1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

77 408 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 811,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà NẵngChính sách ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà NẵngChính sách ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà NẵngChính sách ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà NẵngChính sách ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà NẵngChính sách ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà NẵngChính sách ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà NẵngChính sách ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu

và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có gì sai sót, cá nhân tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Lê Thị Thuận

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 7

1.1 Khái niệm Công nghệ thông tin và chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin 7 1.2 Thiết kế chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin 11 1.3 Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin 18 1.4 Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể 24 1.5 Phân tích bối cảnh thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin 27

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32

2.1 Điều kiện xã hội và tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng 32 2.2 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến nay 36 2.3 Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin tại thành phố Đà Nẵng 51

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 58

3.1 Phương hướng, mục tiêu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin 58 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin 61 3.3 Một số kiến nghị về thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin 65

KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức

2 CCHC Cải cách hành chính

3 CNTT Công nghệ thông tin

4 CNTT - TT Công nghệ thông tin - truyền thông

5 Internet Mạng thông tin quốc tế

6 LAN Mạng trao đổi nội bộ

7 MAN Mạng đô thị thành phố

8 QLHCNN Quản lý hành chính nhà nước

9 QLNN Quản lý nhà nước

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) ngày càng có vai trò quan trọng, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới

Sự phát triển của công nghệ là nền tảng cơ bản để thúc đấy những cải tiến về thủ tục, quy định hành chính, đổi mới về phương thức và nội dung cung cấp các dịch vụ hành chính của Chính phủ với những đổi thay hướng về phía người dân

Ở nước ta, ứng dụng CNTT vào công tác quản lý nhà nước (QLNN) nhằm nâng cao, phục vụ bộ máy hành chính đã được xác định rất sớm và thực hiện liên tục Ngày 08/11/20111, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30c/NQ-

CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) nhà nước giai đoạn 2011- 2020, qua đó đã xác định nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và dịch vụ công là một trong những nội dung trọng tâm Trong đó, hiện đại hóa nền hành chính được xác định theo hướng đẩy mạnh ứng dụng CNTT truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước để đến năm

2020, hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tiếp trên mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực

tế, phục vụ người dân, doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau

Trên cơ sở chỉ đạo của Trung ương, thành phố Đà Nẵng cũng như các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, trong những năm qua đã có nhiều chú trọng trong công tác CCHC, tăng cường ứng dụng CNTT trong công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp và có những bước phát triển vượt bậc, đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, góp phần làm biến đổi mạnh mẽ đời sống kinh tế, văn

Trang 7

hóa, xã hội và môi trường kinh doanh của thành phố Hạ tầng kỹ thuật CNTT thông tin đáp ứng được các hoạt động của Chính quyền thành phố, bao gồm mạng đô thị thành phố, trung tâm dữ liệu, hệ thống kết nối không dây công cộng, trung tâm thông tin dịch vụ công…Cơ chế, chính sách hỗ trợ ứng dụng CNTT được cập nhật và ban hành kịp thời, góp phần cải thiện môi trường phát triển CNTT trên địa bàn thành phố, tạo tiền đề để thu hút đầu tư trong nước và Quốc tế Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước của thành phố trong thời gian qua cũng còn một

số hạn chế, đó là: Ngân sách địa phương bố trí cho kế hoạch ứng dụng CNTT hằng năm còn hạn chế, ở mức khá thấp so với mức đầu tư trung bình của các địa phương trên cả nước, có nguy cơ không đủ nguồn lực để duy trì và phát triển hệ thống hạ tầng ứng dụng CNTT trong những năm đến; chưa có mục lục ngân sách cho ứng dụng CNTT, vẫn còn phụ thuộc vào nguồn kinh phí của sự nghiệp Khoa học - Công nghệ; một số quy định trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ chưa theo kịp tiến bộ của công tác ứng dụng CNTT, gây cản trở việc

sử dụng văn bản điện tử, cản trở công tác ứng dụng CNTT và CCHC; mức độ đảm bảo an toàn, an ninh thông tin tại các máy tính cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) ở một số cơ quan, đơn vị còn hạn chế, tự ý cài đặt các phần mềm bẻ khóa, phần mềm không rõ nguồn gốc, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất an toàn thông tin cho hệ thống CNTT của đơn vị cũng như của thành phố, các máy tính không được trang bị phần mềm diệt virus có chất lượng; hiệu quả sử dụng trang thiết bị, hạ tầng CNTT tại một số đơn vị, đặc biệt là các phường, xã chưa cao do thiếu chỉ đạo của lãnh đạo và thiếu cán bộ chuyên trách CNTT, các đơn vị ít quan tâm đến công tác bảo trì bảo dưỡng dẫn đến một số thiết bị hư hỏng hoặc hoạt động với hiệu suất thấp; cơ chế ưu đãi cho cán bộ chuyên trách CNTT tại các cơ quan nhà nước của thành phố chưa được lãnh đạo thành phố quan tâm phê duyệt, chưa khuyến khích được

Trang 8

cán bộ tích cực trong công tác triển khai ứng dụng CNTT tại từng đơn vị; một

số ứng dụng được các Bộ, ngành triển khai từ Trung ương đến địa phương (ứng dụng ngành dọc) nhưng không liên thông chia sẻ dữ liệu, không tương thích với các ứng dụng đang triển khai trên địa bàn thành phố, dẫn đến nguy

cơ phá vỡ kiến trúc ứng dụng CNTT đã được thành phố xây dựng trong nhiều năm qua; lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự quyết liệt trong công tác triển khai ứng dụng và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức 3, 4 còn thấp

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên nên tôi đã chọn đề tài “Chính sách

ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Nghiên cứu ở ngoài nước

Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vai trò CNTT đối với phát triển kinh

tế - xã hội Tác giả luận văn đã tiếp cận được một số công trình nghiên cứu khá điển hình như: “Văn minh của làn sóng thứ ba” của tác giả Allvin Toffler, Hetdi Toffler; “Làn sóng thứ ba” của tác giả Allvin Toffler; “Cú sốc tương lai” của tác giả Allvin Toffler; “Đạo đức thông tin trong xã hội kinh tế tri thức” của tác giả Cameron Esslement Trong các tác phẩm này, các tác giả đã

đề cập đến sự xuất hiện của một trào lưu hay một làn sóng mới, đó là làn sóng CNTT Cùng với sự xuất hiện này, tất yếu dẫn đến những đòi hỏi thay đổi một cách toàn diện các phương thức vốn được coi là hợp lý trước đây đối với việc vận hành và phát triển xã hội

2.2 Nghiên cứu ở trong nước

Hiện nay, có nhiều tác phẩm viết về vai trò của CNTT trong đời sống như: “Công nghệ thông tin - Tổng quan và một số vấn đề cơ bản” của Ban Chỉ đạo Chương trình Quốc gia về CNTT, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội,

Trang 9

năm 1997; “Kỷ yếu hội thảo Khoa học kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” của Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ Khoa học - Công nghệ

và Môi trường, Bộ Ngoại giao, Hà Nội, năm 2002; “Ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa” của Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2001; “Chủ nghĩa tư bản và thời đại thông tin” của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, lưu hành nội bộ, Hà Nội, năm 2001; “Công nghệ thông tin Hà Nội cất cánh” của Hội Tin học Việt Nam, tạp chí Tin học và Đời sống (số 3, 5, 6, 9, 11); “Thương mại điện tử”, tác giả Vũ Ngọc Cừ, Trịnh Thanh Lâm, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, năm

2001 Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về thực hiện ứng dụng Công nghệ thông tin trong Quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) từ thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng Đây cũng là lý do để luận văn này được lựa chọn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật CNTT và truyền thông của thành phố, bảo đảm đáp ứng nhu cầu triển khai các ứng dụng Chính quyền điện tử, đẩy mạnh CCHC tại các cơ quan QLHCNN trên địa bàn thành phố, tiến đến xây dựng thành công mô hình thành phố thông minh, trong đó cơ quan nhà nước sử dụng CNTT làm công cụ chính để điều hành các hoạt động đời sống xã hội của thành phố

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, làm rõ những vấn đề về lý luận, quy định của pháp luật liên quan đến ứng dụng CNTT trong QLHCNN, qua đó thống nhất về mặt lý luận phục vụ công tác nghiên cứu

Trang 10

- Khảo sát, đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong QLHCNN tại thành phố Đà Nẵng, chỉ ra những bất cập, hạn chế

- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác QLHCNN về CNTT của thành phố Đà Nẵng

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách ứng dụng CNTT trong Quản lý hành chính nhà nước ở Đà Nẵng

Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công, giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành CNTT

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực tế, phương pháp phân tích, hệ thống, so sánh, tổng hợp

Các phương pháp trên được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu như văn kiện,

Trang 11

Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của UBND, các tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng CNTT ở nước ta nói chung và thực tế tại thành phố Đà Nẵng nói riêng Đồng thời, thu thập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội liên quan đến vấn đề thực hiện chính sách phát triển CNTT

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Cơ cấu của luận văn

Bố cục của bài viết không kể mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài bao gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách ứng dụng CNTT và thực hiện chính sách ứng dụng CNTT

- Chương 2: Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng CNTT trong QLHCNN từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

- Chương 3: Phương hướng, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT trong QLHCNN tại thành phố Đà Nẵng

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1 Khái niệm Công nghệ thông tin và chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

1.1.1 Khái niệm Công nghệ thông tin

CNTT là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan, tổ chức Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin Vì lý do đó, những người làm việc trong ngành này thường được gọi là các chuyên gia CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant), tại bộ phận của một công ty hay đại học chuyên ngành về CNTT thường được gọi là Phòng Công nghệ thông tin

Ở Việt Nam thì khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết

số 49/NQ-CP ban hành ngày 04/8/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ Việt Nam như sau: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông, nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông, người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học

đã trở thành hiện thực [6]

Trang 13

1.1.2 Khái niệm Chính sách và Chính sách công

Theo tác giả James Anderson trong các tác phẩm viết vào năm 2003, Chính sách được hiểu là: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” (PGS.TS Lê Chi Mai, 2008); hoặc theo TS Nguyễn Thị Như Mai, Văn phòng Chính phủ cho rằng: “Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một Chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội”

Theo báo cáo “Chính sách và xây dựng pháp luật” của TS Luật học Nguyễn Thị Như Mai, từ Ban Xây dựng pháp luật, Văn phòng Chính phủ, khái niệm Chính sách công được hiểu như sau: “Chính sách công là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”; theo Thomas Dye đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về Chính sách công là: “Chính sách công là bất kỳ những gì mà Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”; khái niệm về chính sách công của William Jenkins cụ thể hơn so với định nghĩa trên, theo ông, “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ”; còn James Anderson đưa ra một định nghĩa chung hơn: “Chính sách công như là một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một nhà hoạt động hoặc một nhóm các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm” Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về Chính sách công được các học giả đưa ra, cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các định nghĩa trên đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là Chính sách công bắt nguồn từ các quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn

đề chung vì lợi ích của đời sống cộng đồng

Trang 14

Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung về Chính sách công như sau: “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng” (theo Nguyễn Văn Thọ, Giáo trình Chính sách công, Học viện Chính sách phát triển)

Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của chủ thể cầm quyền nhằm vạch ra những đường hướng, hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống Khái niệm Chính sách công được khái quát như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện, giải quyết các vấn đề của

xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền” (PGS.TS Đỗ

Phú Hải, 2012) [9]

Chủ thể ban hành là Nhà nước, các quyết định về Chính sách công là những quyết định chính trị, bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội mà còn giải quyết các mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách

1.1.3 Khái niệm phát triển

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong….nguồn gốc

Trang 15

của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” [3, tr 67]

- Về quan điểm siêu hình: “Sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng, không có sự thay đổi về mặt chất của sự vật, nếu có sự thay đổi về mặt chất thì cũng chỉ diễn ra theo vòng tròn khép kín, không có sự

ra đời cái mới”

- Quan điểm triết học duy vật biện chứng: “Phát triển là một phạm trù triết học chỉ khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật”

- Quan điểm trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: “Phát triển là tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện, thay đổi về căn bản cái đã có để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn Cái mới, cái được hoàn thiện (tức phát triển) có thể có hai khía cạnh chính, đó là phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng”

- Theo Bùi Minh Thanh: “Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi

xã hội, mọi cộng đồng dân tộc, trong đó có các chủ thể lãnh đạo và quản lý bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và cộng đồng dân tộc mình tạo ra, huy động

và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ”

- Theo PGS.TS Mai Hà: “Phát triển là một sự gia tăng về lượng và chất trong mối tương quan cân đối hài hòa”

Từ các định nghĩa nêu trên, ta nhận thấy có nhiều quan điểm khác nhau, quan điểm về siêu hình thì chỉ tăng về lượng, không tăng về chất; quan điểm chung thì tạo ra cái mới tốt hơn, tiến bộ hơn với sự gia tăng về lượng và chất Tuy nhiên có một cách nhìn rất hợp lý của PGS.TS Mai Hà là “Phát triển là sự gia tăng về lượng và chất phải được đặt trong mối tương quan cân đối hài hòa”

Trang 16

1.2 Thiết kế chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

1.2.1 Xác định vấn đề chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Để xây dựng chu trình chính sách hiệu quả, điều đầu tiên là phải xác định chính xác và kịp thời vấn đề chính sách Nếu xác định vấn đề sai sẽ dẫn đến chính sách công sai, tất yếu dẫn đến chu trình chính sách sẽ sai, kéo theo nhiều tổn thất và hệ lụy trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước Do đó, muốn xác định được vấn đề chính sách, đòi hỏi chủ thể xây dựng chính sách phải thường xuyên quan sát và phân tích thực tế để kịp thời chỉ ra và dự báo được những mâu thuẫn cơ bản nảy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội cần được giải quyết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội

Vấn đề của chính sách phát triển ứng dụng CNTT là chưa triển khai được các chính sách một cách rộng rãi trong đời sống xã hội, chưa phát huy được tiềm năng và sức mạnh của CNTT, chưa có những chính sách ưu đãi rõ ràng cho phát triển ứng dụng CNTT, nguồn nhân lực CNTT còn thiếu về số lượng và yếu về năng lực chuyên môn, đó là những mâu thuẫn đòi hỏi phải được giải quyết; mâu thuẫn giữa sự bứt phá phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của CNTT và sự chậm chạp, lạc hậu của các chính sách, văn bản luật của Việt Nam, dẫn đến tình trạng chưa phù hợp và đồng bộ; mâu thuẫn giữa mức lương thấp của cán bộ CNTT với chi phí cuộc sống không ngừng tăng lên từng ngày; mâu thuẫn giữa khả năng cống hiến và mức độ đãi ngộ Việc xác định chính xác và kịp thời các mâu thuẫn cơ bản trên sẽ giúp cho việc xây dựng, ban hành, thực thi chính sách ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao

1.2.1.1 Vấn đề xây dựng quy hoạch ứng dụng Công nghệ thông tin

Xây dựng quy hoạch ứng dụng CNTT đang là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Đặc biệt trong bối cảnh CNTT thế giới phát triển như vũ bão, nguyên nhân chủ

Trang 17

yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò của ứng dụng CNTT chưa đầy đủ, thực hiện chưa triệt để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

1.2.1.2 Vấn đề ứng dụng Công nghệ thông tin rộng rãi, có hiệu quả trong toàn xã hội

CNTT chưa được ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả vào hoạt động của các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nghiên cứu, đào tạo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, hoạt động phòng chống bão lụt, thiên tai, thảm họa…

1.2.1.3 Vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho ứng dụng Công nghệ thông tin

Đào tạo, bồi dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình

độ chuyên môn, năng lực công tác đối với cán bộ trực tiếp làm công tác CNTT Trên thực tế hiện nay, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập nói chung đã và đang quan tâm nhiều đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực, tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa cao, đào tạo, bồi dưỡng nhiều khi còn lãng phí, không phù hợp với thực tiễn công việc, sử dụng cán bộ được đào tạo về CNTT vào những vị trí chưa phù hợp, chưa đúng chuyên môn

1.2.1.4 Vấn đề Quản lý hành chính nhà nước đối với lĩnh vực Công nghệ thông tin

QLHCNN có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách CNTT

Để đổi mới QLHCNN về CNTT, các nhà lãnh đạo cần kết hợp chặt chẽ giữa ứng dụng CNTT với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, CCHC, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự QLNN QLHCNN trong các lĩnh vực ứng dụng CNTT, viễn thông và thông tin điện tử chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, chưa tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho việc cung ứng dịch vụ viễn thông, chưa coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng thông tin là loại đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội Hiện nay, hệ thống QLHCNN về

Trang 18

ứng dụng CNTT gồm các cơ quan quản lý các cấp về CNTT ở Trung ương

và địa phương Tuy nhiên, chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan, đơn vị còn chồng chéo, chưa phù hợp với từng địa phương, chưa có các chính sách phù hợp để quản lý, ứng dụng CNTT một cách thống nhất

Như vậy, trong các chủ trương phát triển CNTT nói chung, vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng CNTT luôn có một vị trí cực kỳ quan trọng, là yếu

tố được Chính phủ, các cấp, các ngành và toàn xã hội đặc biệt quan tâm

1.2.2 Mục tiêu của chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra mục tiêu đổi mới với ngành CNTT là: Phát triển mạng thông tin quốc gia trên quy mô cả nước với tốc độ và chất lượng cao, ổn định, giá thành thấp; tăng tỷ lệ người tiếp cận với các ứng dụng CNTT, sử dụng Internet; đưa CNTT trở thành ngành công nghiệp kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác, có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng

Để thực hiện tốt mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã quán triệt một số chủ trương lớn như: Ứng dụng CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước Mọi lĩnh vực hoạt động kinh

tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT để phát triển Mạng thông tin quốc gia là kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, phải tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ứng dụng CNTT, đảm bảo được tốc độ và chất lượng cao, giá cước rẻ Phát triển nguồn nhân lực cho CNTT là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng CNTT, đồng thời phát triển công nghiệp CNTT thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là phát triển

công nghiệp phần mềm [11]

1.2.3 Giải pháp và công cụ chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

1.2.3.1 Giải pháp chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Giải pháp chính sách ứng dụng CNTT bao gồm nhóm giải pháp liên

Trang 19

quan đến mục tiêu chính sách và nhóm giải pháp liên quan đến công cụ chính sách Khi hoạch định chính sách ứng dụng CNTT, các chủ thể đã tập trung vào một số giải pháp đồng bộ sau:

- Xây dựng quy hoạch ứng dụng CNTT và ban hành các văn bản chính sách ứng dụng CNTT: Để xây dựng quy hoạch ứng dụng CNTT tốt, trước tiên

chúng ta phải gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch ứng dụng CNTT với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Giải pháp chính sách đồng bộ ở đây thể hiện rõ trong việc hình thành một mạng lưới tổ chức khoa học trong các ngành; xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT trong từng mốc thời gian cụ thể để có kế hoạch triển khai đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình

độ chuyên môn, đồng thời đổi mới việc tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp, các tổ chức hiểu được vị trí, tầm quan trọng, đánh giá đúng những thành tựu đạt được của CNTT Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm hơn nữa đến việc hoàn thiện các chính sách đối với lĩnh vực ứng dụng CNTT Hiện nay, chưa có Thông tư hướng dẫn một cách nhất quán, cụ thể và

rõ ràng nên việc triển khai thực hiện chính sách ứng dụng CNTT từ Trung ương đến địa phương

- Ứng dụng rộng rãi CNTT có hiệu quả trong toàn xã hội: Các cơ quan

Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội đi đầu trong việc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động chuyên môn theo phương châm tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả lâu dài Ứng dụng CNTT thể hiện ở việc tin học hóa hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước, là bộ phận hữu cơ quan trọng của cải cách nền hành chính quốc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhằm tăng cường năng lực quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả Đồng thời, các cấp ủy Đảng chỉ đạo khẩn trương xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết phục vụ lợi ích công cộng của nhân dân, chấp hành sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước

Trang 20

Bên cạnh việc ứng dụng CNTT, chúng ta cũng cần tập trung phát triển những dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực thương mại, điện tử và các dịch vụ công cộng Để có thể ứng dụng CNTT trong toàn xã hội thì Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi cho ứng dụng CNTT, cần rà soát và tháo bỏ những nhận thức và quy định không phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất, áp dụng mức

ưu đãi hiện hành cao nhất và từng bước đạt mức ưu đãi bằng hoặc cao hơn so với các nước trong khu vực cho việc ứng dụng CNTT; chuẩn hóa thông tin và các hệ thống thông tin trong từng lĩnh vực; bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc trao đổi và sử dụng chung các cơ sở dữ liệu, các hệ thống thông tin trong nước và quốc tế; có các biện pháp chủ động và các quy định cụ thể về

an toàn và an ninh thông tin, trước hết là trong lĩnh vực quản lý nhà nước, an ninh, quốc phòng; khuyến khích và hỗ trợ việc phổ cập, nâng cao trình độ ngoại ngữ trong một bộ phận nhân dân, nhất là trong thanh, thiếu niên; xây dựng tiêu chuẩn ngành, nghề với mức lương và chế độ đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ cán bộ về CNTT

- Đẩy mạnh việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT: Phát triển quy mô và tăng cường chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

về CNTT, chú trọng phát triển nhanh lực lượng cán bộ chuyên trách, đặc biệt

là đội ngũ chuyên gia về phần mềm, đáp ứng kịp thời và thường xuyên nhu cầu trong nước và một phần thị trường nước ngoài, đạt chỉ tiêu về số lượng, các chuyên gia trong lĩnh vực CNTT ngang với mức bình quân của các nước trong khu vực

Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt cần tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet với tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo Đầu tư thỏa đáng cho công tác đào tạo, nghiên cứu về

Trang 21

CNTT; gắn chặt giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất, kinh doanh; xã hội hóa mạnh mẽ việc đào tạo về CNTT; khuyến khích và thu hút các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực về CNTT của Việt Nam; xây dựng và thực hiện chương trình cử giáo viên đi đào tạo, bồi dưỡng ở trong và ngoài nước để nâng cao trình độ giảng dạy; tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh đi học, thực tập và nghiên cứu

về CNTT ở nước ngoài; áp dụng chính sách đặc biệt cho việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia giỏi, nhân tài trong lĩnh vực CNTT

- Tăng cường, đổi mới công tác QLHCNN đối với lĩnh vực CNTT: Đổi

mới QLHCNN trong lĩnh vực CNTT chính là việc đổi mới quản lý trên tất cả các phương diện như: Xây dựng quy hoạch, cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện, đào tạo bồi dưỡng, thanh kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý

vi phạm trong lĩnh vực CNTT… Nhà nước cần điều chỉnh cơ chế tài chính,

ưu tiên bố trí ngân sách để ứng dụng CNTT trong một số lĩnh vực thiết yếu, tạo lập nền công nghiệp CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT; cân đối lại tỷ lệ phân bổ ngân sách, đảm bảo tỷ lệ cân xứng cho nhiệm vụ CNTT; tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu được chủ động sử dụng nguồn kinh phí này

và tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả nghiên cứu, được hưởng lợi chính đáng, hợp pháp từ kết quả nghiên cứu của họ; chủ động tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế, khuyến khích hợp tác với các tổ chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực CNTT

Đảng, Nhà nước cần sớm hoàn thiện và ban hành hệ thống văn bản pháp quy về quản lý, thực hiện chính sách ứng dụng CNTT theo phương châm năng lực quản lý, phải theo kịp tốc độ phát triển, đầu tư phải thiết thực, hiệu quả, không được lãng phí và đảm bảo công khai, minh bạch

1.2.3.2 Công cụ chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Đối với chính sách ứng dụng CNTT, hệ thống các công cụ chính sách

Trang 22

cụ thể là: Công cụ dựa vào tổ chức, công cụ dựa vào quyền lực, công cụ tài

chính, công cụ truyền thông

- Công cụ dựa vào tổ chức: Đây là cách thức chủ thể tác động lên đối

tượng và quá trình thực hiện chính sách bằng cơ cấu tổ chức thông qua các chức năng, nhiệm vụ được phân công nhằm đạt được mục tiêu dự kiến Cụ thể

ở đây là các nhà quản lý cần bố trí, sử dụng nguồn nhân lực làm CNTT một cách hợp lý, phù hợp với vị trí việc làm, đúng chuyên môn, đúng cơ cấu nguồn nhân lực của đơn vị

- Công cụ dựa vào quyền lực: Là cách thức chủ thể tác động lên đối

tượng bằng quyền lực nhằm đạt được mục tiêu đặt ra Để công tác ứng dụng CNTT đạt hiệu quả thì cần phải nâng cao vai trò công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm những sai phạm về CNTT từ Trung ương đến địa phương

- Công cụ tài chính: Là công cụ được các chủ thể sử dụng phổ biến khi

triển khai thực hiện chính sách ứng dụng CNTT Đây là công cụ dùng lợi ích vật chất và tinh thần để điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực CNTT Các tác động kích thích vật chất hoặc tinh thần của chủ thể chính sách đối với đối tượng thụ hưởng chính sách vô cùng phong phú Nhà nước cần phải ưu tiên

về tài chính để phát triển CNTT trong một số lĩnh vực thiết yếu, ưu đãi các nhóm chính

- Công cụ thông tin: Cơ quan truyền thông cũng như cơ quan sử dụng

CBCCVC có trách nhiệm phổ biến, tuyên truyền chính sách ứng dụng CNTT

để nâng cao trách nhiệm và hoàn thành tốt nhiệm vụ

Tóm lại, một chính sách tốt không chỉ dùng công cụ cưỡng chế (tức

công cụ quyền lực) hay khuyến khích vật chất (tức công cụ tài chính), nó sẽ không đủ động lực để thúc đẩy các nhà nghiên cứu ứng dụng, cống hiến sức lực, trí tuệ cho sự nghiệp CNTT Vì vậy, khi thực thi chính sách ứng dụng

Trang 23

CNTT, chủ thể chính sách cần sử dụng linh hoạt, kết hợp các công cụ nhằm mang lại kết quả tốt nhất trong triển khai thực thi chính sách ứng dụng CNTT hiện nay

1.3 Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

1.3.1 Cách tiếp cận thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Có một số phương pháp tiếp cận khi thực hiện chính sách, trong đó phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” được xem là phương pháp truyền thống nhất khi thực hiện một chính sách Cách tiếp cận này đảm bảo được tính thống nhất khi ban hành chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai nhanh gọn, tránh sự chồng chéo, mất tập trung khi thực thi Tuy nhiên, nó không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở, chưa thật sự phù hợp với hoàn cảnh, tình hình kinh tế - xã hội của từng địa phương Ngược lại, phương pháp tiếp cận “từ dưới lên” tuy khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tiếp cận “từ trên xuống”, nhưng vẫn gặp phải một số vấn đề khi thực hiện, vì nó chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của những cán bộ chuyên trách Ngoài ra, phương pháp này chưa thật sự huy động được sự tham gia của người dân và doanh nghiệp Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới nhằm đạt được mục tiêu hướng đến cộng đồng, phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc “từ trên xuống”

và “từ dưới lên”

Chính sách ứng dụng CNTT được Chính phủ hoạch định và thực hiện liên tục trong suốt quá trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam Với định hướng thống nhất, chính sách ứng dụng CNTT là một trong những công cụ quan trọng giúp cho Chính phủ thay đổi cơ cấu kinh tế bằng việc phát triển ngành công nghiệp mới, đặc biệt là ngành công nghiệp cao Đồng thời, hoạt

Trang 24

động ứng dụng CNTT được triển khai trong mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, chú trọng là trong hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm góp phần thành công xây dựng Chính phủ điện tử Cụ thể: Chính phủ thống nhất quản

lý hành chính nhà nước về CNTT; Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang

bộ có liên quan; các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện QLNN về CNTT theo phân công của Chính phủ; UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực

hiện QLNN về CNTT tại địa phương [8]

1.3.2 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Đây là nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT Hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của kế hoạch Cần phải đầu

tư thời gian và công sức để xây dựng kỹ lưỡng kế hoạch thực hiện chính sách ứng dụng CNTT trước khi đưa chính sách vào thực tiễn Các cơ quan có nhiệm vụ triển khai thực thi chính sách ứng dụng CNTT từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch thực hiện như: Về tổ chức điều hành,

về nguyên nhiên liệu, về thời gian triển khai thực hiện và về kiểm tra, đôn đốc

để đưa chính sách ứng dụng CNTT vào thực tiễn

Ngoài ra, cần phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách; nêu rõ quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước và cán

bộ, công chức tham gia thực thi; biện pháp khen thưởng, kỷ luật đối với cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT Việc lập kế hoạch thực hiện chính sách tốt sẽ giúp cho việc thực thi chính sách được khả thi và không phải qua điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện

Trang 25

1.3.3 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Phổ biến, tuyên truyền là một hoạt động quan trọng trong thực hiện chính sách ứng dụng CNTT của Đảng và Nhà nước Hoạt động này không chỉ giúp các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ban, ngành cũng như các tổ chức doanh nghiệp, nhân dân tham gia ứng dụng CNTT hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, tác động tích cực của chính sách, mà còn giúp các cơ quan Nhà nước, các CBCCVC, các tổ chức xã hội có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách được nhận thức đầy đủ tính chất, tầm quan trọng, trình độ, quy mô của chính sách đối với các đối tượng vận dụng Cần phải lựa chọn hình thức, phương pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách ứng dụng CNTT khác nhau như: tổ chức hội thảo, hội thi, tọa đàm, tạo mối quan tâm, thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của toàn xã hội đối với công tác ứng dụng CNTT, đồng thời qua đó nghiên cứu xây dựng, phát triển các chương trình ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, điều hành, xử lý công việc hành chính…, có sự tham gia của đối tượng ứng dụng CNTT

nghệ thông tin

Trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT, việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa hết sức quan trọng, tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách Muốn tổ chức thực hiện tốt, phát huy được những nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT thì cần phải tiến hành phân công, phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan quản lý từ Trung ương đến các cấp chính quyền địa phương Đồng thời, xác định trách nhiệm cụ thể giữa cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học sẽ mang lại kết quả tốt nhất có thể trong việc thực hiện chính

Trang 26

sách ứng dụng CNTT Trong phân công nhiệm vụ cần đặc biệt chú ý đến trình

độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn hế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ, trách nhiệm không rõ ràng

Tại Điều 4, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định rõ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Ngày 17/10/2000, Bộ Chính trị (Khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập Quốc tế”, đã thể hiện cụ thể sự phân công, phối hợp thực hiện của các cơ quan có liên quan đến chính sách phát triển, ứng dụng CNTT Cụ thể:

- Ban cán sự đảng Chính phủ xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết; hoàn thiện các cơ chế, chính sách, pháp luật về CNTT; đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành của Ủy ban quốc gia về ứng dụng CNTT; kiện toàn bộ máy QLNN về an toàn, an ninh thông tin

- Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các Luật về lĩnh vực CNTT; phê duyệt chủ trương, nguồn vốn cho các chương trình, dự án lớn theo thẩm quyền; tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh việc phát triển, ứng dụng CNTT

- Ban cán sự đảng, đảng đoàn lãnh đạo xây dựng các đề án cụ thể để triển khai Nghị quyết, đưa mục tiêu, nhiệm vụ phát triển, ứng dụng CNTT vào

kế hoạch công tác dài hạn và hằng năm; gắn nội dung phát triển, ứng dụng CNTT với các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo CNTT các cơ quan đảng và các

Trang 27

triển kinh tế - xã hội hàng năm và giai đoạn 5 năm; gắn nội dung ứng dụng, phát triển CNTT với các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác ứng dụng, phát triển CNTT và định kỳ báo cáo cấp ủy cấp trên về việc thực hiện Nghị quyết; kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có trách nhiệm tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết; đưa công tác ứng dụng, phát triển CNTT vào nội dung hoạt động; động viên đoàn viên, hội viên tích cực học tập

để nâng cao trình độ, tham gia có hiệu quả vào các hoạt động ứng dụng, phát triển CNTT

- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan liên quan thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết

1.3.5 Duy trì chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Là làm cho chính sách được tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Tuy nhiên, trong giai đoạn thực thi lại nảy sinh một số vướng mắc, có thể là do nhà hoạch định chính sách chưa lượng hết diễn biến, hay do những tác động làm thay đổi môi trường trước và sau khi ban hành chính sách Vì vậy, các cơ quan ban hành chính sách ứng dụng CNTT sử dụng hệ thống, công cụ quản lý để tác động nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách Các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội có trách nhiệm tham gia thực hiện yêu cầu của Đảng, Nhà nước và phát huy quyền làm chủ, tăng cường thực hiện dân chủ để cùng tham gia quản lý xã hội

Trang 28

1.3.6 Điều chỉnh chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức, thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để phù hợp với yêu cầu quản lý

và tình hình thực tế của đất nước, địa phương Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh cơ chế và biện pháp thực hiện chính sách diễn ra khá linh hoạt Vì thế, các cơ quan QLHCNN về chính sách ứng dụng CNTT ở từng địa phương, cụ thể là thành phố Đà Nẵng cần chủ động điều chỉnh cơ chế chính sách cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương mình, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách ứng dụng CNTT

1.3.7 Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Để thực hiện tốt chính sách ứng dụng CNTT thì một trong những nhiệm vụ quan trọng cần tập trung thực hiện đó là tăng cường công tác kiểm tra thực hiện chủ trương, đánh giá tiến độ và kết quả thực hiện các mục tiêu chính sách theo các chương trình, đề án như: Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghiệp thông tin và truyền thông”; Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển Công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”; Quyết định số 260-QĐ/TW, ngày 01/10/2014 của Ban Bí thư về việc “Ban hành Chương trình ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan giai đoạn 2015 - 2020”; Nghị quyết số 36a/NQ-CP, ngày

Trang 29

phạm trong QLNN về phát triển CNTT nhằm đảm bảo chính sách ứng dụng CNTT được thực hiện theo đúng mục tiêu đề ra

1.3.8 Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

Là hoạt động kiểm tra chính sách bằng các tiêu chí cụ thể như: Sự phù hợp, đầy đủ, tính hiệu quả, hiệu suất và tác động của chính sách nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách, giải quyết thành công các vấn đề chính sách công trong tương lai Như vậy, đánh giá việc thực hiện chính sách ứng dụng CNTT là cách kiểm định các mục tiêu đã triển khai có đạt được kết quả hay không, nhờ cách đánh giá dựa vào các bên tham gia, cụ thể là các

tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân

Đánh giá tổng kết trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT

là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các cơ quan hành chính thuộc hệ thống chính trị và các cơ quan thẩm quyền riêng ban hành chính sách Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo điều hành của các cơ quan nhà nước thì còn phải xem xét, đánh giá tinh thần hưởng ứng, ý thức chấp hành chính sách của các cơ quan nhà nước, đội ngũ CBCCVC, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp và toàn xã hội

1.4 Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể

Chủ thể ban hành chính sách ứng dụng CNTT gồm có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông Ngoài ra, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ cũng ban hành các văn bản phục vụ cho việc điều hành, quản lý hoạt động của đơn vị mình Trong số các cơ quan kể trên, Bộ Nội vụ và Bộ Thông tin và Truyền thông là hai cơ quan đóng vai trò chính trong việc tham mưu và trực tiếp xây dựng chính sách

Trang 30

1.4.1 Đối với Quốc hội

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước Như vậy, Quốc hội thực hiện quyền lập pháp; Quốc hội ban hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết; Quốc hội chính là cơ quan ban hành văn bản Luật cao nhất liên quan đến CNTT nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung Ngày 29/6/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, luật này quy định về những vấn đề chung của CNTT, về hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT, các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển CNTT, quyền và nghĩa

vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát

triển CNTT[12]

1.4.2 Đối với Chính phủ

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ Chính phủ thực hiện quyền hành pháp Theo đó, Chính phủ có quyền ban hành Nghị quyết, Nghị định, Quyết định Trong lĩnh vực CNTT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về

“Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước”; Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về “Chính phủ điện tử”

1.4.3 Đối với Bộ Nội vụ

Theo Nghị định số 58/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN về các ngành,

Trang 31

lĩnh vực như: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước, chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng về chuyên ngành hành chính, quản lý hành chính nhà nước

Bộ Nội vụ có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án luật, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, dự án Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định, Chỉ thị và các văn bản khác thuộc ngành, lĩnh vực do Bộ Nội vụ quản lý hoặc theo sự phân công; ban hành Thông tư, Quyết định, Chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi QLNN của Bộ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản

1.4.4 Đối với Bộ Thông tin và Truyền thông

Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN về báo chí, xuất bản, bưu chính, viễn thông, tầng số vô tuyến điện, CNTT, điện tử, phát thanh và truyền hình, thông tấn, thông tin đối ngoại, thông tin cơ sở, hạ tầng thông tin và truyền thông quốc gia; QLNN các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi của Bộ

Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18/4/2012 và Nghị định số 132/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ

Cụ thể, về CNTT, điện tử: Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch, chương trình, đề án, dự án về CNTT, điện tử; các cơ chế, chính sách, các quy định quản lý hỗ trợ phát triển công nghiệp phần mềm, công nghiệp phần cứng, công nghiệp điện tử, dịch vụ CNTT; ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách quản lý, các quy định liên quan đến sản phẩm, dịch vụ CNTT, điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia; cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ và thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ

Trang 32

về CNTT, điện tử; thực hiện quản lý chất lượng trong các hoạt động ứng dụng CNTT, cung cấp dịch vụ, mạng máy tính và sản phẩm, thiết bị CNTT, điện tử; chủ trì, phối hợp xây dựng chính sách hỗ trợ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT; tổ chức xây dựng hạ tầng CNTT phục vụ ứng dụng CNTT, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử gắn kết với chương trình cải cách hành chính; quản lý chương trình ứng dụng và phát triển CNTT, điện tử; xây dựng khung tương hợp Chính phủ điện tử và kiến trúc chuẩn hệ thống thông tin quốc gia; thực hiện chức năng tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký

số quốc gia theo quy định của pháp luật; tổ chức kiểm tra, đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp; quy định và quản lý về an toàn thông tin, bảo đảm an toàn thông tin cho các

hệ thống thông tin và Internet; bảo đảm an toàn thông tin cho các hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT; quy định và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu sản phẩm và dịch vụ an toàn thông tin theo quy định của pháp luật; tổ chức kiểm định, đánh giá cấp chứng nhận về an toàn thông tin; xây dựng và tổ chức vận hành các hệ thống đảm bảo an toàn thông tin; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về an toàn thông tin

1.5 Phân tích bối cảnh thực hiện chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin

1.5.1 Hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là một thể thống nhất, gắn bó hữu

cơ, bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội Hệ thống chính trị ở Việt Nam là thể chế nhất nguyên chính trị, không tồn tại các đảng chính trị đối lập, trước hết

là nhất nguyên về tổ chức Hệ thống chính trị ở Việt Nam gắn liền với vai trò của tổ chức và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin

và Tư tưởng Hồ Chí Minh Trong hệ thống chính trị bao gồm Hiến pháp, văn hóa chính trị và thể chế chính trị

Trang 33

- Hiến pháp: Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng làm ảnh hưởng đến quy trình xây dựng chính sách Hiến pháp là luật cơ bản, quy định quyền và nghĩa vụ của công dân; cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Hiến pháp là tối thượng buộc mọi chính sách công, trong đó có chính sách ứng dụng CNTT phải tuân theo Nói cách khác, việc xây dựng chính sách ứng dụng CNTT phải tuân thủ mọi quyền công dân, lợi ích quốc gia, giới hạn quyền lực của nhà nước

- Văn hóa chính trị: Có tác động mạnh mẽ đến chính sách công nói

chung và chính sách ứng dụng CNTT nói riêng, vì nó tạo nên niềm tin chính trị, ý thức của con người, thúc đẩy họ hướng tới những hành động tích cực, phù hợp với lý tưởng chính trị xã hội, từ đó tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó chính sách ứng dụng CNTT không phải là ngoại lệ

- Thể chế chính trị: Là yếu tố quan trọng trong hoạch định chính sách,

chính sách ứng dụng CNTT phải tùy thuộc vào thể chế chính trị để xây dựng, hoạch định cho phù hợp Khi thể chế thúc đẩy các tổ chức chính trị - xã hội, người dân, doanh nghiệp tham gia vào thảo luận chính sách, lập chính sách thì chính sách sẽ được tổ chức, thực hiện hiệu quả hơn

1.5.2 Các yếu tố bên trong

- Hệ thống các giá trị xã hội: Có sự ảnh hưởng lớn đến quá trình thảo

luận chính sách, đó là sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, nghề nghiệp, chủng loại, tầng lớp xã hội, các nhóm lợi ích tạo nên một hệ thống các giá trị xã hội Giá trị xã hội có vai trò định hướng khi các tổ chức xã hội tham gia vào quá trình chính sách

- Vai trò của công luận và truyền thông: Được thể hiện ở việc phản

ánh, bình luận quan điểm của người dân và cộng đồng, được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác về vấn đề bất cập của CNTT hiện nay Truyền thông là những phương tiện truyền tải, phản ảnh những thông tin làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách ứng dụng CNTT

Trang 34

- Hệ thống kinh tế: Là yếu tố quan trọng có tác động rất lớn đến việc

xây dựng chính sách ứng dụng CNTT Sự vận động của nền kinh tế kéo theo hàng loạt các vấn đề xã hội mới nảy sinh buộc các nhà hoạch định chính sách công phải tính toán xây dựng, vừa giải quyết tình huống, vừa lường trước tác động sau này Yếu tố kinh tế vừa là mục tiêu chính sách, nhưng đồng thời cũng là phương tiện, động lực đòi hỏi các nhà lập chính sách phải nghiên cứu, cân nhắc các yếu tố của hệ thống kinh tế trong các gói chính sách đề xuất

Ngoài ra, yếu tố năng lực của chủ thể lập chính sách cũng phải được cân nhắc Các năng lực phân tích, dự báo chính sách, năng lực phát hiện vấn

đề, khả năng chính trị hóa các vấn đề xã hội đóng một vai trò hết sức quan trọng trong giai đoạn xây dựng chính sách và thực hiện chính sách sau này

Do đó, các tổ chức chủ thể chính sách cần thường xuyên nâng cao năng lực tổ chức, năng lực đội ngũ cán bộ làm chuyên môn hoạch định chính sách nhằm góp phần tăng cường chất lượng chính sách Với địa vị pháp lý của mình, các

cơ quan chính là các chủ thể chính của xây dựng chính sách

1.5.3 Các yếu tố bên ngoài

Việc xây dựng, hoạch định chính sách ứng dụng CNTT còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như địa chiến lược, địa chính trị và lợi thế so sánh quốc gia, quan hệ kinh tế quốc tế

- Địa chiến lược: Là các giá trị chiến lược của các nhân tố địa lý trong

chính sách đối ngoại của một quốc gia và trong mối quan hệ của nó với các quốc gia khác Bên cạnh đó, các lợi thế so sánh quốc gia và các quan hệ kinh

tế cũng là yếu tố phải được tính đến trong quá trình hoạch định chính sách CNTT

- Địa chính trị: Là sự phân bố và tương quan giữa các lực lượng chính

trị trong mỗi nước, cũng như các nước và các nhóm giữa các bên có liên quan đến cơ cấu kinh tế - xã hội, các vấn đề hình thành các quốc gia hay các

Trang 35

vùng chính trị, biên giới, cơ cấu hành chính của các nước, các vùng Khái niệm địa chính trị để chỉ tất cả những gì có quan hệ ít nhiều đến các vụ việc đối ngoại mang tính chính trị, là mối tương tác giữa một bên là môi trường, bối cảnh với một bên là các tiến trình chính trị

Tiểu kết Chương 1

Trên cơ sở nghiên cứu “Những vấn đề lý luận về chính sách ứng dụng CNTT và thực hiện chính sách ứng dụng CNTT”, tôi rút ra một số kết luận sau:

CNTT giữ một vai trò rất quan trọng tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là tại Việt Nam, CNTT được xem là nền tảng vững chắc phục vụ cho tiến trình phát triển đất nước bền vững, hướng đến một trong những quốc gia có nền kinh tế, an ninh, chính trị, văn hóa, giáo dục, xã hội ổn định, tốt nhất tại Đông Nam Á và Thế giới

CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Ứng dụng CNTT nhằm thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh

tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc dân, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, bảo đảm an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt, đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNTT giữ vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay, là nhân tố quan trọng, là kênh kết nối trao đổi giữa các thành phần của xã hội, văn hóa, giáo dục, kinh tế và thời đại toàn cầu hóa

Trang 36

Tóm lại, CNTT có tầm ảnh hưởng, tác động rất lớn đến sự phát triển,

ổn định của doanh nghiệp và Chính phủ của mỗi quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay và cũng như trong tương lai Vì vậy,

sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước đến việc thực hiện chính sách ứng dụng CNTT là tất yếu

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ

HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Điều kiện xã hội và tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Đánh giá về điều kiện xã hội

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.041,91 km2

Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông Vùng đất liền nằm ở 15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15045’ đến 17015’ vĩ độ Bắc, 1110 đến 1130 kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam

Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung điểm của 04 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng

là Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua

Trang 38

hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững

Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài

ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp

Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố

Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam

Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân

sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố

Đà Nẵng hiện nay có 08 quận, huyện với 56 xã, phường Theo kết quả điều tra năm 2009 thì dân số thành phố là 887.435 người Năm 2013, dân số thành phố là 992.800 người Dân số Đà Nẵng đến năm 2015 là 1.029.000 người Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trên địa bàn năm 2012 là 46.368,6

tỷ đồng Trong ba năm liền từ 2008-2010, Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) đứng đầu cả nước Tuy nhiên năm 2012, PCI của Đà Nẵng tụt xuống thứ 12/63 tỉnh, thành phố Năm 2013, Đà Nẵng đã trở lại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Năm 2014 và 2015, Đà Nẵng tiếp tục giữ vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng, năm thứ ba liên tiếp trụ vững ngôi đầu bảng và lần thứ sáu thành phố này dẫn đầu cả nước kể từ khi chỉ số này được công bố 10 năm trước kể từ năm 2006 Trong những năm gần đây, Đà Nẵng đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội và được coi là "Thành phố đáng sống" của Việt Nam

Ngày đăng: 29/11/2017, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Đỗ Phú Hải (2014), Đánh giá chính sách công tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí khoa học chính trị, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chính sách công tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
25. UBND thành phố Đà Nẵng (2014), Quyết định số 9976/QĐ-UBND ngày 21/11/2011 bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong lĩnh vực ứng dụng CNTT của các cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Đà Nẵng 26. UBND thành phố Đà Nẵng (2014), Quyết định số 9642/QĐ-UBND ngày Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 9976/QĐ-UBND ngày 21/11/2011 bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong lĩnh vực ứng dụng CNTT của các cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Đà Nẵng" 26. UBND thành phố Đà Nẵng (2014)
Tác giả: UBND thành phố Đà Nẵng (2014), Quyết định số 9976/QĐ-UBND ngày 21/11/2011 bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong lĩnh vực ứng dụng CNTT của các cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Đà Nẵng 26. UBND thành phố Đà Nẵng
Năm: 2014
31. UBND thành phố Đà Nẵng (2016), Quyết định số 9020/QĐ-UBND ngày 28/12/2016 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc “Phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016 - 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 9020/QĐ-UBND ngày 28/12/2016 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc “Phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: UBND thành phố Đà Nẵng
Năm: 2016
1. Ban Chỉ đạo CNTT thành phố Đà Nẵng (2012), Báo cáo đánh giá chỉ số ứng dụng CNTT tại các Sở ban ngành, UBND các quận, huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2012 Khác
2. Bộ TTTT (2014), Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông về Quy định chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT Khác
3. Bộ TTTT (2015), Thông tư số 11/2015/TT-BTTTT ngày 05/5/2015 Quy định Chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT chuyên nghiệp Khác
4. Chính phủ (2010), Nghị định số 90/2010/NĐ-CP ngày 18/8/2010 của Chính phủ Quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Khác
5. Chính phủ (2011), Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan Đảng, Nhà nước Khác
6. Chính phủ (1993), Nghị quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin ở nước ta trong những năm 90 Khác
7. Chính phủ (2015), Nghị quyết số 01/2015/NQ-CP ngày 03/01/2015 về Tiếp tục xây dựng chương trình hợp tác với các Bộ, ngành, địa phương trên cả nước nhằm triển khai, nhân rộng mô hình hệ thống thông tin Chính quyền điện tử thành phố Đà Nẵng Khác
8. Chính phủ (2015), Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử Khác
9. Đỗ Phú Hải (2012), Những vấn đề cơ bản của Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Khác
11. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/07/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế Khác
12. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Công nghệ thông tin Khác
13. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 714/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia cần ưu tiên triển khai Khác
14. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 – 2020 Khác
15. UBND thành phố Đà Nẵng (2010), Quyết định số 7971/QĐ-UBND ngày 18/10/2010 về Quy định sử dụng hộp thư điện tử @danang.gov.vn trong hoạt động công vụ của các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Khác
16. UBND thành phố Đà Nẵng (2011), Quyết định số 10598/QĐ-UBND ngày 12 tháng 12 năm 2011, Ban hành Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 tại thành phố Đà Nẵng Khác
17. UBND thành phố Đà nẵng (2011), Quyết định số 733/QĐ-UBND ngày 24/01/2011 về việc Ban hành kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 Khác
18. UBND thành phố Đà Nẵng (2011), Quyết định số 9976/QĐ-UBND ngày 21/11/2011 về Quy chế bảo đảm an toàn an ninh thông tin trong lĩnh vực ứng dụng CNTT của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thuộc thành phố Đà Nẵng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w