MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội. Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến hành động và ứng xử của công chúng. Khi mà một ứng xử của công chúng được lặp đi lặp lại sẽ thành nề nếp, tập quán cuối cùng trở thành những chuẩn mực của xã hội. Nhờ đến truyền thông mà những vấn đề này được xã hội chấp nhận và lan truyền nhanh trong công chúng. Truyền thông có tác động đến các nhóm đối tượng như sau: Đối với chính quyền nhà nước: Giúp các cơ quan nhà nước đưa thông tin đến người dân về các chính sách kinh tế, văn hóa xã hội, luật pháp đến với dân chúng, thuyết phục công chúng thay đổi về nhận thức và hành xử đúng pháp luật. Ngoài ra chính phủ cũng nhờ truyền thông để thăm dò lấy ý kiến của dư luận trước khi ban hành các văn bản pháp lý. Nhờ truyền thông mà nhà nước điều chính các chính sách quản lý của mình và tạo ra sự đồng thuận cao trong dân chúng. Truyền thông làm cho chính phủ, những người thừa hành pháp luật được trong sạch và minh bạch hơn, thông qua thông tin phản biện của các đối tượng dân chúng trong xã hội. Đối với công chúng: Giúp cho người dân cập nhật thông tin kinh tế văn hóa xã hội, pháp luật trong và ngoài nước. Giúp người dân giải trí và học tập về phong cách sống những người xung quanh. Truyền thông ủng hộ cái đẹp và bài trừ cái xấu. Truyền thông đóng vai trò trong việc tạo ra các xu hướng về lối sống, văn hóa, thời trang… Ngoài ra truyền thông còn giúp cho người dân phản hồi, nói lên tiếng nói của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Đối với nền kinh tế: Nhờ có truyền thông mà doanh nghiệp có thể quảng bá sản phẩm và dịch vụ, giúp cho người mua nhận biết và sử dụng sản phẩm và dị ch vụ. Truyền thông cũng tạo ra nhu cầu tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ, giúp các công ty tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người, giúp kinh tế phát triển. Bản thân truyền thông cũng là một ngành kinh tế quan trọng của một quốc gia, giải quyết công ăn việc làm và tạo ra giá trị cho nền kinh tế. Truyền thông cũng là công cụ giúp cho người tiêu dùng phản ánh về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của các nhà sản xuất. Tính 2 mặt của truyền thông: Truyền thông cũng có tính 2 mặt của nó nếu thông tin, hình ảnh truyền đi mang tính tiêu cực, thì tác động của truyền thông cũng tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực cho các đối tượng công chúng trong xã hội. Nhất là những đối tượng thanh thiếu niên, những đối tượng có trình độ nhận thức còn thấp, không có khả năng chắt lọc thông tin, nếu thông tin từ truyền thông tiêu cực thì dễ bị lôi kéo và có những tác động tiêu cực cho bản thân và cho cộng đồng xã hội. Trong kinh tế, truyền thông tác động đến tiêu dùng của người dân giúp người dân tiêu dùng nhiều hơn, giúp kinh tế phát triển. Tuy nhiên, truyền thông cũng tác động đến việc con người ngày càng tiêu dùng nhiều hơn so với nhu cầu cần thiết. Con người ngày càng làm việc nhiều hơn để phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng. Các giá trị vật chất ngày càng được xã hội đánh giá cao hơn các giá trị tinh thần. Sản xuất và tiêu dùng nhiều sẽ hủy diệt môi trường và tác động xấu đến đời sống của người dân.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TRUYỀN THÔNG 8
1.1 Khái niệm chính sách truyền thông 8
1.2 Vấn đề chính sách truyền thông 11
1.3 Giải pháp và công cụ của chính sách truyền thông 17
1.4 Chủ thể chính sách truyền thông 20
1.5 Thể chế chính sách truyền thông 21
1.6 Những nhân tố tác động đến chính sách truyền thông 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN TRUYỀN THÔNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 39
2.1 Các vấn đề, mục tiêu, chủ thể và thể chế phát triển truyền thông từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 39
2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách truyền thông thành phố Đà Nẵng 45 2.3 Thực trạng triển khai thực hiện các giải pháp và công cụ chính sách truyền thông thành phố Đà Nẵng 55
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN TRUYỀN THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 62
3.1 Nhu cầu, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách truyền thông 62
3.2 Các giải pháp hoàn thiện chính sách truyền thông ở thành phố Đà Nẵng 67
3.3 Kiến nghị 76
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3TT&TT : Thông tin và Truyền thông
TMĐT : Thương mại điện tử
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến hành động và ứng xử của công chúng Khi mà một ứng xử của công chúng được lặp đi lặp lại sẽ thành nề nếp, tập quán cuối cùng trở thành những chuẩn mực của xã hội Nhờ đến truyền thông mà những vấn đề này được xã hội chấp nhận và lan truyền nhanh trong công chúng
Truyền thông có tác động đến các nhóm đối tượng như sau:
Đối với chính quyền nhà nước:
Giúp các cơ quan nhà nước đưa thông tin đến người dân về các chính sách kinh tế, văn hóa xã hội, luật pháp đến với dân chúng, thuyết phục công chúng thay đổi về nhận thức và hành xử đúng pháp luật Ngoài ra chính phủ cũng nhờ truyền thông để thăm dò lấy ý kiến của dư luận trước khi ban hành các văn bản pháp lý Nhờ truyền thông mà nhà nước điều chính các chính sách quản lý của mình và tạo ra sự đồng thuận cao trong dân chúng
Truyền thông làm cho chính phủ, những người thừa hành pháp luật được trong sạch và minh bạch hơn, thông qua thông tin phản biện của các đối tượng dân chúng trong xã hội
Đối với công chúng:
Giúp cho người dân cập nhật thông tin kinh tế văn hóa xã hội, pháp luật trong và ngoài nước Giúp người dân giải trí và học tập về phong cách sống những người xung quanh Truyền thông ủng hộ cái đẹp và bài trừ cái xấu Truyền thông đóng vai trò trong việc tạo ra các xu hướng về lối sống, văn hóa, thời trang…
Trang 5Ngoài ra truyền thông còn giúp cho người dân phản hồi, nói lên tiếng nói của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình
Đối với nền kinh tế:
Nhờ có truyền thông mà doanh nghiệp có thể quảng bá sản phẩm và dịch vụ, giúp cho người mua nhận biết và sử dụng sản phẩm và dịch vụ Truyền thông cũng tạo ra nhu cầu tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ, giúp các công ty tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người, giúp kinh tế phát triển
Bản thân truyền thông cũng là một ngành kinh tế quan trọng của một quốc gia, giải quyết công ăn việc làm và tạo ra giá trị cho nền kinh tế
Truyền thông cũng là công cụ giúp cho người tiêu dùng phản ánh về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của các nhà sản xuất
Tính 2 mặt của truyền thông:
Truyền thông cũng có tính 2 mặt của nó nếu thông tin, hình ảnh truyền
đi mang tính tiêu cực, thì tác động của truyền thông cũng tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực cho các đối tượng công chúng trong xã hội Nhất là những đối tượng thanh thiếu niên, những đối tượng có trình độ nhận thức còn thấp, không có khả năng chắt lọc thông tin, nếu thông tin từ truyền thông tiêu cực thì dễ bị lôi kéo và có những tác động tiêu cực cho bản thân và cho cộng đồng
xã hội
Trong kinh tế, truyền thông tác động đến tiêu dùng của người dân giúp người dân tiêu dùng nhiều hơn, giúp kinh tế phát triển Tuy nhiên, truyền thông cũng tác động đến việc con người ngày càng tiêu dùng nhiều hơn so với nhu cầu cần thiết Con người ngày càng làm việc nhiều hơn để phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng Các giá trị vật chất ngày càng được xã hội đánh giá cao hơn các giá trị tinh thần Sản xuất và tiêu dùng nhiều sẽ hủy diệt môi trường và tác động xấu đến đời sống của người dân
Trang 6Sau 20 chia tách từ tỉnh Quảng Nam và trở thành thành phố trực thuộc Trung ương (1997), Đà Nẵng hiện nay là một trong những trung tâm báo chí lớn của cả nước (sau Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) Hiện Đà Nẵng có 08 cơ quan báo chí địa phương với 07 ấn phẩm, 04 kênh truyền hình,
01 kênh phát thanh, 01 báo điện tử hoạt động thường xuyên; 01 ấn phẩm đặc san (04 kỳ/năm); 05 Đài Truyền thanh cấp quận, huyện và 17 bản tin với 118 kỳ/năm
Về cơ quan báo chí Trung ương và các địa phương khác hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, có: 07 cơ quan báo chí Trung ương đóng tòa soạn; 71 cơ quan báo chí Trung ương đặt văn phòng đại diện; 23 cơ quan báo chí Trung ương và địa phương cử phóng viên thường trú (trong đó có 06 cơ quan báo chí cử phóng viên thường trú nhưng chưa đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về báo chí)
Về truyền hình trả tiền: Đà Nẵng hiện có 08 doanh nghiệp hoạt động truyền hình trả tiền với 183.622 thuê bao, trong đó Truyền hình cáp Sông thu chiếm tỷ lệ lớn (65%) với 120.059 thuê bao (số liệu cập nhật đến tháng 6 năm 2015)
Trong khuôn khổ luận văn này, tôi chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá
08 cơ quan báo chí thuộc thành phố Đà Nẵng để làm rõ chính sách phát triển truyền thông từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Theo đó, trong thời gian qua, các cơ quan báo chí của thành phố Đà Nẵng hoạt động đúng tôn chỉ mục đích, đúng định hướng của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng trong xây dựng và phát triển thành phố
Nhịp sống hiện đại cũng đòi hỏi con người lựa chọn hình thức thông tin nhanh gọn, trực tiếp, dễ nhớ, dễ hiểu Chính vì vậy, các cơ quan báo, đài muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin cũng như hình thức thể hiện nhằm đáp ứng nhu cầu, mong đợi của khán giả trong và ngoài nước Việc đổi mới nội dung thông tin, đa dạng
Trang 7hoá các chủ đề, cập nhật công nghệ tiên tiến đã trở thành những vấn đề then chốt hàng đầu của các cơ quan báo chí trong cả nước
Tuy nhiên, phần lớn các cơ quan truyền thông của thành phố Đà Nẵng vẫn chưa ngang tầm với tiềm năng hiện có; chưa có nhiều đột phá trong việc tạo nhiều ấn phẩm có chất lượng cao và nội dung tốt; thiếu những chương trình truyền hình có sức lan tỏa sâu rộng… Một trong những nguyên nhân là
do nguồn nhân lực cho truyền thông vẫn còn yếu; chất lượng các phương tiện truyền thông chưa cao và việc bố trí nguồn vốn cho công tác truyền thông vẫn chưa tương xứng trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, truyền thông đang phát triển vô cùng mạnh mẽ Một số tập đoàn truyền thông khổng lồ đang nắm giữ vị trí độc quyền, chiếm lĩnh không gian thông tin toàn cầu, thao túng dư luận và tác động mạnh mẽ đến ý thức xã hội toàn cầu Thông tin là một nhu cầu thiết yếu,
vì vậy, truyền thông ngày càng thâm nhập sâu vào tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…
Ngành truyền thông Việt Nam và Đà Nẵng nói riêng vẫn còn một khoảng cách khá xa so với các nước trên thế giới Truyền thông chưa thật sự trở thành một ngành công nghiệp đem về nhiều lợi nhuận như nhiều nước trên thế giới Về lâu dài, Đà Nẵng cần hướng đến xây dựng một ngành công nghiệp truyền thông chuyên nghiệp
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều tác phẩm, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ, các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề truyền thông trên nhiều lĩnh vực…, như: Luận án Phát triển nhân lực nhà báo của các Đài Phát thanh - Truyền hình của các Thành phố lớn Việt Nam - Nghiên cứu điển hình tại Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội của tác giả Nguyễn Tiến Dũng
Trang 8Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề có tính chất lý thuyết về phát triển nhân lực nhà báo trong Đài Phát thanh - Truyền hình thông qua các khái niệm nhân lực, nhân nhà báo, đặc điểm và vai trò của nhà báo Xây dựng các khái niệm liên quan đến nhà báo, nhân lực nhà báo nói chung và làm trong Đài Phát thanh - Truyền hình nói riêng Tác giả đã tập trung trình bày các hoạt động chủ yếu của phát triển nhân lực nhà báo gồm: Kế hoạch hóa nhân lực nhà báo; thực hiện công tác phát triển nhân lực nhà báo như đào tạo mới, bồi dưỡng nghiệp vụ; phát triển cá nhân của nhà báo, công tác tuyển dụng nhân lực nhà báo; sử dụng nhân lực nhà báo Ngoài ra, tác giả đưa ra các nhân
tố ảnh hưởng đến phát triển nhân lực nhà báo trong các Đài Phát Truyền hình
thanh-Những đóng góp mới của luận án góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về
lý luận cũng như ứng dụng thực tiễn trong công tác phát triển nhân lực nhà báo của các Đài Phát thanh - Truyền hình trong bối cảnh hội nhập với truyền thông quốc tế Tuy nhiên, hiện nay nhưng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về chính sách phát triển truyền thông từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ của mình, luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển những thành quả của các đề tài liên quan trước đó để đánh giá, phân tích từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế tại thành phố Đà Nẵng
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển truyền thông tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua, để làm cơ sở đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển truyền thông tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chính sách truyền thông và
Trang 9thực hiện chính sách truyền thông; tổng quan và nhận xét thực hiện chính sách hiện hành về truyền thông của Việt Nam, tìm hiểu kinh nghiệm điển hình của các nước về thực hiện chính sách truyền thông Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách phát triển truyền thông tại thành phố Đà Nẵng; phát hiện vấn
đề, nguyên nhân, những ưu điểm và hạn chế Đề xuất hoàn thiện các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển truyền thông tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những mối quan hệ phát sinh trong quá trình cung cấp và tiếp nhận thông điệp truyền thông có chủ ý giữa
cơ quan quản lý, các cơ quan truyền thông cùng một số phát sinh trong quá trình phát triển truyền thông tại thành phố Đà Nẵng có liên quan
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trong phạm vi không gian thành phố Đà Nẵng và trong khoản thời gian từ 2015- 2016 để phân tích thực trạng truyền thông trên địa bàn thành phố
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và phương pháp nghiên cứu chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách
Lý thuyết của chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở thu thập số liệu thứ cấp; các phương pháp nghiên cứu, như: phương pháp thống kê, phân
Trang 10tích, so sánh và suy luận logic để tổng hợp các số liệu, dữ liệu nhằm đánh giá thực tiễn tình hình phát triển truyền thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và xác định mục tiêu, để có thể phân tích đúng thực trạng làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp
Tham khảo và sử dụng tài liệu từ sách, báo, tạp chí về truyền thông, các website Thành ủy, website Ủy ban Nhân dân; các báo cáo, nghị quyết và đề
án quy hoạch phát triển truyền thông của thành phố Đà Nẵng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách truyền thông
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển truyền thông từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách truyền thông ở thành phố
Đà Nẵng hiện nay
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TRUYỀN THÔNG
1.1 Khái niệm chính sách truyền thông
1.1.1 Khái niệm truyền thông
Lịch sử loài người cho thấy, con người có thể sống được với nhau, giao tiếp và tương tác lẫn nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền thông (thông qua ngôn ngữ hoặc cử chỉ, điệu bộ, hành vi… để chuyển tải những thông điệp, biểu lộ thái độ cảm xúc) Qua quá trình truyền thông liên tục, con người
có sự gắn kết với nhau, đồng thời có những thay đổi trong nhận thức và hành
vi Chính vì vậy, truyền thông được xem là cơ sở để thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người, là nền tảng hình thành nên cộng đồng xã hội Nói cách khác, truyền thông là một trong những hoạt động căn bản của bất cứ một tổ chức xã hội nào
Hiểu một cách đơn giản, truyền thông (Communication) là quá trình truyền đạt, chia sẻ thông tin; là một kiểu tương tác xã hội với sự tham gia của
ít nhất 02 tác nhân
Thông thường người ta chia truyền thông thành 3 loại:
- Truyền thông liên cá nhân (giữa người này với người khác);
- Truyền thông tập thể (truyền thông trong nội bộ một tổ chức);
- Truyền thông đại chúng
Ngày nay, xã hội loài người không ngừng phát triển, đời sống của người dân không ngừng được nâng cao Đòi hỏi vai trò ngày một lớn hơn nữa của truyền thông trong việc cung cấp thông tin Có thể nói, truyền thông có vai trò ngày càng lớn trong xã hội, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người Từ
đó, khái niệm truyền thông được hiểu ở nhiều phạm vi, lĩnh vực khác nhau
Trang 12Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia): Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như: ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành
vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên (máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng)
Trong cuốn “Truyền thông lý thuyết và kĩ năng cơ bản” do Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) làm chủ biên,
đã nêu khái niệm: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến đến điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội
Khái niệm trên đã chỉ ra bản chất và mục đích của truyền thông Về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông Về mục đích, truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng, giá trị cho công chúng
Trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay, truyền thông càng có ý nghĩa, vai trò và mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời với các phương tiện công nghệ hiện đại Truyền thông hiện đại đòi hỏi nhiều hơn việc phát triển sản phẩm, dịch vụ tốt, định giá hấp dẫn và đưa nó
Trang 13đến địa điểm thuận tiện cho tiêu thụ, mà còn phải thực hiện chiến lược truyền thông đến các bên quan tâm hiện tại và tiềm năng, cũng như công chúng nói chung Công tác tuyền thông ngày càng khó khăn hơn, bởi nhiều địa phương, doanh nghiệp cũng tận dụng nó để thu hút sự chú ý ngày càng bị phân tán của khách hàng Để vươn đến thị trường mục tiêu và xây dựng giá trị thương hiệu, những nhà tiếp thị cần vận dụng chiến lược truyền thông một cách sáng tạo, nên truyền thông nội dung gì, cách thức truyền thông như thế nào, truyền thông đến ai và mức độ truyền thông thường xuyên ra sao… đang là câu hỏi cần đặt ra giữa các địa phương, doanh nghiệp và các nhà làm công tác truyền thông
Như vậy, truyền thông là các phương tiện mà các địa phương, doanh nghiệp sử dụng thông tin, thuyết phục và gợi nhớ người tiêu dùng, khách du lịch một cách trực tiếp hay gián tiếp về sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu mà
họ cung cấp Truyền thông đại diện cho tiếng nói chung của thương hiệu, là phương cách để thiết lập sự đối thoại và xây dựng các quan hệ với người tiêu dùng Truyền thông thực hiện nhiều chức năng đối với người tiêu dùng, nó có thể đóng góp vào giá trị thương hiệu nhờ thiết lập thương hiệu trong tâm trí
và khắc họa nên hình ảnh thương hiệu
Quá trình truyền thông là quá trình truyền tải thông tin của địa phương, doanh nghiệp đến người tiêu dùng, để họ biết đến tính năng sản phẩm, dịch
vụ, các chương trình của địa phương, doanh nghiệp, lợi ích mà địa phương, doanh nghiệp đó có thể mang đến cho khách hàng thông qua sản phẩm hoặc dịch vụ
Từ những nghiên cứu trên, rút ra khái niệm về truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình chia sẻ thông tin thông qua các phương tiện nhằm tuyên truyền, tạo được sự cân bằng về nhận thức và lan tỏa thông tin trong xã hội để đạt được một mục đích nào đó của chủ thể truyền thông
Trang 141.1.2 Khái niệm chính sách công
Chính sách công là tập hợp các quyết định mang tính chính trị của Đảng cầm quyền nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy
và quản lý sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước Khái niệm chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền” Chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính phủ), các bộ, ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước.Chính sách công được biểu hiện bằng nhiều cấp độ khác nhau: Hiến pháp, Luật, Nghị định, Nghị quyết… Mục đích cuối cùng là để phát triển và quản lý sự phát triển của xã hội Cấu trúc của chính sách gồm 3 bộ phận: Quan điểm và định hướng chính sách; biện pháp thực hiện chính sách, các công cụ của chính sách; mục tiêu mà chính sách hướng tới
Căn cứ lý thuyết về khoa học chính sách công và khái niệm về truyền
thông, có thể đưa ra khái niệm Chính sách truyền thông như sau: Đó là tập
hợp các quyết định của nhà nước, địa phương hay doanh nghiệp nhằm thông tin, tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, định hướng dư luận xã hội và giám sát, phản biện xã hội… để thực hiện mục tiêu và giải pháp phát triển đã đề ra
1.2 Vấn đề chính sách truyền thông
Xác định vấn đề chính sách là giai đoạn khởi đầu trong quá trình xây dựng chính sách công, bao gồm từ bước phát hiện những vấn đề xã hội, mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống xã hội, đến mức cần phải có giải pháp giải quyết bằng chính sách cho đến khi hoàn thành những mục tiêu của chính sách công Những vấn đề đó thường là những vấn đề trong xã hội, những khó khăn
Trang 15vướng mắc trong quá trình phát triển hoặc là nhu cầu phát triển ở mức độ cao hơn Vì vậy, vấn đề của chính sách luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội
“Việc xác định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng cảm nhận vấn đề so với cấu trúc vấn đề, đó là các cảm nhận về các trở ngại, khó khăn, vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng chính sách Theo quy luật vận động, vấn đề chính sách đang mang tính hiện thực và tương lai, các hiện tượng đang tồn tại thực tế sẽ làm nảy sinh những vấn đề trong tương lai” Việc xác định
rõ quy mô và mức độ quan trọng của vấn đề của xã hội để định rõ phạm vi và mức độ can thiệp của chính sách là hết sức quan trọng và cần được xem xét
cụ thể thông qua các chỉ số đáng tin cậy và biện pháp đo lường khoa học
Vấn đề của chính sách truyền thông nảy sinh khi mâu thuẫn giữa tiềm năng thực thế và vai trò quan trọng của truyền thông đối với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển của địa phương cần phải giải quyết, dẫn tới các cơ quan truyền thông phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế vốn có; có thể khâu tuyển dụng công chức, viên chức phụ trách lĩnh vực truyền thông chưa được quan tâm đầy đủ; việc lựa chọn các kênh truyền thông; việc bố trí nguồn vốn ngân sách đầu tư cho truyền thông còn nhiều hạn chế; cách tiếp cận phương pháp để tiếp xúc tiến truyền thông chưa phù hợp, nội dung truyền thông chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tăng cường năng lực Việc xác định đúng vấn đề chính sách đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện chính sách và quyết định đến sự thành công hay thất bại của chính sách
1.2.1 Nhân lực cho truyền thông
Tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu công việc, là khâu đầu tiên trong quá trình quản lý nhân sự Tuyển dụng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ viên chức có đủ phảm chất chính trị và năng lực chuyên môn tại các cơ quan
Trang 16đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết công việc Việc tuyển dụng viên chức phải căn
cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp
và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập Theo Điều 21, Luật Viên chức, việc tuyển dụng viên chức phải theo các nguyên tắc: Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật; bảo đảm tính cạnh tranh; tuyển chọn đúng người đáp ứng nhu cầu của vị trí việc làm; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu của người đứng đầu sự nghiệp công lập;
ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu
số Việc tuyển dụng viên chức đã được chuyển đổi phân phối theo kế hoạch sang thực hiện thông qua nhiều phượng thức như thi tuyển, xét tuyển, thuyên chuyển, tiếp nhận và điều động khách quan chất lượng và bước đầu đã chú ý đãi ngộ người có tài năng Các đơn vị sự nghiệp đã thực hiện quyền tự chủ trong quản lý, việc tuyển dụng viên chức đã phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp Tuy nhiên, việc tuyển dụng viên chức hiện vẫn gặp phải vấn
đề chất lượng đầu vào chưa cao, chưa đồng đều; tuyển dụng người không đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ Hệ thống các quy định về tiêu chuẩn viên chức chú trọng vào văn bằng chứng chỉ mà ít chú ý đến năng lực kinh nghiệm Nhà nước đã có nhiều văn bản quy định việc đổi mới cơ chế quản lý hoạt động các đơn vị sự nghiệp Mặt khác, về văn bản đề ra những quy định rất chặt chẽ nhưng rất ít cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm túc, minh bạch mà thường đặt ra “các quy định nội bộ” để định hướng và ưu tiên các mối quan hệ, con cháu trong ngành
Điều đó phản ánh sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong quản lý nhà nước đối với hoạt động sự nghiệp và là nguyên nhân cản trở sự phát triển của đội ngũ viên chức phụ trách lĩnh vực truyền thông
1.2.2 Chất lượng các phương tiện truyền thông
Chất lượng các kênh truyền thông hiệu quả để tải thông điệp trở nên
Trang 17ngày càng khó khăn hơn, bởi các kênh truyền thông ngày càng bị phân đoạn
và kết cụm Kênh truyền thông có thể là kênh trực tiếp hoặc kênh gián tiếp, trong mỗi kênh có nhiều kênh phụ Có hai loại kênh truyền thông cơ bản để lựa chọn: Kênh cá nhân (trực tiếp) và kênh phi cá nhân (gián tiếp)
- Kênh truyền thông cá nhân (trực tiếp)
Trong các kênh truyền thông cá nhân, hai hay nhiều người sẽ trực tiếp truyền thông với nhau, họ có thể truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng, qua điện thoại hoặc qua thư từ trên cơ sở giao tiếp cá nhân Các kênh truyền thông trực tiếp có thể chia thành các kênh giới thiệu, kênh chuyên viên hoặc kênh xã hội Kênh giới thiệu gồm các nhân viên thực hiện truyền thông của địa phương tiếp xúc trực tiếp với người mua trên thị trường mục tiêu Kênh chuyên viên gồm những kênh chuyên viên độc lập phát biểu ý kiến của mình với khách hàng mục tiêu Kênh xã hội gồm những người láng giềng, bạn
bè các thành viên trong gia đình và những người đồng sự nói chuyện với khách hàng mục tiêu Ảnh hưởng của vai trò các nhân đối với công chúng mục tiêu đặc biệt quan trọng trong các trường hợp họ cần mua những sản phẩm đắt tiền, có nhiều rủi ro hay không mua thường xuyên, những sản phẩm nói lên địa vị hoặc thị hiếu của người sử dụng
- Kênh truyền thông phi cá nhân (gián tiếp)
Những kênh truyền thông gián tiếp chuyển các thông điệp đi không cần
có sự tiếp xúc hay giao tiếp trực tiếp, chúng bao gồm các các phương tiện truyền thông đại chúng, bầu không khí và các sự kiện Các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm những phương tiện truyền thông dưới dạng ấn phẩm (thư trực tiếp, báo cáo và tập chí), ngững phương tiện truyền thông marketing (truyền thanh, truyền hình), những phương tiện truyền thông điện tử (Internet, đĩa ghi hình, băng ghi âm) và những phương tiện trưng bày (pano, bảng hiệu,
áp phích) Bầu không khí là những khung cảnh có chủ tâm nhằm tạo ra hay
Trang 18củng cố xu hướng mua và tiêu dùng của sản phẩm Các sự kiện là công việc
có chủ tâm nhằm chuyển tải các thông điệp đến đặc biệt đến công chúng mục tiêu như tổ chức các buổi họp báo, lễ khai trương và bảo trợ hoạt động thể thao… Mặc dù ít hiệu quả hơn truyền thông trực tiếp nhưng các phương tiện truyền thông đại chúng có thể là công cụ chủ yếu để kích thích truyền thông
du lịch hiệu quả
- Tích hợp các kênh truyền thông
Mặc dù truyền thông trực tiếp thường hiệu quả hơn truyền thông gián tiếp, nhưng truyền thông gián tiếp có thể là phương tiện chính thúc đẩy phương tiện truyền thông trực tiếp Truyền thông gián tiếp tác động đến thái
độ và hành vi cá nhân thông qua một quá trình từ các ý tưởng thường chuyển
từ phát thanh, truyền hình và báo chí sang người dẫn đạo ý tưởng và từ những người này sang những nhóm dân cư ít quan tâm đến truyền thông
1.2.3 Việc bố trí nguồn vốn cho truyền thông
Ngân sách dành cho các hoạt động truyền thông đóng vai trò quan trọng trong hoạch định chương trình phát triển du lịch của địa phương Vì vậy, chính quyền thành phố, các cơ quan nhà nước có liên quan cần phải chú trọng đầu tư cho những kênh truyền thông không những phù hợp với những mục tiêu phát triển của địa phương mà còn phù hợp với ngân sách của địa phương có được, hay nói cách khác là chọn phương thức bố trí ngân sách chấp nhận được
Có thể nêu một số phương thức tính toán thường sử dụng, đó là:
- Phương pháp tính theo phần trăm thu ngân sách
Bố trí vốn ngân sách theo một tỉ lệ phần trăm nhất định trên tổng thu ngân sách của địa phương
Phương pháp này có ưu điểm: Thứ nhất, nó có nghĩa là nguồn vốn bố trí cho truyền thông sẽ thay đổi tùy theo khả năng thu ngân sách của địa
Trang 19phương Trước hết, nó khuyến khích các nhà lãnh đạo, quản lý nghĩ đến mối liên hệ giữa chi phí truyền thông với khả năng lợi ích thu được từ hiệu quả từ truyề thông Thứ hai, nó khuyến khích các nhà lãnh đạo, quản lý chấp nhận bố trí danh sách cho truyền thông một tỉ lệ phần trăm nhất định dựa trên khả năng thu ngân sách hàng năm của địa phương đó
Mặc dù dù vậy phương pháp này cũng có nhược điểm nhất định Nó dẫn đến chỗ xác định ngân sách căn cứ vào khả năng dự đoán thu ngân sách trong tương lai chứ không phải theo nguồn vốn ngân sách hiện có của địa phương hoặc những cơ hội của thị trường Sự phụ thuộc của nguồn vốn ngân sách truyền thông sẽ gây trở ngại cho việc lập kế hoạch dài hạn cho phát triển truyền thông
Phương pháp tính theo cân bằng cạnh tranh
Ở một số địa phương, việc xác định ngân sách còn được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm ngang bằng với chi phí của các địa phương trong khu vực, vùng miền hoặc mức độ xếp loại đô thị Phương pháp này cho rằng, mức chi phí ở các địa phương khác là cơ sở để xem xét duy trì cân bằng khả năng cạnh tranh, giúp ngăn chặn sự xung đột thái quá trong công tác truyền thông tại các địa phương với nhau Tuy nhiên, bởi vì khả năng của các địa phương
là rất khác nhau về danh tiếng, nguồn cơ hội và mục tiêu truyền thông
- Phương pháp mục tiên và công việc thực hiện
Phương pháp này đòi hỏi những người làm công tác truyền thông phải xây dựng kế hoạch ngân sách truyền thông của mình trên cơ sở xác định mục tiêu cụ thể và các nhiệm vụ cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu rồi ước tính chi phí để thực hiện những nhiệm vụ đó Tổng các cho phí này dự toán ngân sách truyền thông
- Phương pháp tùy theo khả năng
Định ngân sách truyền thông dựa vào khả năng mà địa phương có thể
Trang 20chi ra được Phương pháp xác định ngân sách này hoàn toàn bỏ qua vai trò của truyền thông như một khoản đầu tư và ảnh hưởng tức thời của truyền thông đến khối lượng tiêu thụ Nó dẫn đến một ngân sách truyền thông hằng năm không xác định, gây khó khăn cho việc lập kế hoạch truyền thông dài hạn
1.3 Giải pháp và công cụ của chính sách truyền thông
1.3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực truyền thông
Một trong những yêu cầu của việc tuyển dụng viên chức phụ trách lĩnh vực truyền thông là phải có trình độ và được đào tạo bài bản, am hiểu truyền thông Trong điều kiện chất lượng đào tạo chưa cao như hiện nay, chưa đồng đều khó tuyển được người giỏi như yêu cầu đề ra, do đó cần thực hiện dân chủ công bằng minh bạch trong tuyển dụng và chú ý đến năng lực thực tế nhiều hơn chú ý đến văn bằng chứng chỉ; cần làm tốt hơn nữa về việc cung cấp thông tin, yêu cầu tuyển dụng; đổi mới hình thức nội dung tuyển dụng cho phù hợp với vị trí việc làm là công tác truyền thông Mặt khác việc tuyển dụng phải thật sự nghiêm túc để công chức, viên chức không còn cảm giác
“vào cơ quan nhà nước chủ yếu nhờ ô dù, quen thân, chạy tiền”; thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyển dụng viên chức để đảm bảo chất lượng đầu vào và phòng chống tiêu cực trong công tác tuyển dụng
Công cụ chính sách cho giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức, viên chức lĩnh vực truyền thông là:
Về phía Nhà nước, có những quy định chặt chẽ hơn về những công tác tuyển dụng Đồng thời sử dụng công cụ hỗ trợ tài chính cho viên chức mới được tuyển dụng, tạo điều kiện cho họ yên tâm công tác trong ít nhất 03 năm đầu tuyển dụng Ngoài ra, Nhà nước cần sớm cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp đối với công chức, viên chức; nghiên cứu xây dựng khung pháp lý để công chức, viên chức có thêm thu nhập chính đáng từ hoạt động chuyên môn;
Trang 21nhân rộng mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp
có thu
Về phía các cơ quan ban hành, lập kế hoạch dài hạn về tuyển dụng công chức, viên chức; sử dụng công cụ truyền thông có hiệu quả hơn nữa để cung cấp thông tin tuyển dụng, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ của đơn vị
để đông đảo ứng viên quan tâm được biết Bên cạnh đó, cần đổi mới hình thức và nội dung tuyển dụng đảm bảo tuyển được người thật sự đáp ứng được yêu cầu công việc trọng tâm là làm công tác truyền thông Mặt khác, không tuyển dụng cho đủ chỉ tiêu số lượng mà cần chú trọng tuyển những người thật
sự phù hợp cho lĩnh vực truyền thông
Về phía các đơn vị quản lý công chức, viên chức, tạo điều kiện cho công chức, viên chức tham gia các hoạt động truyền thông khác theo khả năng của mình để thêm thu nhập mà vẫn đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao
Do vậy, cần quy định rõ quyền và nghĩa vụ của công chức, viên chức tại đơn
vị thông qua hợp đồng làm việc, hợp đồng khoán việc
1.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng các kênh truyền thông
Lịch sử báo chí truyền thông Việt Nam tính từ năm 1865 khi tờ “Gia Định báo” ra đời đến nay đã được 143 năm So với lịch sử báo chí thế giới tương đối muộn nhưng với điều kiện Việt Nam chừng ấy năm cũng là một dấu mốc lớn Trong dòng chảy chung ấy có nhiều khuynh hướng báo chí khác nhau: báo chí của thực dân đế quốc xâm lược; báo chí của những người Việt Nam yêu nước, báo chí cách mạng và nổi bật lên là dòng báo chỉ Cách mạng
đã có 83 năm phải triển kể từ ngày báo Thanh niên ra đời (21/6/1925) tại Quảng Châu - Trung Quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập Báo chí cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng và dân tộc,
và đồng hành, phục vụ cách mạng và dân tộc để giành chính quyền năm 1945, giải phóng Miền Bắc năm l945, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước
Trang 22năm 1975, tiến hành sự nghiệp Đổi mới đất nước năm 1986 và hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế hiện nay
Trong tiến trình phát triển do điều kiện khách quan và chủ quan nên báo chí truyền thông cũng có sự phát triển ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên giai đoạn 20 năm đất nước đổi mới và đổi mới báo chí (từ năm 1986 tới nay), báo chí truyền thông Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng và toàn diện nhất
Ngày nay, truyền thông đang phát triển rất mạnh và đang được sư dụng trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực Trong bối cảnh đó, các trào lưu các khuynh hướng tư tưởng và báo chí truyền thông mới mẽ của thế giới tác động
và ảnh hưởng nhanh chóng, mạnh mẽ vào từng nước; tác động trực tiếp vào tư tường tình cảm tâm lý, lối sống và đạo đức của con người Đây là những điều kiện để báo chí truyền thông mỗi nước và từng địa phương phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin đa dạng, phong phú, kịp thời, chính xác của công chúng Vì vậy việc lựa chọn, ưu tiên cho kênh truyền thông nào cũng là khâu quan trọng, quyết định đến chiến lược phát triển của mỗi địa phương Khi lựa chọn kênh truyền thông cần chú ý mức độ bao phủ đến đâu, khả năng thích ứng của từng kênh đối với từng đối tượng địa phương nhắm đến…
Công cụ chính sách cho giải pháp lựa chọn kênh truyền thông là:
- Nhà nước xác định các kênh truyền thông dựa trên phạm vi, mức độ
và khả năng tiếp cận thị trường của kênh đó có phù hợp với tình hình thực tế của địa phương đó hay không Từ đó ban hành văn bản quy phạm pháp luật như quyết định, quy định hoặc các văn bản khác như chiến lược ngắn hạn, dài hạn sử dụng một kênh hoặc tích hợp nhiều kênh để phát huy tối đa hiệu quả
ưu điểm của từng loại hình nhất định
- Các ngành chức năng, cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực báo chí truyền thông có trách nhiệm tham mưu, đề xuất các ý tưởng để xem xét lựa
Trang 23chọn kênh truyền thông phù hợp Đưa ra chương trình hành động hoặc kế hoạch thực hiện các ý tưởng trong đó trong khoảng thời gian nhất định để sơ kết, nhằm tổng kết nhằm đánh giá việc thực hiện kết quả lựa chọn đã đề ra
1.3.3 Giải pháp về bố trí ngân sách cho truyền thông
Xác định ngân sách cho hoạt động truyền thông là một quyết định khó khăn và chi phối đế sự thành công, hiệu quả của hoạt động truyền thông Do
đó cần quan tâm ưu tiên nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động truyền thông với nhiều hình thức đa dạng khác nhau
Công cụ chính sách cho giải pháp bố trí ngân sách cho truyền thông là:
- Kinh phí ngân sách nhà nước là nguồn vốn chủ yếu, có ý nghĩa quyết định đến hoạt động truyền thông Nhà nước cần có kế hoạch phân bố đảm bảo hoạt động truyền thông xuyên suốt, không bị tắc nghẽn, nhất là đảm bảo chi phí cho bộ máy công chức, viên chức làm công tác truyền thông và chi phí vận hành cho các dịch vụ của các kênh truyền thông Phương pháp tính toán
bố trí ngân sách tùy theo nguồn lực thực tế của từng địa phương mà xác định sao cho phù hợp nhất
- Nguồn vốn xã hội hóa là nguồn vốn thứ yếu Nhà nước có kế hoạch vận động tài trợ, kêu gọi các doanh nghiệp, hoặc người dân có lợi ích trên lĩnh vực truyền thông tham gia hỗ trợ, tài trợ vốn cho hoạt động truyền thông Tuy đây là nguồn vốn thứ yếu nhưng nó đảm bảo hoạt động truyền thông được đa dạng hơn, phong phú hơn, có sự cạnh tranh về chất lượng truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả phát triển của địa phương
Trang 24Bộ, trực thuộc Bộ Trong số các cơ quan kể trên, Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan đóng vai trò chính trong việc tham mưu và trực tiếp xây dựng chính sách
Ở cấp tỉnh, thành phố, chủ thể ban hành chính sách truyền thông là các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Tỉnh ủy, Thành ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố; Ban Tuyên giáo Thành ủy, Sở Thông tin- Truyền thông là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu xây dựng chính sách và tổ chức triển khai thực hiện chính sách
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí
- Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí
- Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về báo chí tại địa phương
- Nghị định số 08/2017/NĐ-CP ngày 08/02/2017 của Chính phủ quy định về lưu chiểu điện tử đối với loại hình báo nói, báo hình và báo điện tử độc lập với cơ quan báo chí
- Nghị định số 72/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về hoạt động nhiếp ảnh
Trang 25- Nghị định số 06/2016/NĐ-CP ngày 18/01/2016 của Chính phủ quản
lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình
- Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ngày 14/3/2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản
- Nghị định số 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản
- Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản
lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng
- Nghị định số 88/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 của Chính phủ quy định về hoạt động thông tin, báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam
- Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước
- Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06/01/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản (Được thay thế bởi Nghị định 159/2013/NĐ-CP từ ngày 01/01/2014)
- Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản
lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet
- Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/04/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí
- Nghị định số 98/CP ngày 13/9/1997 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động của báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngoài
- Nghị định số 67/CP ngày 31/10/1996 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động thông tin, báo chí của phóng viên nước ngoài, các cơ quan, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam
Trang 261.6 Những nhân tố tác động đến chính sách truyền thông
1.6.1 Định hướng phát triển của Đảng
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin về truyền thông đại chúng
C.Mác, Ph Ăng ghen, V.I.Lê nin là những nhà tư tưởng vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới – là người đặt nền móng cho lí luận báo chí cách mạng Là những người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo nhiều tờ báo, đồng thời là những nhà báo lỗi lạc, luôn rất quan tâm đến hoạt động báo chí, xuất bản Tư tưởng về công tác báo chí và hoạt động báo chí xuất bản của những nhà kinh điển này
vô cùng đồ sộ và phong phú – là một bộ phận quan trọng trong hình thái ý thức xã hội mác xít
Từ nhãn quan duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải thích sự ra đời cũng như bản chất của báo chí
Bằng những bài báo, những tác phẩm của mình các nhà cách mạng vô sản đã thể hiện rất rõ quan điểm của mình: Báo chí là vũ khí sắc bén để chiến đấu bảo vệ lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động, bác bỏ và vạch trần luận điệu của những thế lực thù địch Báo chí cách mạng vô sản phải thực sự là vũ khí chiến đấu hữu hiệu của giai cấp công nhân, là cơ quan tuyên truyền, tham gia vào việc tổ chức phát triển xã hội bằng hoạt động ngôn luận Trọng trách của báo chí cách mạng là phục vụ lợi ích của nhân dân, vì
sự tiến bộ và giải phóng con người
Trong thực tế, C.Mác – Ph Ăng ghen là những người sáng lập ra nền báo chí cách mạng mà đấu mốc quan trọng là sự ra đời của tờ báo “Sông Ranh mới” trong những năm 1848 – 1849 Tờ báo này do C.Mác làm tổng
biên tập và Ph Ăng ghen là cộng tác viên đắc lực Tờ báo này gắn liền với
phong trào cộng sản ở châu Âu khoảng giữa thế kỷ thứ XIX
Trang 27Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong xã hội có phân chia giai cấp thì mỗi con người phải thuộc về một giai cầp, tầng lớp nhất định và quyền lợi của các giai cấp trong xã hội là khác nhau thậm chí đối lập nhau
“Các giai cấp tầng lớp trong xã hội đều sử dụng báo chí làm vũ khí chiến đấu
để bảo vệ địa vị chính trị và quyền lợi kinh tế của mình Chính vì vậy, báo chí của giai cấp nào thì phản ánh tôn chỉ mục đích đường lối tư tưởng, tình cảm,
nguyện vọng của giai cấp đó” [7, tr.23]
Báo chí của các Đảng Cộng Sản được xác định là cơ quan ngôn luận của Đảng, là sợi dây liên hệ giữa Đảng và giai cấp công nhân, là vũ khí đấu
tranh của gia cấp vô sản Ph Ăng ghen chỉ ra rằng: “Đối với Đảng nhất là
Đảng của giai cấp công nhân thì việc lập ra tờ báo hàng ngày đầu tiên là cái mốc quan trọng để tiến lên phía trước Đó là nhận định ban đầu, từ đó Đảng
sẽ tiến hành cuộc đấu tranh với những đối thủ của mình bằng vũ khí tương xứng Báo hàng ngày là công cụ tuyên truyền, cổ động quần chúng không có
gì thay thế được” [6, tr.18]
C.Mác nhận định: “Báo chí sống trong nhân dân và trung thực chia sẻ
với nhân dân niềm hi vọng và sự lo lắng của họ Trong hi vọng và lo lắng, có điều gì báo chí nghe được từ cuộc sống, báo chí sẽ lớn tiếng loan tin cho mọi người đều biết, báo chí tuyên bố sự phán xét của mình đối với những tin tức
đó một cách gay gắt, hăng say, phiến diện như những tình cảm và tư tưởng bị xúc động thầm bảo nó vào lúc đó Điều sai lầm hôm nay nằm trong các sự kiện mà nó đưa tin, hoặc trong những lời nhận xét mà nó nêu lên thì ngày mai
sẽ được bản thân nó bác bỏ” [6, tr.237-238] Từ nhận định trên cho thấy: báo
chí cách mạng là công cụ phục vụ lợi ích của quần chúng nhân dân, coi phong trào quần chúng là cơ sở thực tiễn để phản ánh, chỉ có như vậy báo chí mới có thể bảo vệ được quyền lợi của quần chúng một cách thiết thực
Trang 28V.I.Lê Nin - người cộng sản ưu tú, kế thừa tư tưởng chủ nghĩa Mác đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của báo chí trong phong trào cách mạng: “Chúng
ta cần trước hết là tờ báo, không có nó thì không thể tiến hành được một cách có hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động hết sức nguyên tắc và toàn
diện” [7, tr.102], “Tờ báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động
tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể… Nhờ có tờ báo, một tổ chức cố định
tự nó hình thành, nó không chỉ làm các công tác địa phương mà còn làm cả công tác chung thường xuyên nữa, nó giúp cho những nhân viên của nó quen việc theo dõi chăm chú những biến cố chính trị, đánh giá ý nghĩa của những biến
cố ấy đến các tầng lớp khác nhau trong nhân dân, và vạch ra cho đảng cách
mạng những phương pháp hợp lí để tác động đến những biến cố ấy” [7, tr.122]
Báo chí một mặt cung cấp thông tin cho công chúng, mặt khác nó phản ánh những tâm tư nguyện vọng, ý kiến… của công chúng về những vấn đề thời sự nóng bỏng của xã hội Chính vì vậy, nó được xác định là một trong những nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho những nhà quản lí xã hội Những quyết định quản lí chỉ thực sự phù hợp và hiệu quả khi nó dựa trên những thông tin chính xác từ thực tế cuộc sống V.I.Lênin đã yêu cầu thành lập một uỷ ban đặc biệt để thu thập và xử lí thông tin ngay từ những ngày đầu cách mạng: “Có thể và nhất thiết phải tổ chức một văn phòng như vậy, nó có thể đem lại lợi lớn; không có nó, chúng ta sẽ không có mắt, không có tai,
không có tay để tham gia các phong trào quốc tế” [7, tr.156]
V.I.Lênin đề cao sự phù hợp giữa các yếu tố nội dung và hình thức thể hiện của tác phẩm báo chí Nó sẽ không đem lại hiệu quả cao với công 31 chúng khi nội dung thông tin tốt nhưng cách thể hiện không gần gũi, xa rời với đời sống nhân dân: “Sự đơn giản, dễ hiểu và phổ cập, nội dung sinh động của tư liệu đưa ra sẽ đảm bảo cho những tư tưởng của báo chí đi sâu vào lòng
người đọc thuộc mọi tầng lớp nhân dân” [7, tr 92]
Trang 29Từ những quan điểm trên cho thấy: Chủ nghĩa Mác – Lênin đánh giá rất cao vai trò, cũng như hiệu quả của báo chí trong việc tác động vào xã hội,
nó làm thay đổi nhận thức, cũng như hành vi ứng xử của con người trong thực tiễn cuộc sống Hiệu quả của báo chí sẽ là một sức mạnh to lớn, góp phần hình thành dư luận xã hội, định hướng dư luận xã hội tích cực trong công chúng
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về truyền thông đại chúng
Ở Việt Nam, nền báo chí cách mạng được đánh dấu bằng sự ra đời của
tờ báo “Thanh niên” ngày 21 tháng 6 năm 1925 do Hồ Chí Minh sáng lập
Hồ Chí Minh - người chiến sĩ cộng sản ưu tú, nhà báo cộng sản đầu tiên đã sáng lập ra nền báo chí cách mạng của giai cấp vô sản ở nước ta Là người kế thừa những tinh hoa của chủ nghĩa Mác – Ăng ghen, Lênin về báo chí vô sản, áp dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, quan điểm về báo chí của Hồ Chí Minh rất cụ thể và sâu sát Trước hết, đối với báo Đảng, Người cho rằng: tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng và hành động thông suốt và thống nhất Cụ thể là tuyên truyền lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng và của Chính phủ Thông tin về tình hình trong nước cũng như thế giới, những kinh nghiệm tốt, xấu của các nghành các địa phương, phản ánh công tác học tập, công tác, tinh thần phê bình, tự phê bình, cũng như đời sống và ý nguyện của nhân dân… Mỗi tờ
báo Đảng là những lớp huấn luyện đơn giản, thiết thực và rộng khắp: “Những
tờ báo Đảng cung cấp cho chúng ta những điều cần biết làm về công tác tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác… nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta” [12, tr.336, 337] Hồ Chí Minh luôn xác
định và đề cao vai trò của báo chí, coi nó như một vũ khí sắc bén chiến đấu để
giành lại độc lập, tự do cho dân tộc: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách
mạng Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén cuả họ” [14, tr 377] Đối với mỗi
Trang 30tờ báo để phục vụ được nhân dân tốt hơn đều phải xác định nội dung, tôn chỉ mục đích cũng như đối tượng phục vụ rõ ràng:
- Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền cổ động, huấn luyện, Giáo dục,
và tổ chức dân chúng dể đưa dân chúng tới mục đích chung
- Tôn chỉ mục đích của mỗi tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc
Đối tượng của báo chí là đại đa số dân chúng: “Một tờ báo không
được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo” [14, tr.346] Chính vì vậy, muốn để tờ báo được dân chúng ham
chuộng, yêu thích thì các tờ báo phải hết sức chú ý đến các mặt nội dung và hình thức của tờ báo Về nội dung “các bài báo phải đơn giản, dễ hiểu, phổ
thông, thiết thực, hoạt bát” Về hình thức “cách sắp đặt các bài, cách in phải
sạch sẽ sáng sủa” [14, tr.346]…
Không chỉ đối với những người làm báo, mà với tất cả các chiến sĩ cách mạng trên các mặt trận Hồ Chí Minh đề cao vấn đề nhận thức, vì chỉ khi
có nhận thức con người mới có thể tự giác làm đúng, đi theo cái đúng cái cao
cả: “Tuyệt đối cần thiết là chúng ta phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta
khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thu những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ cần phải có” [15, tr.381]
Đối với nhà báo cách mạng trong đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt
Nam, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Báo chí của chúng ta là phục vụ nhân dân
lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, cho hoà bình trên thế giới Chính vì thế cho nên, tất cả những người làm báo phải có lập trường chính trị vững chắc Chính trị phải làm chủ Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được”; “Nhiệm vụ của mỗi người làm báo là quan trọng và vẻ vang [15, tr.366]
Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường của giai cấp vô sản, phải nâng
Trang 31cao trình độ văn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình Cần phải luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công Trong hoạt động nghiệp vụ của nhà báo cách mạng, mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng Chính vì vậy trong mỗi bài báo Hồ Chí Minh yêu cầu:
- Phải học cách nói của quần chúng Chớ nói như giảng sách
- Phải luôn dùng những lời lẽ những thí dụ đơn giản
- Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem ? nói cho ai nghe”?
- Trước khi nói phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn tận Sau khi viết
rồi phải xem đi xem lại ba bốn lần [12, tr.348, 349]
Hồ Chí Minh luôn xác định cách viết báo luôn gắn với hiệu quả truyền thông của báo chí Gắn báo chí với công chúng bằng hình thức thể hiện phù hợp với cách nghĩ, cách hiểu, cách nói, cách làm, của công chúng, trên cơ sở
đó để truyền tải thông tin Người nhấn mạnh: “Mình viết ra là cốt để giáo dục,
cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích Mà muốn người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng gọn gàng, không dùng chữ nhiều”
Về cách viết báo trong bài giảng tại lớp chỉnh Đảng Trung ương ngày
17 tháng 08 năm 1953, Người chỉ rõ, khi viết báo chúng ta phải luôn đặt ra
các câu hỏi: Vì ai mà viết? Mục đích viết để làm gì? và phải trả lời những
câu hỏi đó Chẳng hạn, Viết cho ai? Viết cho đại đa số Công- Nông- Binh [12,tr.616] Viết để làm gì? để giáo dục gải thích, cổ động, phê bình Để phục vụ quần chúng Viết cái gì? Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta… của bạn ta Đồng thời phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán
Trang 32bộ của nhân dân Không nên chỉ viết những cái tốt mà giấu những cái xấu Nêu cái hay, cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại… Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà, chân thành đúng đắn chứ không phải để lợi dụng
để nó phản tuyên truyền [12, tr 349]
Về vấn đề tài liệu để viết báo, trả lời câu hỏi lấy tài liệu ở đâu? Người chỉ rõ, muốn có tài liệu thì phải tìm, thông qua các hoạt động như: nghe, hỏi,
quan sát, thu thập từ các tài liệu thông tin khác và ghi chép [12, tr.350]
Trả lời câu hỏi viết như thế nào? Người chỉ rõ: “Cần phải tránh lối
viết “rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải” làm cho người xem như là “Chắt vắt vào rừng xanh” Ngoài ra, Người còn yêu cầu viết báo
phải “gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt
đuôi, mà phải có đầu có đuôi” Viết phải thiết thực “Nói có sách, mách có chứng” có nghĩa là “nói cái việc ấy ở đâu, thế nào, ngày nào, nó sinh ra thế nào, phát triển thế nào, kết quả thế nào” Người khuyên viết báo không nên
“ham dùng chữ”; Những chữ mà không biết rõ thì không nên dùng Những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta Đặc biệt, trong lúc viết thì phải chú ý giữ bí mật nó được coi là điều kiện cơ bản để đảm bảo hiệu quả thông
tin [12, tr.339, 340, 341]
Trong Đại hội lần thứ III Hội nhà báo Việt Nam, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến hiệu quả tác động của báo chí tới sự hình thành dư luận xã hội Người chỉ rõ báo chí phải giữ nhiệm vụ định hướng dư luận xã hội chứ không được phép vuốt đuôi dư luận xã hội Các phương tiện truyền thông đại
chúng được xác định có vai trò hết sức quan trọng trong việc “đem ý kiến
đúng đã được lựa chọn đến với người dân để họ so sánh, bàn bạc, lựa chọn lại”; Trên cơ sở đó “phải khéo léo tập trung ý kiến của quần chúng, hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng Phải đem cách nhân dân so
Trang 33sánh, xem xét, 35 giải quyết các vấn đề mà hoá nó thành cách chỉ đạo nhân dân” [12, tr.363, 364]
Có thể nói, quan điểm về báo chí và hoạt động báo chí của Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Những quan điểm, tư tưởng đó được coi là cách thức để đảm bảo dư luận xã hội của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, để chúng thực sự trở thành công cụ, đối tượng để lãnh đạo, quản
lí xã hội theo mục tiêu phát triển bền vững
- Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về truyền thông đại chúng
Đảng Cộng Sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập Ra đời ngày 03 tháng 02 năm 1930, Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng đem lại độc lập tự do cho đất nước Trong các quá trình cách mạng, báo chí được sử dụng như một phương tiện hữu hiệu để đấu tranh giành thắng lợi
Đảng chỉ rõ báo chí phải luôn đi đầu trong trong việc tuyên truyền, bảo
vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, Đảng lãnh đạo báo chí là điều kiện quan trọng để khơi dậy được nhiệt tình cách mạng, sức sáng tạo, tiềm năng trí tuệ to lớn của nhân dân, tổng kết các kinh nghiệm phong phú, sinh động từ thực tiễn để góp phần hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng, thực hiện quá trình “tự Giáo dục” của nhân dân
Trên cơ sở nhận thức đó, Đảng luôn đề cao vai trò của hoạt động báo
chí; coi báo chí là “công cụ sắc bén trong công tác tư tưởng của Đảng”, là
“lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hoá” [32, tr 45] Hiện nay
báo chí cũng được đặt vào vị trí xung kích trong sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước, dân chủ hoá đời sống xã hội, cổ vũ, phát hiện những nhân tố mới, tích cực trong cuộc sống; giám sát công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và bộ
Trang 34máy Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế, thoả mãn nhu cầu thông tin, nâng cao dân trí của nhân dân
Hiện nay, sau hơn 20 năm đổi mới đất nước ta đã có sự phát triển tương đối toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có báo chí Hệ thống báo chí của chúng ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, vận hành trong
cơ chế thị trường đã có được những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng, ngày càng đáp ứng được nhu cầu thông tin của công chúng trong
xã hội Nội dung thông tin được chuyển tải trên báo chí ngày càng phong phú,
đa dạng và đặc biệt là vấn đề được đề cập xác thực hơn, đã thu hút được sự quan tâm của công chúng; khiến họ cảm nhận những vấn đề thời sự xã hội như là “chuyện của mình” Phương thức thông tin đa dạng, sinh động, hình thức đẹp, hấp dẫn… Nói chung trong giai đoạn hiện nay, báo chí của chúng ta
đã dần tiếp cận được với trình độ của báo chí hiện đại trên thế giới
Bắt nguồn từ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, đường lối chính trị cũng từng bước hoàn thiện, trong đó có sự đổi mới công tác tư tưởng và văn hoá Định hướng tư tưởng và quan điểm báo chí cũng có những bước đổi mới đáng kể Từ việc xác định “ Báo chí là công cụ tư tưởng sắc bén của Đảng” đến quan điểm “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước,của các tổ chức
xã hội, là diễn đàn của nhân dân” được coi là một bước phát triển mới của lí luận báo chí cách mạng Từ quan điểm này cho thấy: thông tin báo chí là đa dạng, phong phú, nhiều chiều nhưng phải vận hành trong sự quản lí có tính định hướng của Đảng, Nhà nước
Quan điểm này đã thể hiện được mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa Đảng và dân Trên cơ sở “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, báo chí một mặt tuyên truyền đường lối chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, đến với 37 công chúng, một mặt phản ánh những ý kiến, nguyện vọng của công chúng trong quá trình thực hiện đường lối chính sách của Đảng, Nhà
Trang 35nước Có thể nói, báo chí là chiếc cầu nối giữa Đảng và dân, là kênh liên hệ giữa dân và Đảng, là cầu nối tin cậy giữa văn bản chính sách và thực tế cuộc sống
Ngoài ra, Đảng còn xác định báo chí là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định vai trò giám sát xã hội của truyền thông đại chúng thông qua việc phản ánh thực tiễn cuộc sống và định hướng dư luận xã hội, nâng cao nhận thức cho công chúng, đồng thời chỉ rõ: các cơ quan truyền thông đại chúng “vừa phải hiểu rõ nguyện vọng, tâm tư của quần chúng để phục vụ tốt và phản ánh với Đảng, vừa có trách nhiệm tạo
cho được dư luận quần chúng đúng đắn” [32, tr.14] Để thực hiện được điều
đó, các cơ quan truyền thông đại chúng phải “coi trọng việc nâng cao chất
lượng thông tin đại chúng, tính chân thật, tính chiến đấu và tính đa dạng của thông tin” [32, tr 12]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, được soi sáng bởi lí luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình phát triển báo chí cách mạng Việt Nam luôn gắn mật thiết, đi cùng và phản ánh từng nhiệm vụ, diễn biến của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội và đặc biệt là công cuộc đổi mới hiện nay
1.6.2 Các yếu tố bên ngoài tác động đến chính sách truyền thông
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, ngoài những định hướng của Đảng đối với chính sách truyền thông, còn có một số yêu tố bên ngoài tác động đến chính sách truyền thông
Trong điều kiện Việt Nam, báo chí truyền thông là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, đồng thời là diễn đàn của nhân dân Báo chí truyền thông hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và trong khuôn khổ pháp luật Báo chí hoạt động theo định
Trang 36hướng xã hội chủ nghĩa Đó là những nét đặc trưng của Báo chí truyền thông Việt Nam
Thời gian qua, bên cạnh những thành tích, ưu điểm, báo chí truyền thông Việt Nam cũng bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm đáng lo ngại Đó là:
- Một số nhà báo kể cả một số lãnh đạo cơ quan báo chí truyền thông chưa quán triệt đầy đủ sâu sắc đường lối, chính sách và pháp luật Việt Nam
về báo chí, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của người làm báo Đã xuất hiện trên báo chí những tác phẩm vô tình hay cố ý đi chệch định hướng, hoài nghi hoặc phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi xem xét lại hoặc xoá bỏ điều 4 của Hiến pháp (tước bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam); tán thành, cổ vũ quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; đòi lật lại một số vấn đề lịch sử đã được kết luận, xuyên tạc lịch sử, kiến nghị “khôi phục quy chế độc lập cho báo chí”
- Tình trạng thông tin không trung thực, áp đặt vô lối, suy diễn chủ quan, viết ẩu, viết sai, bịa đặt có xu hướng gia tăng Việc cải chính thông tin sai trên báo chỉ chưa nghiêm túc và đúng luật báo chí Số nhà báo, người làm công tác trong lĩnh vực báo chí truyền thông yếu kém đạo đức, vi phạm pháp luật, lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi có xu hướng tăng đáng lo ngại (năm 2008
đã khởi tố, tạm giam 5 nhà báo để điều tra theo pháp luật)
- Một số cơ quan báo chí và nhà báo chưa bám sát nhiệm vụ của đất nước của ngành - địa phương, đoàn thể mình Chưa quan tâm đúng mức việc nêu gương, biểu dương cổ vũ nhân tố mới, điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt để tạo không khí, niềm tin cho xã hội Sa đà ưa thích đăng tải những tin, bài, ảnh về các vụ án, mặt tiêu cực, mặt trái và non yếu của xã hội, tiết lộ bí mật Nhà nước, xâm phạm đời tư, thiếu nhạy cảm khi thông tin các vấn đề dân chú nhân quyền tự do - tôn giáo, dân tộc làm “nóng” các vấn đề kinh tế - xã hội một cách thiếu ý thức và trách nhiệm Khi thể hiện không chú ý cân nhắc
Trang 37liều lượng mức độ, thời điềm tiêu đề, mặt lợi hại của thông tin chỉ vì mục đích câu khách, giật gân để bán được nhiều báo
- Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về báo chí truyền thông chưa theo kịp thực tiễn sôi động, nhanh chóng và phức tạp của báo chí truyền thông hiện nay
Lĩnh vực đào tạo bồi dưỡng nhân lực báo chí truyền thông chưa đáp ứng nhu cầu xã hội, chất lượng chưa cao, luật báo chí và hành lang pháp lý nói chung chậm đổi mới, bổ sung; cơ chế chính sách còn lạc hậu, xa rời thực tiễn
Như vậy, những hạn chế, khuyết điểm nói trên là không thể coi thường Nếu không ngăn chặn, điều chỉnh kịp thời sẽ bất lợi cho xã hội, cho đất nước
và chính báo chí truyền thông Việt Nam
Cơ hội và thách thức của Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình hội nhập
- Cơ hội và vận hội cho báo chí truyền thông Việc Nam
Trên thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá Nền kinh tế trí thức, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, mạng lnternet phát triển mạnh mẽ đang làm biến đổi nhanh chóng bộ mặt thể giới hiện đại, mà theo cách nói của Thomas L Friedman là “Thế giới phẳng” Trong bối cảnh đó, các trào lưu các khuynh hướng tư tưởng và báo chí truyền thông mới mẽ của thế giới tác động
và ảnh hưởng nhanh chóng, mạnh mẽ vào từng nước; tác động trực tiếp vào tư tường tình cảm tâm lý, lối sống và đạo đức của con người
Trong đời sống quốc tế xuất hiện những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn về con đường phát triển khác nhau của các nước Các ý kiến, quan điểm, chính kiến, tư tưởng cọ xát diễn ra hàng ngày Đây là những điều kiện để báo chí truyền thông mỗi nước (trong đó có Việt Nam) phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin đa dạng, phong phú, kịp thời, chính xác của công chúng
Trang 38Qua giao lưu quốc tế, báo chí truyền thông ngày càng hoàn thiện, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của đất nước và sự nghiệp hoà bình, hợp tác và phát triển của thế giới
Ở trong nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá, tiếp tục đổi mới, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh được xác định rõ và đang nỗ lực thực thi Kinh tế - xã hội tuy có lúc khó khăn nhưng tổng thể phát triển khá, đời sống người dân được cải thiện
Theo đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá, tháng 11/2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, đánh dấu bước hội nhập sâu, rộng và đầy đủ của Việt Nam vào đời sống quốc tế, mở ra cơ hội và cả thách thức mới cho đất nước Trên cơ sở đó, báo chí truyền thông Việt Nam cũng tự đổi mới và phát triển, mở rộng quan hệ quốc tế, bước đầu thu nhiều thành tựu đáng kể
Tham gia vào đời sống quốc tế, các nhà báo Việt Nam có môi trường rộng hơn, thuận lợi hơn trong việc khơi dậy những tiềm năng và sáng tạo to lớn Có điều kiện và thời cơ để khai thác, xứ lý và cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời, đa dạng cho công chúng Học hỏi, trao đôi kinh nghiệm nghề nghiệp và tư duy, phương pháp làm báo hiện đại Sử dụng được các phương tiện kỹ thuật tiên tiến cho tác nghiệp Công chúng Việt Nam có thêm sự lựa chọn thông tin trong và ngoài nước cho nhu cầu của mình Báo chí truyền thông Việt Nam cũng có cơ hội mở rộng giao lưu quốc tế, vừa tự mình phát triển vừa đóng góp chung cho sự nghiệp báo chí thế giới
Trang 39lợi ích đất nước và quốc tế, bảo vệ tư tưởng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc với các tư tưởng khuynh hướng mới của thế giới là không đơn giản
Hội nhập quốc tế, báo chí truyền thông Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt hơn giữa báo chí trong nước và báo chí nước ngoài (mà đa phần
là vượt trội về công nghệ, kỹ thuật, tài chính, tính chuyên nghiệp cạnh tranh
về sản phẩm báo chí, cơ quan quản lý và cấp độ báo chí Trung ương - địa phương trong nước, có thể dẫn tới sự phân hoá - tạo ra sự không đồng đều, thậm chí một bộ phận cơ quan báo chí bị phá sản, phóng viên thất nghiệp Báo chí truyền thông nước ngoài với những ưu thế nhiều mặt sẽ tác động mạnh hơn, nhanh hơn đến nhu cầu báo chí trong nước, có thể gây ra rối loạn thông tin chèn ép và áp đặt thông tin, ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước và báo chí truyền thông Việt Nam
Đội ngũ phóng viên, biên tập viên hiện nay nhìn chung còn yếu và thiếu tính chuyên nghiệp trình độ tin học, ngoại ngữ, hiểu biết thông lệ và luật pháp quốc tế còn yếu; kỹ thuật thu - phát thông tin chưa tốt; lực lượng phóng viên, biên tập viên tuy được đào tạo nhưng giao lưu quốc tệ rất hạn chế Những yếu kém đó gây khó khăn, bất cập cho quá trình hội nhập quốc tế của nhà báo nói riêng và báo chí truyền thông Việt Nam nói chung
Cùng với những thách thức trên, quá trình hội nhập quốc tế còn đặt ra những thách thức khác như lập trường, bản lĩnh của nhà báo, giữ vững định hướng phát triển đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc bảo vệ môi trường độc lập dân tộc và phát triển bền vững đất nước là những vấn đề cần được giải quyết hài hoà và tỉnh táo, đòi hỏi mỗi nhà báo phải phấn đấu, tu dưỡng rèn luyện toàn diện để đáp ứng yêu cầu mới
Như vậy, trong quá trình phát triển và hội nhập có cả thời cơ và thách thức Thời cơ đi cùng thách thức và đan xen nhau Tuy nhiên, nếu có thời cơ
mà không tận dụng thì cũng bị tuột và thách thức nếu được xử lý tốt có thể
Trang 40thành thời cơ Mặc dù có khó khăn thách thức nhưng thuận lợi và thời cơ vẫn nhiều hơn Vì vậy báo chí truyền thông Việt Nam cũng phải biết tận dụng thời
cơ vượt qua thách thức để tiếp tục phát triển ổn định và bền vững
1.6.3 Năng lực của chủ thể và chính sách phát triển truyền thông
Điều 4 Luật Báo chí 2016 đã chỉ rõ:
1 Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân
2 Báo chí có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân;
- Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước
và thế giới theo tôn chỉ, Mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
- Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền
tự do ngôn luận của Nhân dân;
- Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội;
- Góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam;