tiến hành chi trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước sẽ làm cho việc chi tiêu hiệu quả hơn
Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
Để đảm bảo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước nói chung và phân cấp quản
lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán đem lại kết quả tốt cần quán triệt đầy
đủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải phù hợp và đồng bộ với
phân cấp quản lý nhà nước
Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính của Nhà nước để phục vụ cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước Bộ máy quản lý nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp khác nhau thì hệ thống ngân sách nhà nước cũng phải được tổ chức sao cho phù hợp với cơ cấu của chủ thể sử dụng ngân sách nhà nước
Hiến pháp và pháp luật của nhà nước thường có những quy định cụ thể về quản lý ngân sách nhằm tạo cơ sở pháp lý đối với việc đảm bảo nguồn lực tài chính cho phân cấp quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội Do đó để đảm bảo nguyên tắc tôn trọng pháp luật thì phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải tuân thủ những quy định do Hiến pháp đặt ra
Trang 25Quá trình phân cấp quản lý ngân sách nhà nước còn cần phải chú ý đến quan
hệ giữa quản lý nhà nước theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội Yêu cầu quản lý theo ngành đòi hỏi không được nhận thức một cách lệch lạc là Nhà nước, Chính phủ và các Bộ ở trung ương thì quản lý các công việc ở trung ương còn các Sở, ngành thì quản lý các công việc của địa phương Yêu cầu quản lý theo lãnh thổ đảm bảo sự phát triển tổng thể các ngành các lĩnh vực, các mặt hoạt động về chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội trên một đơn vị hành chính lãnh thổ nhằm thực hiện sự quản lý nhà nước một cách toàn diện
Quản lý nhà nước theo ngành hay lĩnh vực và sự quản lý theo lãnh thổ tất yếu phải được kết hợp và thống nhất với nhau theo những quy định pháp luật Những quy định về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cần phải chú ý tôn trọng nguyên tắc này
Hai là, đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, đồng thời tạo cho
ngân sách địa phương vị trí độc lập tương đối trong hệ thống ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là công cụ quan trọng phục vụ cho việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước đối với xã hội Trong đó những nhiệm vụ quan trọng nhất được tập trung ở cấp trung ương Vì thế trung ương phải được dành một khoản ngân sách thích đáng cho việc thực hiện quyền quản lý nhà nước bao trùm trên phạm vi cả nước Mặt khác trong hệ thống ngân sách nhà nước thì ngân sách trung ương còn đóng vai trò là trung tâm điều hòa của hệ thống
Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo là nắm giữ các nguồn thu quan trọng
đủ để Nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ của mình và điều tiết các mặt hoạt động của nền kinh tế thông qua chính sách sử dụng ngân sách nhà nước
Ngân sách địa phương cần có sự độc lập tương đối là một yêu cầu hết sức cần thiết Khi đã xác định địa phương là một cấp quản lý nhà nước thì đồng nghĩa với việc địa phương có những quyền tự chủ nhất định và trung ương sẽ tạo điều kiện về mặt pháp lý và tài chính để địa phương thực hiện tốt quyền tự chủ đó
Ba là, đảm bảo tính hiệu quả: Nguyên tắc về tính hiệu quả trong phân cấp
quản lý ngân sách nhà nước bao gồm hai nội dung cơ bản là tính hiệu quả kinh tế và tính hiệu suất Tính hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải đạt được kết quả cụ thể với đầu
Trang 26vào là nguồn ngân sách nhỏ nhất Tính hiệu suất là yêu cầu đạt được kết quả tốt nhất có thể với nguồn ngân sách đầu vào đã xác định trước
Tính hiệu quả trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thể hiện ở hai khía cạnh là hiệu quả chung do những quy định pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tạo ra và hiệu quả khi xem xét những chi phí trong quá trình thực hiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Tính hiệu quả trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được thể hiện là có
sự phân công trách nhiệm chi ngân sách rõ ràng, gắn với nguồn lực trách nhiệm với quyền hạn của từng [5]
Bốn là, đảm bảo tính công bằng: Công bằng trong phân cấp quản lý ngân sách
nhà nước cho các đơn vị dự toán được đặt ra bởi giữa đơn vị dự toán trong từng ngành, từng lĩnh có những đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ khác nhau, bản thân các đơn vị dự toán trong cùng một ngành, một lĩnh vực cũng có những điều kiện tự nhiên và xã hội không hoàn toàn tương đồng nhau Do vậy, những quy định về phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước phải tính đến tính đặc thù của từng đơn vị dự toán
để đảm bảo tính công bằng
Năm là, đảm bảo tăng cường hiệu lực quản lý, kiểm soát ngân sách nhà nước:
để đảm bảo tăng cường hiệu lực quản lý, kiểm soát ngân sách nhà nước cần xây dựng một thiết chế kiểm soát ngân sách nhà nước có mức độ độc lập cao hơn, cũng như có thẩm quyền xử lý các vi phạm trong quản lý ngân sách
1.2.2 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán
Cũng giống như phân cấp quản lý ngân sách cho các cấp chính quyền, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách được xem xét trên bốn nội dung chủ yếu sau:
Nội dung thứ nhất, phân cấp về thẩm quyền ban hành luật pháp, chính sách, tiêu chuẩn, định mức ngân sách nhà nước
Trong công tác quản lý ngân sách nhà nước thì những quy định về luật pháp, chính sách, tiêu chuẩn, định mức ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng Quy định luật pháp, chính sách, tiêu chuẩn, định mức ngân sách nhà nước không chỉ là những căn cứ quan trọng để xây dựng dự toán ngân sách nhà nước, kiểm soát thu chi ngân sách mà còn là một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng quản lý và điều hành ngân sách nhà nước của đơn vị dự toán các cấp
Trang 27Nội dung thứ hai, phân cấp quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước là nội dung quan trọng trong các quy định về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Cụ thể đó
là việc xác định đơn vị dự toán ngân sách ở từng cấp được thu những khoản nào và thực hiện những nhiệm vụ chi cụ thể nào trong quá trình quản lý ngân sách nhà nước Phân cấp quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước là vấn đề phức tạp và khó khăn khi tiến hành phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán Sự khó khăn này bắt nguồn từ sự khác biệt về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội giữa các đơn vị dự toán
Nội dung thứ ba, phân cấp quản lý thực hiện chu trình ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thể hiện mối quan hệ giữa các cấp ngân sách trong một chu trình ngân sách nhà nước bao gồm các giai đoạn: lập dự toán ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách
Yêu cầu của nội dung này đặt ra là giải quyết mối quan hệ về mức độ tham gia, điều hành và kiểm soát của các cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý nhà nước
và các cơ quan chuyên môn trong từng khâu quản lý chu trình ngân sách
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thể hiện mối quan hệ giữa các cấp ngân sách trong một chu trình ngân sách nhà nước bao gồm các giai đoạn: chuẩn bị ngân sách, lập ngân sách, duyệt và thông qua ngân sách, chấp hành ngân sách, quyết toán ngân sách, thanh tra, kiểm tra ngân sách Trong mối quan hệ này thẩm quyền cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, địa phương và các cơ quan chuyên môn là thể hiện tính chất của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trong toàn bộ hệ thống ngân sách nhà nước
Xét theo yếu tố quyền lực, chu trình ngân sách nhà nước là sự cụ thể hóa quyền lực của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân sách của các cơ quan trong
bộ máy nhà nước bao gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân địa phương, Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ
Phân cấp quản lý trong thực hiện chu trình ngân sách nhà nước được thể hiện trong ba giai đoạn của chu trình ngân sách nhà nước, đó là:
Trang 28Giai đoạn lập dự toán ngân sách nhà nước: bao gồm giai đoạn chuẩn bị lập dự toán ngân sách nhà nước, giai đoạn thẩm tra, xem xét, thảo luận, quyết định phê chuẩn dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước
Giai đoạn chấp hành ngân sách nhà nước: bao gồm từ việc tổ chức thu ngân sách, tổ chức chi ngân sách, cấp phát kinh phí đến các công việc kiểm tra, giám sát việc chấp hành ngân sách
Giai đoạn quyết toán ngân sách nhà nước: Bao gồm các công việc ghi chép sổ sách, công tác kế toán, kiểm toán thu chi ngân sách sau khi dự toán ngân sách đã được thực hiện trong thực tế
Các giai đoạn của Chu trình ngân sách nhà nước nói trên gắn liền với các quyền quyết định, quyền quản lý, quyền kiểm tra giám sát, quyền tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Nội dung thứ tư, phân cấp trong giám sát, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước
Phân cấp trong giám sát, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước là việc phân định nhiệm vụ quyền hạn của mỗi cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền
về giám sát, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước nhằm mục đích quản lý ngân sách nhà nước đạt được những mục tiêu đề ra
Phân cấp về tổ chức bộ máy thực hiện: Thực hiện quyền giám sát ngân sách nhà nước thì có các cơ quan như Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân ở địa phương, các Ban của Hội đồng nhân dân ở địa phương Thực hiện quyền thanh tra ngân sách nhà nước thì có Thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên ngành tài chính Thanh tra nhà nước thì có bộ máy Thanh tra Chính phủ ở trung ương và Thanh tra nhà nước ở địa phương Thanh tra tài chính thì có thanh tra Bộ Tài chính, thanh tra của Tổng cục thuế, thanh tra của Kho bạc nhà nước ở trung ương và thanh tra Sở Tài chính, thanh tra của Cục thuế, thanh tra của Kho bạc nhà nước ở địa phương
Phân cấp về những công việc liên quan đến giám sát, thanh tra và kiểm toán ngân sách nhà nước: hoạt động giám sát, thanh tra và kiểm toán cần được thực hiện trước, trong và sau của chu trình ngân sách nhà nước (bao gồm các công việc liên quan đến ba giai đoạn của chu trình ngân sách nhà nước đó là lập dự toán ngân sách
Trang 29nhà nước, chấp hành ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách nhà nước) Tức
là, công việc giám sát, thanh tra và kiểm toán luôn luôn được thực hiện cùng với quá trình quản lý ngân sách nhà nước, có như vậy mới làm cho công tác quản lý ngân sách nhà nước đạt được hiệu quả như mong muốn
Phân cấp về hình thức thực hiện: Hoạt động giám sát được thực hiện thông qua các hình thức: nghe và đánh giá báo cáo về ngân sách nhà nước, chất vấn và yêu cầu giải trình, tổ chức đoàn giám sát chung, giám sát chuyên đề, giám sát đột xuất, cử thành viên Đoàn giám sát đi xác minh các vấn đề liên quan ngân sách nhà nước
Theo Luật Thanh tra số 56/2010/QH12: “Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước và thanh tra chuyên ngành” Theo Luật Kiểm toán nhà nước thì hoạt động kiểm toán ngân sách nhà nước được thực hiện dưới các hình thức như kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động
Nội dung kiểm toán báo cáo tài chính là động thu, chi ngân sách nhà nước của các đơn vị Nội dung kiểm toán tuân thủ là việc chấp hành Luật ngân sách nhà nước, Luật kế toán, các luật thuế và văn bản quy phạm pháp luật khác và tình hình chấp hành nội quy, quy chế của đơn vị Nội dung kiểm toán hoạt động là về tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động, việc bảo đảm, quản lý và sử dụng các nguồn lực, hệ thống kiểm soát nội bộ, Các chương trình, dự án; các hoạt động của đơn vị được kiểm toán, tác động của môi trường bên ngoài đối với tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của đơn vị
Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định loại hình kiểm toán của từng cuộc kiểm toán Ngoài ra, loại hình kiểm toán nào được thực hiện là theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
1.2.3 Yêu cầu nâng cao hiệu quả phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán
Luật ngân sách nhà nước đảm bảo nguyên tắc tập trung, dân chủ và yêu cầu quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia của Nhà nước, có phân cấp quản lý giữa
Trang 30các ngành, các cấp, các đơn vị dự toán là nội dung cơ bản trong quản lý ngân sách nhà nước Triển khai theo nội dung đó là những công việc hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu, rút kinh nghiệm để không ngừng nâng cao vai trò chủ đạo của ngân sách nhà nước trong hệ thống tài chính, là cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho Nhà nước thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình là quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế - xã hội Muốn vậy, vấn đề đòi hỏi khách quan hiện nay
là phải không ngừng hoàn thiện nâng cao hiệu quả phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán theo những nội dung chủ yếu sau:
Yêu cầu hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhằm phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của từng cấpđơn vị dự toán trong quản lý ngân sách nhà nước
Việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải phân định rõ ràng phạm vi, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị dự toán trong hệ thống ngân sách nhà nước
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về phân cấp quản
lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách, có thể thấy bên cạnh việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho chính quyền các cấp thì việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của các đơn vị dự toán ngân sách trong quản lý ngân sách nhà nước phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế- xã hội là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước Nội dung của chương 1, là sự khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý ngân sách, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và qua từng thời
kỳ Từ đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn nỗ lực tạo ra một khung pháp lý ổn định, đồng bộ và thống nhất cho việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC
ĐƠN VỊ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH TRONG NGÀNH
KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nhà nước cần tổ chức hệ thống chính quyền nhà nước các cấp từ trung ương đến cơ sở Mỗi cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao trên một địa bàn hành chính lãnh thổ cần phải có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cơ sở vật chất và các phương tiện tài chính Vì vậy, bộ máy tổ chức, địa vị pháp lý cũng như chức năng nhiệm vụ về quản lý nhà nước của các cấp chính quyền, các đơn vị dự toán là một trong các căn cứ cơ bản để phân cấp quản lý trong lĩnh vực ngân sách nhà nước
2.1 Khái quát về Viện kiểm sát nhân dân
Ngành Kiểm sát nhân dân là một thiết chế đặc thù Từ khi thành lập năm 1960 đến nay, ngành Kiểm sát nhân dân luôn là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương
2.1.1 Chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động
tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự
Kiểm sát các hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong việc giải quyết
vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức
Trang 32khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật
2.1.2 Tổ chức, bộ máy Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát Nhân dân Việt Nam là một hệ thống độc lập và được tổ chức ở bốn cấp, gồm:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có các Viện kiểm sát quân sự, gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương
Viện kiểm sát quân sự cấp Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn…
Viện kiểm sát quân sự khu vực
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm soát các hoạt động tư pháp, góp phần đẩm bảo cho pháp luật được chấp hành hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình
Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật
Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ quyết định trái pháp luật của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới
Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương thành lập Ủy ban kiểm sát để thảo
Trang 33luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng, cho ý kiến về các vụ án, vụ việc trước khi Viện trưởng quyết định theo quy định
2.1.3 Đặc điểm hoạt động ngân sách nhà nước tại ngành Kiểm sát nhân dân
Một là, ngân sách nhà nước trong ngành Kiểm sát nhân dân đảm bảo hoạt động
của hệ thống bộ máy ngành Kiểm sát nhân dân Cùng với hệ thống Tòa án nhân dân, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương (đến cấp huyện) Nhà nước bảo đảm cấp phát nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có thể hoạt động và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước phân công Do đó chi trong lĩnh vực này phải phản ánh đặc thù ngành Các khoản chi đặc thù nhằm đảm bảo cho các hoạt động đặc thù của ngành và được phân ra:
- Kinh phí thực hiện tự chủ: Lương và các khoản đóng góp theo lương, chi thường xuyên theo định mức
- Kinh phí không thực hiện tự chủ: Chi trang phục; chi thuê luật sư nhân chứng;
hỗ trợ chi Kiểm sát xét xử án điểm, án lớn, xét xử lưu động; hỗ trợ công tác kiểm sát tạm giam, tạm giữ; hỗ trợ khám nghiệm hiện trường, tử thi; hỗ trợ điều tra xác minh giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, án tử hình; chi mua sắm theo đề án; chi đào tạo bồi dưỡng cán bộ;v.v
Hai là, ngân sách được nhà nước giao hàng năm cho ngành Kiểm sát nhân dân
nhằm thực hiện đúng, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ chính trị, an ninh mà Đảng và Nhà nước đã giao cho ngành Bảo đảm nguồn tài chính cho chi phí xây dựng hệ thống trụ
sở, bảo đảm cuộc sống cho từng cán bộ ngành Kiểm sát từ cấp trung ương cho đến các huyện địa phương
Ba là, kinh phí hoạt động của hệ thống ngành Kiểm sát nhân dân chủ yếu được
cấp từ nguồn ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương) nên việc quản lý ngân sách nhà nước chủ yếu là trong hoạt động chi ngân sách nhà nước Toàn bộ hệ thống ngành Kiểm sát nhân dân từ trung ương đến địa phương bám sát nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước nhằm hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó và do Đảng và Nhà nước quản lý
2.1.4 Cơ chế quản lý tài chính trong ngành Kiểm sát nhân dân
Hầu hết các đơn vị dự toán trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bao gồm: Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cục điều tra (Cục 1), Cục thống kê tội
Trang 34phạm và công nghệ thông tin (Cục 2), Cục kế hoạch- Tài chính (Cục 3), Viện khoa học kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, tại Đà Nẵng, tại thành phố Hồ Chí Minh, 63 Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và 718 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện đều áp dụng cơ chế quản lý tài chính theo quy định tại Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước còn lại 05 đơn vị, bao gồm: Báo bảo vệ pháp luật, Tạp chí kiểm sát, Trường đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học kiểm sát, Viện khoa học kiểm sát áp dụng cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định tại Nghị định 13/2006/NĐ-CP ngày 15/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Tuy nhiên, các đơn vị này là các đơn vị sự nghiệp đặc thù chủ yếu phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Ngành Kiểm sát nhân dân và mới chỉ đảm bảo được một phần chi phí hoạt động thường xuyên
2.1.5 Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước trong ngành Kiểm sát nhân dân
Quản lý ngân sách nhà nước trong ngành Kiểm sát nhân dân phải đảm bảo nguyên tắc chung của quản lý ngân sách nhà nước đồng thời có nguyên tắc riêng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước, việc quản lý chi ngân sách nhà nước trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, nguyên tắc thống nhất: mọi khoản chi phải đưa vào kế hoạch ngân sách
tổng thể, thống nhất của toàn ngành và thống nhất về nội dung, định mức, chế độ chi tiêu của nhà nước đồng thời thống nhất theo quy trình chung từ lập kế hoạch, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, quyết toán, xử lý vướng mắc trong quá trình thực hiện Thực hiện nguyên tắc này sẽ đảm bảo tính bình đẳng, công bằng, hiệu quả, hạn chế những tiêu cực, rủi ro có tính chất chủ quan trong quyết định chi tiêu ngân sách
Hai là, nguyên tắc tập trung dân chủ: Tập trung nhằm giải quyết những vấn đề về
quản lý ngân sách của ngành, đảm bảo việc chi ngân sách cấp dưới phải chịu sự chỉ đạo, điều hành của ngân sách cấp trên và ngân sách cấp trên có quyền quản lý, kiểm tra, giám sát toàn bộ các hoạt động trong chu trình ngân sách của cấp dưới Dân chủ thể hiện trên mặt các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới được tham gia trong suốt quá trình thực hiện chi ngân sách của ngành giúp cho việc chi ngân sách được công khai,
Trang 35minh bạch theo phân cấp quản lý, có quyền quản lý và quyết định chi ngân sách nhà nước cấp mình
Ba là, nguyên tắc công khai tài chính: Công khai tài chính là biện pháp nhằm phát
huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, kiểm sát viên, kiểm tra viên trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước Lãnh đạo đơn vị Nguyễn tắc công khai tài chính là việc công khai định mức phân bổ kinh phí, công khai dự toán phân bổ, công khai báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính một cách đầy đủ, chính xác kịp thời nhằm cung cấp các thông tin cho mọi người trong đơn vị biết
Bốn là, nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm: Ngân sách nhà nước cấp cho ngành
Kiểm sát nhân dân là nguồn lực chi của nhà nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước nên phải có nguyên tắc yêu cầu trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong quản lý chi ngân sách nhà nước Nguyên tắc này quy đinh, đề cao, đòi hỏi trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị, các nhân được giao, phân công nhiệm vụ thực hiện quản lý chi ngân sách nhà nước, trách nhiệm đối với nhà nước, trách nhiệm đối với công chúng, xã hội, người dân…
Năm là, nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước theo dự toán: Dự toán chi
ngân sách là kế hoạch chi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được coi là chỉ tiêu pháp lệnh Khi thực hành chi ngân sách nhà nước phải căn cứ vào dự toán để không vượt dự toán cũng như không chi sai các khoản mục trong dự toán Bởi
vì dự toán chi ngân sách nhà nước là giới hạn tối đa được chi kể cả trong tổng mức và
cơ cấu chi tiết các khoản mục Nguyên tắc này đòi hỏi sự tuân thủ tuyệt đối cả trong chu trình ngân sách (từ khâu lập dự toán, chấp hành sử dụng ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách) Dự toán cũng là cơ sở để cho các đơn vị dự toán làm căn cứ chấp hành sử dụng và quyết toán kinh phí, dự toán chi ngân sách lập theo khoản mục nào thì sử dụng và quyết toán theo đúng khoản mục đó
Sáu là, nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những
nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính nói chung và quản lý chi thường xuyên NSNN của ngành Kiểm sát nhân dân nói riêng bởi lẽ nguồn lực thì luôn
có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có giới hạn Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán sao cho với chi phí thấp nhất nhưng phải đạt được kết quả cao nhất Mặt khác do đặc thù hoạt động chi thường xuyên
Trang 36NSNN của ngành Kiểm sát nhân dân diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp, nhu cầu chi thường xuyên ngân sách nhà nước của ngành luôn gia tăng nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả Nguyên tắc này chỉ có thể đảm bảo hiệu quả khi thực hiện tốt các nội dung như: Phải xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp, đáp ứng các hoạt động đặc thù nghiệp vụ của Ngành, có sự phù hợp nhất định đối với từng vùng, miền hay tính chất công việc; phải có tính thực tiễn cao; lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao
2.2 Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách ngành Kiểm sát nhân dân
2.2.1 Tổ chức phân cấp đơn vị dự toán trong ngành Kiểm sát nhân dân
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo ngành dọc, không lệ thuộc vào các cơ quan hành pháp về chuyên môn, nghiệp vụ, nhưng Ngân sách nhà nước lại được Nhà nước thống nhất quản lý thông qua Bộ Tài chính là cơ quan chuyên môn trực thuộc Chính phủ Việc tiếp nhận, quản lý chi ngân sách nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý nhà nước thông qua sự quản lý thống nhất của Bộ Tài chính Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao là chủ thể quản lý và có nhiệm vụ tổ chức tiếp nhận và quản lý ngân sách theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp theo Luật định Viện kiểm sát nhân dân tối cao là đơn vị dự toán cấp I, trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ giao Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc; chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của toàn ngành theo quy định
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là các đơn vị
dự toán cấp II Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được sự ủy quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận và giao dự toán cho các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc, đồng thời chịu trách nhiệm về việc tổ chức công tác kế toán, quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán, quyết toán của các đơn vị cấp dưới trực thuộc
Các đơn vị trực tiếp thụ hưởng ngân sách nhà nước bao gồm Văn phòng Viện KSND tối cao, các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Cục 1, Cục 2, Cục 3, Viện khoa học kiểm sát, Trường đại học kiểm sát Hà Nội, Trường đào tạo bồi
Trang 37dưỡng nghiệp vụ kiểm sát TP Hồ Chí Minh, Báo bảo vệ pháp luật, Tạp chí kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh), Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các Viện kiểm sát nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là đơn vị dự toán cấp III Các đơn vị dự toán cấp III trực tiếp nhận dự toán từ đơn
vị dự toán cấp trên quản lý, chịu trách nhiệm về việc tổ chức thực hiện công tác kế toán, quyết toán ngân sách của cấp mình
Việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân dựa trên các căn cứ: Luật ngân sách nhà nước, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Nghị định Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật ngân sách nhà nước, Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định Chính phủ Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong công tác tổ chức và phân cấp quản
lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân
Hình 2.1: Tổ chức đơn vị dự toán ngân sách ngành Kiểm sát nhân dân
Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Đơn vị dự toán cấp I VKSNDTC
Văn phòng VKSND tối cao
(đơn vị dự toán cấp II)
Văn phòng đại diện phía
Các đơn vị dự toán cấp III trực thuộc:
1 Tạp chí kiểm sát
2 Báo bảo vệ pháp luật
3 Trường đại học kiểm sát Hà Nội
4 Phân hiệu trường ĐTBD nghiệp vụ kiểm sát tại TPHCM
5 Cục 1, Cục 2, Cục 3
6 viện khoa học kiểm sát
7 Viện cấp cao tại Hà Nội
8 Viện cấp cao tại Đà Nẵng
9 Viện cấp cao tại TP.HCM
Trang 382.2.2 Thực trạng phân cấp thẩm quyền ban hành, chính sách, tiêu chuẩn và định mức ngân sách nhà nước trong ngành Kiểm sát nhân dân
Để đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong lĩnh vực thu đối với mọi công dân, mọi tổ chức kinh tế xã hội, Luật ngân sách nhà nước quy định chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành và bổ sung, sửa đổi các chính sách thu ngân sách nhà nước
Về định mức phân bổ ngân sách nhà nước: định mức phân bổ ngân sách nhà nước là các định mức dùng để xác định nhu cầu chi của các cơ quan, đơn vị Định mức này được xác định trên cơ sở khả năng ngân sách và các tiêu chí, định mức phân bổ Hàng năm, trên cơ sở kinh phí nhà nước được giao, căn cứ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi ngân sách nhà nước
và khả năng ngân sách nhà nước của từng năm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành các quy định về nguyên tắc và định mức phân bổ cho phù hợp với từng năm ngân sách, áp dụng thống nhất trong toàn ngành Kiểm sát nhân dân Trong đó ưu tiên thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tăng cường kinh phí cho hoạt động của các đơn vị thuộc khu vực miền núi cao, hải đảo Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với cơ quan tư pháp Trung ương đề nghị và được cấp có thẩm quyền quyết định phân bổ tách khoản chi thường xuyên và chi lương để tăng kinh phí chi thường xuyên cho các cơ quan tư pháp Trên cơ sở kinh phí được cấp và định mức chi của Ngân sách, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã xây dựng định mức chi ngâ sách đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ và phù hợp hoạt động của các đơn vị dự toán trong toàn ngành, bảo đảm kinh phí phục vụ công tác và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về cải cách tư pháp Việc quản lý và sử dụng ngân sách bảo đảo chặt chẽ, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, tiết kiệm, hiệu quả
Theo đó, từ năm 2012 đến năm 2015, định mức phân bổ dự toán của ngành Kiểm sát nhân dân thực hiện theo Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách năm 2011 Để cụ thể hóa Quyết định 59 và phù hợp với tính chất nhiệm vụ của từng đơn vị, từng cấp dự toán, từng năm ngân sách Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành các Quyết định số 1491/QĐ-VKSTC-V11 ngày 27/12/2011 về định mức phân bổ dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 áp dụng thống nhất trong ngành Kiểm sát nhân dân, Quyết định số 646/QĐ-VKSTC-V11 ngày 27/12/2012 về
Trang 39ban hành định mức phân bổ dự toán ngân sách nhà nước năm 2013, Quyết định số 688/QĐ-VKSTC-V11 ngày 27/12/2013 về ban hành định mức phân bổ dự toán ngân sách nhà nước năm 2014, Quyết định số 20/QĐ-VKSTC-V11 ngày 13/01/2015 về ban hành định mức phân bổ dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 Định mức phân bổ dự toán làm căn cứ để phân bổ dự toán cho các đơn vị đảm bảo đủ kinh phí để chi thanh toán cá nhân, chi thường xuyên, chi sửa chữa mua sắm tài sản thường xuyên và chi các hoạt động nghiệp vụ đặc thù
Về định mức, chế độ, tiêu chuẩn chi tiêu ngân sách nhà nước
Chính phủ quyết định những chế độ chi ngân sách quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của cả nước sau khi xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội Quyết định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước
Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu đối với các ngành, lĩnh vực sau khi thống nhất với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực
Do đó, các chế độ chi được thực hiện trong ngành Kiểm sát nhân dân như sau: Chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức trong ngành Kiểm sát nhân dân được thực hiện theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP; Nghị quyết 730/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 30/9/2004 về việc phê chuẩn bảng lương chức vụ, bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo của Nhà nước; bảng lương chuyên môn nghiệp vụ ngành Tòa án, ngành Kiểm sát
Chế độ phụ cấp kiểm sát viên, kiểm tra viên ngành Kiểm sát được thực hiện theo Quyết định số 138/2005/QĐ-TTg ngày 13/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với Kiểm sát viên, điều tra viên, kiểm tra viên ngành Kiểm sát; Chế độ phụ cấp thâm niên nghề thực hiện theo Nghị định số 76/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 04/2009/TTLT-BNV-BTC ngày 24/12/2009 của Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên nghề đối với cán bộ, công chức đã được xếp lương theo các ngạch hoặc chức danh chuyên ngành tòa án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự và kiểm lâm
Chế độ công tác phí được thực hiện theo quy định tại Thông tư số BTC
Trang 4097/2010/TT-Một số chế độ đặc thù khác
Chế độ bồi dưỡng phiên toà căn cứ theo Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự;
Chế độ bồi dưỡng tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự theo Quyết định số 73/2007/QĐ-TTg;
Chế độ bồi dưỡng trực nghiệp vụ theo quyết định số 985/2007/QĐ-VKSTC-V11; Chế độ bồi dưỡng tham gia thi hành án tử hình theo Nghị định số 82/2011/NĐ-CP;
Chế độ bồi dưỡng làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh Căn cứ theo Thông tư liên tịch số 46/2012/TTLT-BTC-TTCP ngày 16/3/2012 của Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ quy định chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
Bên cạnh đó, Ngành cũng đang tích cực phối hợp với các Bộ, ngành chức năng trình Thủ tướng một số chế độ như: Chế độ bồi dưỡng đối với kiểm sát viên làm nhiệm
vụ chuyên trách đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý; chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức làm nhiệm vụ kiểm sát nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam; chế độ bồi dưỡng đối với kiểm sát viên tham gia phiên họp dân sự
2.2.3 Thực trạng phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước trong ngành Kiểm sát nhân dân
Nguồn thu ngân sách của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân chủ yếu là nguồn phân bổ từ dự toán ngân sách nhà nước - Ngân sách trung ương (bao gồm cả chi thường xuyên và chi cho đầu tư XDCB), ngân sách địa phương chỉ hỗ trợ một phần rất nhỏ cho hệ thống Viện kiểm sát nhân dân vì không giống với một số bộ, ngành khác các đơn vị dự toán ngân sách trong ngành Kiểm sát nhân dân thuộc hệ thống cơ quan ngành dọc được quản lý thống nhất kể cả về chuyên môn nghiệp vụ cũng như kinh phí hoạt động Do đó, ngoài Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng nhân dân đã đưa vào nghị quyết cơ chế hỗ trợ kinh phí nghiệp vụ chuyên môn và kinh phí đầu tư xây dựng trụ ở cho Viện kiểm sát nhân dân các cấp đóng trên địa bàn còn lại hầu hết các tỉnh thành khác đều không có cơ chế hỗ trợ kinh phí cho Viện kiểm sát hoặc nếu có hỗ trợ thì kinh phí cũng rất ít