TÓM TẮT Đề tài “Nghiên cứu điều kiện nhiệt độ bảo quản trứng và kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider Neuroptera: Chrysopidae ” được tiến hành tại bộ môn bảo vệ thực vật Kho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN NHIỆT ĐỘ BẢO QUẢN
Trang 2NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN NHIỆT ĐỘ BẢO QUẢN
Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS NGUYỄN THỊ CHẮT
Trang 3Lời cảm tạ!
Con xin chân thành ghi ơn công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ Cha mẹ
đã tạo cho con những động lực vươn lên trong cuộc sống, làm điểm tựa vững chắc cho con bước vào đời
Em xin chân thành ghi ơn cô PSG TS Nguyễn Thị Chắt Cô đã dìu dắt em hoàn thành đề tài tốt nghiệp Cô cũng là người giúp em định hướng con đường tương lai
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường ĐH Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, ban chủ nhiệm khoa
Nông học đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp
Quý thầy cô khoa Nông học trường ĐH Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã tận tình
truyền đạt và chỉ bảo tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu
Đồng cảm ơn các bạn bè cùng lớp, các em NH 30A đã phụ giúp và động viên
tôi trong suốt quá trình học tập và làm đề tài
Thủ Đức, ngày 1 tháng 9 năm 2007
Nguyễn Thị Phượng
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu điều kiện nhiệt độ bảo quản trứng và kén chuồn chuồn cỏ
Plesiochrysa ramburi Schneider (Neuroptera: Chrysopidae) ” được tiến hành tại bộ
môn bảo vệ thực vật Khoa Nông học trường ĐH Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, một số khu vực Tp Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận Tp Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện từ 1/4/2007 đến 1/8/2007 Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên
Kết quả thí nghiệm thu được như sau:
Đã định danh được loài chuồn chuồn cỏ ở khu vực Tp Hồ Chí Minh và các khu
vực phụ cận là loài Plesiochrysa ramburi Schneider
lệ ấu trùng làm nhộng đạt 98,2%; tỷ lệ thành trùng vũ hóa đạt 90,9%; tỷ lệ thành trùng
dị dạng 5,6%; tỷ lệ thành trùng chết 3,5%; tỷ lệ ấu trùng hoàn thành vòng đời đạt 89,4%; số trứng một thành trùng cái đẻ là 57,8 trứng Thời gian phát triển của mỗi giai đoạn như sau: giai đoạn trứng kéo dài 3 ngày; giai đoạn ấu trùng kéo dài 8,6 ngày; giai đoạn nhộng kéo dài 8,3 ngày; thời gian trước đẻ 5,8 ngày; vòng đời 24,3 ngày; tuổi thọ
của thành trùng 16,7 ngày Số lượng thành trùng Dysmicocus brevipes Ckll bị một ấu trùng chuồn chuồn cỏ ăn là 29,1 thành trùng D brevipes Ckll./ấu trùng
ở ngày thứ 5 kể từ khi bảo quản
nở đạt 90% và 81,4%; tỷ lệ ấu trùng làm nhộng đạt 98,2% và 98,0%; tỷ lệ thành trùng
vũ hóa đạt 92,3% và 91,5%; tỷ lệ thành trùng dị dạng 0% và 4,2%; tỷ lệ thành trùng chết 7,6% và 4,3%; tỷ lệ ấu trùng hoàn thành vòng đời đạt 90,7% và 89,8%; số trứng một thành trùng cái đẻ là 63,3 trứng và 54,8 trứng Thời gian phát triển của mỗi giai đoạn như sau: giai đoạn trứng kéo dài 4 ngày và 10 ngày; giai đoạn ấu trùng kéo dài 8,7 ngày và 8,7 ngày; giai đoạn nhộng kéo dài 8,5 ngày và 8,6 ngày; thời gian trước đẻ 6,8 ngày và 6,9 ngày; vòng đời 28,0 ngày và 34,2 ngày; tuổi thọ của thành trùng 13,8
ngày và 16,2 ngày Số lượng thành trùng Dysmicocus brevipes Ckll bị một ấu trùng chuồn chuồn cỏ ăn là 29,0 thành trùng D brevipes Ckll./ấu trùng và 29,2 thành trùng
Trang 5Ở 200C bảo quản kén 1 ngày và 7 ngày chúng tôi lần lượt ghi nhận: tỷ lệ thành trùng vũ hóa đều đạt 87,8%; tỷ lệ thành trùng dị dạng đều là 5,6%; tỷ lệ thành trùng chết ở 2 thí nghiệm đều là 6,7%; thời gian trước đẻ 6,4 ngày và 5,7 ngày; số trứng một thành trùng cái đẻ là 64,3 trứng và 60,9 trứng; tuổi thọ của thành trùng 16,6 ngày và 18,4 ngày Theo dõi ảnh hưởng của quá trình bảo quản kén đến thế hệ sau thu được kết quả: tỷ lệ trứng nở đạt 90,0 % và 88,3%; tỷ lệ ấu trùng làm nhộng đạt 96,3 % và 98,1%; thời gian phát triển của mỗi giai đoạn như sau: giai đoạn trứng đều kéo dài 3 ngày; giai đoạn ấu trùng kéo dài 8,5 ngày và 8,7 ngày; giai đoạn nhộng kéo dài 8,2
ngày và 8,5 ngày Số lượng thành trùng Dysmicocus brevipes Ckll bị một ấu trùng chuồn chuồn cỏ ăn là 29,4 thành trùng D brevipes Ckll./ấu trùng và 29,2 thành trùng
D brevipes Ckll./ấu trùng
trùng vũ hóa đạt 87,8% và 78,9%; tỷ lệ thành trùng dị dạng 4,4% và 11,1 %; tỷ lệ thành trùng chết 7,8% và 10,0%; thời gian trước đẻ 5,7 ngày và 4,6 ngày; số trứng một thành trùng cái đẻ là 62,6 trứng và 54,0 trứng; tuổi thọ của thành trùng 14,8 ngày và 17,3 ngày Theo dõi ảnh hưởng của quá trình bảo quản kén đến thế hệ sau thu được kết quả: tỷ lệ trứng nở đạt 88,3 % và 88,3%; tỷ lệ ấu trùng làm nhộng đạt 88,3% và 88,3%; thời gian phát triển của mỗi giai đoạn như sau: giai đoạn trứng đều kéo dài 3 ngày; giai đoạn ấu trùng đều kéo dài 8,7 ngày; giai đoạn nhộng kéo dài 8,5 ngày và 8,4
ngày Số lượng thành trùng Dysmicocus brevipes Ckll bị một ấu trùng chuồn chuồn cỏ
ăn là 29,6 thành trùng D brevipes Ckll./ấu trùng; 29,7 thành trùng D brevipes Ckll./ấu
trùng
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách hình và biểu đồ viii
Danh sách bảng ix
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Giới thiệu 1
1.1.1 Đặt vấn đề 1
1.1.2 Mục tiêu đề tại và nội dung nghiên cứu 2
1.1.2.1 Mục tiêu – yêu cầu đề tài 2
1.1.2.2 Nội dung nghiên cứu 2
1.1.2.3 Giới hạn đề tài 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 4
2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm chung của bọ cánh lưới 4
2.1.1 Vị trí phân loại 4
2.1.2 Đặc điểm chung 4
2.2 Đặc điểm sinh học, khả năng ăn mồi của một số loài chuồn chuồn cỏ 7
2.2.1 Một số loài chuồn chuồn cỏ ghi nhận trên thế giới trong họ Chrysopidae 7
2.2.2 Đặc điểm sinh học, khả năng ăn mồi của một số loài chuồn chuồn cỏ 8
2.3 Ảnh hưởng điều kiện nhiệt độ đến sự phát triển của chuồn chuồn cỏ 13
2.4 Tình hình thương mại hóa sản phẩm sinh học từ chuồn chuồn cỏ 14
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.2 Điều kiện thí nghiệm 18
3.2.1 Điều kiện khí hậu thành phố Hồ Chí Minh 18
Trang 73.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1 Vật liệu nghiên cứu 20
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.2.1 Tạo nguồn 20
3.3.2.2 Nghiên cứu điều kiện nhiệt độ bảo quản trứng chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider ở 200C và 130C trong 1 ngày và 7 ngày 21
3.3.2.3 Nghiên cứu điều kiện nhiệt độ bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider ở 200C và 130C trong 1 ngày và 7 ngày 22
3.3.3 Xử lí số liệu 23
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Kết quả định danh loài chuồn chuồn cỏ thu thập được tại khu vực Tp Hồ Chí Minh và các khu vực phụ cận 26
4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản trứng chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider ở 200C và 130C trong 1 ngày và 7 ngày 28
4.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ quản trứng chuồn chuồn cỏPlesiochrysa ramburi Schneider ở 200C trong 1 ngày và 7 ngày 28
4.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản trứng chuồn chuồncỏ Plesiochrysa ramburi Schneider ở 130C trong 1 ngày và 7 ngày 32
4.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider ở 200C và 130C trong 1 ngày và 7 ngày 38
4.3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider ở 200C trong thời gian 1 ngày và 7 ngày 38
4.3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider ở 130C trong thời gian 1 ngày và 7 ngày 44
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Đề Nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 57
Trang 8DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
WTO (World Trade Organize): Tổ chức thương mại thế giới GAP ( Good Agricultural Practices): Thực hành nông nghiệp tốt IPM ( Integrated Pest Management): Quản lý dịch hại tổng hợp Tp: Thành phố
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 : Túi nilon đựng kén 17
Hình 2.2 :Chai đựng kén 17
Hình 2.3 : Vỉ đựng kén 17
Hình 2.4 : Vỉ đựng trứng 17
Hình 3.1: Thùng nuôi rệp sáp làm nguồn thức ăn 24
Hình 3.2: Nuôi thí nghiệm khảo sát sự phát triển của ấu trùng 24
Hình 3.3: Lồng lưới kính nuôi nguồn thành trùng 24
Hình 3.4: Hộp nuôi thí nghiệm thành trùng 24
Hình 3.5: Cọ quét 24
Hình 3.6: Ben kẹp 24
Hình 3.7: Mật ong 25
Hình 3.8: Bông cho thành trùng ăn 25
Hình 3.9: Lọ lưu giữ mẫu 25
Hình 3.10: Hộp đựng kén 25
Hình 3.11: Tủ bảo quản mẫu trứng và kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider 25
Hình 4.1: Thành trùng cái 28
Hình 4.2: Thành trùng đực 28
Hình 4.3: Thành trùng dị dạng 28
Hình 4.4: Trứng ở ngày thứ 2 sau đẻ 28
Hình 4.5:Ấu trùng đang tấn công con mồi 28
Hình 4.6: Kén Plesiochrysa ramburi Schneider 28
Khả năng ăn mồi của ấu trùng ở các thí nghiệm Hình 4.7: Ấu trùng đối chứng 49
Hình 4.8: AT ở thí nghiệm bảo quản trứng 200C, 1 ngày 49
Hình 4.9: AT ở thí nghiệm bảo quản trứng 130C, 1 ngày 49
Hình 4.10: AT ở thí nghiệm bảo quản trứng 130C, 7 ngày 49
Trang 10Hình 4.11: AT ở thí nghiệm bảo quản kén 200C, 1 ngày 50
Hình 4.12: AT ở thí nghiệm bảo quản kén 200C, 7 ngày 50
Hình 4.13: AT ở thí nghiệm bảo quản kén 130C, 1 ngày 50
Hình 4.14: AT ở thí nghiệm bảo quản kén 130C, 7 ngày 50
Sự hình thành nhộng ở các thí nghiệm Hình 4.15: Nhộng trùng đối chứng 50
Hình 4.16: Nhộng ở thí nghiệm bảo quản trứng 200C, 1 ngày 50
Hình 4.17: Nhộng ở thí nghiệm bảo quản trứng 130C, 1 ngày 51
Hình 4.18: Nhộng ở thí nghiệm bảo quản trứng 130C, 7 ngày 51
Hình 4.19: Nhộng ở thí nghiệm bảo quản kén 200C, 1 ngày 51
Hình 4.20: Nhộng ở thí nghiệm bảo quản kén 200C, 7 ngày 51
Hình 4.21: Nhộng ở thí nghiệm bảo quản kén 130C, 1 ngày 51
Hình 4.22: Nhộng ở thí nghiệm bảo quản kén 130C, 7 ngày 51
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Nhiệt độ môi trường, nhiệt độ phòng thí nghiệm và ẩm độ tại Tp Hồ Chí Minh năm 2007 19
Biểu đồ 3.2: Lượng mưa tại Tp Hồ Chí Minh năm 2007 19
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: Khả năng phát triển của trứng chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider sau bảo quản ở 200C trong 1 ngày 29 Bảng 4.2: Thời gian phát triển mỗi giai đoạn của chuồn chuồn cỏ
Plesiochrysa ramburi Schneider sau bảo quản trứng ở 200C trong 1 ngày 31
Bảng 4.3: Khả năng ăn mồi của của chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi
Schneider sau bảo quản trứng ở 200C trong 1 ngày 31
Bảng 4.4: Khả năng phát triển của trứng chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider sau bảo quản 130C trong 1 ngày 33
Bảng 4.5: Thời gian phát triển mỗi giai đoạn của chuồn chuồn cỏ
Plesiochrysa ramburi sau bảo quản ở 130C trong 1 ngày 34
Bảng 4.6: Khả năng ăn mồi của chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi
Schneider sau bảo quản 130C trong 1 ngày 34
Bảng 4.7: Khả năng phát triển của trứng chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider sau bảo quản ở 130C trong 7 ngày 35
Bảng 4.8: Thời gian phát triển mỗi giai đoạn của chuồn chuồn cỏ
Plesiochrysa ramburi sau bảo quản ở 130C trong 7 ngày 36
Bảng 4.9: Khả năng ăn mồi của chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi
Schneider sau bảo quản ở 130C trong 7 ngày 37
Bảng 4.10: Khả năng phát triển của kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider sau bảo quản ở 200C trong 1 ngày 39
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider ở 200C trong 1 ngày lên quá trình phát triển của trứng 40
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider ở 200C trong 1 ngày lên khả năng ăn mồi của ấu trùng 40
Bảng 4.13: Khả năng phát triển của kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider sau bảo quản ở 200C trong 7 ngày 41
Bảng 4.14: Ảnh hưởng của bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider ở 200C trong 7 ngày lên quá trình phát triển của trứng 42
Trang 12Bảng 4.15: Ảnh hưởng của bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider ở 200C trong 7 ngày lên khả năng ăn mồi của ấu trùng 43
Bảng 4.16: Khả năng phát triển của kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider sau bảo quản ở 130C trong 1 ngày 44
Bảng 4.17: Ảnh hưởng của bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider ở 130C trong 1 ngày lên quá trình phát triển của trứng 45
Bảng 4.18: Ảnh hưởng của bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider ở 130C trong 1 ngày lên khả năng ăn mồi của ấu trùng 46
Bảng 4.19: Khả năng phát triển của kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider sau bảo quản ở 130C trong 7 ngày 47
Bảng 4.20: Ảnh hưởng của bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider ở 130C trong 7 ngày lên quá trình phát triển của trứng 48
Bảng 4.21: Ảnh hưởng của bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa
ramburi Schneider ở 130C trong 7 ngày lên khả năng ăn mồi của ấu trùng 48
Trang 13Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nông sản đó là sâu bệnh hại Việc sử dụng một cách ồ ạt thuốc trừ sâu, trừ bệnh đã tạo điều kiện phát sinh nhiều loài sâu hại mới có khả năng kháng thuốc cao hơn và cũng để lại một dư lượng thuốc trừ sâu trong nông sản phẩm
Đứng trước những yêu cầu chặt chẽ về chất lượng sản phẩm nông nghiệp sạch theo những tiêu chuẩn quốc tế như GAP thì hướng canh tác nông nghiệp bền vững,
áp dụng IPM (quản lý dịch hại tổng hợp) ngày càng hữu hiệu, an toàn Do vậy nó được
sử dụng một cách rộng rãi ở các nước tiên tiến Trong đó việc sử dụng thiên địch trong đấu tranh sinh học để điều hòa quần thể sâu hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế góp phần làm giảm chi phí dùng thuốc bảo vệ thực vật, bảo vệ môi trường sống và nâng cao chất lượng nông sản đã và đang được nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi Từ đó, tạo cơ hội mở rộng thị trường nông sản Việt Nam sang các nước khác
Một trong những đối tượng sâu hại được quan tâm hiện nay là rệp sáp giả Mặc
dù chúng chưa bùng phát thành dịch hại như rầy nâu, châu chấu… nhưng chúng cũng không kém phần nguy hiểm đối với nhiều loại cây trồng bởi vì chúng có phổ ký chủ rất rộng; khả năng sinh sản cao; khó tiêu diệt bằng các loại thuốc bảo vệ thực vật do có lớp sáp bao phủ Đặc điểm chung của các loài rệp sáp là đều rất phàm ăn, ăn liên tục Chúng chích hút dinh dưỡng từ thân, cành, lá, hoa, quả Từ đó làm ảnh hưởng đến hình dạng, chất lượng quả, gây rụng hoa và khô héo cành Chất thải của chúng chứa
Trang 14hàm lượng đường cao thu hút kiến và tạo môi trường thuận lợi cho nấm hoại sinh màu đen phát triển làm ảnh hưởng tới quá trình hô hấp, quang hợp của cây Vì thế tìm một biện pháp hữu hiệu để tiêu diệt rệp sáp giả trở nên cấp thiết
Theo Nguyễn Thị Chắt, 2005 trong công trình: Nghiên cứu rệp sáp Coccinea,
phổ ký chủ của chúng và biện pháp phòng trị trên cây ăn trái, cây công nghiệp dài ngày tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ và Vũ
Thị Nga, 2005 Nghiên cứu sâu hại và thiên địch của chúng trên cây mãng cầu xiêm
(Annona muricata L.) tại Bình Chánh, Tp Hồ Chí Minh chỉ ra một số loài là thiên địch
ăn rệp sáp giả rất có ý nghĩa như: Sâu ăn rệp Eulemma amabilis Moore (Noctuid -
chuồn cỏ Chrysopa sp (Chrysopidea - Neurop)… Từ thực tế đó đã mở ra một hướng
nghiên cứu sử dụng thiên địch rệp sáp giả này như một tác nhân sinh học
Đứng trước tình hình trên, được sự đồng ý của khoa nông học trường ĐH Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, cùng với sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Chắt, tôi đã tiến
hành đề tài “Nghiên cứu điều kiện nhiệt độ bảo quản trứng và kén chuồn chuồn
cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider (Neuroptera: Chrysopidae) ” tại trường ĐH
Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh
1.1.2 Mục tiêu đề tài và nội dung nghiên cứu
1.1.2.1 Mục tiêu
Đề tài thực hiện nhằm tìm hiểu điều kiện nhiệt độ để bảo quản trứng và kén
chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider và tiến tới sử dụng chúng như một
biện pháp phòng trừ sinh học trong canh tác
1.1.2.2 Nội dung nghiên cứu
1 Khảo sát ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ bảo quản trứng chuồn chuồn cỏ
Plesiochrysa ramburi Schneider ở 200C và 130C trong thời gian 1 ngày; 7 ngày
2 Khảo sát ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ bảo quản kén chuồn chuồn cỏ
Plesiochrysa ramburi Schneider ở 200C và 130C trong thời gian 1 ngày; 7 ngày
Trang 151.1.2.3 Giới hạn đề tài
Thời gian thực hiện đề tài chỉ tiến hành từ 1/4/2007-1/8/2007
Thí nghiệm được tiến hành tại bộ môn bảo vệ thực vật Khoa Nông học trường
ĐH Nông Lâm, mẫu chuồn chuồn cỏ thu thập tại khu vực Tp Hồ Chí Minh và một số vùng phụ cận Tp Hồ Chí Minh
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN
2.5 Vị trí phân loại và đặc điểm chung của chuồn chuồn cỏ
2.5.1 Vị trí phân loại
Theo Adams, P A (1982) trong tài liệu những nghiên cứu mới trên thế giới về
họ Chrysopidae thì vị trí phân loại của loài Plesiochrysa ramburi Schneider trong giới
động vật như sau:
Kingdom : Animal Giới động vật
2.5.2 Đặc điểm chung của họ Chrysopidae
Đặc điểm phát triển
Chuồn chuồn cỏ là côn trùng có biến thái hoàn toàn Vòng đời của chúng trải qua 4 giai đoạn: Trứng, ấu trùng, kén, thành trùng Thời gian phát triển của mỗi giai đoạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như nhiệt độ, ẩm độ, thức ăn và môi trường sống Do vậy thời gian phát triển của mỗi giai đoạn có thể dài hay ngắn khác nhau
Một số nghiên cứu khác cho thấy thời gian phát triển của mỗi giai đoạn có sự khác biệt như sau:
Theo nghiên cứu của Rebecca Williams (1999), vòng đời của Chrysoperla
carnea diễn ra trong vòng 1 - 2 tháng để hoàn thành các giai đoạn từ trứng đến khi
thành trùng đẻ trứng Cụ thế thời gian các giai đoạn như sau:
Giai đoạn trứng kéo dài 1 - 2 tuần
Trang 17 Giai đoạn ấu trùng kéo dài 14 - 28 ngày
Giai đoạn nhộng kéo dài 14 - 28 ngày
Giai đoạn thành trùng 20 - 40 ngày
Theo Maurice J Tauber và Catherine A Tauber, thuộc bộ môn côn trùng học,
trùng trải qua 3 lần lột xác Giai đoạn này kéo dài 2 - 3 tuần Sau 3 lần lột xác chúng kết kén tơ ẩn ở nơi nào đó trên cây Thành trùng vũ hóa sau 10 - 14 ngày Như vậy vòng đời trong vòng dưới 4 tuần ở điều kiện mùa hè bởi vì nó chịu ảnh hưởng lớn của nhiệt độ Một năm có khoảng vài lứa chuồn chuồn cỏ
(http://mint.ippc.orst.edu/laceid.htm)
Đối với một vài loài Chrysopa sp., thời gian phát triển của trứng có thể từ 2 - 3
đẻ trứng gần với nguồn thức ăn để thuận tiện và dễ dàng cho ấu trùng tuổi nhỏ tìm kiếm thức ăn Ấu trùng phát triển qua 3 lần lột xác Mỗi ấu trùng có thể ăn hết trên
200 con rầy mềm Sau 2 - 3 tuần ấu trùng sẽ làm nhộng trong một kén tơ hình cầu Kén gắn với cây và thường ở một chỗ kín khó phát hiện Thời gian làm nhộng mất 5- 8 ngày Thành trùng vũ hóa sau 1 - 2 tuần phụ thuộc nhiệt độ, mối quan hệ ẩm độ và điều kiện khí hậu ở vùng nhiệt đới Vòng đời có thể dài hơn ở vùng có nhiệt độ dưới điểm phát dục Do thành trùng qua đông ở nơi khô và tối (ví dụ dưới đám lá khô) (http://www.bugsforbugs.com.au/downloads/lacewings.pdf)
Đặc điểm hình thái
Trứng
Trứng có hình ovan, màu xanh nhạt Chuồn chuồn cỏ đẻ trứng trên lá cây và cuống
lá Trứng được đẻ riêng lẻ, gắn với lá bởi 1 sợi tơ mảnh gọi là cuống Trước khi nở trứng chuyển qua màu xám
Trang 18Vòng đời chuồn chuồn cỏ được cụ thể hóa qua sơ đồ sau:
Ấu trùng:
Theo những nghiên cứu trên thế giới cho thấy ấu trùng trải qua 3 lần lột xác trước khi kết kén Ấu trùng tuổi nhỏ nhanh nhẹn và hoạt động nhiều hơn so với ấu trùng tuổi cuối
( http://mint.ippc.orst.edu/laceeggs_lg.htm)
Ấu trùng có hàm trên khá phát triển ở trước đầu Chúng sử dụng để đâm xuyên vào con mồi Sau đó tiêm enzyme có khả năng tiêu hóa vào cơ thể con mồi và hút chất lỏng trong cơ thể con mồi Ngay khi mới nở chúng đi tìm thức ăn Lượng thức ăn tăng dần theo kích thước cơ thể Bên cạnh đó, chúng còn ngụy trang cho mình bằng cách thu lượm những sản phẩm phụ (Borror Delong Triplehorn, 1981) như mảnh vụn của
lá, sáp của rệp sáp giả…Ấu trùng sống giữa những con mồi Chúng có khả năng di chuyển để tìm kiếm con mồi
Kén:
Cuối giai đoạn ấu trùng, thì chúng nhả tơ và kết kén trong đó Chúng tự nhả tơ bao quanh cơ thể mình Kén mới kết mềm, có màu trắng sữa Sau đó kén cứng dần và chuyển sang màu trong xà cừ Khi nhìn thấy trong kén có màu xanh và 2 chấm đen tức kén chuẩn bị vũ hóa
(http://www.vegedge.umn.edu/vegpest/beneficials/GLW.htm)
Trang 19 Thành trùng
Từ nhộng vũ hóa thành thành trùng Thành trùng có màu xanh hoặc xanh vàng Dài khoảng 18 mm Thành trùng có 2 cặp cánh với mạch cánh phức tạp Cánh có màu trong suốt Mắt có màu vàng đỏ Trên đầu có 1 cặp râu dài
(http://www.vegedge.umn.edu/vegpest/beneficials/GLW.htm)
Tập quán sinh hoạt
Những loài chuồn chuồn cỏ khác nhau có những tập quán khác nhau Một vài loài thích nghi ở trên cây và cây bụi trong khi đó những loài khác thích ở dưới thấp hơn như ở những thảm thực vật dày
Giống như hầu hết các loài côn trùng có lợi, chuồn chuồn cỏ cần thức ăn, nơi ở, nước và thích nơi có nhiều loài thực vật đa dạng Những thực vật mà lá có nhiều lông hoặc sáp có thể làm giảm khả năng hoặt động tìm kiếm sâu hại có hiệu quả cho ấu trùng Cây màu và cây bụi thấp cung cấp nơi cư trú an toàn cho chuồn chuồn cỏ
Thành trùng có khả năng bay rất xa, chúng thường bay vào ban đêm Sau khoảng thời gian dinh dưỡng thêm chúng bắt cặp giao phối Giai đoạn này có thể dài hay ngắn tùy thuộc vào chất lượng thức ăn, có thể từ 3 ngày đến 12 ngày Thành trùng
đẻ trứng trên lá hay những cành non nơi gần nguồn thức ăn để thuận tiện cho ấu trùng tuổi nhỏ tìm thức ăn Thành trùng có thể bay rất xa để tìm nơi đẻ thích hợp
Thành trùng sau khi vũ hóa sẽ tìm kiếm thức ăn, thường thì chúng phải bay một khoảng cách khá xa trước khi đẻ trứng
Ấu trùng ăn một số con mồi như một vài loài rầy mềm, nhện (đặc biệt nhện đỏ),
bọ trĩ, bọ phấn trắng, trứng của bọ nhảy, sâu ăn lá, sâu non nhỏ, ấu trùng bọ cánh cứng
và sâu ăn ngọn thuốc lá Ấu trùng có vai trò quan trọng trong tiêu diêt rầy mềm và rệp vảy trong nhà lưới Trưởng thành chỉ ăn phấn hoa, mật hoa và mật do rầy mềm tiết ra (http://mint.ippc.orst.edu/laceeggs_lg.htm)
Nhiều loài chuồn chuồn cỏ tấn công rệp muội Tuy vậy, trong quá trình sống thì nhóm này cũng tấn công các loài nhện gây hại đặc biệt là nhện đỏ, bù lạch, rầy phấn trắng, trứng các loại rầy lá, ngài bướm, sâu vẽ bùa, các loại sâu nhỏ và ấu trùng bọ cánh cứng (Louise Kulzer, 2004) Theo Rebecca Williams (1999) thì chuồn chuồn cỏ
là động vật ăn thịt và ăn cả những ấu trùng đồng loại Chúng ăn trứng, ấu trùng của bọ cánh cứng khoai tây, ăn hầu hết những loại sâu non, sâu đục thân bắp, nhện đỏ, rệp
Trang 20vảy, bộ phụ rệp mật, rệp sáp, bọ phấn, bọ trĩ, bọ nhảy xanh, rầy mềm và những con mồi có cơ thể mềm Một con ấu trùng chuồn chuồn cỏ có thể ăn 250 nhộng bọ nhảy hoặc 300-400 rầy mềm, 11200 nhện đỏ, 3780 rệp vảy hay 6500 trứng rệp vảy trong suốt giai đoạn ấu trùng của nó
2.6 Đặc điểm sinh học, khả năng ăn mồi của một số loài chuồn chuồn cỏ
2.6.1 Một số loài chuồn chuồn cỏ ghi nhận trên thế giới trong họ Chrysopidae
Theo M A Carrillo; S W Woolfolk và W D Hutchison, 2004 thì trên thế giới
có một số loài chuồn chuồn cỏ đã được tìm thấy trên 19 cánh đồng ở 21 loại cây trồng Một số loài được định danh như sau:
Chrysopa ramburi Schneider
Chrysopa jaluitana Kempny
Chrysopa vicina Kempny
Chrysopa neutra Navás
Chrysopa deutera Navás
Chrysopa notosticta Navás
Chrysopa reaumuri Navás
Ngoài ra, một số loài khác được tìm thấy ở Bắc Mỹ như:
Chrysopa carnea Stephens
Chrysopa rufilabris Burmeister
(http://www.nysaes.cornell.edu/ent/biocontrol/predators/chrysoperla.html)
Loài Chrysopa oculata cũng được định danh từ năm 1984 loài này có thể đã bị
tuyệt chủng do sự kết hợp đặc diểm của một số loài làm phát sinh loài mới
Trang 21(http://www.entomology.ualberta.ca/searching_species_details.php?b=Neuroptera
&c=7&s=5948)
Plesiochrysa brasiliensis là loài trải rộng ở cả Trung và Nam Mỹ, Trung Đông,
Châu Úc
2.6.2 Đặc điểm sinh học, khả năng ăn mồi của một số loài chuồn chuồn cỏ
Chrysoperla (=Chrysopa) carnea; C rufilabris:
Trưởng thành có màu xanh nhạt, dài khoảng 12-20 mm với cặp râu dài và sáng, đôi mắt màu vàng Đôi cánh lớn, trong suốt, xanh nhạt giống màu của cơ thể Trưởng thành bay trong suốt buổi tối và đêm Trứng có hình ovan, được đẻ riêng lẻ trên những cuống tơ dài Trứng có màu xanh nhạt, chuyển sang màu xám trong vài ngày Ấu trùng rất linh hoạt Chúng có màu xám hoặc nâu Ấu trùng trông giống như cá sấu Nam Mỹ với những cặp chân phát triển và cặp răng hàm trên chắc khỏe dùng để cắm vào cơ thể con mồi để hút dịch Ấu trùng phát triển từ dưới 1 mm đến 6 - 8 mm (Rebecca William, 1999)
Hai loài Chrysopa carnea ( Stephens) và Chrysopa rufilabris ( Burmeister)
được phát hiện ở Bắc Mỹ Chúng được tìm thấy ở trên những cánh đồng trồng bông vải, đậu tương, khoai tây, cải bông xanh, củ cải đường, táo, lê, nho và nhiều cây cảnh khác Chúng ăn một số loại con mồi như: rầy mềm, rệp sáp, sâu xanh hại bông, nhện
đỏ, bọ phấn và ấu trùng bọ cánh vảy loại nhỏ Thành trùng sống 1 - 3 tháng Thời gian sống phụ thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ và chất lượng nguồn thức ăn Con cái có thể đẻ vài trăm trứng Tuy nhiên khả năng đẻ trứng phụ thuộc vào hoạt động bắt cặp và chất lượng thức ăn Trứng được đẻ riêng lẻ từng chiếc gắn với cuống tơ mảnh dài 3/8 inch (9 mm) Thời gian phát triển của trứng phụ thuộc loài và nhiệt độ Bên cạnh đó nó còn chịu ảnh hưởng của ẩm độ
(http://mint.ippc.orst.edu/laceeggs_lg.htm)
Những loài chuồn chuồn cỏ này phân bố nhiều ở Bắc Mỹ Con trưởng thành chỉ
ăn phấn hoa, mật hoa và mật do rầy mềm tiết ra nhưng ấu trùng thì là động vật ăn mồi
C carnea xuất hiện trên diện rộng ở Tây Bắc, Trung Đông và miền Tây nước Mỹ
Trong khi đó C rufilabris xuất hiện ở những khu vực có ẩm độ cao hơn như nhà kính,
hệ thông cây trồng ngập nước, vùng Tây Nam và Trung Đông nước Mỹ
Trang 22Ấu trùng chuồn chuồn cỏ màu xanh Chrysopa rufilabris có thể ăn 200 con rệp
muội/ tuần và được sử dụng như 1 tác nhân của biện pháp sinh học phổ biến ở nhiều bang ở Mỹ
Ấu trùng là những côn trùng có lợi, đặc biệt tiêu diệt rầy mềm rất hiệu quả Ấu trùng còn được gọi là sư tử rầy mềm Một ấu trùng có thể ăn 100 - 600 con rầy mềm mặc dù việc tìm kiếm con mồi rất khó khăn
Chrysoperla trong tự nhiên được ghi nhận quan trọng trong tiêu diệt rầy mềm trên
khoai tây nhưng trong thực tế vẫn chưa cân bằng với mật số rầy mềm gây hại trong sản xuất khoai tây thương mại Ngoài ra, chúng còn được sử dụng ở nhiều mật độ khác nhau để điều khiển rầy mềm trên tiêu, khoai tây, cà chua, cà tím và sử dụng chúng chống lại bọ cánh cứng trên khoai tây và cà tím Trên bắp, đậu, cải bắp, táo cũng được thí nghiệm nhưng phải thả một lượng chuồn chuồn cỏ lớn Ở Texas, trên những cánh
đồng bông đã thử nghiệm thả C carnea đã làm giảm 96,0% sâu cuốn lá Nghiên cứu gần đây còn chỉ ra rằng C carnea có thể ngăn chặn cả rầy mềm trên bông
Chrysopa rambri Schneider
Chrysopa rambri Schneider còn có tên khác là Plesiochrysa ramburi
Chrysopa rambri được biết đến như một loài chuồn chuồn cỏ lớn nhất Thành
trùng là những côn trùng yếu ớt, màu xanh sáng với cặp dâu dài, cặp cánh đẹp và mắt vàng
Đặc điểm sinh vật học của chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi được nghiên
cứu trong phòng thí nghiệm đây là một loài thiên địch của những loài động vật có thân mềm Ấu trùng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 có thời gian phát triển là 3,2 ± 0,3; 3,3 ± 0,4
và 3,6 ± 0,5 ngày Thời gian phát triển giai đoạn kén là 7,2 ± 1,1 ngày Tuổi thọ cả
con đực và con cái lần lượt là 16,9 ± 5,8; 13,6 ± 6,5 ngày (khi cho ăn Maconellicoccus
hirsutus) Khi tìm hiểu về con mồi của Plesiochrysa ramburi cho ấu trùng ăn 2 loại
con mồi là Maconellicoccus hirsutus và Pseudoregma bambusicola kết quả cho thấy với con mồi là Maconellicoccus hirsutus thì tốt hơn
Thành trùng không là loài ăn mồi nhưng chúng ăn phấn hoa, mật hoa Trong tự nhiên có 15 - 18 thế hệ/ năm Thành trùng cái bắt đầu đẻ khoảng 20 trứng/ngày
Trang 23trứng nở thành ấu trùng tuổi 1 và sau đó là ấu trùng tuổi 2, tuổi 3 Ấu trùng tuổi 3 quan trọng nhất trong phòng trừ sinh học Chúng ăn khoảng 80% tổng lượng thức ăn trong suốt giai đoạn ấu trùng Ấu trùng tuổi 3 có chiều dài khoảng 0,3 – 0,6 cm và ăn 40 rầy mềm Khoảng 10 - 12 ngày sau khi đẻ ấu trùng làm nhộng trong khoảng 1 tuần sau
đó vũ hóa Plesiochrysa ramburi có thể được thả ở những cây trồng khác nhau, vườn
ăn trái để chống lại rầy mềm Ở những cây trồng được trồng trong những điều kiện đặc biệt như nhiệt độ biến thiên cao hoặc ẩm độ biến thiên lớn Tuy nhiên sự thay đổi của
nhiệt độ cũng không làm ảnh hưởng đến Plesiochrysa ramburi
Ấu trùng không thể bay vì vậy chúng tìm con mồi theo con đường ngắn nhất
Do đó, cần thả ấu trùng gần nơi con mồi Chỉ thả Plesiochrysa ramburi ở những nơi có
mật số con mồi cao, những cánh đồng và nhà lưới Nếu thả đúng thời điểm sẽ làm giảm khả năng ảnh hưởng của sâu hại đến toàn bộ cây trồng
(http://www.cababstractsplus.org/google/abstract.asp?AcNo=20053138777)
Chrysopa basalis
Đây là loài xuất hiện nhiều nhất ở Châu Á
Theo Lu, C T Wang, 2006, trong Nghiên cứu ảnh hưởng phòng trừ của
Mallada basalis, thả chuồn chuồn cỏ màu xanh Mallada basalis như một tác nhân
phòng trừ cho tiêu ngọt trong nhà lưới Quan sát số lượng côn trùng trên tiêu thì mật
độ giảm xuống khi sử dụng Mallada basalis trong phòng trừ Rầy mềm Phenacoccus
sp được tìm thấy lần đầu tiên trên tiêu ngọt Thả 3 ấu trùng trên mỗi cây tiêu trong 7 ngày trong khoảng thời gian mật số rệp tăng cao Kết quả cho thấy mật số rệp giảm xuống Sản phẩm từ những cây có thả chuồn chuồn cỏ thì nặng hơn, lớn hơn và có hình dáng đẹp hơn so với không thả
Một nghiên cứu khác về loài Mallada basalis (Walker) cho thấy M basalis ăn
Aphis craccivora và Corcyra cephalonica Trong điều kiện phòng thí nghiệm (ở 25
triển như sau:
Giai đoạn trứng là 2,3 0,5 ngày
Giai đoạn ấu trùng 8,6 0,8 ngày
Giai đoạn nhộng 9,2 0,5 ngày
Trang 24 Tuổi thọ của con đực 29,7 12,9 ngày
Tuổi thọ của con cái 52,7 13,6 ngày
Khi cho ăn thức ăn là C cephalonica thì kết quả như sau:
Giai đoạn trứng là 2,5 0,4 ngày
Giai đoạn ấu trùng 8,5 0,9 ngày
Giai đoạn nhộng 9,4 0,5 ngày
Tuổi thọ của con đực 30,1 8,2 ngày
Tuổi thọ của con cái 52,4 16,1 ngày
( N Sirimachan; W Suasa - Ard ; S Uraichuen)
Chrysopa oculata
Chrysopa oculata còn có tên chung là chuồn chuồn cỏ có mắt vàng Loài này xuất
hiện ở những cánh đồng cỏ với những loài thực vật thấp, cây và những cây trồng đồng
ruộng Chúng xuất hiện nhiều ở cuối mùa hè
Có thể được phân biệt với những loài khác bởi kết hợp các đặc điểm sau: trán
trước có một vòng màu tối xung quanh râu, đầu không bị chia bởi dấu X Râu đầu màu
nâu nhạt và lông màu nhạt hơn Có những đốm nhỏ ở trên râu đầu, rãnh trán gần với mắt thì hoàn toàn màu nhạt., hàm trên và môi xúc giác màu đen Môi dưới không rộng, màu nâu đen tạo thành một dải vòng xung quanh râu đầu Có những dấu nâu đỏ gần viền của gốc râu Ngực có những dấu chấm mờ nhạt, lông cứng có màu phối giữa màu đen và xám Cuối cánh trước và cánh sau có gân ngang tối Lông ở chân đen và cứng Lông ở bụng màu hổ phách
Vòng đời: trứng có dạng ovan gắn với đỉnh cuống tơ được và cuống tơ được gắn với tầng đất (Canard et al 1984) Nhìn chung ấu trùng qua đông trong những kén bông ở tuổi 3 (Penny et al 2000) Có 3 lứa/mùa hè (Henry 1982) Giống như những loài chuồn chuồn cỏ khác, chúng bắt cặp, tỏ tình bằng những “bài ca” được tạo ra do những rung động của bụng (Henry, 1982)
Ấu trùng và thành trùng là những thiên địch của rệp, nhện và những loài thân mềm ở cánh đồng và vườn cây nước Mỹ (Mc Evan et al (2001)) Loài này được tìm thấy ở Bắc Mỹ
Trang 25(http://www.entomology.ualberta.ca/searching_species_details.php?b=Neuroptera&c=7&s=5948)
Plesiochrysa brasiliensis
Có rất ít nghiên cứu về loài này Dựa trên những đặc điểm của con trưởng thành, nguồn gen để phân loại loài này Tuy nhiên, hiện tại những dữ liệu về ấu trùng không
còn Những mô tả sau dựa trên những đặc điểm chung nhất về loài Plesiochrysa Ấu
trùng không mang rác trên cơ thể Cơ thể nhẵn, có hình thoi, ngực hình cầu, khoang bụng lồi Trên lưng có vài sợi lông cứng, thưa thớt Nhưng sự có mặt của vài sợi lông này cũng đủ chắc chắn cho chúng mang theo một ít rác trên lưng Ấu trùng có màu sắc nổi bật: ấu trùng tuổi 1 và 2 có màu sắc từ hồng đến nâu, ấu trùng tuổi 3 ở hai ngày
tuổi có màu xanh vàng, ấu trùng tuổi 3 ở ba ngày tuổi có màu nâu vàng
Ở Australia, chuồn chuồn cỏ là một trong những loài phân bố rộng Nó thích hợp với nhiều loại cây trồng và nhiều môi trường sống như nhà kính, ở những vùng khí hậu ấm Chuồn chuồn cỏ có thể thích hợp nhất cho nhiều loại cây và cả cây bụi
2.7 Ảnh hưởng điều kiện nhiệt độ đến sự phát triển của chuồn chuồn cỏ
Nghiên cứu trong nước
Ở nước ta chưa có tài liệu nào nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của chuồn chuồn cỏ cũng như chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu chuồn chuồn cỏ Tuy nhiên qua luận án tiến sĩ của Ths Vũ Thị Nga thì ở Tp Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận Tp Hồ Chí Minh có xuất hiện loài chuồn chuồn cỏ Số liệu điều tra cho thấy bộ cánh lưới Neuroptera chiếm 7,5% trong tổng số các thiên địch tại sinh cảnh điều tra (Vũ Thị Nga, 2005)
Nghiên cứu ngoài nước
Một thí nghiệm khác nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp trong tồn trữ
trứng đến đặc điểm sinh học của Mallada basalis:
160C, 200C, 260C, 280C, 320C Ở 4, 8, 320C trứng không nở, trong khi tại các nhiệt độ
basalis sau khi đẻ dược 1 ngày được bảo quản ở 40C, 80C, 120C, 160C trong 7 ngày sau
Trang 26đó chuyển đến 280C Tỉ lệ nở là 11,7; 17,5; 79,2; 78,3% Tỉ lệ sống sót của ấu trùng
280C
Theo Chia – Pao Chang, 2000 Khảo sát vòng đời của Mallada basalis và ảnh
hưởng của nhiệt độ lên sự phát triển của nó như sau:
Mallada basalis được biết là thiên địch tự nhiên của một vài loại sâu hại Một
số khảo sát vòng đời của loài này được tiến hành từ năm 1993 – 1997 trong phòng thí nghiệm Kết quả chỉ ra rằng loài này có 10 thế hệ/ năm Thời gian phát triển của mỗi thế hệ có thể thay đổi theo nhiệt độ Trung bình các giai đoạn trứng, ấu trùng và kén lần lượt như sau: 4,4; 11,8 và 11,9 ngày Trung bình con cái đẻ 736,3 trứng (trungbình
đoạn như sau:
Ấu trùng tuổi 1: từ 9,5 - 3,1 ngày
ấu trùng tuổi 1, ấu trùng tuổi 2, ấu trùng tuổi 3, kén được ước lượng là: 7,4; 9,5; 8,2; 4,1 và 7,9 ngày Nhiệt độ tích lũy cho sự phát triển của trứng, ấu trùng tuổi 1, ấu trùng tuổi 2, ấu trùng tuổi 3, kén là 69,6; 70; 48,6; 88,3 và 193,8 độ - ngày Và để hoàn thành 1 thế hệ cần 462,3 độ- ngày Sự sắp xếp của nhiệt độ hiệu quả và nhiệt độ cao đến nhiệt độ thấp gây chết được chỉ ra là:
Trang 27Thành trùng cái và đực hoạt động hiệu quả ở 14 – 420C và 16 – 420C; nhiệt độ gây chết được xác định là 50 – 60C và 49 – 90C
2.8 Tình hình thương mại hóa sản phẩm sinh học từ chuồn chuồn cỏ
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về chuồn chuồn cỏ và đưa chuồn chuồn cỏ thành sản phẩm thương mại hóa Chuồn chuồn cỏ được bán dưới dạng trứng, ấu trùng tuổi nhỏ, kén và thành trùng
Thành trùng được đựng trong những hộp chứa 100 - 500 con Sau khi mua thì phải tiến hành thả ngay nếu có thể, tốt nhất là không quá 24 giờ sau khi mua Chúng ta không làm lạnh chúng trong quá trình vận chuyển Đối với thành trùng thì khi thả, tháo tấm lưới trên miệng hộp, sử dụng tấm bìa cứng đậy lại và hé mở dần dần để điều chỉnh
số lượng thả
Ấu trùng thì được đựng ở trong hộp có ngăn riêng để giữ chúng không ăn thịt
lẫn nhau Trong mỗi ngăn đều có thức ăn cho chúng Trứng P ramburi đựng trong những chai plastic 1 lít/ 5000 trứng P ramburi thả tốt nhất ở những điểmcó mật độ
cao Phải tiến hành thả trong vòng 2 ngày sau khi mua
Lợi ích:
Phòng trừ các loại rầy mềm
Tấn công cả côn trùng có thân mềm và trứng
Có thể sử dụng cùng với những tác nhân phòng trừ sinh học khác
Mua ở dạng trứng thì kinh tế nhất Trứng được dán trên những vỉ chuyên dụng
làm giảm tỉ lệ nở Ngay khi trứng bắt đầu nở thì đem rắc chúng gần nơi có nguồn thức
ăn
Kén cũng được bán dưới dạng các vỉ chuyên dụng hay trong những túi đựng chuyên dụng
(http://mint.ippc.orst.edu/laceeggs lg.htm)
Trang 28Chuồn chuồn cỏ thường sống ở những bờ rào có nguồn thức ăn Trứng được đẻ trên lá cây hoặc cành non Thành trùng có giai đoạn dinh dưỡng thêm vì vậy để tạo điều kiện tốt cho quá trình dinh dưỡng thêm thì người ta còn tiến hành trồng một số cây cho hoa để thu hút thành trùng hút phấn, mật hoa và giữ được thành trùng Thành trùng hút mật hoa, phấn hoa vì vậy sự có mặt của cây hoa sau khi thả sẽ hỗ trợ việc giữ chuồn chuồn ở trong sinh cảnh cây trồng Nhiệt độ giảm xuống sẽ làm giảm hoạt động của chuồn chuồn cỏ và có thể bắt đầu đình dục
Khi đối tượng là sâu bướm thì sử dụng chuồn chuồn cỏ kết hợp với
Trichogramma sẽ rất hiệu quả Trichogramma chỉ tấn công vào giai đoạn trứng trong
khi đó Chrysopa ăn cả trứng và ấu trùng sâu non nhỏ
Qua những nghiên cứu thả chuồn chuồn cỏ ở những cánh đồng nho cho thấy: cách tốt nhất để đảm bảo chắc chắn thành công khi thả chuồn chuồn cỏ là trước khi mật độ sâu hại đạt đến mức gây hại Số lượng sâu hại thấp cũng như cao đều khó đạt hiệu quả cao trong việc dùng chuồn chuồn cỏ để điều khiển
Trước khi thả phải xác định mức độ gây hại của sâu hại, đảm bảo không sử dụng thuốc trừ sâu trong 3 - 4 tuần sau thả
Khi thả ở những cánh đồng cây trồng thì tỉ lệ thả phụ thuộc loại cây trồng, mật
số sâu hại cây trồng Trên một diện tích lớn, thả tối thiểu 1000 ấu trùng/ha Khi thả trong vườn ươm thì tỉ lệ thả tối thiều 1-5 ấu trùng/1 cây Thả ấu trùng tại vị trí có thức
ăn để chúng tìm thấy thức ăn ngay lập tức Cần thả 2 - 3 lần để đảm bảo số lượng ấu trùng chuồn chuồn cỏ trên cánh đồng Ấu trùng mất 12 ngày phát triển trước khi làm nhộng Sau thời gian này, trên cánh đồng chỉ còn lại ít ấu trùng chuồn chuồn và phải mất 16 ngày thì thành trùng mới vũ hóa và đẻ trứng Lần thả thứ 2 sẽ sau lần thả thứ nhất 12 ngày để đảm bảo bổ sung thêm ấu trùng chuồn chuồn cỏ trong khi thế hệ thứ nhất đã hoàn thành quá trình phát triển của nó
Sau khi thả cần kiểm soát lại số luợng chuồn chuồn cỏ có trên đồng ruộng Ấu trùng chuồn chuồn có khả năng ngụy trang bằng xác con mồi nên khó tìm thấy chúng trên cánh đồng Chúng thường hay di chuyển để tìm con mồi và có thể di chuyển từ cây này sang cây khác Nhộng thì ẩn trong lá, kẽ cành nên khó tìm thấy Thành trùng bay về ban đêm và bị thu hút bởi ánh sáng Vì vậy tránh để ánh sáng vào buổi đêm ở
Trang 29nơi có thả thành trùng Trứng dễ phát hiện hơn vì chúng có một cuống dài, mảnh gắn ở cành, cuống hay mặt lá
Trang 30Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại bộ môn bảo vệ thực vật Khoa Nông học trường ĐH Nông Lâm, một số khu vực TP Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận
TP Hồ Chí Minh
Thời gian thực hiện đề tài từ 1/4/2007-1/8/2007
3.2 Điều kiện thí nghiệm
3.2.1 Điều kiện khí hậu thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh nằm giữa các tỉnh miền Đông Nam Bộ Khí hậu có 2 mùa rõ rệt: Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa bất đầu từ tháng 5 và kết thúc ở tháng 10 Thời tiết nóng ẩm nên phù hợp với nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển
Khí hậu thành phố Hồ Chí Minh trong các tháng 3, 4, 5, 6, 7 năm 2007 có nhiều
4, nhiệt độ thấp nhât là 200C vào tháng 5 (phụ lục 3)
Ẩm độ biến động từ 67,8 – 77,1% Ẩm độ cao nhất 90,1% vào tháng 6 Ẩm độ thấp nhất 38% ở tháng 4 Ở các tháng 3, 4 ẩm độ tương đối thấp do các tháng này nằm trong mùa khô nên lượng mưa tương đối thấp (phụ lục 3)
Lượng mưa biến động trung bình trong tháng từ 0 – 400,4 mm Trong đó, lượng mưa cao nhất ở tháng 7 đạt 400,4 mm và tháng 5 đạt 371,2 mm (phụ lục 3)
3.2.2 Điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm
Các thí nghiệm đều được thực hiện trong phòng thí nghiệm Phòng thí nghiệm chỉ có quạt thông gió, không có máy điều hòa nhiệt độ do vậy nhiệt độ của phòng luôn
Trang 31biến đổi theo nhiệt độ của môi trường Bên cạnh đó, ẩm độ của phòng cũng thay đổi theo thời tiết
so với nhiệt độ môi trường tự nhiên và ít thay đổi Trong các tháng 5, 7 do lượng mưa lớn nên nhiệt độ phòng ít chênh lệch so với nhiệt độ môi trường tự nhiên (phụ lục 3)
Diễn biến thời tiết được thể hiện qua các biểu đồ sau:
Biểu đồ 3.2: Lượng mưa tại Tp Hồ Chí Minh năm 2007
Trang 323.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: trứng, kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi
Schneider
Vật liệu bắt mẫu chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider và rệp sáp
Dysmicocus brevipes Ckll.: túi nilon, dao, kéo, hộp nhựa các loại
Vật dụng nuôi rệp sáp: khung lưới kính kích thước 25 x 25 x 25 (cm), khay
nhựa, giấy thấm giữ ẩm, bí đỏ, chuối sáp, rệp sáp giả Dysmicocus brevipes
Ckll
Vật dụng nuôi ấu trùng chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider: hộp yaour nhựa, thành trùng rệp sáp giả D brevipes Ckll., ấu trùng chuồn chuồn cỏ
Plesiochrysa ramburi Schneider
Vật dụng nuôi thành trùng chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider:
chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider
Khung lưới kính kích thước 25 x 25 x 25 (cm), cây dứa dại nhỏ, xốp cắm hoa, đĩa, mật ong, bông thấm nước, băng keo, thành trùng chuồn chuồn cỏ
Plesiochrysa ramburi Schneider
Vật dụng nuôi nguồn ấu trùng chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider: hộp nhựa lớn, thành trùng rệp sáp giả D brevipes Ckll., ấu trùng chuồn chuồn
cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Tạo nguồn:
a Tạo nguồn rệp sáp:
Thu rệp sáp trên các cây: ca cao, bình bát, mãng cầu sau đó được nuôi trên môi trường thức ăn bí đỏ (hình 3.1)
b Tạo nguồn chuồn chuồn cỏ:
Chuồn chuồn cỏ ở dạng ấu trùng, kén, trứng cũng được thu từ trên một số cây trồng như cây ăn quả, cây kiểng, dâm bụt… Sau đó được nuôi trong phòng thí nghiệm:
Trang 33 Nếu là ấu trùng thì được nuôi trong các hộp nhựa Thức ăn của chúng là rệp sáp giả Hàng ngày kiểm tra và bổ sung rệp vào hộp nhựa cho ấu trùng ăn Đến khi kết kén, lấy kén ra khỏi môi trường thức ăn rệp sáp giả và đặt vào khung lưới kính có để sẵn cây xanh (có thể là cây dâm bụt hay dứa dại) tạo điều kiện cho thành trùng đẻ trứng (hình 3.2)
hàng ngày để khi thành trùng đẻ trứng tiến hành thu trứng đưa vào bảo quản hoặc tiếp tục tạo nguồn trở lại (hình 3.3)
thì cho rệp vào cho chúng ăn
cho thành trùng đẻ trứng Thức ăn của thành trùng là mật ong pha loãng 30% Hàng ngày tiến hành quan sát và thay thức ăn
c Cách thu trứng chuồn chuồn cỏ:
Thu những trứng đẻ cùng ngày, dùng kẹp gắp cuống trứng và đặt vào giấy mềm
có độ ẩm phù hợp Sau đó đặt trứng vào hũ nhựa Dùng vải lưới kính che kín miệng hũ lại Sau đó, dùng giấy báo gói các hũ lại và đưa vào tủ định ôn bảo quản
d Cách thu kén chuồn chuồn cỏ:
Thu kén kết cùng ngày đặt vào hũ nhựa, dùng lưới bịt miệng lại Sau đó, sử dụng giấy báo gói các hũ nhựa lại đem đi bảo quản
3.3.2.2 Nghiên cứu điều kiện bảo quản trứng chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider ở nhiệt độ 200 C và 13 0 C trong 1 ngày và 7 ngày
Phương pháp nghiên cứu:
Bố trí thí nghiệm theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
7 ngày
Thí nghiệm 1 tiến hành với 2 nghiệm thức: 1 nghiệm thức đối chứng để ở nhiệt
lặp lại
Trang 34 Thí nghiệm 2 tiến hành với 2 nghiệm thức: 1 nghiệm thức đối chứng để ở nhiệt
lặp lại
Thí nghiệm 3 tiến hành với 2 nghiệm thức: 1 nghiệm thức đối chứng để ở nhiệt
lặp lại
Thí nghiệm 4 tiến hành với 2 nghiệm thức: 1 nghiệm thức đối chứng để ở nhiệt
Khả năng ăn mồi của ấu trùng
Thời gian phát triển của ấu trùng
Lịch theo dõi: Theo dõi hàng ngày
3.3.2.3 Nghiên cứu điều kiện bảo quản kén chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi
Schneider ở nhiệt độ 20 0 C và 13 0 C trong 1 ngày và 7 ngày
Phương pháp nghiên cứu:
Bố trí thí nghiệm theo kiểu hoàn toàn ngầu nhiên
và 7 ngày
Trang 35 Thí nghiệm 5 tiến hành với 2 nghiệm thức: 1 nghiệm thức đối chứng để ở nhiệt
lặp lại
Thí nghiệm 6 tiến hành với 2 nghiệm thức: 1 nghiệm thức đối chứng để ở nhiệt
lặp lại
Thí nghiệm 7 tiến hành với 2 nghiệm thức: 1 nghiệm thức đối chứng để ở nhiệt
lặp lại
Thí nghiệm 8 tiến hành với 2 nghiệm thức: 1 nghiệm thức đối chứng để ở nhiệt
Khả năng ăn mồi của ấu trùng
Thời gian phát triển của ấu trùng
Trang 36
Hình 3.1: Thùng nuôi nguồn rệp sáp Hình 3.2: Nuôi thí nghiệm khảo sát
Hình 3.3: Lồng lưới kính nuôi nguồn Hình 3.4: Hộp nuôi thí nghiệm
Hình 3.5: Cọ quét Hình 3.6: Ben kẹp
Trang 38Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả định danh loài chuồn chuồn cỏ thu thập được tại khu vực Tp Hồ Chí Minh và các khu vực phụ cận
Qua quá trình điều tra, thu thập mẫu chuồn chuồn cỏ dưới sự hướng dẫn của cô hướng dẫn cùng với sự giúp đỡ của TS Norman D Penny ở Viện hàn lâm khoa học California, tại 875, đường Howard, Tp San Francisco chúng tôi đã xác định được loài
chuồn chuồn cỏ mà chúng tôi đang nghiên cứu là Plesiochrysa ramburi (Schneider,
1851)
Đặc điểm hình thái chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider
Chuồn chuồn cỏ Plesiochrysa ramburi Schneider có biến thái hoàn toàn Vòng đời
trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, kén, thành trùng Đặc điểm về hình thái của mỗi giai đoạn cụ thể như sau:
Thành trùng
Thành trùng có màu xanh lá cây, kích thước thành trùng khoảng 9 – 10 mm Bụng có dạng hình trụ, bụng của con đực thon dài còn bụng con cái lớn hơn bụng con đực ( hình 4.2 và hình 4.2)
Mặt trước của đầu có dạng hình thang cân Hai mắt kép nằm hai bên đỉnh đầu Mắt kép rất to lồi ra ngoài và có màu vàng nâu sáng, miệng có kiểu miệng nhai Râu đầu có dạng roi Trên trán có 2 vệt nâu đen ở gần gốc chân râu
Ngực có 3 đốt, đốt ngực trước và đốt ngực giữa dài hơn đốt ngực sau Đốt ngực giữa lưng có ngấn dạng hình sao, đốt ngực sau có ngấn hình chữ “x” Đốt ngực giữa và đốt ngực sau đều mang cánh, chiều dài và rộng của đốt ngực sau nhỏ hơn đốt ngực giữa
Cánh chuồn chuồn cỏ thuộc dạng cánh lưới, cánh dài che hết phần bụng Cánh trước dài và rộng hơn cánh sau, cánh trước và sau đều trong suốt Mạch cánh có nhiều lông tơ rất nhỏ, gần mép ngoài cánh màu mâu nhạt, phần trong màu xanh nhạt
Trang 39Thành trùng có 3 cặp chân màu nâu nhạt và có nhiều lông tơ
Một số thành trùng vũ hóa có hiện tượng bị dị dạng nên sau khi vũ hóa thì đều
bị chết (hình 4.3)
Trứng
Trứng có dạng hình oval Trứng gắn với một cuống tơ dài Cuống trứng gắn lên cành cây hay bề mặt lá Lúc mới đẻ, trứng có màu xanh lục, sau 2 ngày trứng có màu nâu nhạt và chuyển sang màu xám khi chuẩn bị nở (hình 4.4) Trứng đã nở có màu trắng đục
Ấu trùng
Ấu trùng trải qua 4 lần lột xác và có 4 tuổi
Khi mới nở cơ thể ấu trùng có màu vàng trong hơi nâu, đầu có màu vàng sáng hơi nâu, cặp hàm trước phát triển, chân có màu nâu hơi vàng, hai bên bụng có nhiều u lông màu trắng trong như cước được sử dụng để giữ rác trên lưng dùng trong việc ngụy trang Kích thước cơ thể ở tuổi này rất nhỏ Sau đó, cơ thể ấu trùng lớn dần và có
sự chuyển biến về màu sắc: cơ thể ấu trùng có màu vàng nâu rõ nhất ở phần bụng, chân, phần đầu và cặp hàm trước đều có màu nâu đen Ấu trùng tuổi cuối có kích thước dài khoảng 3 – 4 mm, rộng 1 – 2 mm
Ấu trùng dùng đôi hàm rắn chắc của mình để tấn công con mồi (hình 4.5)
Kén
Cuối tuổi 4 ấu trùng lột xác lần thứ 4 và nhả tơ kết kén, hóa nhộng trong kén Kén có dạng hình oval tròn, đường kính kén khoảng 4 – 5 mm Lúc mới nhả tơ tạo kén vỏ kén mềm và có màu trắng đục, sau 1 ngày thì vỏ kén cứng lại và dính chặt vào giá thể (hình 4.6)