1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

NGHIÊN CỨU SỰ GÂY HẠI CỦA RUỒI ĐỤC LÁ Liriomyza sativae (AGROMYZIDAE DIPTERA) ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG CẢI NGỌT TRANG NÔNG

82 336 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu sự gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae Agromyzidae: Diptera đến sinh trưởng và năng suất của giống cải ngọt Trang Nông” được tiến hành tại tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU SỰ GÂY HẠI CỦA RUỒI ĐỤC LÁ Liriomyza

sativae (AGROMYZIDAE - DIPTERA) ĐẾN SINH

TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG

CẢI NGỌT TRANG NÔNG

Họ và tên sinh viên: TRƯƠNG ĐÌNH NGUYÊN Ngành: NÔNG HỌC

Tháng 09/2007

Trang 2

NGHIÊN CỨU SỰ GÂY HẠI CỦA RUỒI ĐỤC LÁ Liriomyza sativae

(AGROMYZIDEA - DIPTERA) ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ

NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG CẢI NGỌT

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Con thành kính khắc ghi công ơn sinh thành và dưỡng dục của ba mẹ

Xin tri ân đến gia đình đã động viên tinh thần, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con trong việc học tại trường

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đở của ba mẹ, thầy cô, bạn bè

Em xin chân thành biết ơn:

 Ban giám hiệu trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh  Ban chủ nhiệm cùng thầy cô trong khoa Nông Học đã quan tâm giúp

đở và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Em xin gữi lòng biết ơn sâu sắc đến:

 Ths Trần Thị Thiên An, người đã tận tình hướng dẫn và cho em những

lời khuyên quý báu giúp em hoàn thành khoá luận này

Thành phố Hồ Chí Minh, 09/2007 Sinh viên thực hiện

Trương Đình Nguyên

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu sự gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae

(Agromyzidae: Diptera) đến sinh trưởng và năng suất của giống cải ngọt Trang Nông” được tiến hành tại trại thực nghiệm Khoa Nông Học - Trường Đại Học Nông

Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, thời gian từ tháng 02/2007 đến tháng 09/2007 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên

Ruồi đục lá Liriomyza sativae là loài đa thực gây hại trên nhiều loại cây trồng

khác nhau trong đó có cây cải ngọt Nhằm xác định được mức độ gây hại của ruồi đục

lá Liriomyza sativae ảnh hưởng đến khả năng cho năng suất của cây cải ngọt Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy: ruồi đục lá Liriomyza sativae gây hại ở cả 2 giai đoạn:

giai đoạn sâu non (dòi) và giai đoạn trưởng thành

1 Mức độ gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae trong lồng lưới

Số đường đục: tùy thuộc mật số ruồi thả vào các nghiệm thức thí nghiệm, mật

số ruồi càng cao thì số đường đục càng nhiều

Tỷ lệ lá bị hại (%): Tuỳ thuộc vào các mật độ ruồi trưởng thành thả vào ban đầu

ở các nghiệm thức thí nghiệm Mật độ ruồi đục lá càng cao thì tỉ lệ lá bị hại càng tăng

Tương quan giữa số đường đục và năng suất, tương quan giữa tỷ lệ lá bị hại với năng suất

2 Ảnh hưởng của ruồi đục lá Liriomyza sativae đến sự sinh trưởng của cây cải

ngọt

Ruồi đục lá gây hại làm giảm khả năng ra lá của cây, số lá/cây tỷ lệ nghịch với mật độ ruồi đục lá thả vào ban đầu ở các nghiệm thức

3 Ảnh hưởng của ruồi đục lá Liriomyza sativae đến một số yếu tố cấu thành năng

suất và năng suất cây cải ngọt

Ruồi đục lá làm giảm năng suất rỏ rệt, những đường đục của sâu non làm ảnh hưởng đến phẩm chất của cây

Kết quả thu được:

Ở NT 2con/ cây thì tỷ lệ đường đục của sâu non ít ảnh hưởng đến năng suất nhất

Trang 5

Ở NT 16con/ cây thì tỷ lệ đường đục của sâu non ảnh hưởng nhiều nhất đến năng suất

Trên cơ sở đó nhằm tìm ra được hướng giải quyết phù hợp, và có thể khống chế, ngăn chặn kịp thời dịch hại lây lan, đem lại hiệu quả kinh tế cho người làm vườn

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i Cảm tạ ii Tóm tắt iii Mục lục v Danh sách các chữ viết tắt viii

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá Liriomyza sativae ở nước

ngoài

2.1.1 Nghiên cứu thành phần, sự phân bố, kí chủ và mức độ gây hại

của ruồi đục lá Liriomyza spp 4

2.1.1.1 Nghiên cứu thành phần và sự phân bố của ruồi đục lá

Liriomyza spp 4

2.1.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến sự phát sinh

gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae 8

Trang 7

2.2 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá Liriomyza sativae

ở trong nước 14

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Địa điểm và thời gian thực hiện 17

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Mức độ gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae trên cây cải ngọt

4.2 Tỷ lệ lá cải ngọt bị hại 28

4.3 Ảnh hưởng của ruồi đục lá Liriomyza sativae đến sự sinh trưởng

của cây cải ngọt 29

4.4 Ảnh hưởng của ruồi đục lá Liriomyza sativae đến năng suất

cây cải ngọt 30 4.4.1 Ảnh hưởng của ruồi đục lá đến năng suất thực thu cây cải ngọt 30

4.4.2 Ảnh hưởng của ruồi đục lá đến năng suất thương phẩm

cây cải ngọt 33 4.4.3 Tương quan giữa số đường đục và năng suất 35

Trang 8

Phụ lục 2 Đồ thị 48

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NT: Nghiệm thức

RĐL: Ruồi đục lá

TLLBH: Tỉ lệ lá bị hại

NTD: Ngày theo dõi

NSG: Ngày sau gieo

TGTD: Thời gian theo dõi

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1: Sự phân bố ruồi đục lá Liriomyza sativae trên thế giới 7

Hình 3.1: Lồng lưới thí nghiệm 18

Hình 3.3: Toàn cảnh khu bố trí thí nghiệm 22

Hình 4.1: Lá cây cải ngọt bị ruồi đục lá hại nhẹ 26

Hình 4.2: Lá cây cải ngọt bị ruồi đục lá hại nặng 26

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Vòng đời của ruồi đục lá Liriomyza sativae Blanchard 15

Bảng 2.2: Phổ ký chủ của ruồi đục lá Liriomyza sativae 16

Bảng 4.1: Số đường đục của ruồi đục lá ở các nghiệm thức thí nghiệm 27

Bảng 4.2: Tỷ lệ lá cải ngọt bị hại trên các nghiệm thức thí nghiệm 28

Bảng 4.3: Số lá cải ngọt trên các nghiệm thức thí nghiệm 29

Bảng 4.5: Năng suất thực thu quy đổi của cây cải ngọt 30

Bảng 4.6: Ảnh hưởng của ruồi đục lá Liriomyza sativae đến mức

giảm năng suất của cây cải ngọt 32 Bảng 4.7: Năng suất thương phẩm của cây cải ngọt 33

Bảng 4.8: Năng suất thương phẩm quy đổi của cây cải ngọt 33

Bảng 4.9: Tương quan giữa số đường đục và năng suất thương phẩm 35

Trang 12

Chương 1

GIỚI THIỆU CHUNG

1.1 Đặt vấn đề

Nhiều năm trước đây, ruồi đục lá Liriomyza sativae đã được xem là một trong

những loài dịch hại phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Ruồi

đục lá rau Liriomyza sativa có nguồn gốc ở Bắc Mỹ và các vùng cận nhiệt đới như

nam Mexico và Đông Ấn Độ Khoảng từ 1970 đến nay chúng đã được lây lan theo nhiều con đường khác nhau và đã trở thành một trong những dịch hại phổ biến trên các cây rau màu ở nhiều nước trên thế giới Khi gây hại ở trên các cây kí chủ, ruồi đục lá

Liriomyza sativa, không làm tổn thương cho hoa và quả nhưng chúng làm thất thu năng

suất và giá trị thương phẩm của cây vì các đường đục của sâu non (dòi) trên lá đã làm cho quang hợp của cây bị giảm sút (Johnson, 1983; Parrella, 1985-1987) Sâu non của ruồi đục

lá ăn vào mô biểu bì của cây ký chủ tạo thành những đường đục ngoằn nghoèo, nếu số lượng nhiều thì sẻ ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây ký chủ

Nhưng tùy theo cây ký chủ, ruồi đục lá đã làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây ở nhiều mức độ khác nhau Ở giai đoạn cây mới chỉ có vài lá thật nếu bị ruồi đục lá gây hại sớm thì sẻ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh truởng của cây con, sẻ làm cho cây bị héo vàng ảnh hưởng đến quang hợp của cây, còn như khi cây trồng đã sinh trưởng và phát triển tốt thì một khi bị ruồi đục lá gây hại với mật số sâu non ít thì cũng sẽ ít ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng của cây

Tuy nhiên người trồng rau đã gặp rất nhiều khó khăn bởi sự gây hại các loài

dịch hại Trong đó nhóm ruồi đục lá Liriomyza sativae đã làm ảnh hưởng đến khả năng

sinh trưởng và năng suất của cây cải ngọt Loài dịch hại này đã phá hại ở hầu hết trên các cây họ thập tự, chúng gia tăng quần thể nhanh chóng và có nơi đã phát triển thành dịch hại nguy hiểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh trưởng cũng như năng suất và chất lượng của các loại rau Hậu quả của loài dịch này làm thiệt hại đáng

kể về kinh tế cho người trồng rau

Trang 13

Cây cải ngọt là một trong những loại cây trồng bị ruồi đục lá Liriomyza sativae

tấn công gây hại nặng Tuy nhiên cho đến nay việc điều tra nghiên cứu về các loại sâu

bệnh hại trên cây cải ngọt chưa được nghiên cứu nhiều kể cả ruồi đục lá Liriomyza sativae

Việc tìm hiểu mức độ gây hại của ruồi đục lá trên cây cải ngọt sẻ chỉ ra được ở mật

số dòi là bao nhiêu thì làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây cải ngọt, và qua

đó sẻ tìm ra được hướng giải quyết phù hợp

Đối với ruồi đục lá thì những đường đục của sâu non (dòi) làm ảnh hưởng mẩu

mã, cảm quan của người tiêu dùng, gây thiệt hại đáng kể cho người nông dân, tuy nhiên khi đề tài này được thực hiện sẻ làm rỏ vấn đề ở mật số dòi bao nhiêu thì sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây cải ngọt

Tài liệu nghiên cứu về mức độ gây hại của ruồi đục lá đến sinh trưởng và năng suất cây cải ngọt còn hạn chế do vậy đề tài được tiến hành

Được sự phân công của bộ môn Bảo Vệ Thực Vật – khoa Nông Học - Trường

Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đề tài “Nghiên cứu sự gây hại của ruồi

đục lá Liriomyza sativae (Agromyzidae - Diptera) đến sinh trưởng và năng suất

của giống cải ngọt Trang Nông” đã được thực hiện

1.2 Mục đích và yêu cầu

- Xác định được mức độ gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae trên giống

cải ngọt Trang Nông

- Xác định được ảnh hưởng mật số ruồi đục lá Liriomyza sativae đến khả năng

sinh trưởng của giống cải ngọt Trang Nông

- Xác định được ảnh hưởng mật số ruồi đục lá Liriomyza sativae đến năng suất

của giống cải ngọt Trang Nông

Từ những cơ sở trên xác định được mật độ ruồi đục lá Liriomyza sativae gây hại

ảnh hưởng đến khả năng cho năng suất của giống cải ngọt, để nhằm đưa ra hướng giải quyết cho phù hợp

Trang 14

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: ruồi đục lá Liriomyza sativae và giống cải ngọt Trang Nông

- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu sự gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae đến

sự sinh trưởng và năng suất của giống cải ngọt Trang Nông

1.4 Giới hạn đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu sự gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae đến sự

sinh trưởng và năng suất của giống cải ngọt Trang Nông, trong điều kiện thí nghiệm semi – field ở trại thực nghiệm khoa nông học, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí

Minh

Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2007 đến tháng 09/2007

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá Liriomyza sativae ở nước ngoài

2.1.1 Nghiên cứu thành phần, sự phân bố, kí chủ và mức độ gây hại của ruồi đục

lá Liriomyza spp

2.1.1.1 Nghiên cứu thành phần và sự phân bố của ruồi đục lá Liriomyza spp

Trên thế giới, hiện nay ghi nhận có hơn 300 loài ruồi đục lá thuộc giống

Liriomyza (Agromyzidae – Diptera) gây hại trên một số cây trồng, trong đó có 5 loài rất phổ biến là Liriomyza strigata, Liriomyza bryoniae, Liriomyza trifolii, Liriomyza huidobrensis và Liriomyza sativae (Spencer và ctv, 1973)

Riêng ở một số nước thuộc vùng Đông Nam Á có 3 loài là L trifolii, L sativae

và L huidobrensis đã phát triển thành dịch hại quan trọng trên nhiều vùng trồng rau

và hoa (Shepard và ctv, 1998)

Trong đó loài L sativae thường phân bố gây hại chủ yếu ở các vùng đất thấp (lowland), loài L huidobrensis phân bố gây hại ở vùng đất cao nguyên (highland) còn loài L trifolii thường phân bố gây hại hẹp hơn cả về vùng địa lý và cây kí chủ

(Sasakawa, 1993; Sivapragasam và Syed, 1999)

Theo Rauf (1995) ruồi L huidobrensis đã được ghi nhận là loài gây hại nặng

trên cây cà chua và nhiều cây trồng khác ở một số vùng của Indonesia, chúng đã làm giảm từ 30 đến 70 % sản lượng của một số cây rau và rút ngắn thời gian thu hoạch của chúng sớm hơn từ 2 đến 3 tuần

Ruồi đục lá giống Liriomyza hiện nay đã xác định được 23 loài Trong đó, có một số loài gây hại phổ biến là Liriomyza sativae, Liriomyza trifolii, Liriomyza huidobrensis, Liriomyza brassicae, Liriomyza phasedumata (Henden, 1931 – 1936;

Frick, 1952 - 1959; Savakava, 1961; Spencer, 1971a; Griffiths, 1972b)

Ruồi đục lá Liriomyza sativae đã được tìm thấy nhiều ở phía nam nước Mỹ và

Tahiti, Guam, New Caledonia, American và Western Samoa, Vanuatu, Cook Is, và Hawaii

Trang 16

Theo Spencer (1973) và Parrella (1987), các loài ruồi đục lá Liriomyza sativae, Liriomyza trifolii và Liriomyza huidobrensis đều là các loài sâu hại đa thực và có phổ

kí chủ rộng hẹp tùy theo loài

Năm 1948, ở Florida, ruồi đục lá Liriomyza sativae đã trở thành loại dịch hại

nguy hiểm trên cây cà chua (Wolfenbarger, 1948)

Năm 1950, tại Salt River Valley của bang Arizona, Hill và Taylor đã ghi nhận loài này còn tấn công trên cả cây dưa hấu và dưa đỏ

Ở Nam Mỹ, 2 loài ruồi đục lá Liriomyza sativae và Liriomyza huidobrensis là

những loài phân bố rộng, gây hại trên nhiều loại cây trồng và xuất hiện với mật số lớn (Wilcox và Howland, 1955)

Theo Kalsoven (1981) nguồn gốc của ruồi đục lá Liriomyza sativae tại Châu

Mỹ, sau đó phát tán ra khắp thế giới

Cũng theo tác giả này, ruồi đục lá Liriomyza sativae là loài gây hại nặng trên

cây dưa leo ở vùng đồng bằng phía tây Java

Cả hai loài ruồi đục lá Liriomyza sativae và Liriomyza trifolii là tác nhân gây

hại chính trên cây rau diếp ở thung lũng Yuma Trisona (Palumb; Mullis, và Reyes, 1994)

Năm 1980, ở Pháp ruồi đục lá Liriomyza sativae đã làm thiệt hại hơn 70% sản

lượng của cây cà chua ở vùng Vanuatu (Waterhouse và Norris, 1987)

Theo Johnson et al (1983) sự gây hại nguy hiểm nhất của ruồi đục lá là sâu non

ăn diệp lục lá, thậm chí khi chỉ có một ít đường đục lẻ tẻ trên cây họ Cúc cũng làm

giảm giá trị của sản phẩm khi thu hoạch (Trumble et al, 1985)

Ruồi đục lá Liriomyza sativae là loài sâu đa thực, gây hại trên nhiều loại cây

trồng khác nhau Chúng gây hại từ lá mầm, lá bánh tẻ và cả lá non Sự gây hại của ruồi

đục lá Liriomyza sativae là nguyên nhân làm giảm khả năng quang hợp, từ đó năng

suất cây trồng sẽ bị giảm đi, thậm chí chúng còn làm cho cây chết khi xuất hiện với mật số lớn, Parrella (1987)

Aunu Rauf và B, M, Shepard đã ghi nhận Liriomyza sativae gây hại trên 7 loài

cây trồng thuộc 3 họ thực vật, Parrella (1987)

Ở Israel, Weintraub và Horowitza (1995) đã ghi nhận trưởng thành của ruồi đục

lá L, huidobrensis gây hại trên cây xà lách nặng hơn L trifolii vì chúng còn tạo nên

các chấm sần sùi trên bề mặt lá của cây

Trang 17

Ở Indonesia, Rauf và ctv (2000) cho biết tại vùng Tây Sumatra loài L huidobrensis phá hoại trên cây cà chua đang sinh trưởng phát triển sẽ làm cho khoảng

40% diện tích không cho thu hoạch năng suất

Parrella (1987) đã ghi nhận loài L trifolii có thể gây ảnh hưởng đến cây trồng

Ở Ciwidey, phía tây đảo Java, đậu côve bị ruồi đục lá gây hại nặng sẽ rút ngắn thời gian thu hoạch từ 7 tuần xuống còn 4 tuần

Ở Malaysia theo Sivapragasam và ctv (1992) trong những năm gần đây, ruồi

đục lá L huidobrensis đã gia tăng sự gây hại của chúng một cách nhanh chóng, làm

giảm 30% năng suất của cây đậu Hà Lan

Từ những kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới Michael và P Parrella (1987) đã ghi nhận mức độ gây hại của ruồi đục lá đối với cây trồng bằng 6 cách sau như là:

 Làm rụng trái cà chua và gây ra bệnh cháy xám trái (IPM Manual Group, 1958)

 Làm tác nhân gây bệnh (Geoffrion và Herisset, 1960)

 Giết chết cây con (Elmor J.c và Ranney CA Jn, 1994)

 Làm giảm năng suất của cây (Wolfenbarger, D O., 1947 và LeDieu, M S., Heyler, N L., 1985)

 Làm giảm vẻ đẹp mỹ quan của cây hoa kiểng (Parrella, M P., Allen, W W và Morishita, P., 1981)

 Làm cho một số cây phải chịu là đối tượng kiểm dịch thực vật (Motimer, E A., Powel, D F., Parrella, M P., Bethke, J A., Keil, C B., 1984 và LieBee, G L., 1985)

Theo Wein traub và Horowitz (1995) trong vụ mùa 1994 – 1995 ở Bekah Valley có khoảng 90 ha cần tây bị ruồi đục lá gây hại làm giảm 50% năng suất

Năm 1981, Spencer ghi nhận ruồi đục lá L huidobrensis gây hại trên 11 họ thực

vật, đặc biệt là chúng gây hại nặng trên các cây củ cải, dưa hấu, xà lách, đậu hà lan, cà

chua, khoai tây và ớt, Năm 1999, Rauf và Shepard cho biết ruồi đục lá L huidobrensis

đã hiện diện gây hại trên 45 loài cây thuộc 12 họ thực vật còn loài L sativae thì chỉ

gây hại trên 10 họ thực vật, trong đó các cây dưa hấu, dưa leo, đậu nành, ớt, cà chua, khoai tây, xà lách, cà rốt là những cây bị nhiễm

Năm 1990, Spencer đã ghi nhận có hơn 40 loài cây là ký chủ của L trifolii, trong đó các cây họ cúc, cây cà chua và cây cần tây bị L trifolii gây hại rất nặng

Trang 18

Ở miền Nam Việt Nam, L sativae xuất hiện trong ruộng quanh năm Nhìn chung ở thành phố Hồ Chí Minh, mật số của ấu trùng ruồi đục lá L sativae thấp trong mùa mưa và cao trong mùa khô (Tran và ctv, 2005a)

Cả hai pha ấu trùng và trưởng thành đều gây hại cho cây ký chủ, ấu trùng đục vào lá nằm giữa 2 biểu bì lá ăn diệp lục lá tạo thành những đường đục ngoằn nghoèo làm giảm khả năng quang hợp của lá, trưởng thành ruồi đục lá vừa chích hút dinh

dưởng vừa đẻ trứng vào lá (Parrella và Bethke, 1984)

Nguồn: theo EPPO, EU: Annex I (2006)

Hình 2.1: Sự phân bố ruồi đục lá Liriomyza sativae trên thế giới

Ghi nhận ở quốc gia Ghi nhận không thuộc quốc gia

Hiện diện Hiện diện

Chỉ hiện diện ở một số vùng Chỉ hiện diện ở một số vùng

Trang 19

2.1.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến sự phát sinh gây hại của

ruồi đục lá Liriomyza sativae

Ruồi đục lá gây hại ở một lượng lớn cây trồng nhưng dường như chúng gây hại nhiều nhất là những loại cây trồng thuộc họ bầu bí, họ đậu, họ cà (Stegmaier, 1966a)

Báo cáo cho thấy gần 40 ký chủ thuộc 10 họ ở Florida Trong số nhiều loài cỏ

dại chúng tấn công vào phá hoại, cây cà dược Solanum americanum và Spanishneedles, Bidens alba là ký chủ đặc biệt thích hợp ở Florida, (Schuster et al,

1991) Bao gồm đậu cà tím, tiêu, khoai tây, cà chua, dưa hấu ở California, Oatman (1959) báo cáo một loạt ký chủ giống nhau nhưng chú ý sự thích hợp với loại cây dưa chuột, củ cải đường, đậu hà lan, rau diếp và nhiều loại khác

Trước đây ruồi đục lá được quan tâm nhiều vì đó là loài gây hại nghiêm trọng

cho nông nghiệp nhất ở Bắc Mỹ (Spencer, 1981), nhưng bây giờ Liriomyza trifolii

đáng chú ý hơn

2.1.1.2.2 Mức độ gây hại

Các con cái đẻ trứng và chích hút trên lá gây ra những chấm nhỏ li ti trên lá, nhưng tác hại này thì nhẹ hơn so với những đường đục của sâu non (dòi), các đường đục không đều, ngoằn nghoèo, bề rộng khoảng từ 0,25 - 1,5 mm

Sâu non thường dể nhìn thấy trên đường đục khi chúng di chuyển trên phần thịt

lá giữa hai bề mặt lá, phân của chúng thường phân bố rõ trên những đường dòi đục

Mức độ gây hại của ruồi đục lá đặc biệt nghiêm trọng ở giai đoạn sâu non (dòi), chúng ăn tất cả phần thịt biểu bì lá, tạo ra những đường ngoằn nghoèo làm ảnh hưởng năng suất và phẩm chất của cây trồng (Parrella, 1987)

Nhiều tác giả cho rằng năng suất có thể tăng lên từ 30-60% khi sử dụng thuốc trừ sâu có hiệu quả, nhưng với loài ruồi đục lá thì cách này không hiệu quả

Trang 20

2.1.2 Một số đặc điểm hình thái, sinh học của ruồi đục lá Liriomyza sativae

Kết quả nghiên cứu của Molitas - Colting (2001) và nhiều tác giả khác đã cho biết sự phát triển của ruồi đục lá có 4 giai đoạn: trứng, sâu non, nhộng, ruồi trưởng thành và vòng đời (thời gian từ trứng tới ruồi trưởng thành đẻ trứng) của ruồi đục lá có thể là dưới 3 tuần hoặc là trên 9 tuần phụ thuộc vào nhiệt độ và cây chủ

Ngưỡng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của trứng, sâu non, nhộng được tính khoảng 9-120C Thời gian phát triển của trứng và các giai đoạn của ấu trùng cần đến khoảng 7-9 ngày ở điều kiện thời tiết ấm áp có nhiệt độ từ 25-300C, nhiệt độ tối hảo là 300C, ruồi đục lá hoàn thành sự phát triển từ trứng đến giai đoạn dòi trưởng thành khoảng 15 ngày

o Pha trứng

Có màu trắng đục, hình bầu dục, kích thước của trứng là 0,23 mm x 0,12 mm, trứng nằm ở phía dưới bề mặt của lá và nuôi trong vòng 3 ngày Ruồi đục lá ăn các chất tiết của cây và là nguyên nhân gây ra sự đẻ trứng trên các chất tiết đó, sâu non ăn các mô biểu bì của lá chúng tạo nên các đường đục ngoằn nghoèo, ở cuối mỗi đường đục là có một lổ nhỏ để cho sâu non trưởng thành chui ra trước khi vủ hóa, thông thường thì lổ nhỏ sâu non chui ra nằm ở mặt trên lá, nhưng khi mật độ dòi trên lá quá nhiều thì sâu non sẽ đục lổ chui ra bên dưới mặt lá

Nghiên cứu giai đoạn trứng của ruồi đục lá, một số tác giả đã có nhận xét trứng

của ruồi đục lá Liriomyza spp được đẻ riêng lẻ từng cái ở trong mô lá, có màu trắng

trong khi mới đẻ và khi sắp nở chúng chuyển sang màu mờ đục Thời gian phát dục trứng của ruồi đục lá thường biến động từ 2- 8 ngày (Parrella, 1987) Riêng trứng của

ruồi đục lá L trifolii đã được Tsutomu Saito (1993) xác định là cũng có dạng ôvan,

màu trắng đục, có chiều dài và rộng là 0, 23 mm x 0,12 mm Ngoài ra tác giả này còn cho biết nhiệt độ đã có ảnh hưởng rất rõ rệt đến sự phát dục của trứng Giới hạn nhiệt

độ trên và dưới cho phát dục trứng của ruồi đục lá L trifolii là 35oC và 7 - 13oC

Theo Tsutomu Saito, 1993 đã mô tả: trứng của ruồi đục lá Liriomyza sativae có

dạng hình ôvan, trứng có màu trắng đục

Con cái thường tạo ra các vết chích trên những gân và đầu của lá, nơi không có trứng bám Con cái đẻ 600-700 trong thời gian sống của chúng, mặc dù cũng có một vài ước tính về sự đẻ trứng của ruồi cái cho rằng, ruồi cái đẻ từ 200-300 trứng là điển

Trang 21

hình hơn, con cái có thể đẻ từ 30-40 trứng mỗii ngày nhưng số trứng sẽ giảm dần khi ruồi càng già (trưởng thành)

o Pha sâu non (dòi)

Có 3 giai đoạn hình thành, chiều dài sâu non vào khoảng 2,25 mm, ban đầu ấu trùng gần như không có màu sắc, dần dần trở nên có màu xanh vàng, sau đó có màu vàng Khi trưởng thành có màu đen ở miệng của tất cả các ấu trùng và để phân biệt với

ấu trùng khác Chiều dài và bề rộng trung bình của những chi miệng trong 3 giai đoạn biến thái của sâu non ở thời kỳ ăn là: 0,09( 0,06 - 0,11) mm, 0,15( 0,12 - 0,17) mm, 0,23( 0,19 - 0,25) mm (Parrella, 1987)

Dòi trưởng thành đục một đường có hình bán cầu trên lá từ trước đến khi hình thành nhộng, các đường cắt ở mặt trên lá

Dòi trưởng thành nở ra ở những đường đục trên lá và chui vào đất ở những độ sâu vài cm cho đến khi hình thành nhộng, giai đoạn biến thái thứ 4 của giòi xảy ra vào giữa thời kỳ hình thành nhộng (giả) và sự tạo thành nhộng, nhưng nhiều tác giả bỏ qua giai đoạn này (Parrella, 1987)

Sâu non ruồi đục lá Liriomyza spp có cơ thể dạng dòi, hơi giống hình trụ với

phần trước của cơ thể thì nhọn và phần cuối cơ thể thì tù (Parrella, 1987) Nghiên cứu

về hình thái và sinh học của dòi đục lá L trifolii, Tsutomu Saito (1993) cho biết dòi của L trifolii có màu vàng nhạt và có móc miệng màu đen Theo Fagoonee và Toory

(1983) và Liebee (1984 và 1985) thì dòi của ruồi đục lá sống trong mô diệp lục, khi mới nở ra bắt đầu đục và ăn mô lá thành những đường hầm ngoằn nghoèo hay còn gọi

là đường đục cho đến khi đẫy sức mới chui ra bên ngoài biểu bì lá Ở nhiệt độ trong

nhà lưới, thời gian phát triển pha dòi của nhiều loài Liriomyza spp có thể ngắn chỉ từ

4 - 6 ngày Kết quả nghiên cứu của Fagoonee và Toory (1984) còn cho biết thêm khi dòi đang gây hại trên lá thì chiều rộng và chiều dài của đường đục tỷ lệ với tuổi của

dòi Dung tích mô diệp lục của lá đã bị hủy hoại do dòi L trifolii ở tuổi 3 là gấp 643

lần so với dòi tuổi 1 và sức ăn của dòi tuổi 3 lớn gấp 50 lần so với tuổi 1

Theo Michael P Parrella (1987) sâu non của ruồi đục lá Liriomyza sativae

dạng dòi, sâu non có hình dạng hơi giống hình trụ

Sâu non của ruồi đục lá Liriomyza sativae có màu vàng nhạt, móc miệng có

màu đen (Tsutomu Saito, 1993)

Trang 22

Theo Tauber, (1968) Dùng kích thước của móc miệng dòi để xác định tuổi dòi Theo Jones (1986), Ledieu và ctv (1985) ghi nhận thì số đường đục trên lá của

dòi L trifolii là nguyên nhân chính làm giảm sự quang hợp của lá Theo họ thì dòi của

L trifolii ít có khả năng phân biệt được các cây ký chủ khác nhau, do đó nếu ruồi cái

đẻ trứng trên lá cây không phải là kí chủ thích hợp của chúng thì dòi nở ra vẫn có khả

năng hoàn thành giai đoạn phát triển của cơ thể Khi dòi của L trifolii chuẩn bị hóa

nhộng, chúng phải phá vỡ phần biểu bì lá ở vị trí cuối hoặc gần cuối đường đục để chui ra ngoài Hoạt động di chuyển của dòi đẫy sức ở bên ngoài đường đục cũng tương

tự như ở bên trong đường đục là chúng thường lăn tròn, nhờ vậy mà dòi đẫy sức rơi mới được từ lá xuống đất để hóa nhộng (Parella, 1987)

Dòi (sâu non) của ruồi đục lá L trifolii có 3 tuổi Muốn xác định được chính xác tuổi dòi của loài L trifolii cũng như của các loài ruồi đục lá khác thì phải dựa vào

kích thước móc miệng của dòi hoặc dựa vào độ rộng và dài đường đục của dòi ở trên các lá kí chủ bị hại (Saito, 1993)

o Pha tiền nhộng và nhộng của Liriomyza sativae

Nhộng có màu nâu đỏ, dài khoảng 1,5 mm và rộng khoảng 0,75 mm, sau 9 ngày nhộng trở thành con trưởng thành chủ yếu là vào buổi sáng sớm và cả hai giới tính xuất hiện đồng thời, sự giao phối đầu tiên xảy ra khi con trưởng thành tiếp theo xuất hiện, nhưng đa số sự giao phối cả hai giới đều có sự giám sát về thời gian, một thế hệ khoãng 1 tháng (Parrella, 1987)

Thời gian trong ngày để dòi đẫy sức chui ra khỏi biểu bì lá là khoảng từ sáng sớm đến trước 8 giờ Giai đoạn tiền nhộng thường thay đổi theo nhiệt độ, giai đoạn này thường diễn ra từ 2 – 4 giờ (Oatman, Michaelbacher, 1958 – 1959; Liebee, 1984)

Theo Tsutomu Saito (1993) nhộng của ruồi đục lá Liriomyza sativae là dạng

nhộng bọc, giai đoạn đầu có màu vàng và giai đoạn cuối có màu nâu, Khoảng nhiệt độ

để nhộng phát dục là từ 10 – 350C

o Pha trưởng thành của ruồi đục lá Liriomyza sativae

Năm 1984, Michael P Parrella và Bethke đã kết luận: Cả 2 pha ấu trùng và trưởng thành của ruồi đục lá gây hại cho cây kí chủ Ấu trùng đục vào giữa 2 lớp biểu

bì của lá để ăn diệp lục lá tạo thành những đường đục ngoằn nghoèo làm giảm khả năng quang hợp của lá

Trang 23

Con trưởng thành của ruồi đục lá Liriomyza sativae chủ yếu có màu vàng và

đen, đốt ngực phía mặt lưng có màu đen bóng, thường được phân biệt loài này với con

có họ hàng gần gủi là con Liriomyza trifolii, loài mà có màu đen xám ở phía lưng của đốt ngực, Liriomyza sativae ở mắt có rìa màu đen là đặc điểm thích hợp để phân biệt với Liriomyza trifolii, loài này có mắt rìa sau màu vàng

Con cái thường lớn hơn con đực và có một cái bụng thon dài, chiều dài cánh

của loài này từ 1,25-1,7 mm, kích cở nhỏ của loài Liriomyza sativae dùng để phân biệt với loài Liriomyza huidobrensis, loài này có cánh dài từ 1,7 - 2,25 mm

Liriomyza sativae có đùi màu vàng giúp phân biệt với Liriomyza huidobrensis

có đùi màu sẩm tối

Theo Zchuder và Trumble (1984); Kobayashi (1992): Con trưởng thành cái bay đến các lá, dùng máng đẻ trứng chọc qua lớp biểu bì lá để đẻ trứng hoặc chích hút dịch

lá cây Con trưởng thành cái ăn và đẻ trứng đã để lại nhiều chấm nhỏ li ti trên bề mặt lá

Cũng theo các tác giả trên, ruồi trưởng thành bị hấp dẫn mạnh bởi màu vàng, những mảnh giấy và dãy vải có màu vàng rất có lợi cho việc thu hút ruồi trưởng thành trên cánh đồng Con trưởng thành cái bị hấp dẫn mạnh bởi màu vàng mạnh hơn con đực

Nghiên cứu giai đoạn trưởng thành của ruồi đục lá, Parrella (1997) đã ghi nhận,

ruồi cái của ruồi đục lá Liriomyza sativae thường ăn và đẻ trứng vào buổi sáng trong

ngày, chúng thường để lại 2 dạng vết châm trên lá, vết châm dạng tròn là vết ăn, vết châm có dạng bầu dục là vết đẻ trứng của chúng Ruồi đực sau khi vũ hoá thì chỉ sống vài ngày, làm nhiệm vụ giao phối rồi chết (Charlton và Allen, 1981) Ở giai đoạn

trưởng thành, giữa các loài trong nhóm Liriomyza sativae thì tỉ lệ phân hoá giới tính

thường khác nhau

2.1.3 Yếu tố ảnh hưởng

Ảnh hưởng của điều kiện thời tiết

Từ kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt ẩm độ đến sự phát triển của ruồi

đục lá Liriomyza trifolii, Saito (1993) đã có nhận xét: ở ngoài khoảng nhiệt độ 7-350 C

và ẩm độ không khí 70 - 75% thì sự phát dục các pha cơ thể của loài ruồi trên sẽ bị đình trệ

Trang 24

Trên đồng ruộng, sự phát triển và gây hại của ruồi đục lá còn chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây

Sự kháng thuốc hóa học của ruồi đục lá Liriomyza sativae

Nhiều nghiên cứu cho rằng ruồi Liriomyza sativae là loài có khả năng phát

triển tính kháng thuốc hóa học rất nhanh và có mức độ kháng thuốc rất cao, thực tế

ruồi đục lá Liriomyza sativae có khả năng thích ứng rất nhanh với thuốc hóa học và

chúng trở thành đối tượng dịch hại rất khó phòng trừ

2.1.4 Biện pháp phòng trừ ruồi đục lá Liriomyza sativae

Phương pháp tốt nhất để quản lý ruồi đục lá là kết hợp các biện pháp kỹ thuật với mục tiêu của quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)

Biện pháp canh tác

Mức độ đạm và sự che phủ ánh sáng cũng có ảnh hưởng đến mật số sâu, nhưng

sự đối phó này không thích hợp (Chalfant 1977, Hanna, 1987)

Cũng có nhiều nghiên cứu sự hữu hiệu của việc sử dụng bạt Polyethylene trong suốt nhưng không thấy hiệu quả Có khi cây trồng bị lây lan khi cây trồng gần kề thích hợp Sharma, (1980)

Cỏ dại cũng là một tác nhân lây lan của ruồi (Parkman, 1989), nhưng là một tác nhân lây lan của vật ký sinh

Nhiều tác giả cho rằng việc cải thiện điều kiện vệ sinh, làm cỏ, ngắt bỏ lá bị hại, dùng giá thể đặc biệt hoặc trồng xen thường không kiểm soát được ruồi đục lá một cách có hiệu quả (Minkenberg và Lenteren, 1986), Rauf và ctv (2000) khuyến cáo biện pháp vệ sinh đồng ruộng cũng đã góp phần quan trọng trong phòng trừ ruồi đục lá

Biện pháp dùng bẩy đèn

Một số nghiên cứu đã ghi nhận các bẫy vàng có keo dính được đặt trong nhà kính đã có tác dụng giảm bớt sự gây hại của ruồi đục lá

Biện pháp hóa học

Minkenberg và Lenteren (1986) thì một trong những nguyên nhân quan trọng là

các loài ruồi trong nhóm Liriomyza spp, đã phát triển rất nhanh tính kháng đối với một

số loại thuốc trừ sâu thuộc các nhóm Phosphat hữu cơ, Carbamates và Pyrethroid

Trang 25

Hiện nay, ở Mỹ và Ấn Độ việc phòng trừ nhóm ruồi đục lá Liriomyza spp, chủ yếu vẫn

là phải sử dụng thuốc trừ sâu (Wells, 1982; Schuster, 1982; Zender, 1983 và Sheiner, 1995)

Ở Indonesia, Rauf và Shepard (1999) đã ghi nhận muốn phòng trừ ruồi đục lá

có hiệu quả bằng thuốc hoá học thì cần phải chọn lọc và thường xuyên thay đổi về loại thuốc và nhóm thuốc sử dụng

Biện pháp sinh học

Các nghiên cứu cho thấy được tầm quan trọng của nhóm thiên địch ký sinh

trong việc quản lý các loài ruồi Liriomyza spp

2.2 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá Liriomyza sativae ở trong nước

Ở nước ta các nghiên cứu về ruồi đục lá rau Liriomyza spp, tuy chưa có nhiều

nhưng cũng đã ghi nhận được kết quả bước đầu của một số tác giả:

Trần Thị Thiên An và ctv qua quá trình nghiên cứu đã ghi nhận:

Ruồi đục lá rau gây hại trên 29 loại cây trồng thuộc 12 họ thực vật (1995) và 30 loại cây trồng thuộc 11 họ thực vật (1998)

Mức độ gây hại của chúng cũng khác nhau trên các loại cây trồng cụ thể là:

- Nhóm cây bị gây hại nặng: Các cây họ đậu, cà chua, khoai tây, xà lách, hành, dưa leo và cần tây

- Nhóm cây bị hại trung bình: Bầu bí, mướp, củ dền, bó xôi, mồng tơi

- Nhóm cây bị gây hại nhẹ: Bắp cải, cải thảo, cải ngọt, cải dún, cải cúc, cải lơ

- Nhóm cây bị hại ít: Cà rốt

Ngoài các loại cây trồng, ruồi đục lá còn tấn công trên cả 1 số cây cỏ dại như:

bồ công anh, dền.Tuỳ theo mức độ gây hại khác nhau của ruồi đục lá trên các cây trồng mà có sự ảnh hưởng đến năng suất của cây cũng khác nhau

Kết quả điều tra của các tác giả Trần Thị Thiên An (2000), Andersen và ctv

(2002) cho thấy ở nước ta có 4 loài ruồi đục lá phổ biến trong giống Liriomyza là Liriomyza sativae, Liriomyza huidobrensis, Liriomyza chinensis và Liriomyza sp.Trong đó Liriomyza sativae là loài có phạm vi phân bố rât rộng, chúng được ghi

nhận hiện diện gây hại ở khắp các vùng trồng rau trong cả nước

Nghiên cứu mức độ gây hại của ruồi đục lá trên các kí chủ, các tác giả ở trên cũng cho biết là sự gây hại của loài dịch hại này đã có ảnh hưởng đến năng suất của các cây trồng

Trang 26

rất khác nhau, ở mức gây hại trung bình chúng sẽ làm năng suất giảm từ 5 đến 10%, gây hại

nặng sẽ làm giảm năng suất từ 20 đến 30% Ở Hà nội ruồi đục lá Liriomyza sativae đã gây

hại trên cây dưa leo với tỷ lệ và chỉ số lá bị hại trung bình là 56,0% - 62,8% và 30,8% - 34,6% Ở thành phố Hồ Chí Minh, kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thiên An (2002) cho

biết ruồi đục lá Liriomyza sp Hiện diện gây hại quanh năm, trong điều kiện tự nhiên mức

độ gây hại của chúng phụ thuộc vào: thời vụ, giai đoạn sinh trưởng của cây, tỷ lệ ký sinh và

số lần phun thuốc của nông dân và trên cây đậu côve, sự gây hại của ruồi đục lá trong mùa khô là nặng hơn trong mùa mưa

Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh (2002) ở Hà Nội về vòng đời của ruồi đục

lá cho thấy pha nhộng có vòng đời dài nhất, kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 2.2

Bảng 2.1: Vòng đời của ruồi đục lá Liriomyza sativae Blanchard

Sự theo dỏi lần 1 Sự theo dỏi lần 2

6 Thời gian sống ruồi trưởng thành 5,2 ± 1,03 5,4 ± 0,69

Cũng theo nghiên cứu của tác giả này về thành phần phổ ký chủ của ruồi đục lá

Liriomyza sativae trên rất nhiều họ cây trồng cho thấy ruồi đục lá gây hại nặng trên

các cây thuộc họ bầu bí, họ thập tự, họ cúc, họ cà Tuy nhiên ruồi đục lá gây hại nặng nhất vẫn là các cây được trình bày ở bảng 2.3

Trang 27

Bảng 2.2: Phổ ký chủ của ruồi đục lá Liriomyza sativae

Họ cây ký chủ

Cây ký chủ

MĐPB Tên Việt Nam Tên khoa học

Họ bầu bí

Cucurbitaceae

Họ thập tự

Cruciferae

Họ đậu

Fabaceae

Trang 28

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm và thời gian thực hiện

Đề tài được tiến hành tại trại thực nghiệm Khoa Nông Học - Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2007 đến tháng 09/2007

3.2 Dụng cụ và vật liệu thí nghiệm

3.2.1 Dụng cụ thí nghiệm

- Giống cây trồng: cải ngọt giống Trang Nông

- Hộp nhựa, keo nhựa

- Dây nylon

- Lọ thuỷ tinh

- Kẹp giấy, kim chỉ khâu

- Bình xịt 8 lít

- Lồng lưới nuôi ruồi trưởng thành

- Thùng giấy giữ lá lấy nhộng

Trang 29

Hình 3.1: Lồng lưới thí nghiệm 3.3 Trồng cải thí nghiệm

+ Chuẩn bị đất

Chuẩn bị 20 ô đất với kích thước mỗi ô là 120 x 80 cm, tiến hành làm sạch cỏ, xới xáo và xử lý đất kết hợp với việc bón lót cho cây Tỷ lệ phân bón gồm phân bò 10 bao, 30 kg/bao và phân N : P : K = 3 : 5 : 3

Cây cải ngọt được trồng khi cây được 2 lá thật, mỗi lồng trồng 12 cây Mỗi ngày chăm sóc cho đến khi cây hồi xanh trở lại thì tiến hành thả ruồi đục lá

Trang 30

Lá đậu côve hay đậu đũa có sâu non ruồi đục lá được thu thập từ ruộng của nông dân về phòng thí nghiệm, mỗi ngày tiến hành tưới ẩm và xới xáo để bảo đảm lá

đủ ẩm độ và thoáng khí, khoảng 8 – 9 ngày sau ruồi sẻ vũ hóa Khi ruồi vũ hóa cho ăn bằng mật ong pha loãng 30%, sau đó tiến hành bắt ruồi vào những ống nghiệm nhỏ để thả vào lồng lưới

Khi cây cải con có 2 – 3 lá thật thì tiến hành thả ruồi vào lồng theo các mật số ruồi ở các nghiệm thức

Thu thập sâu non ruồi đục lá: hái lá đậu có sâu non ruồi đục lá trên địa bàn các

xã Xuân Thới Sơn, Xuân Thới Thượng, Xuân Thới Nhì thuộc huyện Hóc Môn, các xã Tân Phú Trung, Thống Nhất, Tân Thông Hội thuộc huyên Củ Chi, và các vùng lân cận thành phố Hồ Chí Minh

Hình 3.2: Dụng cụ thu thập ruồi đục lá

3.5 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện gồm 5 nghiệm thức với 4 lần lặp lại, thí nghiệm được

bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên

Trang 31

Sau khi thả ruồi, khi thấy xuất hiện đường đục thì tiến hành theo dõi Theo dõi lá

cố định/cây ở mỗi thế hệ ruồi Tiến hành theo dõi 3 ngày/ 1lần cho đến khi thu hoạch Thí nghiệm được tiến hành hai lần

Các nghiệm thức thí nghiệm là:

NT1: 2 ruồi cái/cây NT2: 4 ruồi cái/cây NT3: 8 ruồi cái/cây NT4: 16 ruồi cái/cây NT5: Đối chứng Trồng 12 cây/ NT, với 3 hàng mỗi hàng 4 cây

Thả ruồi thí nghiệm với tỷ lệ

- Ở NT 2 ruồi cái/cây và 4 ruồi cái/cây

- Ở NT 8 ruồi cái/cây và 16 ruồi cái/cây

 Thí nghiệm lần thứ nhất

Gieo cải vào khay xốp ngày 25/01/2007, tiến hành chăm sóc cây cải con

Trồng cây cải con vào lồng lưới thí nghiệm ngày 12/02/2007, cây cải con được trồng 3 hàng mổi hàng 4 cây với khoảng cách 15 x 15 cm, tiến hành chăm sóc cây cải con trong lồng lưới thí nghiệm, khi thả ruồi vào lồng lưới tiến hành theo dõi nhiệt độ qua các ngày, nếu nhiệt độ lên quá cao sử dụng bình phun 8 lít hạ nhiệt độ xuống Đến ngày 21/02/2007 xuất hiện sâu non tuổi 1

Ngày 23/02/2007 xuất hiện sâu non tuổi 3

Ngày 24/02/2007 xuất hiện nhộng

Ngày 30/02/2007 xuất hiện lứa ruồi thứ 2

Ngày 24/02/2007 hái lá đếm lần 1

Ngày 26/02/2007 hái lá đếm lần 2

Ngày 14/03/2007 thu hoạch cải

 Thí nghiệm lần thứ hai

Gieo cải vào khay xốp ngày 24/3/2007

Trồng cây cải con vào lồng lưới thí nghiệm ngày 10/4/2007

Đến ngày 17/04/2007 xuất hiện sâu non tuổi 1

Ngày 19/04/2007 xuất hiện sâu non tuổi 3

Trang 32

Ngày 20/04/2007 xuất hiện nhộng

Ngày 26/04/2007 xuất hiện lứa ruồi thứ 2

NT1 NT4 NT4 NT3 NT5 NT2 NT1 NT5 NT2 NT5 NT3 NT2 NT3 NT1 NT5 NT4

Trang 33

Hình 3.3: Toàn cảnh khu bố trí thí nghiệm

Quy mô thí nghiệm

Diện tích ô thí nghiệm: 0,8 x 1,2 m = 0,96 m2

Diện tích thí nghiệm: 0,96 m2 x 20 ô = 19,2 m2

Diện tích toàn khu thí nghiệm: 120 m2

3.6 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Thả ruồi đục lá Liriomyza sativae vào trong lồng lưới khi cây cải ngọt có 2 -3 lá

thật, Khi thấy xuất hiện đường đục đầu tiên thì tiến hành theo dõi

Tiến hành hái lá có đường đục bỏ vào bao ny lon có đánh số thứ tự cây/ NT Khi hái lá đếm phải lần lượt đếm từng số lá/ cây/ NT

Hái lá đếm đường đục khi có sâu non tuổi 3, đếm dưới kính hiển vi có độ phóng đại x10, ghi lại số liệu vừa theo dỏi được, ghi rỏ số đường đục trên mổi lá và trên mỗi cây theo dỏi, theo thứ tự từng lá và từng cây trên mỗi NT

Thế hệ ruồi thứ 2 cũng làm tương tự cho đến khi thu hoạch

Trang 34

Phương pháp theo dõi

Khi cây có 2-3 lá thật thì tiến hành thả ruồi đục lá vào theo các NTTN, theo dỏi quá trình ruồi chết, xuất hiện sâu non tuổi 1, 2, 3, xuất hiện lứa ruồi thứ 2, ghi nhận lại ngày xảy ra

Khi trên lá xuất hiện sâu non tuổi 3 ở lứa ruồi đầu tiến hành hái lá đếm số đường đục trên mỗi lá ở trên mỗi cây/ NT, ghi nhận lại

Khi trên lá xuất hiện sâu non tuổi 3 ở lứa ruồi thứ 2 tiến hành hái lá đếm số đường đục trên mỗi lá ở trên mỗi cây/ NT, ghi nhận lại

Đếm tổng số lá/ cây/ NT = Tổng số lá qua các lần theo dõi/ cây/ nghiệm thức Đếm tổng số lá không có đường đục/ cây/ NT = Tổng số lá không có đường đục sau khi thu hoạch/ cây/ NT

Đếm tổng số lá có đường đục/ cây/ NT = Tổng số lá có đường đục qua các lần theo dõi/ cây/ NT

Đếm tổng số đường đục/ lá/ cây/ NT = Tổng số đường đục qua các lần theo dỏi/ cây/ NT

Cân trọng lượng tổng lá/ cây/ NT = Tổng trọng lượng lá sau khi thu hoạch/ cây/

Hiệu quả kinh tế của NTTN = tổng thu – tổng chi

 Mức độ gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae trên các NTTN

Tổng số đường đục/ cây/ NT

Tỷ lệ lá bị hại (%)/ cây/ NT

- Tỷ lệ lá bị hại: Theo dõi số lá/cây/nghiệm thức và số lá bị hại/cây/nghiệm thức

để tính tỷ lệ lá bị hại của các cây ở các nghiệm thức

- Tỷ lệ lá bị hại (%) = (tổng số lá bị hại/ tổng số lá điều tra) x 100

Trang 35

 Ảnh hưởng của mật số ruồi đục lá Liriomyza sativae đến sự sinh trưởng của

cây cải ngọt

- Số lá/ cây/ nghiệm thức

- Số lá thương phẩm/ cây/ NT

- Số lá/ cây/ nghiệm thức: Kết hợp với chỉ tiêu tính chỉ số lá bị hại, tiến hành

đếm số lá của từng cây ở mỗi nghiệm thức qua các lần theo dõi, đếm số đường đục trên lá/ cây/ NT, Tiến hành theo dõi 3 ngày/lần

 Ảnh hưởng của mật số ruồi đục lá Liriomyza sativae đến một số yếu tố cấu

thành năng suất và năng suất của cây cải ngọt

- Trọng lượng lá bị hại/ cây/ NT

- Trọng lượng lá/ cây/ NT

- Trọng lượng lá thực thu/ cây/ NT

- Trọng lượng lá thương phẩm/ cây/ NT

- Năng suất thực thu quy đổi/ ha

- Năng suất thương phẩm quy đổi/ ha

3.7 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu về năng suất cải ngọt dùng phần mềm MSTATC – ANOVA II để phân tích thống kê

Các đồ thị được vẽ bằng phần mềm Excel

Trang 36

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Mức độ gây hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae trên cây cải ngọt trên các

NTTN

Qua những kết quả thu được trong quá trình theo dõi tập tính sinh sống và gây

hại của ruồi đục lá Liriomyza sativae trên cây cải ngọt trồng trong lồng lưới, nhận thấy

cả hai giai đoạn sâu non (dòi) và trưởng thành của ruồi đục lá đều gây hại ở trên lá cây cải ngọt Sâu non chúng ăn biểu bì lá tạo thành những đường đục ngoằn nghoèo gây ảnh hưởng đến khả năng quang hợp làm cây sinh trưởng kém và mất năng suất của cây Trưởng thành của ruồi đục lá gây hại trên cây lá cải ngọt bằng cách để lại những vết chấm nhỏ li ti màu trắng trên lá khi chúng chích hút dinh dưỡng của lá và đẻ trứng

dưới lớp biểu bì lá làm giảm sinh trưởng đồng thời làm giảm giá trị thẩm mỹ của cây

Khi ăn trên lá, sâu non đục vào giữa hai lớp biểu bì để ăn diệp lục của lá tạo thành những đường đục ngoằn nghoèo, độ rộng và chiều dài của đường đục tỷ lệ thuận với tuổi của dòi Tuổi dòi càng lớn thì đường đục càng rộng và càng dài Khi đẫy sức dòi chui ra khỏi đường đục để chuyển sang giai đoạn tiền nhộng ở trên mặt lá Thời kỳ tiền nhộng thường chỉ chiếm 1 thời gian ngắn, khoảng 2 – 4 giờ Sau khoảng thời gian này sâu non chuyển sang giai đoạn nhộng và rơi xuống đất

Lá cải ngọt bị ruồi đục lá Liriomyza sativae gây hại ở mức độ nặng các đường

đục liên kết lại với nhau tạo thành những đám cháy khô trên lá làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng quang hợp của cây

Trang 37

Hình 4.1: Lá cây cải ngọt bị ruồi đục lá hại nhẹ

Hình 4.2: Lá cây cải ngọt bị ruồi đục lá hại nặng

Trang 38

Từ khi thả ruồi đục lá vào các nghiệm thức thí nghiệm đến khi thu hoạch cây

cải ngọt có sự xuất hiện của 2 thế hệ ruồi trưởng thành mới Qua mỗi thế hệ ruồi mới,

mức độ gây hại của chúng có sự khác nhau

Bảng 4.1: Số đường đục của ruồi đục lá ở các nghiệm thức thí nghiệm

Thí nghiệm lần 1 Thí nghiệm lần 2

Ghi chú: Trong cùng một cột các giá trị có cùng ký tự thì khác biệt không có ý nghĩa

thống kê ở mức xác suất P = 0,01

Qua kết quả ở bảng 4.1 cho thấy số đường đục của ruồi đục lá ở các nghịêm

thức thí nghiệm có sự chênh lệch nhau khá rõ ràng, số đường đục tăng từ nghiệm thức

1 (2 ruồi cái/ cây) đến nghiệm thức 4 (16 ruồi cái/ cây) Kết quả trên là hợp lý so với

các mật số ruồi thả vào ban đầu ở các nghiệm thức thí nghiệm

Ở mật số ruồi thả 2 ruồi cái/ cây cho thấy số đường đục ít nhất 186,3 đường

đục/ NT, số đường đục tăng dần khi mật số ruồi được thả tăng lên Số đường đục trên

lá đạt mật số cao nhất khi mật số ruồi thả 16 ruồi cái/ cây Ở lần thí nghiệm lần 2 thì

cũng tương tự số đường đục tăng lên khi mật số ruồi thả vào tăng lên Như vậy số

đường đục phụ thuộc vào mật số ruồi thả vào theo các nghiệm thức thí nghiệm

Số đường đục ở các nghiệm thức có sự biến động theo thời gian sinh trưởng của

cây Trong đó, cây cải ngọt ở giai đoạn ra những lá thật đầu tiên thì dòi xuất hiện với

mật số rất lớn Mật số dòi ở các nghiệm thức ở thế hệ ruồi F1 là cao nhất Đầu mỗi thế

hệ ruồi trưởng thành xuất hiện, mật số dòi đạt mức cao và sau đó chúng gây hại rời rạc

không tập trung khi thế hệ ruồi mới xuất hiện

Trang 39

Ghi chú: Trong cùng một cột các giá trị có cùng ký tự thì khác biệt không có ý nghĩa

thống kê ở mức xác suất P = 0,01

Qua bảng 4.2 cho thấy ở đầu mỗi thế hệ ruồi tỷ lệ lá bị hại đạt ở mức cao và

giảm dần cho đến khi xuất hiện thế hệ ruồi mới Tỷ lệ lá bị hại của thế hệ ruồi sau cao

hơn tỷ lệ lá bị hại ở thế hệ ruồi trước Tỷ lệ lá bị hại giữa các nghiệm thức thí nghiệm

có sự chênh lệch nhau Tuy nhiên, sự chênh lệch về tỷ lệ lá bị hại giữa các nghiệm

thức ở mức độ thấp

Tỷ lệ lá bị hại ở nghiệm thức 16 ruồi cái/ cây đạt cao nhất là 3,64%, thấp nhất là

ở nghiệm thức 2 ruồi cái/ cây đạt 1,94%

Ở thí nghiệm lần 2 tỷ lệ lá bị hại ở nghiệm thức 16 ruồi cái/ cây đạt cao nhất là

5,23%, thấp nhất là ở nghiệm thức 2 ruồi cái/ cây đạt 2,90%

Như vậy cho thấy tỷ lệ lá cải ngọt bị hại phụ thuộc vào mật số ruồi thả vào các

nghiệm thức thí nghiệm khi mật số thả vào thấp thì tỷ lệ lá bị hại cũng thấp, tăng mật

số ruồi lên thì tỷ lệ lá bị hại tăng lên Tỷ lệ lá bị hại tức là số lá cải ngọt bị hại trên tổng

số lá do vậy khi mật số ruồi cao thì tỷ lệ lá bị hại sẻ cao

Qua thí nghiệm cho thấy tuy mật số ruồi cao 16 ruồi cái/ cây nhưng tỷ lệ lá bị

hại vẫn có thể chấp nhận được, do vậy khi ở mỗi lá chỉ có một ít số đường đục thì vẫn

còn ít ảnh hưởng đến năng suất

Đặc biệt đối với cây cải ngọt, đây là loại rau ăn lá nên chỉ vài đường đục trên lá

là đã làm giảm giá trị thương phẩm của cây từ đó làm giảm năng suất thương phẩm của cây

Trang 40

4.3: Ảnh hưởng của ruồi đục lá Liriomyza sativae đến sự sinh trưởng của cây cải ngọt

Kết quả được ghi nhận ở bảng 4.3

Bảng 4.3: Số lá cải ngọt trên các nghiệm thức thí nghiệm

STT NT

Tổng số lá Thí nghiệm lần 1 Thí nghiệm lần 2 Trung

bình (lá/ NT)

Trung bình (lá / cây)

% so với

ĐC

Trung bình (lá / NT)

Trung bình (lá / cây)

Qua kết quả ở bảng 4.3 cho thấy số lá trên cây ở các nghiệm thức có sự chênh

lệch nhau, ở những nghiệm thức có mật số ruồi đục lá càng cao thì khả năng ra lá của

cây cải ngọt càng thấp Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức thí

nghiệm ở nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức thả 2 ruồi cái/ cây có tổng số lá/ NT

không khác biệt nhau với số lá trung bình ở 2 NT lần lượt là 250,25 và 201 lá Và khi

mật số ruồi thả tăng lên thì tổng số lá/ NT cũng giảm xuống ở 3 NT còn lại với tổng số

lá ở 3 NT 4, 8 và 16 ruồi cái/ cây lần lượt là 193,25, 191,50 và 180,25 Điều này cho

thấy rằng mật số ruồi ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng ra lá của cây

Ở nghiệm thức đối chứng (không thả ruồi), số lá trên cây nhiều hơn rõ rệt so với

các nghiệm thức bị ruồi đục lá gây hại

Tương tự ở lần thí nghiệm thứ 2 cũng Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các

nghiệm thức thí nghiệm ở nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức thả 2 ruồi cái/ cây

Ngày đăng: 29/11/2017, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm