1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI TẠI HƯNG THỊNH,TRẢNG BOM, ĐỒNG NAI VỤ HÈ THU NĂM 2007

79 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 887,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ kết quả thí nghiệm chúng tôi đưa ra một số kết luận sau: tất cả các giống ngô thí nghiệm đều sinh trưởng phát triển tốt, nhiễm sâu bệnh ở mức độ nhẹ đến trung bình, trong 17 giống thí

Trang 1

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI TẠI HƯNG THỊNH,TRẢNG BOM, ĐỒNG NAI

Trang 2

CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến:

Cha Mẹ và gia đình đã luôn bên cạnh động viên, hỗ trợ về tinh thần lẫn vật chất cho con trong suốt những năm đi học cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để con hoàn thành luận văn này

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông học cùng toàn thể quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Chúng tôi xin gởi lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy Hoàng Kim đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Hưng lộc và sự hướng dẫn tận tình của kỹ sư: La Đức Vực và Phạm Văn Ngọc cùng với sự giúp đỡ của các anh chị

em tại đây đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành quyển luận văn này

Các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã giúp đở và động viên trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin ghi tất cả sự giúp đỡ quý báu trên

Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quí thầy cô và các bạn sinh viên để luận văn này hoàn chỉnh hơn

Sinh viên thực hiện Trần Đắc Vương

Trang 3

Từ kết quả thí nghiệm chúng tôi đưa ra một số kết luận sau: tất cả các giống ngô thí nghiệm đều sinh trưởng phát triển tốt, nhiễm sâu bệnh ở mức độ nhẹ đến trung bình, trong 17 giống thí nghiệm có 16 giống ngô lai đơn thuộc nhóm chín trung bình thời gian chín hoàn toàn biến động từ 94 - 100 ngày Năng suất thực thu biến động từ (6073 - 9060 (kg/ha) Chỉ riêng giống ngô NT7204 thuộc nhóm chín muộn 105 (ngày), Kết quả thí nghiệm bước đầu đánh giá sơ bộ bảy giống 30M73, TF222, NK67, 30N34, NT6755, 30B80, P11 đã đạt được năng suất thực thu 9060 - 7152 kg/ha cao hơn hoặc tương đương so với giống đối chứng C919 (7524 kg/ha) Đặc biệt, giống ngô lai 30M73 đạt năng suất thực thu cao nhất (9060 kg/ ha), khác biệt rất có ý nghĩa so với C919, kế đó là các giống TF222 (8605 kg/ha), NK67 (8561 kg/ ha), 30N34 (7824, kg/ha) , NT6755 (7681 kg/ha)

Trang 4

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.2.2 Chọn tạo giống ngô trên thế giới 5

3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

3.2 Phương pháp thí nghiệm 12

Trang 5

3.5 Xử lý số liệu 18

4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Thời gian sinh trưởng 19

4.8.1 Thế năng quang hợp trước trổ cờ 38

4.8.3 Thế năng quang hợp cả chu kỳ 38

Trang 7

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn (2000 – 2006) 6

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Biểu đồ 4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của một số giống năng suất

cao hơn so với giống đối chứng C919

55

Biểu đồ 4.3 Tốc độ ra lá của của một số giống năng suất cao hơn so với

C919(đ/c)

56

Trang 9

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết nghiên cứu

Ngô là cây lương thực, cây thức ăn gia súc quan trọng trên thế giới, đồng thời cũng là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm, dược liệu và mặt hàng xuất khẩu có giá trị của nhiều nước Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế, nhu cầu về ngô toàn cầu đến năm 2020 sẽ vượt nhu cầu về lúa mì và lúa gạo, trong đó châu Á sẽ chiếm hơn một nửa của nhu cầu này (IFPRI 2005) Trong nhóm cây lương thực của thế giới, ngô đứng đầu về sản lượng và năng suất và đứng thứ ba về diện tích canh tác sau lúa mì và lúa nước Năm 2005, toàn thế giới trồng 145,20 triệu ha ngô, năng suất bình quân 4,90 tấn/ ha, sản lượng 712,33 triệu tấn Trong đó, ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng đứng hàng thứ hai sau lúa với diện tích trồng năm 2005 là 1,05 triệu ha, năng suất bình quân 3,6 tấn/ha, sản lượng 3,76 triệu tấn (Tổng cục Thống kê, 2007)

Giống ngô lai tốt là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả của canh tác ngô Nhu cầu về sản xuất và tiêu thụ ngô lai tại Việt Nam đang ngày càng tăng do cây ngô thích hợp sinh thái với nhiều vùng, nhiều

vụ và sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi Sự tăng dân số và quá trình đô thị hóa đã làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp đòi hỏi phải thâm canh tăng năng suất ngô trong đó sử dụng giống tốt là một trong những giải pháp hiệu qủa Đông Nam

Bộ là vùng trồng ngô trọng điểm của cả nước Những giống ngô lai trồng phổ biến tại địa bàn này là LVN10; CP888, C919; G49; B9698 và NK54 Trong đó, hai giống chủ lực là LVN10 và CP888 có năng suất cao, chất lượng hạt tốt, chịu thâm canh nhưng nhược điểm thời gian sinh trưởng dài, khó luân canh tăng vụ Các giống C919; G49; B9698 có năng suất cao hơn và thời gian sinh trưởng ngắn hơn CP888 nhưng giá hạt giống cao

Trang 10

Thời gian gần đây, nhiều giống ngô lai mới năng suất cao, phẩm chất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn đang được nhập nội hoặc lai tạo rất cần được khảo nghiệm để tuyển chọn giống tốt phù hợp sinh thái Xuất phát từ thực tiển sản xuất, được sự phân công của Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông học, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí

Minh và sự hướng dẫn của tiến sỹ Hoàng Kim, tôi đã thực hiện đề tài: “Khảo sát đặc

điểm sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trên đất đỏ Hưng Thịnh – Trảng Bom – Đồng Nai vụ hè thu năm 2007 ”

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian có hạn, đề tài chỉ tiến hành một vụ hè thu trên đất đỏ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai); khảo sát đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất và khả

năng chống chịu sâu bệnh, đổ ngã của 17 giống ngô lai và rút ra kết luận sơ bộ

Trang 11

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Lịch sử và nguồn gốc cây ngô

Cây ngô (Zea mays L.) thuộc họ hòa thảo (Gramineae) có nguồn gốc ở Châu Mỹ

Mexico là trung tâm phát sinh, Peru là trung tâm phát sinh thứ cấp (Vavilov, 1926) Khi tìm ra Châu Mỹ (1492), Christophe Comlomb đã mô tả đến cây ngô tại Cuba Từ

đó ngô được du nhập sang Châu Âu từ năm 1493, trồng ở vườn nhỏ ở Tây Ban Nha rồi phát triển sang Bồ Đào Nha, Pháp, Ý, vùng Đông Nam châu Âu và tiến sang Bắc và Tây Phi từ thế kỷ 16 do người buôn nô lệ Cũng từ thế kỷ này, ngô được trồng đầu tiên tại Ấn Độ và Trung Quốc của Châu Á Ngô là cây trồng có lịch sử trồng trọt tương đối trẻ, thế kỷ 15 mới nhập vào châu Âu và đầu thế kỷ 16 mới nhập vào châu Á, nhưng ngô đã phát triển với tốc độ khá nhanh đến các nước trên thế giới (Trần Thị Dạ Thảo 2003) Ngô vào Việt Nam được giả thuyết từ Trung Quốc hoặc từ Indonesia Theo nhà bác học Lê Quý Đôn nêu trong Vân đài loại ngữ thì vào thời Khang Hy (1662-1723) Trần Thế Vinh người huyện Tiên Phong, Sơn Tây sang sứ nhà Thanh đã lấy được giống ngô mang về nước trồng ở hạt Sơn Tây và gọi là “ngô” Một số tư liệu cho rằng người Bồ Đào Nha đã nhập ngô vào Java (Indonesia) khoảng năm 1496 có thể trực tiếp từ Nam Mỹ Sau đó ngô được chuyển từ Indonesia sang Đông Dương và Miến Điện (Ngô Hữu Tình 1997)

2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới

2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

Hiện nay trên thế giới, trong các cây ngũ cốc, ngô đứng đầu về năng suất, sản lượng và đứng thứ ba về diện tích canh tác sau lúa mì và lúa nước (Bảng 2.1) Năm

2005, toàn thế giới trồng 145,14 triệu ha ngô, năng suất bình quân 4,90 tấn/ ha, sản lượng 712,33 triệu tấn (FAO 2007)

Trang 12

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ngũ cốc trên thế giới năm 2005

Cây trồng Diện tích

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn/ha)

Cây ngô có khả năng thích ứng rộng và hàm lượng chất dinh dưỡng trong hạt ngô

cũng giàu hơn lúa mì và gạo (Ngô Hữu Tình 1997) Ngô cung cấp nhiều năng lượng

và có hàm lượng protit và lipid hơn hẳn gạo và khoai lang Toàn thế giới hiện sử dụng

khoảng 21% sản lượng ngô làm lương thực cho người, số còn lại làm thức ăn gia súc,

chế biến thực phẩm Tất cả các nước trồng ngô nói chung đều ăn ngô ở mức độ khác

nhau Các nước Trung Mỹ, Nam Á, Châu Phi ngô được sử dụng làm lương thực chính

Các nước Đông Nam Phi sử dụng 85% sản lượng ngô làm lương thực cho người, Tây

Trung Phi 80%, Bắc Phi 42%, Tây Á 27%, Nam Á 75%, Đông Nam Á và Thái Bình

Dương 39%, Đông Á 30%, Trung Mỹ và vùng Caribe 61%, Nam Mỹ 12%, Đông Âu

và Liên Xô cũ 4%, các thị trường chung phát triển 14% (Trần Thị Dạ Thảo, 2003)

Những nước trồng nhiều ngô trên thế giới là Hoa Kỳ với diện tích trồng 30,4 triệu ha, năng suất bình quân 9,29 tấn/ ha, sản lượng 282,31 triệu tấn; kế đến là Trung

Quốc với diện tích trồng 26,38 triệu ha; năng suất bình quân 5,29 tấn/ ha; sản lượng

139,50 triệu tấn Braxin có sản lượng ngô năm 2005 đạt 35,11 triệu tấn và Mexico đạt

18,01 triệu tấn (Bảng 2.2)

Trang 13

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô ở một số nước trên thế giới năm 2005

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Một số quốc gia có năng suất ngô cao Pháp 8,58 tấn/ha); Hoa Kỳ (9,36 tấn/ha);

Chile (11,18 tấn/ha); Đức (8,03 tấn/ha); New Zealand (10,8 tấn/ha); Austria(9,24

tấn/ha); Canada (8,48 tấn/ha); Hà Lan (10,19 tấn/ha) (phụ lục 1)

2.2.2 Chọn tạo giống ngô trên thế giới

Ngô lai (hybrid corn) là thành tựu quan trọng trong nền kinh tế thế giới Hai

phần ba số hạt giống ngô được bán trên toàn cầu hiện nay là hạt giống ngô lai Hướng

chính trong công nghệ tạo giống ngô lai là phương pháp tạo giống truyền thống Sự

can thiệp của công nghệ sinh học trong chọn tạo dòng thuần bằng nuôi cấy invitro đã

giúp cho công việc tạo dòng thuần một cách nhanh chóng và tiết kiệm thời gian so với

việc tạo dòng bằng phương pháp thông thường Các bộ phận thường dùng là bao phấn,

hạt phấn tách rời và noãn chưa thụ tinh giúp nhanh chóng tạo ra các giống ngô lai mới

Việc ứng dụng công nghệ chuyển gen cũng đã phát triển mạnh Các nhà khoa học đã

ứng dụng chuyển gen Bt kháng thuốc trừ cỏ vào cây ngô, làm tăng năng suất ngô từ

1,2 - 5,1 tấn/ha so với ngô (http://www.agbiotech.com.vn)

2.3 Tình hình sản xuất và chọn tạo giống ngô ở Việt Nam

2.3.1 Sản xuất ngô ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau lúa ngô được

trồng ở khắp các miền nước ta từ đồng bằng, trung du và miền núi do điều kiện tự

Trang 14

nhiên thuận lợi phù hợp cho sinh trưởng phát triển của cây ngô Diện tích, năng suất

sản lượng ngô Việt Nam đều gia tăng trong những năm gần đây (Bảng 2.3)

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006

(1000 ha)

Năng suất (tấn/ha)

Tổng sản lượng (1000 tấn)

Việt Nam có tám vùng trồng ngô chính được trình bày tại Bảng 2.4:

Vùng Đồng Bằng Sông Hồng: diện tích khoảng 81.000 ha, năng suất 4,08 tấn/ha, sản

Trang 15

Bảng 2.4 Diện tích năng suất sản lượng ngô (2003 – 2005) của 8 vùng sinh thái

2003 2004 2005 2003 2004 2005 2003 2004 2005 ĐBSH 85,5 84,0 81,9 3,75 4,09 4,0,8 301,6 343,4 334,3

2.3 2 Chọn tạo giống ngô ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước châu Á đã đạt được những thành công cao trong việc chọn tạo và chuyển giao công nghệ sản xuất hạt giống lai vào sản xuất Diện tích và năng suất ngô lai Việt Nam ngày càng tăng Năm 2000 sản lượng ngô đạt 2,00 triệu tấn thì đến năm 2005 đã đạt sản lượng 3,78 triệu tấn, tăng gần gấp đôi sau 5 năm Đạt được những thành quả trên là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm đổi mới

cơ chế, chính sách cùng các giải pháp quan trọng khác như tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp (thủy lợi, giao thông, điện, phân bón) áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ Đặc biệt, việc sử dụng các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt là yếu tố quan trọng góp phần tăng năng suất và sản lượng Yếu tố đóng góp của khoa học công nghệ cho việc nâng cao năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam ngày càng được khẳng định

rõ nét trong thời kỳ đổi mới Bên cạnh việc nhập nội nhiều giống ngô lai Nhà nước có chủ trương đầu tư tạo điều kiện cho các địa phương tự sản xuất giống ngô lai nhằm chủ động nguồn giống tốt, giá thành thấp, cung cấp kịp thời cho sản xuất để hạn chế việc mua giống ngô lai từ nước ngoài

Trang 16

Cuộc cách mạng về giống ngô lai của Việt Nam đã góp phần tăng nhanh diện tích, năng suất và sản lượng ngô trong toàn quốc, đưa nước ta đứng vào hàng ngũ những nước trồng ngô lai tiên tiến của vùng châu Á Mười lăm năm qua (1990-2004)

kể từ khi hạt giống ngô lai đơn được đưa vào sản xuất năm 1990 với diện tích 5 ha cho đến nay diện tích trồng ngô lai đã đạt trên 70% tổng diện tích trồng ngô của cả nước

Trong số 79 giống ngô được gieo trồng trên cả nước năm 2003 có 30 giống chủ lực được gieo trồng trên 1.000 ha trở lên Nhóm giống có diện tích trên 10.000 ha có LVN10; CP888; CP999; C919; G49; P11; B9681; CP989 Nhóm giống có diện tích 5.000 - 10.000 ha có LVN4; B9797; P60; Nếp Nù; Tẻ địa phương Nhóm giống có diện tích 1.000 – 5.000 ha có HQ2000; Ngô Nù xanh; VN4; TSB1; NK46; LVN17; Nếp Vàng; P848; LVN2; VN2; LS6; MX4; MX2; NK4300; B9999 Khoảng 22 giống ngô mới được công nhận chính thức và tạm thời giai đoạn 2001 đến 2004 được trồng trên diện tích 86.498 ha vào năm 2004 đã góp phần làm tăng sản lượng ngô 30.188 tấn

và làm lợi cho sản xuất khoảng 60,4 tỷ đồng (www.agbiotech.com)

Những năm gần đây, cây ngô đang trở thành đối tượng được quan tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong việc tạo dòng thuần nhanh bằng phương pháp nuôi cấy mô, nuôi cấy noãn và nuôi cấy bao phấn Hướng nghiên cứu này cho phép rút ngắn thời gian tạo giống ngô lai Một số giống ngô lai mới đã được tạo ra bằng công nghệ sinh học như LVN 145; LVN 885 có triển vọng cho năng suất cao, chất lượng tốt, góp phần phát triển cho nền nông nghiệp Việt Nam

Công nghệ sản xuất hạt giống ngô lai của nước ta cũng đang ngày càng hoàn thiện Việt Nam hiện đã chủ động cao nguồn hạt giống ngô lai trong nước và bắt đầu tham gia thị trường xuất khẩu hạt giống ngô lai từ năm 2000, năm 2003 đã có 150 tấn ngô lai được xuất khẩu sang Lào; Campuchia; Indonesia; Bangladet và Ấn Độ Hạt giống ngô lai hiện có tiềm năng lớn đối với thị trường trong nước và xuất khẩu (La Đức Vực, Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc 2006)

Trang 17

2.4 Sản xuất ngô ở Đồng Nai

Đồng Nai là một trong những tỉnh có diện tích, tỷ lệ sử dụng giống ngô lai cao và

tốc độ phát triển ngô lai nhanh nhất nước vì có những điều kiện thuận lợi: Đất bazan

nâu đỏ và khí hậu thích hợp cho việc trồng ngô Nông dân Đồng Nai có tập quán sản

xuất, tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật Đồng Nai có nhiều nhà máy

chế biến thức ăn gia súc nên nhu cầu tiêu thụ ngô ngày càng tăng Các công ty vật tư

nông nghiệp Đồng Nai đã tổ chức tốt mạng lưới cung ứng giống và vật tư So với các

cây ngắn ngày khác thì cây ngô là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao

Mặc dù Đồng Nai có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng có những hạn chế

làm ảnh hưởng đến năng suất ngô: Nguồn nước tưới cho cây ngô hạn chế, chủ yếu là

nhờ nước trời Địa hình phức tạp nên hiệu quả sử dụng nước kém và khó cơ giới hoá

Giá hạt giống cao gấp gần 10 lần so với hạt giống thương phẩm Điều kiện xây dựng

hệ thống cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư lớn

Qua bảng 2.5 cho thấy diện tích ngô ở Đồng Nai biến động từ 59,8 – 68,9 nghìn ha,

năng suất từ 3,37 tấn / ha năm 2000 tăng lên đến 4,92 tấn/ ha năm 2005 Sản lượng

tăng từ 232,9 nghìn tấn năm 2000 lên 294,3 nghìn tấn năm 2005

Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở Đồng Nai giai đoạn 2000 – 2006

(1.000 ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (1.000 tấn)

Hướng phát triển ngô lai ở Đồng Nai đến năm 2010 là duy trì diện tích ở quy mô

65 ngàn ha nhưng đưa năng suất lên 5,0 tấn/ ha (Bảng 2.6), trong đó yếu tố giống và

quy trình thâm canh ngô lai thích hợp sinh thái của từng tiểu vùng là rất quan trọng

Trang 18

Bảng 2.6 Hướng phát triển ngô của tỉnh Đồng Nai đến 2010

(ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (tấn/ha)

(Nguồn: Tổng cục Thống kê 2006)

Trang 19

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu

Thí nghiệm được tiến hành với 17 giống ngô lai đơn, giống đối chứng là C919

Bảng 3.1 Các giống ngô thí nghiệm tại Trung tâm Hưng Lộc vụ hè thu 2007

Nam

Trang 20

3.2 Phương pháp thí nghiệm

3.2.1 Điều kiện tự nhiên

Đất đai: Thí nghiệm được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc xã Hưng Thịnh huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, cách thành phố Hồ Chí Minh 60 km về hướng Đông Bắc Đất làm thí nghiệm thuộc loại đất đỏ nâu, có độ cao trung bình, mặt đất tương đối bằng phẳng, độ dốc từ 0,5 – 1o Kết quả phân tích đất thí nghiệm (Bảng 3.2) cho thấy: đất canh tại khu thí nghiệm thuộc loại đất sét, hơi chua, chất hữu cơ trung bình, nghèo lân, Canxi, Mg, Kali Cần bón thêm vôi và chất hữu cỏ trước khi trồng

Bảng 3.2: Kết quả phân tích đất thí nghiệm (*)

pháp so màu.; P2O5 dt: Bray NO 1

Thời tiết, khí hậu: Thí nghiệm được tiến hành trong vụ hè thu năm 2007, ngày

trồng ngày 9 tháng 5 năm 2007, thu hoạch ngày 11 tháng 08 năm 2007 (Bảng 3.3)

Bảng 3.3 Số liệu khí tượng các tháng thí nghiệm tại trạm đo Long Khánh năm 2007

Tháng

Nhiệt độ trung bình

( oC)

Ẩm độ không khí

Lượng mưa (mm)

Bốc thoát hơi nước (mm/ngày)

Nắng (giờ)

Gió mạnh (m/s)

TB Max Min TB Min

Trang 21

Nhiệt độ từ tháng 5/2007 đến tháng 8/2007 tại đia bàn nghiên cứu biến động từ

246,5 - 344,4 mm; bốc thoát hơi nước 65,7-87,3 mmm/ ngày Tình hình thời tiết khí

hậu trong các tháng thí nghiệm thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển của cây trồng

3.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầu đủ hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 17

nghiệm thức với 3 lần lập lại Diện tích ô thí nghiệm 15m2 Tổng diện tích thí nghiệm:

765m2 chưa kể hàng bào vệ

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

30B80 CP3A 30D44 TF222 H13V00 NT6755 30N34 C919(đ/c) C919(đ/c)

NT7204 30K95 30B80 30K95 NK67 30N34 NK67 P11 CP888 30D44 30M73 NT7204 C1919(đ/c) SA552 TF222

NT6755 CP888 CP3A 30B07 30B80 NK67 CP888 30N34 30K95 H13V00 30D44 P12 P12 NT7204 P11 SA552 NT6755 SA552 30M73 30B07 H13V00 CP3A TF222 30B07

Lô bảo vệ

Trang 22

Hình 3.1: Toàn cảnh ruộng thí nghiệm so sánh 17 giống ngô lai

3.3 Quy trình kỹ thuật đã áp dụng

a Chuẩn bị đất

Đất cày sâu 25 – 30cm, phay nhỏ, bừa phẳng, nhặt sạch cỏ Dùng dây chia đất thành các băng lớn, nhỏ, mỗi băng là một lần nhắc lại Rạch mương thoát nước rộng 0,5m Mương phụ rộng 0,4m (là khoảng cách giữa các nghiệm thức) Rạch hàng sâu

để tỉa hạt, mỗi ô thí nghiệm 4 hàng

b Khoảng cách và mật độ trồng

Khoảng cách trồng: hàng cách hàng 0,75m, cây cách cây 0,25m Mỗi hốc gieo 2

hạt, khi cây 3 – 4 lá thì tỉa cây chỉ để mỗi hốc một cây trước khi bón thúc lần 1

Mật độ trồng 53.333 cây / ha

c Bón phân và làm cỏ

Bón vôi trước khi bón lót cách 10 – 15 (NSG) Bón lót toàn bộ lượng phân hữu

cơ, phân lân, phân vi sinh Bón thúc chia làm 3 lần công thức phân: 140N – 80P2O5 – 80K2O

Lần 1: 1/3N + 1/3K2O vào lúc 10 – 12 NSG (Giai đoạn 3 - 4 lá)

Lần 2: 1/3N + 1/3K2O vào lúc 24 – 26 NSG (Giai đoạn 8 - 9 lá)

Lần 3: 1/3N + 1/3K2O vào lúc 35 – 40 NSG (Giai đoạn 12-14 lá)

Trang 23

Cách bón phân: bón theo hốc, cách gốc 10 – 15cm, mỗi lần bón kết hợp với làm

cỏ, xới xáo, vun gốc

d Chăm sóc thí nghiệm:

Thường xuyên theo dõi sự sinh trưởng phát triển của cây ngô, tỉa dặm, định cây, đảm bảo mật độ xới xáo nhẹ quanh gốc cây lúc ngô 3- 4 lá kết hợp bón thúc lần 1

Làm cỏ, xới xáo, vun gốc, bón thúc lần hai lúc ngô 8 - 9 lá Nhổ cỏ, bón thúc lần ba

lúc ngô 12-14 lá Phòng trừ sâu bệnh khi cây xuất hiện, sử dụng Basuzan 10 H để trừ

sâu đục thân

e Thu hoạch

Thu hoạch bằng tay, thu 2 hàng giữa, đo ẩm độ hạt ngoài đồng bằng máy đo ẩm

độ, tính năng suất và các chỉ tiêu liên quan

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Thực hiện theo đúng phương pháp nghiên cứu cây ngô của Chương trình Ngô Quốc gia và Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam Các chỉ tiêu theo dõi ở hai hàng giữa của mỗi ô thí nghiệm, tiến hành 10 ngày đo một lần Quy ước: nếu có 70% số cây ở mỗi ô đạt ở giai đoạn nào thì xem như giai đoạn đó hoàn thành

a Thời gian sinh trưởng

Theo dõi ngày mọc mầm, giai đoạn 9 – 10 lá, giai đoạn trổ cờ phun râu và giai đoạn chín hoàn toàn

b Chiều cao cây (cm) và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/ngày)

Chiều cao cây được đo theo phương pháp vuốt lá đo từ mặt đất đến chót lá cao nhất của 5 cây mẫu chọn ngẫu nhiên trên ô Chiều cao cuối cùng (cm): tiến hành đo khi ngô thâm râu Chiều cao đóng bắp (cm): chiều cao đóng bắp đo từ mặt đất đến đốt mang bắp trên cùng, đo cùng cây với cây đo chiều cao cây Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/ngày) được tính theo công thức: (H2 – H1)/T Trong đó: H2 là chiều cao cây đo lần sau, H1 là chiều cao cây đo lần trước, T là thời gian giữa hai lần đo

Trang 24

c Số lá và tốc độ ra lá

Đếm số lá của 5 cây mẫu định kỳ 10 ngày một lần Tốc độ ra lá (lá/cây/ngày) tính theo công thức: (SL2 – SL1)/T Trong đó SL2 là số lá đếm lần sau, SL1 là số lá đếm lần trước T là thời gian giữa hai lần đếm

d Diện tích lá (dm 2 /cây) và chỉ số diện tích lá (m 2 lá/m 2 đất)

Đo diện tích lá (dm2/cây)của 5 cây mẫu trên một nghiệm thức theo công thức của Ivanor: S = a x b x k Trong đó :S là diện tích lá (dm2); a là chiều dài lá đo từ cổ lá đến chóp lá; b là chiều rộng lá đo ở chỗ rộng nhất của phiến lá; k là hệ số = 0,7

Chỉ số diện tích lá (LAI ) được tính theo công thức:

LAI (m2lá/m2 đất) = (Diện tích lá /cây x Mật độ cây/ha) /10.000m2

e Thế năng quang hợp (m 2 lá/cây/ngày)

[(S1 + S2)/2 x t1 + (S2 +S3)/2 x t2 + … + (Sn-1 + Sn)/2 x tn – 1]

Trong đó: S1:diện tích lá đo lần 1; S2: diện tích lá đo lần 2; Sn: diện tích lá đo lần n

t1:thời gian giữa hai lần đo 1 và 2 (ngày); t2: thời gian giữa hai lần đo 2 và 3 (ngày);

tn – 1: thời gian giữa hai lần đo (n – 1) và n (ngày)

f Trọng lượng chất khô (g/cây), tốc độ tích lũy chất khô (g/cây/ngày)

Lúc thu hoạch, nhổ 2 cây trên mỗi ô, sau đó cân trọng lượng tươi toàn cây băm nhỏ, trộn đều lấy 200g đem sấy khô kiệt đến khi trọng lượng không thay đổi nữa thì đem cân trọng lượng khô kiệt này Từ đó tính ra trọng lượng chất khô cho một cây

Tốc độ tích lũy chất khô được tính bằng g/cây/ngày là trọng lượng chất khô của một cây chia cho số ngày theo dõi

g Khả năng chống đổ ngã

Hệ thống chỉ tiêu xác định khả năng chống đỗ ngã của một giống gồm: đường kính gốc (cm), chiều cao cây (cm), chiều cao đóng trái (cm), tỷ lệ chiều cao đóng trái/chiều cao cây (%), tỷ lệ đổ ngã (%)

Trang 25

Đường kính gốc được đo cách gốc 20cm khi cây chín hoàn toàn, mỗi nghiệm thức đo 5 cây 3 lần lặp lại Chiều cao đóng trái đo từ cổ rễ đến chân bắp hữu hiệu mỗi nghiệm thức đo 5 cây 3 lần lặp lại Chiều cao cây đo từ cổ rễ đến điểm phân nhánh cờ đầu tiên Tỷ lệ đổ ngã (%): đếm số cây đổ ngã trên tổng số cây của hai hàng giữa ở mỗi ô thí nghiệm Các cây nghiêng một góc ≥30o so với chiều nghiêng góc mặt đất thì được xem như là đổ ngã

h Đánh giá tình hình sâu bệnh

- Sâu đục thân (Ostinia nubicalis)

Đếm số cây bị sâu đục thân trên hai hàng giữa của mỗi ô thí nghiệm Sau đó, tính

tỷ lệ sâu hại (TLSH) theo công thức: TLSH (%) = (số cây bị hại/số cây điều tra) x 100

- Bệnh cháy lá nhỏ (Helminthosporium maydis)

Đánh giá tỷ lệ bệnh (TLB) và chỉ số bệnh (CSB) theo các công thức:

TLB( % ) = ( số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra ) x 100

CSB( % ) = [(1a + 2b + 3c + 4d + 5c)/(5 x tổng số lá theo dõi)] x 100

Trong đó a, b, c, d, e là số các lá bệnh ở các cấp tương ứng 1, 2, 3, 4, 5: Cấp 1: diện tích lá bị bệnh 1-5%; Cấp 2: diện tích lá bị bệnh 6 - 15%; Cấp 3: diện tích lá bị bệnh 16- 30%; Cấp 4: diện tích lá bị bệnh 31 - 50%; Cấp 5: diện tích lá bị bệnh >50%

- Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani)

Đánh giá tỷ lệ bệnh (TLB) và chỉ số bệnh (CSB) theo các công thức:

TLB ( % ) = ( số cây bị hại/tổng số cây điều tra) x 100

CSB ( % ) = (4n1 + 3n2 + 2n3 + n4)/4 x N x 100

Trong đó: N: tổng số cây điều tra; n1: số cây có bẹ lá mang bắp bị hại; n2: số cây

có bẹ lá thứ nhất dưới lá mang bắp bị hại; n3: số cây có bẹ lá thứ hai lá mang bắp bị hại; n4: số cây có bẹ lá thứ 3 dưới lá mang bắp bị hại)

i Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

- Các yếu tố cấu thành năng suất

+ Số trái hữu hiệu trên cây = tổng số trái thu hoạch/tổng số cây thu hoạch

+ Số hàng trên trái: mỗi nghiệm thức đếm 10 trái, lấy trung bình

Trang 26

+ Số hạt trên hàng: đếm 10 trái trên một nghiệm thức, lấy trung bình

+ Trọng lượng 1000 (P1000) hạt: mỗi nghiệm thức chọn 10 trái lấy hạt trộng đều lấy

3000 hạt sấy khô, cân từng 1000 hạt rồi lấy trung bình của 3 lần cân

+ Tỷ lệ hạt trên trái (%): lấy mẫu 5 trái/giống tách hạt, phơi khô hạt và cùi, khi ẩm độ hạt và cùi hạt đạt 14 – 15%, cân trọng lượng hạt, trọng lượng cùi

+ Tính tỷ lệ hạt/trái = [trọng lượng hạt/(trọng lượng hạt/(trọng lượng hạt + cùi)] x 100

- Năng suất lý thuyết (kg/ha)

Năng suất lý thuyết (kg/ha) = mật độ cây/ha x số hàng/trái x số hạt/hàng x số trái hữu hiệu/cây x P1000 hạt

- Năng suất thực thu (kg/ha)

Trang 27

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thời gian các giai đoạn sinh trưởng của 17 giống ngô lai

Thời gian sinh trưởng là yếu tố quan trọng có ý nghĩa trong sản xuất thời gian sinh trưởng của cây dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, mùa vụ, vùng sinh thái và kỹ thuật canh tác Việc xác định được thời gian sinh trưởng của giống có ý nghĩa rất lớn

để giúp chúng ta tác động các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây và chủ động bố trí thời vụ hợp lý cho từng vùng sinh thái và điều kiện thâm canh, tạo điều kiện cho cây trồng phát huy hết khả năng sinh trưởng, phát triển và đặc tính của giống nhằm mang lại cho người trồng lợi tức cao nhất Hiện nay, nông dân có xu hướng ưa chuộng các giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày, năng suất cao để bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp trong năm như luân canh, xen canh, trồng gối, tăng vụ nhằm giảm chi phí sản xuất và rủi ro do thiên tai gây ra Do đó người làm công tác nghiên cứu giống cần tuyển chọn ra các giống ngô lai phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng và tập quán canh tác của người dân

Cây ngô từ gieo đến thu hoạch trải qua các giai đoạn sống khác nhau Mỗi giai đoạn cây ngô có một đặc điểm riêng và yêu cầu kỹ thuật chăm sóc khác nhau Do đó người trồng ngô cần phải nắm được các đặc điểm của từng giai đoạn từ đó có các biện pháp chăm sóc phù hợp Thời gian sinh trưởng phụ thuộc nhiều yếu tố giống, đất đai, biện pháp canh tác, điều kiện thời tiết khí hậu Vì vậy, việc tuyển chọn các giống ngô lai có thời gian sinh trưởng phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng là vấn đề quan tâm của người làm công tác nghiên cứu chọn tạo giống

Theo bảng 4.1 cho ta thấy:

4.1.1 Giai đoạn từ gieo đến mọc

Nẩy mầm là quá trình chuyển từ trạng thái ngủ nghỉ của hạt sang trạng thái sinh trưởng phát triển của cây Giai đoạn này có đặc điểm là phụ thuộc các chất dự trữ

Trang 28

trong hạt Ngô là cây ưa nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp cho quá trình nẩy mầm của hạt là 25 – 30oC, độ ẩm đất thích hợp khoảng 70%, đất phải tơi xốp, đủ ôxy, hạt giống

sẽ nẩy mầm nhanh Theo dõi thời gian nẩy mầm nhằm đánh giá chất lượng hạt giống Những giống có thời gian nẩy mầm chậm thường gặp rủi ro do cao hơn các giống nẩy mầm nhanh Giống ngô tỷ lệ nẩy mầm cao, thời gian nẩy mầm nhanh là cơ sở cho độ đồng đều cao sau này Chất lượng hạt giống tốt có thể tăng 5 – 10 % năng suất, đồng thời cho phép tiết kiệm số lượng hạt giống gieo trồng trên một đơn vị diện tích

Bảng 4.1 Thời gian các giai đoạn sinh trưởng của 17 giống ngô lai:

NT Giống

Ngày sau gieo (NSG)

Trang 29

Qua theo dõi thí nghiệm hầu hết các giống đều mọc sau 4 ngày gieo với tỷ lệ nẩy mầm trên 70%, chứng tỏ chất lượng hạt giống của 17 giống ngô đều tốt, có 2 giống mọc chậm hơn 1 ngày là NT7204 và 30B07 (5 ngày)

4.1.2 Giai đoạn từ gieo đến 9 – 10 lá

Giai đoạn này bộ rễ phát triển mạnh dần để hút chất dinh dưỡng đồng thời phát triển nhanh dần thân lá Theo Đinh Thế Lộc và ctv (1997), giai đoạn này cây chuyển từ trạng thái sống nhờ chất dự trữ trong hạt sang trạng thái hút chất dinh dưỡng của đất

và quang hợp của bộ lá Tuy nhiên giai đoạn này thân lá trên mặt đất phát triển chậm Cây ngô bắt đầu phân hóa bước 2 – 4 của bông cờ, lóng thân bắt đầu được phân hóa Các lớp rễ đốt được hình thành và phát triển mạnh hơn ở thân lá Đây là giai đoạn làm đốt, hình thành các lớp rễ đốt và hình thành các cơ quan sinh sản đực

Theo dõi giai đoạn 9 – 10 lá nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển nhanh hay chậm, mạnh yếu của từng giống và các biện pháp kỹ thuật tác động vào giai đoạn này là giúp cây sinh trưởng phát triển mạnh, bộ rễ ăn sâu, rộng: (xới xáo, làm cỏ, vun gốc, cung cấp dinh dưỡng) Các giống ngô lai đạt 9 – 10 lá biến động từ (27 – 31 NSG) Giống đạt sớm nhất là 30B07 (27 NSG) Giống chậm nhất là 30K95 và CP3A (32NSG)

4.1.3 Giai đoạn trổ cờ

Giai đoạn trổ cờ, phun râu có ý nghĩa quan trọng quyết định đến năng suất hạt ngô, cơ quan sinh trưởng sinh thực phát triển mạnh các chất dinh dưỡng cơ bắt đầu tập trung mạnh vào các bộ phận sinh sản Cây ngô ở giai đoạn này hầu như đã đạt độ cao

ổn định Ở điều kiện ngoài đồng, tung phấn thường xảy ra vào buổi sáng và đầu buổi chiều Các giống khác nhau có thời gian trổ cờ khác nhau Giống trổ cờ sớm thường có thời gian sinh trưởng ngắn hơn giống trổ cờ muộn Giống TF222 trổ cờ sớm nhất là 46 NSG Giống đối chứng C919 trổ cờ (49 NGS) Giống trổ cờ muộn nhất là NT7204 (56 NSG) Các giống còn lại có thời gian trổ cờ biến động từ (47 – 52 NSG)

4.1.4 Giai đoạn phun râu

Sự chênh lệch thời gian giữa tung phấn và phun râu ảnh hưởng lớn đến năng suất Theo wooky (1992), các giống có thời gian chênh lệch giữa trổ cờ và phun râu

Trang 30

càng ngắn thì xu hướng cho năng suất cao, giống có thời gian giữa tung phấn và phun râu càng dài cho năng suất càng thấp Theo Alrich: “lượng hạt phấn chưa bao giờ là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất mà một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất

là sự phun râu muộn của các giống Nhiệt độ thích hợp 22 – 25oC, ẩm độ 75 – 80% độ

ẩm tối đa đồng ruộng độ ẩm không khí 80%, trời lặng gió nhẹ, ít mưa, nắng nhẹ Trong điều kiện thời tiết thuận lợi, thời gian tung phấn, phun râu gần nhau có lợi cho quá trình thụ tinh, ngô mới nhiều hạt do đó theo dõi thời gian tung phấn, phun râu có ý nghĩa giúp chúng ta bố trí thời vụ sao cho quá trình tung phấn, phun râu gặp điều kiện thời tiết thuận lợi là một trong những yếu tố quan trọng để tăng năng suất Qua theo

dõi thí nghiệm (Hình 4.1) chúng tôi nhận thấy sự chênh lệch giữa trổ cờ và phun râu

của 17 giống ngô khảo sát có thời gian ngắn khoảng 3 – 4 (ngày) rất có lợi cho quá trình thụ phấn Do điều kiện thời tiết thuận lợi, giống tốt Giống có thời gian phun râu sớm nhất là TF222 (49 NSG) NT7204 có thời gian phun râu muộn nhất (57 NSG) Giống C919(đ/c) có thời gian phun râu: (52 NSG) Các giống còn lại có thời gian phun

râu biến động từ (50 – 56 NSG)

Hình 4.1 Giai đoạn trổ cờ phun râu

4.1.5 Giai đoạn chín hoàn toàn

Đây là thời kỳ kết thúc chu kỳ sinh trưởng của cây, xác định được giống dài hay ngắn ngày Lúc này chất dinh dưỡng hạt đạt cao nhất hạt bắt đầu mất nước, khi lá bi bao bắt đầu chuyển sang màu vàng hoàn toàn và chân hạt xuất hiện chấm đen

Trang 31

Giống có thời gian chín hoàn toàn sớm nhất là TF222 (94 NSG) Chín muộn nhất là NT7204 (105 NSG) Giống đối chứng có thời gian chín hoàn toàn (95 NSG) Các giống còn lại có thời gian chín hoàn toàn biến động từ (95 – 101 NSG)

4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của 17 giống ngô thí nghiệm

Chiều cao cây phụ thuộc vào đặc tính của từng giống liên quan đến yếu tố di truyền và các yếu tố khác như: đất đai, nước, dinh dưỡng, biện pháp kỹ thuật Đây là chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng phát triển của quần thể, chỉ tiêu này liên quan đến năng suất và khả năng chống đổ ngã của cây, có ý nghĩa quyết định đến mật độ trồng Nói chung các giống cao cây thì mật độ thường nhỏ hơn giống thấp cây Đây là chỉ tiêu quan trọng cho các nhà chọn tạo giống Theo Erawin: “ trong một chừng mực nào

đó, giống có chiều cao cây thường cho năng suất cao” Trong thực tế sản xuất, thường

có xu hướng chọn giống thấp cây, lá thẳng, tán gọn, lá màu xanh đậm nhằm hạn chế

đổ ngã và tăng mật độ, dễ chăm sóc, thu hoạch

Động thái tăng trưởng chiều cao cây của 17 giống ngô lai thí nghiệm tăng dần theo quy luật sinh trưởng phát triển, từ lúc mọc tăng chậm sau đó tăng nhanh đến giai đoạn trổ cờ và đạt ổn định vào 70 – 80 ngày sau gieo

Qua bảng 4.2 ta nhận thấy:

Giai đoạn 14 NSG: Giai đoạn này cây sống chủ yếu dựa vào dinh dưỡng có trong hạt nên chiều cao cây ít biến động Giống TF 222 đạt chiều cao cây cao nhất là 45,5cm/cây Giống 30K95 có chiều cao thấp nhất là 34,4 cm/cây, kế đến là giống NT7204 đạt 34,7 cm/cây Các giống còn lại có chiều cao cây biến động từ 36,1 – 42,4 cm/cây Giống đối chứng C919 đạt chiều cao cây 38,9 cm/cây

Giai đoạn 24 NSG: giống TF222 đạt chiều cao cây cao nhất là 101,2 cm/cây

Giống có chiều cao thấp nhất là 30K95 (74,6 cm/cây) Giống C919(đ/c) có chiều cao cây đạt 89,4 cm/cây, các giống còn lại có chiều cao cây biến động từ 84,1 – 96,2

cm/cây, chênh lệch không đáng kể so với đối chứng C919

Trang 32

Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) của 17 giống ngô lai tại Trung

tâm Hưng Lộc Đồng Nai vụ hè thu năm 2007:

Giai đoạn 34 NSG: giai đoạn này chiều cao cây tăng vọt do bộ rễ ăn sâu, phân

bố rộng hút chất dinh dưỡng mạnh Tùy từng giống có bộ rễ phát triển nhanh hay chậm

mà chiều cao cây sẽ thay đổi nhiều hay ít Giống TF222 luôn sinh trưởng phát triển mạnh đạt chiều cao nhất là 163 cm Ba giống có chiều cao thấp nhất là SA55, CP3A và 30K95 đạt tương ứng 140 cm, 141 cm và 142 cm Giống C919 có chiều cao cây 151

cm Các giống còn lại có chiều cao cây biến động từ 149 – 160 cm

Giai đoạn 44 NSG: thân lá phát triển rất mạnh cả về kích thước lẫn số lượng, bộ

rễ ăn sâu, tỏa rộng, xuất hiện rễ chân kiềng, cơ quan sinh sản phân hóa mạnh Đây là thời kỳ cần nhiều dinh dưỡng và nước Giống P11 chiều cao cây cao nhất là 242 cm

Trang 33

Giống có chiều cao cây thấp nhất là 216 cm Giống C919 có chiều cao cây 219 cm Các giống còn lại có chiều cao cây biến động từ 217 – 236 cm

Giai đoạn 54 NSG: thời kỳ này hầu hết các giống thí nghiệm đã trổ cờ, phun râu

nên chiều cao cây vẫn tiếp tục tăng nhưng chậm và không đáng kể Chất dinh dưỡng chủ yếu tập trung vào nuôi các cơ quan sinh sản Giống P11 có chiều cao cây cao nhất đạt 250cm Giống 30K95 có chiều cao cây thấp nhất đạt 223 cm kế đến là giống P12 đạt 223 cm Các giống còn lai có chiều cao cây biến động từ 224 – 242 cm Giống đối

chứng C919 có chiều cao cây đạt 224cm

Giai đoạn 64 NSG: giống P11 đạt chiều cao cây cao nhất là 254 cm, giống có

chiều cao cây thấp nhất là CP3A đạt 225 cm/cây Các giống còn lại biến động từ 226 225cm Giống C919 có chiều cao tương đối thấp hơn so với nhiều giống thí nghiệm

-chiều cao cây là 225 cm

Giai đoạn 74 NSG: giai đoạn này hầu hết các giống đã đạt được chiều cao cây

tối đa và ổn định, Giống C919 có chiều cao cây là 226 cm Giống có chiều cao cây cao nhất là P11 đạt 256 cm Giồng cao cây thấp nhất là CP3A đạt 226 Các giống còn lại có chiều cao cây biến động từ 226 – 245 cm

4.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm) của 17 giống ngô lai

Đánh giá tốc độ tăng trưởng chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng để

nắm vững đặc điểm sinh trưởng, phát triển và nhu cầu dinh dưỡng của mỗi giống qua

đó có các biện pháp tác động phù hợp, giúp cho cây phát triển tốt Theo Sayre (1948), cây ngô hấp thu nhiều đạm nhất từ 10 ngày trước trổ đến 25 ngày sau trổ, lúc này mỗi ngày cây có thể hấp thu 4,5 kg N/ha

Trang 34

Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/ngày)

Giai đoạn 14 – 24 NSG: giai đoạn này lá ít, bộ rễ chưa phát triển nhiều, do đó tốc

độ tăng trưởng chiều cao cây chậm Giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây cao nhất là TF222 đạt 5,6 cm/cây/ngày Giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây thấp nhất là 30K95 đạt 4,0 cm/cây/ngày Giống đối chứng có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (5,1 cm/cây/ngày) Các giống còn lại có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây biến động từ 4,6 – 5,4 (cm/cây /ngày)

Giai đoạn 24 – 34 NSG : cây ngô sinh trưởng nhanh dần thân lá, bộ rễ phát triển

mạnh, ăn sâu, tỏa rộng hút chất dinh dưỡng nhiều, đồng thời kết hợp với xới xáo vun gốc tạo điều kiện cho rễ phát triển mạnh

Trang 35

Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống tăng mạnh Giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây cao nhất là CP888 (6,8 cm/cây/ngày) Giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây thấp nhất là SA552 (5,1 cm/cây/ngày) Giống đối chứng C919 có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây là (6,2 cm/cây/ngày) Các giống còn lại có tốc độ tăng trưởng biến động từ 5,4 – 6,7 cm/cây/ngày)

Giai đoạn 34 – 44 NSG: giai đoạn này tốc độ tăng trưởng chiều cao cây phát

triển mạnh nhất do có bộ rễ ăn sâu, tỏa rộng, số lá nhiều giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây cao nhất là P11 (8,6 cm/cây/ngày), Giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây thấp nhất là P12 (6,5cm/cây/ngày), Giống đối chứng C919 có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây là (6,8 cm/cây/ngày) Các giống còn lại biến động từ (6,6 – 8 cm/cây/ngày)

Giai đoạn 44 – 54 NSG: các giống ngô trong giai đoạn này có tốc độ tăng

trưởng chiều cao cây giảm xuống, do các giống bước vào giai đoạn phân hóa cơ quan sinh sản mạnh nên quá trình sinh trưởng dinh dưỡng giảm mạnh Giống C919(đ/c) có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây là 0,5 (cm/cây/ngày) Giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây thấp nhất là NT6755 (0,3 cm/cây/ngày) Giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây cao nhất là NT7204 (1,3 cm/cây/ngày) điều đó thể hiện giống này có thời gian sinh trưởng dài hơn so với các giống thí nghiệm

Giai đoạn 54 – 64 NSG: sự tăng trưởng chiều cao cây các giống thí nghiệm

giảm mạnh sau khi trổ cờ phun râu, chất dinh dưỡng tập trung vào nuôi hạt Tốc tăng trưởng không đáng kể, giai đoạn này chiều cao cây tương đối ổn định Giống có tốc

độ tăng trưởng chiều cao cây cao nhất là NT7204 (0,6 cm/cây/ngày) Giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây thấp nhất là CP3A (0,1 cm/cây/ngày) Giống đối chứng C919 có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây là (0,2 cm/cây/ngày)

Giai đoạn 64 – 74 NSG: tất cảc các giống đã đạt chiều cao ổn định nên tốc độ tăng trưởng chiều cao cây tăng rất ít

Trang 36

Nhìn chung tốc độ tăng trưởng chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng khác nhau, giai đoạn đầu tăng trưởng chậm, tiếp tục tăng nhanh vào gian đoạn trổ cờ sau đó giảm dần và ngừng hẳn ở giai đoạn cuối

4.4 Số lá của 17 giống ngô thí nghiệm qua các thời kỳ (lá/cây)

Lá là cơ quan quang hợp chủ yếu của cây trồng Tổng số chất khô do quang hợp tạo ra chiếm 90 – 95% tổng chất khô của thực vật Lá có vai trò quan trọng quyết định đến năng suất Số lá, độ lớn của lá phụ thuộc vào, điều kiện thời tiết và kỹ thuật canh tác Những lá ở giữa thân là những lá phát triển nhất, có tác dụng lớn trong việc vận chuyển chất dinh dưỡng vào bắp Diện tích lá tăng dần qua từng thời kỳ, đạt tối đa vào khoảng từ trổ cờ đến khi hạt ngậm sữa Sau một thời gian do lá ở phần dưới chết nên diện tích lá giảm xuống Theo Garaxencop: “ số lá là đặc tính cố hữu của giống nó hầu như không thay đổi theo điều kiện canh tác và điều kiện thời tiết hàng năm, giới hạn của sự thay đổi không quá 1 -2 lá” Số lá là đặc tính di truyền của giống Số lá và tuổi thọ của lá có liên quan diện tích lá và chỉ số diện tích lá

Hình thái và cấu tạo của bộ lá cũng là một yếu tố quan trọng cho quá trình quang hợp và tích lũy chất khô Xu hướng chọn tạo của người làm công tác nghiên cứu giống là chọn giống có hình thái lá đứng, góc giữa lá và thân hẹp để giảm khả năng che khuất, tạo khả năng tăng mật độ, lá xanh đậm, tăng khả năng tận dụng ánh sáng Đây là một trong những tiêu chẩn để tăng năng suất

Qua bảng 4.4 cho ta thấy:

Giai đoạn 14 NSG: số lá của các giống trong giai đoạn này biến động rất ít từ (3,5 – 4,5 lá/cây) Giống có số lá cao nhất là TF222 (4,5 lá/cây) Giống có số lá thấp nhất là H13V00 (3,5 lá/cây) Các giống còn lại có số lá biến động từ (3,4 – 4,1 lá/cây)

Giai đoạn 24 NSG: giống có số lá cao nhất là 30B07 (7,9 lá/cây) Giống có số

lá thấp nhất là 30K95 (6,9 lá/cây) Các giống còn lại có số lá biến động từ (6,9 – 7,7 lá/cây)

Trang 37

Bảng 4.4 Số lá (lá/cây) của 17 giống ngô lai qua các thời kỳ tại đất đỏ Trung tâm

Hưng Lộc (Đồng Nai) vụ hè thu năm 2007

Giai đoạn 34 NSG: số lá của các giống tiếp tục tăng Giống TF222 có số lá cao nhất là (11,74 lá/cây) Giống có số lá thấp nhất là CP3A (9,93 lá/cây) Các giống còn lại có số lá biến động từ (10,1 – 11,6 lá/cây)

Giai đoạn 44 NSG: số lá tăng nhanh do bước vào thời kỳ sinh thực Số lá của các giống thí nghiệm biến động từ (14,9 – 17,3 lá/cây) Giống có số lá cao nhất là 30B07 (17,27 lá/cây) Giống có số lá thấp nhất là CP3A (15 (lá/cây) Các giống còn lại

Trang 38

Giai đoạn 54 NSG: số lá của các giống thí nghiệm đạt tối đa sau khi trổ cờ phun râu Giống có số lá cao nhất là 30B07 (22,3 lá/cây) Giống có số lá thấp nhất là 30D44 (19,6 lá/cây) Các giống còn lại có số lá biến động từ (19,9 – 21,5 lá/cây)

Giai đoạn 64 NSG: số lá của các giống ổn định Giống có số lá cao nhất là 30B07 (22,9 lá/cây) Giống có số lá thấp nhất là 30D44 (19,1 lá/cây) Các giống còn lại có số lá biến động từ (20,1 - 21,5 lá/cây)

4.5 Tốc độ ra lá của 17 giống ngô qua các thời kỳ (lá/cây/ngày)

Tốc độ ra lá phản ánh khả năng sinh trưởng của các giống qua từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau Xác định tốc độ ra lá là cơ sở để chúng ta tác động các biện phát kỹ thuật thích hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lá tăng trưởng.Tốc độ ra lá tăng chậm

ở thời kỳ đầu, tăng nhanh dần và đạt cao nhất trước trổ cờ rồi giảm dần

Giai đoạn 34 – 44 NSG: giai đoạn này tốc độ ra lá đạt cao nhất Giống có tốc độ

ra lá nhanh nhất là 30M73 (0,59 lá/cây/ngày) Giống có tốc độ ra chậm nhất là NT7204, NK67 và H13V00 (0,49 lá/cây/ngày) Các giống còn lại có tốc độ ra lá biến động từ (0,50 – 0,57 lá/cây/ngày)

Giai đoạn 44 – 54 NSG: tốc độ ra lá bắt đầu giảm do bước vào thời kỳ trổ cờ, phun râu Do đó số lá ở giai đoạn này tương đối ổn định Giống có tốc độ ra lá cao nhất là 30B80 (0,56 lá/cây/ngày) Giống có tốc độ ra lá thấp nhất là 30D44 và TF222 (0,37 lá/cây/ngày) Các giống còn lại biến động từ 0,41 – 0,55 (lá/cây/ngày)

Trang 39

Giai đoạn 54 – 64 NSG: nhìn chung số lá của các giống tương đối ổn định Tốc

độ ra lá của các giống biến động thấp từ (0 – 0,08 lá/cây/ngày) Giống có tốc độ ra lá chậm nhất là NT7204 (0,08 lá/cây/ngày)

Bảng 4.5 Tốc độ ra lá (lá/cây/ngày) của 17 giống ngô lai qua các giai đoạn sinh trưởng

phát triển tại đất đỏ Trung tâm Hưng Lộc (Đồng Nai) vụ hè thu 2007

Ngày đăng: 29/11/2017, 15:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w