KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI CÓ TRIỂN VỌNG Ở VỤ HÈ THU NĂM 2007 TẠI TRẢNG BOM, ĐỒNG NAI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI CÓ TRIỂN VỌNG Ở VỤ HÈ THU NĂM 2007
TẠI TRẢNG BOM, ĐỒNG NAI
Họ và tên sinh viên: DƯƠNG VĂN LÀNH Ngành: NÔNG HỌC
Niên khóa: 2003-2007
Tháng 10/2007
Trang 2KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI CÓ TRIỂN VỌNG Ở VỤ HÈ
THU NĂM 2007 TẠI TRẢNG BOM, ĐỒNG NAI
TP.Hồ Chí Minh Tháng 10 năm 2007
Trang 3CẢM TẠ
Con xin chân thành ghi ơn công lao sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo, sự động viên
và ủng hộ của cha mẹ cả vật chất lẫn tinh thần và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con ăn học và hoàn thành khóa học này
Em xin chân thành cảm ơn ban Giám Hiệu Trường Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, Ban chủ nhiệm khoa Nông học và quý thầy cô khoa Nông học, đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học
Em xin chân thành biết ơn sâu sắc thầy Nguyễn Phương đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Em xin cảm ơn Ban Giám Đốc Công Ty Giống Cây trồng Đồng Nai Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trường và Kỹ sư Nguyễn Duy Duyên đã tạo điều kiện tốt nhất, tận tình giúp
đỡ cho tôi trong lúc làm đề tài
Tôi xin cảm ơn các anh chị khóa trước và bạn bè trong lớp Nông Học 29 đã giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành cuốn luận văn này
Sinh Viên:
Dương Văn Lành
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài: “Khảo sát đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai
có triển vọng ở vụ hè thu năm 2007 tại Trảng Bom, Đồng Nai”
Thí nghiệm khảo sát các giống ngô lai ở Công ty Giống Cây trồng Đồng Nai, vụ hè thu năm 2007 đã được tiến hành từ ngày 12 tháng 05 năm 2007 đến ngày 16 tháng 08 năm 2007
Thí nghiệm được bố trí theo khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố với 3 lần lặp lại trên nền đất sét pha thịt (sét: 54%, thịt: 27%, cát: 19%)
Thí nghiệm sử dụng 9 giống ngô lai của nghiên cứu viện nghiên cứu ngô bao gồm: D8102, SB-N58, SX20022, BB1A, KK17, H1, VN686, KK257, TB68A và một giống đối chứng C919 Giống của Công ty Monsanto đang được nhân dân trong vùng sản xuất Các biện pháp kỹ thuật trong tiến hành thí nghiệm: Mỗi ô thí nghiệm có chiều rộng 2,8m và chiều dài 5m, gieo 4 hàng ngô lai thí nghiệm Phân bón 2 lần, dùng thuốc hóa học phòng trừ sâu bệnh
Nội dung nghiên cứu: Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của các giống ngô lai Theo phương pháp theo dõi của CIMMYT và viện nghiên cứu ngô
Kết quả thí nghiệm cho thấy tất cả các giống ngô lai thí nghiêm đều sinh trưởng, phát triển tốt, có một số giống hơn hẳn giống đối chứng như giống VN686 và H1
Qua khảo sát thí nghiệm về khả năng chống chịu sâu bệnh hại thì các giống thí nghiệm có khả năng chống sâu bệnh hại là khá chỉ có 3 giống bị sâu bệnh hại nặng hơn so với giống đối chứng đó là các giống: D8102, KK257 và TB68A
Kết quả thí nghiệm về năng suất thì có 3 giống có năng suất cao hơn so với giống đối chứng (6167,10 kg/ha), có năng suất đạt trên 6 tấn/ha đó là các giống BB1A (6552,40 kg/ha), KK17 (6503,17 kg/ha) và VN686 (6213,43 kg/ha)
Trang 5MỤC LỤC
Nộidung Trang
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách chữ viết tắt vi
Danh sách các bảng vii
Danh sách các biểu đồ và các hình viii
Chương 1: Giới thiệu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 giới hạn đề tài 2
Chương 2: Tổng quan tài liệu 3
2.1 Nguồn gốc và phân bố của cây ngô 3
2.2 Vai trò của cây ngô 5
2.3 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 6
2.4 Tình hình sản xuất ở Việt Nam 6
2.5 Tình hình nghiên cứu hội nhập phát triển ngô của Việt Nam 10
2.6 Các vùng sản xuất ngô chính ở Việt Nam 11
2.7 Ngô lai 13
Chương 3: vật liệu và phương pháp thí nghiệm 14
3.1 Phương tiện thí nghiệm 14
3.2 Điều kiện nguyên cứu 15
3.3 Phương pháp thí nghiệm 16
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 19
Trang 63.4.1 Các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng 19
3.4.2 Các yếu tố liên quan đến khả năng chống đổ ngã 20
3.4.3 Tình hình sâu bệnh 20
3.4.4 Các đặc trưng về hình thái trái 21
3.4.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 21
3.5 Thu thập sử lý số liệu 22
Chương 4: kết quả và thảo luận 23
4.1 Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giông ngô lai thí nghiệm 23
4.2 Đông thái tăng trưởng chiều cao cây và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 25
4.3 Số lá và tốc độ ra lá 29
4.4 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá 32
4.5 Các yếu tố liên quan đến khả năng chống đổ ngã 35
4.6 Tình hình sâu bệnh hại 38
4.7 Các đặc trưng về hình thái trái 40
4.8 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 42
Chương 5: kết luận và đề nghị 47
Kêt luận 47
Đề nghị 48
Tài liệu tham khảo 52
Phụ lục 54
Trang 7DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
IPRI: Internation performance research institute
CIMMYT: The International Maize and Wheat Improvident Center FAO: Food and argricultal organization
Oxfam: Oxford Conmitee for Farmine Releef
MULTRAP: Multilateral Trade Assistance Project
IOWA: Trường Đại Học IOWA
NSG: Ngày sau gieo
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sản xuất ngô ở Việt Nam từ 1995 - 2005 9
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam so với các nước Đông Nam Á 10
Bảng 3.1: Các giống ngô lai sử dụng trong thí nghiệm 14
Bảng 3.2: Phân tích đất thí nghiệm 15
Bảng 3.3: Đặc điểm khí tượng trong các tháng tiến hành thí nghiệm của vùng Trảng Bom – Đồng Nai 15
Bảng 4.1: Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống ngô lai 25
Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô lai 27
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô lai thí nghiệm 27
Bảng 4.4: Số lá qua các giai đoạn của các giống ngô lai thí nghiệm 30
Bảng 4.5: Tốc độ ra lá của các giống ngô lai thí nghiệm qua các giai đoạn 32
Bảng 4.6: Diện tích lá của các giống ngô lai thí nghiệm 32
Bảng 4.7: Chỉ số diện tích lá của các giống ngô lai thí nghiệm 35
Bảng 4.8: Các yếu tố liên quan đến khả năng chống đổ ngã của các giống ngô lai thí nghiệm 37
Bảng 4.9: Một số đặc tính chống chịu của các giống ngô lai 40
Bảng 4.10: Các đặc điểm hình thái trái của các giống ngô lai 42
Bảng 4.11: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 46
Trang 10DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ CÁC HÌNH
Biểu đồ 4.1: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô thí nghiệm29
Biều đồ 4.2: Diện tích lá qua các giai đoạn của các giống ngô lai 33
Biểu đồ 4.3: Năng suất của các giống ngô thí nghiệm 46
Biểu đồ 4.4: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô lai thí nghiệm 54
Biều đồ 4.5: Số lá qua các thời kỳ của các giống ngô lai 54
Hình ảnh 3.1: Toàn cảnh khu thí nghiệm của các giống ngô lai vụ hè thu năm 2007 tại Trảng Bom - Đồng Nai 17
Hình ảnh 5.1: Hình thái trái của giống ngô lai BB1A 49
Hình ảnh 5.2: Hình thái trái của giống ngô lai VN686 49
Hình ảnh 5.3 : Hình thái trái của giống ngô lai KK17 50
Hình ảnh 5.4: Hình thái trái của giống đối chứng C919 50
Hình ảnh 5.5: hình thái trái của giống ngô lai SX2022 51
Trang 11Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Ngô (Zea mays L.) là cây có lịch sử trồng trọt tương đối trẻ so với các cây trồng
khác nhưng nó phát triển với tốc độ tương đối nhanh ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Trên thế giới, ngô đứng thứ 2 về sản lượng, đứng thứ 3 về diện tích, đứng đầu về năng suất so với các cây ngũ cốc khác
Ngô là cây lương thực giàu dinh dưỡng (chất béo, Vitamin, Axitamin) hơn lúa gạo
và lúa mì Với ưu điểm giàu dinh dưỡng nên trong công nghiệp chế biến ngô còn được sử dụng làm thức ăn gia súc, sản xuất cồn, tinh bột, dầu, bánh kẹo… Phục vụ xuất khẩu Do
vị trí quan trọng đối với đời sống con người, nên ngay từ những năm đầu của thế kỷ 16 -
17 ngô đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học nông nghiệp Cuộc cách mạng của cây ngô thực sự bắt từ nửa đầu thế kỷ 20
Ở nước ta ngô là cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau lúa, được trồng gần như khắp cả nước, và các tiến bộ của khoa học kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác đã được áp dụng rộng rãi vào sản xuất đã làm tăng năng suất ngô từ 29 tạ/ha năm 2000 (Nên giám thống kê năm 2000) lên tới 35,5 tạ/ha năm 2005 (Nguyễn sinh Cúc ; 2005) Tuy nhiên, năng suất như vậy vẫn thấp so với các nước phát triển, vì vậy để nâng cao năng suất thì việc đẩy mạnh và áp dụng khoa học kỹ thuật là rất cần thiết như: áp dụng ưu thế lai để tạo ra các giống ngô lai có tiềm năng năng suất cao Đồng Nai là một tỉnh có diện tích trồng ngô lai khá lớn Do đó, mong muốn tìm ra một cơ cấu giống thích hợp cho vùng, có năng suất cao và chất lượng tốt là điều cần thiết
Xuất phát nhu cầu thự tiễn, được sự đồng ý của khoa Nông học Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của thầy ThS Nguyễn Phương nên tôi thực hiện đề tài khảo sát đặc điểm sinh trưởng và năng suất của một số giống ngô
Trang 12lai có triển ở vụ hè thu năm 2007 tại Trảng Bom, Đồng Nai Nhằm tìm ra mốt số giống ngô tỏ ra thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng
1.4 Giới hạn đề tài
Do điều kiện và thời gian còn hạn chế nên đề tài chỉ có thể khảo sát về tình hình sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của 9 giống ngô lai tại một vùng sinh thái nhất định, nên đề tài còn mang tính cục bộ
Trang 13Chương 2
2.1 Nguồn gốc và phân bố của cây ngô
2.1.1 Nguồn gốc di truyền
Theo lịch sử tiến hoá, có nhiều giả thiết về nguồn gốc di truyền của cây ngô như:
Ngô là con lai giữa Teosinte và một loài không rõ thuộc chi Andropogoneae Ngô là con lai nhị bội tự nhiên giữa các loài Á Châu thuộc chi Maydeae và Andropogoneae Ngô là con lai giữa ngô bọc, Teosinte và Tripsacum Ngô là con lai của Tripsacum Nam Mỹ với
Teosinte, tổ tiên cây ngô trồng ngày nay là một loài ngô hoang dại Ngô có nguồn gốc từ Teosinte bởi đột biến Tuy nhiên, chỉ có một giả thiết được chấp nhận cho rằng ngô ngày
nay có nguồn gốc từ Teosinte được thuần hoá từ một loại ngô ở Nam Mỹ cách đây 4000
năm (Glinat 1988)
2.1.2 Nguồn gốc địa lý
Nơi phát sinh cây ngô có nhiều giả thiết khác nhau như: Dựa vào các di tích khảo
cổ có một giả thiết được nhiều nhà nguyên cứu công nhận là ngô có nguồn gốc từ loài
Teosinte ở nam Mêxhico, tại hoang động Tehuacan vào khoảng 4000 năm trước công
nguyên
2.1.3 Lịch sử thuần hoá
Cây ngô trên thế giới phát sinh từ trung tâm ở miền nam Mêxhico Sau đó, đi về phía nam và định vị ở Pêru thành lập trung tâm thứ cấp, cây ngô được truyền xuống phía nam và từ Mêxhico chuyền lên nước mỹ được thuần hóa và lan rộng khắp nước Mỹ
2.1.4 Lịch sử phát triển
Lịch sử phát triển của cây ngô được đánh dấu vào ngày 5/11/1492 do hai thuỷ thủ trong đoàn thám hiểm của Christopher Columbus phát hiện ra cây ngô tại nội địa của Cuba Nhờ giá trị của nó cây ngô được lan truyền đi khắp các nước khác trên thế giới
Trang 14Ngô lai ( Hybrid Corn) là một thành tựu khoa học nông nghiệp cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới Nó làm thây đổi không những bức ảnh cây ngô quá khứ, mà cả quan điểm của các nhà chiến lược, các nhà quản lý, các nhà kỹ thuật và từng người nông dân Ngô lai là “cuộc cách mạng xanh” của nửa đầu thế kỷ 20
Người đầu tiên quan sát thấy hiện tượng ưu thế lai ở cây ngô là Charles Darwin
Đó là vào năm 1781, từ một thí nghiệm nhỏ trong nhà kính ông nhận thấy những cây giao phối phát triển cao hơn các các cây tự phối 20%
Vào nửa cuối thế kỷ 19 các phương pháp cải tạo là rõ ràng hơn trước, đã mang tính chất khao học chứ không trông chờ vào may rủi Đã xây dựng được một lý thuyết lý giải cho những thực nghiệm trước đây
William James Beal là người đầu tiên lai các giống ngô với mục đích nâng cao năng suất Những kết luận của ông về việc lai giữa giống làm tăng năng suất thương phẩm
đã nhận được những sự khẳng định rộng rãi Ông chỉ ra hướng ứng dụng thực tế của ưu thế lai Đây là một mốc quan trọng mở ra một tiếp cận mới trong cải tạo cây ngô
George Harrison Shull là người đầu tiên tạo dòng thuần tự phối và giống lai giữa dòng Ông tiến hành các thí nghiệm của mình từ năm 1905 - 1907 Goerge Harrison Shull
đã hiểu đúng những tác động của tự phối và giao phối, ông biết rằng tự phối trong ngô - loài thụ phấn tự nhiên là để phân lập các dòng thuần Ông còn nhận thấy tự phối dẫn đến
sự suy giảm kích thước của cây, giảm sức sống và năng suất thấp Thế hệ con đầu tiên (F1) giữa hai dòng thuần đã biểu hiện sự khôi phục sức sống và năng suất mà trong nhiều trường hợp đã vượt cả những giống gốc mà các dòng đã rút ra được
Đến năm 1917 khi D F Jones ở trạm thí nghiệm nông nghiệp Connecticut đưa ra giải pháp “lai kép” thì việc sản xuất ngô lai mới trở thành thực tế thương mại
Edwar m East người đóng góp nhiều kiến thức cơ bản cho sự phát triển ngô lai hiện đại
Herry A.Wallace là người tích cực nghiên cứu, tổ chức, khuyến khích mở rộng ngô lai
Trang 152.2 Vai trò của cây ngô
2.2.1 Ngô làm lương thực cho người
Ngô là cây lương thực quan trọng trên toàn thế giới bên cạnh lúa mì và lúa gạo Tất
cả các nước trồng ngô nói chung đều ăn ngô ở mức độ khác nhau Ngô cung cấp nhiều năng lượng và có hàm lượng protit và lipit hơn hẳn gạo và khoai lang Phương thức sử dụng ngô làm lương thực cho người là rất đa dạng, phụ thuộc vào vùng địa lý và tập quán như: luộc, rang, làm bánh bột ngô ở dạng khô hoặc ướt
2.2.2 Ngô làm thức ăn cho gia súc
Ngô là cây thức ăn chăn nuôi quan trọng nhất hiện nay Khoảng 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp của gia súc là từ ngô, ngoài việc cung cấp chất tinh, cây ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc, đặc biệt là bò sữa
2.2.3 Ngô làm thực phẩm
Trong những năm gần đây cây ngô là cây thực phẩm, người ta dùng ngô bao tử làm rau cao cấp, mang lại hiệu quả cao ở Thái Lan, Đài Loan Ngô rau được ưa dùng vì
nó sạch và có hàm lượng dinh dưỡng cao
2.2.4 Ngô cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
Ngoài việc ngô là nguyên liệu chính cho các nhà máy thức ăn chăn nuôi tổng hợp, ngô còn nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượu cồn, tinh bột, dầu, glucoza, bánh kẹo… Người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các nghành công nghiệp lương thực - thực phẩm, công nghiệp dược và công nghiệp nhẹ
Theo Đại học Tổng hợp Iowa (2006) ở Mỹ, trong những năm gần đây khi thế giới cảnh báo nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt, thì ngô đã và đang được chế biến ethanol, thay thế một phần nhiên liệu xăng dầu chạy ô tô tại Mỹ, Brazil, Trung Quốc… Riêng ở Mỹ, năm
2002 - 2003 đã dùng 25,2 triệu tấn ngô để chế biến ethanol, năm 2005 - 2006 dùng 40,6 triệu tấn và dự kiến năm 2012 dùng 190,5 triệu tấn ngô Vì vậy sản lượng ngô xuất nhập khẩu đang có xu hướng giảm tại Mỹ, Brazil, Arghentina… Một số nước như Trung Quốc thì không có ngô để xuất khẩu (Oxfarm, 2004)
Trang 162.2.5 Ngô là nguồn hàng hoá xuất nhập khẩu
Trên thế giới hàng năm lượng ngô xuất nhập khẩu khoảng 70 triệu tấn bằng 11,5% tổng sản lượng ngô với giá bình quân trên dưới 100USD/tấn Đó là một nguồn lợi lớn của các nước xuất khẩu (Trần Thị Dạ Thảo, 2003 Bài giảng cây màu – Trường Đại Học Nông Lâm TP HCM)
2.3 Tình hình sản suất trên thế giới
Cây ngô có lịch sử trồng trọt tương đối trẻ so với nhiều cây trồng khác, mãi thế kỷ
15 mới đi vào châu Âu và thế kỷ 16 mới đi vào châu Á Nhưng nó phát triển khá nhanh ở tất cả các nước trên thế giới Các nước phát triển mặc dù có diện tích trồng ngô chỉ bằng một nửa so với các nước đang phát triển nhưng sản lượng chiếm hơn một nửa toàn cầu
Do các nước phát triển đa số họ sử dụng giống lai có năng suất cao Sản lượng ngô trên thế giới năm 2004 tăng 65.228.786 tấn so với năm 2003, còn về diện tích ngô cũng tăng dần theo các năm
Ngô là cây ngũ cốc có vị trí quan trọng thứ ba sau lúa gạo và lúa mì Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Chương trình Lương thực Thế giới (IPRI, 2003), vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% làm nguyên liệu cho công nghiệp Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển sử dụng 22% ngô làm lương thực (IPRI, 2003)
Tình hình nghiên cứu ngô ở khu vực châu Á
Kết quả điều tra số lượng giống do các nhà khoa học ở các cơ sở nghiên cứu tạo ra sản xuất được CIMMYT tổng kết vào năm 2000 Số lượng giống ngô lai do cơ sở nghiên cứu của nhà nước Việt Nam là 26, đã vượt cả Ấn Độ (17), Indonesia (12), Thái Lan (8), Philiphin (6), trong khi đó các công ty tư nhân quốc gia và đa quốc gia ở các nước này đã phát triển được nhiều giống ngô lai
2.4 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa, nó được đưa vào nước ta khoảng
300 năm trước Năng suất ngô nước ta cũng còn thấp so với các nước phát triển Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây tình trạng đó đã được cải thiện một cách đáng kể, đạt nhiều
Trang 17thành quả đáng khích lệ và đã hình thành các vùng trồng ngô chuyên canh và thâm canh cao, cơ cấu giống cũng đã thay đổi theo hướng tiến bộ và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất có kết quả tốt
Ở Việt Nam ngô có sự phát triển rộng khắp, liên tục và đạt đỉnh điểm vào năm
2005 Những tiến bộ về sản xuất ngô Việt Nam thể hiện rất rõ trong mười năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Nếu chúng ta lấy số liệu tuyệt đối của 2 năm (1995) và sau
12 năm đổi mới (2006) thấy diện tích tăng 1,9 lần, năng suất 1,7 lần, và sản lượng 3,2 lần
Tỷ lệ tăng trưởng của chúng ta cao hơn nhiều so với thế giới ( 0.7%, 2.1%, 3,2%)
Tuy nhiên, năng suất ngô trung bình của Việt Nam năm 2004 (34,9 tạ/ha) vẫn còn thấp hơn năng suất trung bình thế giới (48,5 tạ/ha) Mặc dù vậy, khách quan mà nói sản xuất ngô ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã có sự phát triển vượt bậc, toàn diện và đáng trân trọng Sở dĩ chúng ta đạt được những kết quả to lớn trong phát triển sản xuất ngô là
do Đảng, Chính Phủ, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã thấy được vai trò của cây ngô trong nền kinh tế và kịp thời đưa ra nhưng chính sách, trương trình và biện pháp phù hợp thể hiện qua những đề tài nghiên cứu phù hợp với từng giai đoạn phát triển
Giai đoạn 1986 – 1990 đề tài “nghiên cứu chọn tạo các giống ngô có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu các điều kiện bất thuận của môi trường phục vụ sản xuất của các vùng sinh thái của việt nam” đã tập trung chủ yếu vào chọn tạo và phát triển các giống ngô thụ phấn tự do
Giai đoạn 1991 -1995 đề tài “Nghiên cứu lai tạo, chọn lọc bộ giống ngô mới có thời gian sinh trưởng khác nhau, thích hợp với cơ cấu mùa vụ, các vùng sinh thái trong nước, chống chịu những điều kiện bất thuận, có năng suất cao, phẩm chất tốt Phương thức sản xuất hạt giống thụ phấn tự do, hạt giống ngô lai có chất lượng tốt phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội”
Giai đoạn 1996 - 2000, đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống cây màu, năng suất cao ,chất lượng tốt” đã đưa ra sản xuất nhiều giống ngô lai, đa dạng về thể loại và thời gian sinh trưởng Góp phần nâng cao tỷ lệ giống lai trong sản xuất và đưa năng suất cao lên
Giai đoạn 2001 - 2005, đề tài “Nghiên cứu giống ngô lai thích hợp cho các vùng sinh thái” đã thiết lập được mạng lưới nghiên cứu chọn tạo giống ở các vùng trồng ngô
Trang 18chính (Cây ngô – nguồn gốc đa dạng di truyền và quá trình phát triển.Nhà xuất bản nông nghiệp)
Đánh giá tổng quát sự phát triển cây ngô ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy:
Có sự thây đổi cơ bản trong việc sử dụng vật liệu lai tạo giống lai từ giống địa phương, giống thụ phấn tự do, quần thể giống lai, các dòng thế hệ mới có khả năng kết hợp cao về năng suất, chống chịu tốt Đáp ứng ngày càng tốt hơn công tác tạo giống lai, năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng rộng
Con đường phát triển giống lai theo hướng chủ đạo của các nước là giải quyết vấn
đề tăng năng suất trên cơ sở nâng cao tiềm năng năng suất của giống lai
Cây ngô thế kỷ 21 với những thách thức mới để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu đòi hỏi giải quyết đồng bộ những vấn đề cơ bản về khoa học cũng như việc ứng dụng chúng trong công tác chọn tạo giống
Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng sản xuất ngô nhanh trong khu vực Đông Nam Á Số liệu bảng 1.1 chúng ta thấy 10 năm qua, diện tích, năng suất và sản lượng nay Việt Nam tăng liện tục với tốc độ cao Tuy nhiên, đầu giai đoạn hiện nay diện tích ngô khó tăng tiếp trong khi đó năng suất ngô của Viêt Nam tăng chậm Năm
2005 chúng ta đạt bình quân 36,0 tạ/ha, nhưng vẫn còn thấp hơn năng suất trung bình thế giới (48,5 ta/ha), thấp hơn nhiều so với mỹ (100 ta/ha) và Trung Quốc ( 51,5 ta/ha) Tuy
đã vượt được năng suất bình quân của các nước đang phát triển (31,3 tạ/ha)
Lý do năng suất ngô của Việt Nam còn thấp so với năng suất bình quân thế giới đã được nêu trong nhiều hội nghị trong nước và quốc tế là:
- Về khách quan:
+ Sản xuất ngô ở Việt nam chủ yếu nhờ nước trời (>80%), hơn 60% diện tích ngô trồng trên đất dốc
+ Biến động lớn về độ phì đất trồng ngô giữa các vùng miền trên toàn quốc
+ Thời tiết nhiệt đới gây quá nhiều biến động về nhiệt độ, mưa, gió, bão, nắng + Trình độ canh tác và khả năng đầu tư thâm canh ngô của nông dân giữa các vùng biến động rất lớn và ở mức thấp
Trang 19- Về chủ quan:
+ Đối với giống:
Chúng ta chưa có những đột phá giống mới năng suất cao, vượt trội một số giống ngô của nước ngoài tại Việt Nam
(1000ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng (1000tấn)
Tỷ lệ giống lai(%)
(Nguồn số liệu của FAOSTAT)
Giá thành sản xuất ngô ở Việt Nam cao hơn ở Thái Lan, Philippin ngoài các nguyên nhân đã nêu trên còn do mất mát sau thu hoạch và chi phí phân bón, vận chuyển
Trang 20cao hơn Nếu giá thành sản xuất ngô của chúng ta thấp hơn so với hiện nay thì chắc chắn sản xuất ngô của Việt Nam còn tăng trưởng ở mức cao hơn
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam so với các nước Đông Nam Á
Chỉ tiêu ĐVT Lào Thái Lan Philippin Việt NamTổng chi phí/ha USD/ha 75,85 350 225,46 359,80
2.5 Tình hình hội nhập nghiên cứu, phát triển ngô của Việt Nam
Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90, với chính sách mở cửa, ngô lai của Việt Nam
là một trong những cây hội nhập sớm nhất
- Công ty Bioseed (Ấn Độ) được thành lập tại Việt Nam vào năm 1991, có chương trình tạo giống ngô lai và thương mại hạt giống ngô lai ở Việt Nam Những năm tiếp theo
là những công ty như Pacific Seed (Úc), Syngenta (Thụy Sỹ), Monsanto (Thái Lan) cũng được thiết lập ở Việt Nam
- Những nghiên cứu về ngô lai của Việt Nam đã được khởi động từ những năm
1970 của thế kỷ trước nhưng chỉ thực sự bắt đầu có hiệu quả vào đầu thập niên 90 bằng việc tạo ra hàng loạt các giống lai không quy ước, rồi một loạt các giống lai quy ước
Trang 21- Hiện nay thị phần giống ngô lai của Việt Nam chiếm khoảng 60%, chủ yếu là giống ngô lai đơn
Hàng năm Việt Nam đang xuất khẩu sang Lào, Campuchia hàng trăm tấn hạt giống LVN10, và hàng chục tấn giống HQ2000 sang Bangladesh, và hàng chục tấn giống sang Nam Trung Quốc Chúng ta đã thu được một số kinh nghiệm ở thị trường các nước này Triển vọng giống ngô lai của Việt Nam có thể vào được các thị trường Indonesia, Philippin và ngay cả ở Thái Lan vì giá có thể cạnh tranh được
Tuy nhiên giai đoạn tới, việc triển khai giống ngô lai mới có nhiều khó khăn hơn vì nhiều công ty nước ngoài có sản phẩm cạnh tranh cao Một số giống như C919, NK66, NK54 có năng suất ổn định ở nhiều vùng sinh thái Đều đó đòi hỏi các nhà chọn giống ngô của Việt Nam phải định hướng cụ thể, chính xác hơn, tiếp cận đúng vật liệu, các phương pháp chọn tạo hiện đại để tạo ra những giống ngô lai có năng suất, chất lượng cao hơn
2.6 Các vùng sản xuất ngô chính ở Việt Nam
Vùng núi Đông Bắc Bộ: gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn Đất trồng chủ yếu là đất phát triển trên các sản phẩm của đá vôi và sa phiến thạch và đất phù sa dọc theo các sông suối… Có hàm lượng dinh dưỡng cao Vụ ngô chính được gieo vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5, thu hoạch vào cuối tháng 8 đầu tháng 9
Vùng núi Tây Bắc: gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình Đất trồng chủ yếu
là đất thung lũng đá vôi, đất phù sa của sông suối, đất hốc hẻm đá vôi… Giàu chất hữu
cơ, tầng đất mặt dày Vụ ngô được gieo trồng chủ yếu từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 thời điểm bắt đầu mưa, thu hoạch vào tháng 8 Có nơi có thể gieo sớm hơn và canh tác được thêm vụ thu đông Vùng này ngô có thể trồng quanh năm tuỳ thuộc vào từng loại đất
mà canh tác
Vùng Đồng Bằng và Trung Du Bắc Bộ: gồm các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình là vùng ngô lớn nhất ở phía Bắc Đất trồng là đất phù sa được bồi hàng năm, đất lúa hai vụ và đất trồng màu… Đất có độ màu mỡ cao
Trang 22Vùng Bắc Trung Bộ: gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên- Huế Đất chủ yếu là đất phù sa bồi hàng năm dọc theo các con sông và đất không được bồi hàng năm Vụ ngô có thể canh tác 2 vụ: Vụ ngô Đông Xuân gieo từ cuối tháng 9 và đầu tháng 10, vụ ngô Xuân Hè gieo cuối tháng 2 đầu tháng 3 đến cuối tháng 6
Vùng Duyên Hải Miền Trung: gồm các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kháng Hoà Đất trồng ngô chủ yếu là đất phù sa được bồi hàng năm dọc theo các con sông và đất phù sa không được bồi hàng năm chuyên màu hoặc lúa Vụ ngô chính là ngô Đông Xuân gieo từ tháng 12 thu hoạch vào cuối tháng 4, ngô Hè Thu gieo vào cuối tháng 4 thu hoạch vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8
Vùng Tây Nguyên: gồm các tinh Gia Lai, Kom Tum, Đăk Lắk Đất trồng chủ yếu
là đất phiền bãi, đất phù sa thềm sông suối, thung lũng và trên nương rẫy Loại đất chủ yếu là đất bazan, đất phù sa nên có độ màu mỡ cao Vụ ngô thường trồng mùa mưa gieo
từ tháng cuối tháng 4 đến đầu tháng 5, ngoài ra còn có thể trồng thêm 1 vụ nữa gieo vào giữa tháng 8
Vùng Đông Nam Bộ: gồm các tỉnh Lâm Đồng, Thành Phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu Đây là vùng ngô hàng hoá có tiềm năng nhất ở nước ta Đất trồng chủ yếu là đất bazan, đất xám, đất phù sa sông Vùng này thường trồng 2 vụ ngô liên tiếp trong mùa mưa từ cuối tháng 4 đến tháng 11
Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng Đất trồng chủ yếu là đất phù sa được bồi hàng năm dọc theo các sông lớn, đất có độ màu mỡ cao Vụ ngô chính kéo dài từ cuối tháng 4, đầu tháng 5 đến đầu tháng 8
2.7 Ngô lai
Các bước cần tiến hành trong lai tạo ra một giống ngô lai đơn
Thu thập nguyên liệu
Tạo dòng thuần
Trang 23 Khảo sát sơ bộ giữa các dòng tốt nhất
Lai tạo giữa các dòng thuần
Chọn giống như ý muốn, chuyển đi khảo nghiệm giống ở các trung khảo nghiệm giống khu vực
Công nhận giống tạm thời
Công nhận giống chính thức
Giống ngô lai không quy ước : Là những ngô lai mà có ít nhất một trong các giống
bố (mẹ) không là dòng thuần (không là dòng tự phối)
Giống ngô lai quy ước: Là những giống ngô lai được tạo ra bằng cách lai giữa các dòng tự phối gồm các kiểu lai: Lai đơn, lai ba, lai kép, lai nhiều dòng
Trang 24
Chương 3
3.1 Phương tiện thí nghiệm
10 C919 (Đ/C ) công ty Monsanto Thái Lan
Phân bón
Phân hữu cơ: Phân chuồng, bã thực vật
Phân hoá học: Supper lân phosphate, đạm (urêA), kali (M.O P vinacam)
Thuốc hoá học
Thuốc trừ sâu: Vibasu 40ND, Diazan 10H, Phetho 50ND, Quintox 10EC
Thuốc trừ kiến và côn trùng: Killpest xịt lúc gieo hạt phòng trừ kiến cắn hoặc tha hạt
3.1.2 Dụng cụ, trang thiết bị: Cuốc, thước, bình xịt thuốc…
Trang 253.1.3 Thời gian tiến hành thí nghiệm: từ 12/05/2007 đến 16/08/2007
3.2 Điều kiện nguyên cứu
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
Các yếu tố đất đai: Thí nghiệm được tiến hành tại Công Ty Giống Cây trồng Đồng Nai
Đất thí nghiệm thuộc loại đất nâu đỏ (Reddish Brown Latosol), hơi dốc <5o
Thành phần cơ giới:
Bảng 3.2: phân tích đất thí nghiệm
H20 KCl 54% 27% 19% 2,1% 3,6% 6,04 5,1 (Nguồn: Phòng phân tích bộ môn nông hoá thổ nhưỡng khoa Nông học – Trường Đại Học Nông Lâm TP HCM)
Nhận sét:
Đất sét pha thịt, pH thấp đất chua, C% và mùn trung bình Ngô là cây có khả năng thích ứng rộng Tuy nhiên, loại đất thích hợp cho canh tác ngô nhất là đất thịt vì ngô cần rất nhiều nước trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Do đó qua kết quả phân tích đất thí nghiệm có thành phần đất như vậy là thích hợp cho canh tác ngô
Các yếu tố thời tiết
Bảng 3.3: Đặc điểm về khí tượng thủy văn trong các tháng tiến hành thí nghiệm tại vùng
Trảng Bom, Đồng Nai, năm 2007
Ẩm độ trung bình(%)
Tổng số giờ nắng/tháng (giờ)
Lượng bốc hơi (mm)
Trang 26Nhận xét:
Khí hậu nước ta có nhiều đặc điểm khác nhau ở mỗi vùng trên đất nước, miền Bắc
có khí hậu á nhiệt đới khí hậu thây đổi nhiều hơn trong miền Nam, còn miền Nam có khí hậu nhiệt đới điển hình chỉ có 2 mùa mưa và nắng Thí nghiệm được tiến hành ở Đồng Nai thuộc khí hậu miền Nam Theo số liệu của trung tâm khí tượng thủy văn tại trạm đo Long Khánh, tỉnh Đồng Nai ở Bảng 3.3 nhận thấy; Tổng lượng mưa trung bình tháng khá cao đặc biệt là tháng 7 có lượng mưa rất lớn (365 mm) đều đó đã tạo một điều kiện thuận lợi cho cây ngô phát triển Nhiệt độ trung bình trong các tháng tiến hành thí nghiệm nhìn chung là thích hợp cho ngô sinh trưởng và phát triển Ẩm độ trung bình của các tháng cao hơn so với ẩm độ thích hợp cho cây ngô Tuy nhiên, nó ảnh hưởng không đáng kể cho cây ngô Số giờ nắng trong tháng giảm dần từ tháng 5 đến tháng 8 có 135 giờ nắng/tháng
Tóm lại: khí hậu như vậy thì cũng có thể canh tác ngô được nhưng nó không thể đạt được năng suất tối đa của giống
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Tiến hành ở Công Ty Giống Cây trồng Đồng Nai, trong
điều kiện vụ hè thu năm 2007
3.3 Phương pháp thí nghiêm
3.3.1 Kiểu thí nghiệm
Thí nghiệm so sánh các giống ngô lai Được bố trí theo phương pháp khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, đơn yếu tố, với 3 lần lập lại, mỗi lần lập lại là 10 nghiệm thức Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 14m2, mỗi ô gieo 4 hàng, mỗi hàng dài 5m
khoảng cách hàng cách hàng 70cm, cây cách cây 25cm
Trang 27
Hình ảnh 3.1: Toàn cảnh khu thí nghiệm của các giống ngô lai vụ Hè Thu năm 2007 tại
Trảng Bom, Đồng Nai
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu thí nghiệm: Đánh giá đặc điểm nông học, khả năng
chống chịu và năng suất của các giống Theo phương pháp theo dõi của CIMMYT và viện nghiên cứu ngô Việt Nam
3.3.2.1 Quy trình kỹ thuật
Các biện pháp kỹ thuật theo quy trình của Viện Nghiên cứu ngô Việt Nam
Làm đất: Đất khu thí nghiệm được cày sâu 25 - 30 cm, phay nhỏ, bừa phẳng, làm sạch cỏ dại và tàn dư cây trồng vụ trước Sau đó phơi ải đất kỹ, san bằng và bón vôi để khử độ chua, dùng dây để chia thành các băng Mỗi băng là mỗi lần lập lại, trên mỗi băng được chia thành các ô thí nghiệm để gieo hạt
Gieo hạt Gieo 2 hạt/hốc, hạt được gieo ngay không ngâm ủ, gieo xong lấp đất sâu
2 - 3 cm Sau một tuần tiến hành kiểm tra tỷ lệ nảy mầm, tỉa cây 10 ngày sau gieo (1 cây/hốc)
3.3.2.2 Liều lượng phân bón và cách bón
Liều lượng phân bón cho 1 ha: 150kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O
Cách bón
Bón lót: 100% phân hữu cơ + 100% phân lân
Trang 28 Chăm sóc Tiến hành xới xáo, phá váng và dặm khi ngô ở giai đoạn cây con
Khí ngô có 3 - 4 lá thật tiến hành làm cỏ kết hợp xới xáo, tỉa cây bỏ những cây yếu,
bị sâu bệnh, hốc nhiều hơn 1 chỉ để 1 cây/hốc
Khi ngô 9 - 10 lá tiến hành làm cỏ, bón thúc lần 2 kết hợp vun cao gốc
Phòng trừ sâu bệnh Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh
Phòng trừ sâu đục thân: bằng cách bỏ thuốc Diazan 10H, 3 - 5 hạt vào loa kèn Xịt thuốc phetho: 50ND
Phòng trừ sâu ăn lá: xịt thuốc Vibasu: 40ND, Quintox: 10EC theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất thuốc
3.3.2.4 Thu hoạch Thu hoạch thủ công, thu hoạch trái của 2 hàng giữa, cân trọng lượng
toàn bộ trái của 2 hàng giữa của ô thí nghiệm và đo ẩm độ để tính năng suất thực thu và các chỉ tiêu khác
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng
Theo dõi ngày nẩy mầm: khi có 50% số cây trên ô nẩy mầm (cây có 1 lá thật) Theo dõi ngày tung phấn: khi có 50% số cây trên ô thí nghiệm tung phấn
Theo dõi ngày phun râu: khi có 50% số cây trên ô thí nghiệm phun râu
Theo dõi ngày chín sinh lý: khi lá bi chuyển sang màu vàng và chân hạt có chấm đen, ở 50% số cây trong ô thí nghiệm
Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến cổ lá của lá cao nhất
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/ngày)
Tính theo công thức: CC = (h2 - h1)/t
Trang 29Trong đó CC: tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
h1: chiều cao cây đo lần 1 (cm)
h2: chiều cao cây đo lần 2 (cm)
t: thời gian giữa 2 lần đo
Được theo dõi định kỳ 15 ngày 1 lần tính từ lúc gieo Phương pháp đo, chiều dài
lá được tính từ gốc đến ngọn của phiến lá Chiều rộng lá được đo ở phần rộng nhất của phiến lá
Tính theo công thức IVANOV: S = A x B x K (dm2/cây)
Trang 303.4.2 Các yếu tố liên quan đến khả năng chống đổ ngã
Chiều cao cây cuối cùng (cm): Tiến hành đo khi ngô phun râu được 15 ngày, đo
từ mặt đất đến cổ lá của lá cuối cùng của 10 cây ngẫu nhiên trong mỗi ô thí nghiệm
Chiều cao đóng trái (cm): Chiều cao đóng trái đo từ mặt đất đến đốt mang trái
đầu tiên Đo cùng cây với cây đo chiều cao cây
Tỷ lệ chiều cao đóng trái/chiều cao cây
Đường kính thân (cm): Đo đoạn thân cách mặt đất từ 10 - 15cm Đo 10 cây ngẫu
nhiên trong ô thí nghiệm
Tỷ lệ đổ ngã (%) = số cây bị đổ (những cây có gốc nghiêng > 30º)/tổng số cây
Tính tỉ lệ bệnh: Điếm số cây bị bệnh trong ô thí nghiệm, được tính theo công thức
TLBH (%) = (số cây bị hại/tổng số cây điều tra) x 100
Chỉ số bệnh: Được tính theo cônh thức
CSB (%) = (4 x n1 + 3 x n2 + 2 x n3 + n4)/(4 x N)x 100
Trong đó: N là tổng số cây điều tra
n1 bệnh cấp 4: bệnh hại đến trái
n2 bệnh cấp 3: bệnh lây lên đến lá thứ 1 dưới trái xuống
n3 bệnh cấp 2: bệnh lây lên đến lá thứ 2 dưới trái xuống
n4 bệnh cấp 1: bệnh lây lên đến lá thứ 3 dưới trái xuống
Trang 31Cấp 3: nhiễm trung bình (khi 13 - 30% diện tích lá bị hại)
Cấp 4: nhiễm nặng (khi 30 - 50% diện tích lá bị hại)
Cấp 5: nhiễm rất nặng (> 50% diện tích lá bị hại)
3.4.4 Các đặc trưng về hình thái trái bắp
Chiều dài trái: Đo từ đầu trái đến cuối trái kể cả phần đuôi chuột
Đường kính trái: Đo phần giữa của trái
Màu sắc hạt
Chiều dài đóng hạt: Đo từ đầu trái đến phần cuối trái có hạt lớn trung bình
Độ bọc kín của lá bi : Được đánh giá theo cấp độ từ 1 - 4
cấp 1: chiều dài của lá bi bao khỏi trái khoảng 1 - 1,5 cm
cấp 2: chiều dài của lá bi bao bọc khỏi trái khoảng 0,5 - 1 cm
cấp 3: chiều dài của lá bi bao bọc khỏi trái khoảng 0 - 0,5 cm
cấp 4: hở đầu trái bắp
3.4.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Số trái hữu hiệu/cây = tổng số trái thu hoạch/tổng số cây thu hoạch Ghi tổng số
trái được thu hoạch ở ngoài đồng và điếm số cây ngô có trái
Số hàng hạt/trái: Điếm số hàng trên 1 trái
Số hạt /hàng: Được đếm theo hàng hạt có chiều dài trung bình/trái
Khối lượng 1000 hạt (g): Sấy khô hạt ở ẩm độ 15%, rồi cân khối lượng
Tỷ lệ hạt/trái (%) = (trọng lượng hạt/trọng lượng hạt + cùi) x 100 Mỗi nghiệm
thức lấy ngẫu nhiên 5 trái bắp tẻ hạt rồi tính tỷ lệ
Khối lượng ô: Cân khối lượng ngoài đồng ruộng của tất cả trái bắp tươi
Ẩm độ lúc thu hoạch: Lấy 5 trái trên mỗi ô cơ sở tẻ hạt ra và hỗn hợp của 5 trái
đó lại với nhau được xác định bằng máy đo ẩm độ hạt Tỷ lệ phần trăm ẩm độ được tính ngay sau khi thu hoạch
Trang 32Năng suất lý thuyết (kg/ha)
1000: Là hệ số chuyển đổi từ g sang kg
1000: chuyển đổi 1000 hạt sang 1 hạt
Năng suất thực thu (kg/ha)
(P x 2) x tỷ lệ hạt tươi/trái x 10000 x (100– Ao) Tính theo công thức NSTT (kg/ha)=
S x (100 - 14)
Trong đó S: Là diện tích mỗi ô thí nghiệm
Ao: Ẩm độ hạt ngoài đồng ruộng
P: Khối lượng trái bắp của 2 hàng giữa ô thí nghiệm
3.5 Thu thập và xử lý số liệu Sử dụng các phần mềm MSTATC, Microsoft Excel
Trang 33Chương 4
4.1 Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống ngô lai thí nghiệm
Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây ngô được tính từ khi gieo hạt đến khi chín sinh lý hoàn toàn Thời gian sinh trưởng không cố định nó biến động tùy theo giống, mùa vụ, kỹ thuật canh tác
Biết được thời gian sinh trưởng và phát triển của cây ngô có thể giúp chúng ta chủ động được mùa vụ gieo trồng, bố trí luân canh với cây trồng khác cho hợp lý
4.1.1 Thời gian từ gieo đến nẩy mầm
Thời gian này được tính từ khi gieo hạt cho đến lúc có 50% số cây mọc khỏi mặt đất, khả năng mọc mầm tuỳ thuộc vào bản chất di truyền của từng giống, điều kiện ngoại cảnh lúc gieo hạt và chất lượng của hạt giống
Nảy mầm là thời kỳ quyết định mật độ cây con và ảnh hưởng đến năng suất sau này Do đó để cây mọc mầm tốt thì điều kiện ngoại cảnh phải thuận lợi
Thí nghiệm được gieo hạt vào thời điểm đầu mùa mưa (ngày 2 tháng 5 năm 2007 dương dịch), điều kiện thời tiết, khí hậu khá thuân lợi cho hạt nảy mầm Bảng 4.1 cho thấy; tất cả các giống đều có tỉ lệ nảy mầm cao, dao động từ 4 - 6 ngày sau gieo là tất cả các giống đều nảy mầm Các giống ngô lai mọc sau 4 ngày gieo là: SX2022, BB1A, KK257, giống mọc sau 5 ngày gieo là: D8102, KK17, H1, VN686, C919, giống mọc 6 ngày sau gieo là: SBN58, TB68A Nhìn chung tất cả các giống mọc tương đối đồng đều
và tập trung Do đó mật độ cây khá đồng đều cho thí nghiệm và nó cũng có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất sau này
4.1.2 Thời gian từ gieo đến tung phấn
Từ khi gieo đến khi ngô mọc được khoảng 3 - 4 lá, thì cây ngô sống chủ yếu nhờ vào chất dinh dưỡng có trong hạt, thời kỳ này cây phát triển chậm Sau thời kỳ này ngô bắt đầu phát triển mạnh về thân lá và phân hoá cơ quan sinh sản Vì vậy cần bón phân và
Trang 34làm cỏ cho ngô kết hợp vun gốc để cho bộ rễ phát triển tốt để nó hút chất dinh dưỡng và nước cho cây Đặc biệt khi ngô bước vào giai đoạn xoắn nón (trước trổ cờ 15 - 20 ngày) đòi hỏi điều kiện thời tiết phải thuận lợi nếu bất lợi như hạn, nóng quá ảnh hưởng đến khả năng phân hoá của cơ quan sinh sản dẫn đến ngô không trổ hoặc trổ nhưng không có khả năng thụ phấn, ngô kết hạt kém, làm cho năng suất bị giảm
Kết quả ở bảng 4.1 cho thấy; nhìn chung các giống ngô lai thí nghiệm tung phấn trong khoảng 52 - 54 ngày chỉ có giống ngô lai SB-N58 tung phấn sau 57 ngày, cụ thể như sau: Các giống SX2022, H1, VN686 tung phấn 52 ngày sau gieo, giống D8102, BB1A, TB68A và giống đối chứng C919 tung phấn 52 ngày sau gieo, các giống còn lại tung phấn 54 ngày sau gieo bao gồm: KK17, KK257 Nhìn chung các giống tung phấn không khác nhiều so với giống đối chứng
4.1.3 Thời gian từ gieo đến phun râu
Giai đoạn từ gieo đến phun râu là giai đoạn quan trọng nhất vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sau này Đến giai đoạn này cây ngô ngừng phát triển thân lá mà tập trung dinh dưỡng chủ yếu vào các cơ quan sinh sản Thời kỳ này hết sức quan trọng vì nó liên quan đến khả năng thụ tinh của cây ngô và ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất
Giai đoạn này cây ngô đòi hỏi các chất dinh dưỡng và diều kiện ngoại cảnh phải thuận lợi thì cây ngô có thể phun râu tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thụ phấn và khả năng kết hạt của cây
Qua bảng 4.1 cho thấy; các giống phun râu sớm nhất: D8102, SX2022, H1, VN686 phun râu 53 sau gieo, có 2 giống phun râu muộn nhất: KK257 phun râu 58 ngày và SB-N58 phun râu 59 ngày sau gieo, các giống còn lại phun râu 53 - 55 ngày sau gieo, trong
đó giống đối chứng C919 phun râu 54 ngày
4.1.4 Chênh lệch giữa tung phấn và phun râu
Thời gian chênh lệch giữa tung phấn và phun râu, nó phụ thuộc chủ yếu vào bản chất di truyền của từng giống nhưng cũng phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh lúc ngô trổ
cờ và phun râu, thời vụ gieo trồng Giống nào có thời gian chêng lệch càng ngắn thì khả năng thụ phấn và thụ tinh diễn ra dễ dàng và kết hạt cao hơn các giống có thời gian chênh lệch lớn
Trang 35Số liệu theo dõi ở bảng 4.1 như sau; thời gian chênh lệch giữa tung phấn và phun râu biến động từ 1 - 2 ngày Chỉ có một Giống là D8102 là tung phấn và phun râu cùng ngày và giống KK257 có sự chênh lệch khá lâu là 4 ngày, còn các giống còn lại chỉ cách nhau 1 - 2 ngày Nhìn chung các giống có sự chênh lệch như vậy là tốt cho việc thụ phấn
và thụ tinh
4.1.5 Thời gian từ gieo đến chín sinh lý
Thời kỳ này bắt đầu tích lũy vật chất trong hạt và đạt tối đa vào cuối thời kỳ Chất dinh dưỡng trong cây được chuyển dần vào hạt Lúc đầu các chất này còn ở dạng lỏng sau khi đạt tối đa thì hạt bắt đầu mất nước dần, cứng lại chín sáp Lá bi bắt đầu chuyển sang màu vàng hoàn toàn và chân hạt có xuất hiện chấm đen là trái đã chín sinh lý
Ở bảng 4.1 cho thấy; các giống có thời gian chín sinh lý không lâu, chỉ có 2 giống chín muộn nhất là 95 ngày là SBN58 và TB68A, còn các giống còn lại chín sinh lý trong khoảng 90 - 94 ngày, trong đó có giống đối chứng C919 chín sinh lý 92 ngày, chỉ có giống D8102 chín sớm nhất là 87 ngày sau gieo
Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống ngô lai
TT Giống
TP _ PR (ngày)
Nẩy mầm (ngày)
Tung phấn (ngày)
Phun râu (ngày)
CSL (ngày)
Trang 364.2 Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
4.2.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô lai
Động thái tăng trưởng chiều cao cây là một chỉ tiêu phản ánh sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô Nói lên được sự sinh trưởng, phát triển của từng thời kỳ khác nhau của các giống Đây là chỉ tiêu có liên quan đến các yếu tố di truyền, kỹ thuật canh tác và đặc điểm sinh lý hóa của từng giống Chỉ tiêu này có liên quan đến khả năng chống đổ ngã, quết định đến mật độ trồng, là chỉ tiêu quan trọng cho các nhà chọn giống và nó có liên quan đến năng suất sau này Qua kết quả theo dõi ở bảng 4.2 cho thấy:
Giai đoạn 15 ngày sau gieo, động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống từ lúc gieo đến khi ngô được 15 ngày Nhìn chung các giống có sự phát triển chiều cao khá đồng đều nhau, nó chỉ biến động từ 22,3 - 30,7 cm Giống có động thái tăng trưởng chiều cao thấp nhất là SB-N58 (22,3 cm) và giống cao nhất là BB1A (30,7 cm), giống đối chứng có chiều cao là (26,8 cm) Giai đoạn này động thái tăng trưởng chiều cao cây thấp
vì là giai đoạn cây con sống chủ yếu nhờ vào chất dinh dưỡng có trong hạt Do bộ rễ hoạt động còn kém và còn chịu sự tác động của điều kiện ngoại cảnh nhiều
Giai đoạn 30 ngày sau gieo, sự phát triển của các giống bắt đầu tăng nhanh, do cây
đã có thể hút chất dinh dưỡng, nước từ đất và ta đã bón thúc lần 1 cho cây Động thái tăng trưởng chiều cao cây biến động từ 83,1 – 104,5 cm, không có sự khác biệt nhiều so với giống đối chứng C919 có chiều cao là 95,1 cm
Giai đoạn 45 ngày sau gieo, đây là giai đoạn cây ngô phát triển mạnh nhất vì lúc này cây tập trung dinh dưỡng cho việc phân hóa cơ quan sinh sản và phát triển thân lá Động thái tăng trưởng chiều cao cây trong giai đoạn này biến động từ 180,3 cm của giống D8102 đến 220,4 cm của giống KK17 Còn giống đối chứng C919 có chiều cao là 195,0
cm Sự phát triển chiều cao của các giống thí nghiệm khác biệt rất có ý nghĩa
Giai đoạn 60 ngày sau gieo, đây là giai đoạn cuối của quá trình phát triển thân lá của cây Động thái tăng trưởng của cây chậm hơn giai đoạn trước vì nó chuyển sang phát triển cơ quan sinh sản nhiều hơn Tất cả các giống đều có chiều cao trên 200 cm, giống thấp nhất D8102 cao (217,7 cm), giống cao nhất SB-N58 (250,0 cm), còn các giống khác dao động trong khoảng 221,4 - 246,1 cm, giống đối chứng C919 cao (235,0 cm)
Trang 37Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô lai, (cm/cây)
4.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao (cm/cây/ngày)
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô lai, (cm/cây/ngày)
Trang 38Khả năng sinh trưởng và phát triển của cây được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng chiều cao cây Tốc độ tăng trưởng chiều cao tăng dần qua các giai đoạn, đạt tốc độ cao nhất vào thời kỳ cây được khoảng 40 - 50 ngày sau gieo Sau trổ cờ ngô ngừng phát triển
về chiều cao và ổn đinh khi ngô có hạt
Qua bảng 4.3 ta nhận thấy:
Giai đoạn cây ngô được 15 - 30 ngày sau gieo, đây là giai đoạn cây con, bộ rễ phát triển còn yếu nên khả năng hút chất dinh dưỡng từ đất còn hạn chế, ngoài ra số lá còn ít nên khả năng quang hợp của cây còn yếu Do đó tốc độ tăng trưởng chiều cao ở giai đoạn này chỉ biến động từ 4,0 - 5,0 (cm/cây/ngày) Trong đó giống đối chứng C919 có tốc độ tăng trưởng cao nhất 5,0 (cm/cây/ngày), do hạt giống của nó được bảo quản tốt hơn bởi công ty giống cây trồng, còn giống của các giống thí nghệm chỉ lấy từ sản phẩm của vụ trước đem gieo trồng khảo sát
Tốc độ tăng trưởng ở giai đoạn 30 - 45 ngày sau gieo, giai đoạn này cây ngô đã có thể hút chất dinh dưỡng và nước từ đất, khả năng chống chịu của nó cũng tốt hơn nên tốc
độ tăng trưởng chiều cao ở giai đoạn này là khá cao Nhìn chung các giống có sự khác biệt rất có ý nghĩa, giống có tốc độ tăng trưởng thấp nhất là D8102 (6,1 cm/cây/ngày), giống có tốc độ tăng trưởng cao nhất là VN686 (8,3 cm/cây/ngày) Các giống còn lại dao động từ 6,4 - 7,6 (cm/cây/ngày), trong đó giống đối chứng C919 có tốc độ tăng trưởng là 7,0 (cm/cây/ngày)
Giai đoạn 45 - 60 ngày sau gieo, nhìn chung tất cả các giống thí nghiệm có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây trong giai đoạn này đã chậm xuống, do cây ngô chuyển sang phát triển cơ quan sinh sản Tốc độ tăng trưởng của các giống không khác so với đối chứng, chúng dao động trong khoảng 1,6 - 3,9 (cm/cây/ngày), giống có tốc độ tăng trưởng cao nhất là SB-N58 (3,9 cm/cây/ngày), giống có tốc độ tăng trưởng thấp chậm nhất là BB1A (1,6 cm/cây/ngày), giống đối chứng có tốc độ tăng trưởng là 2,0 (cm/cây/ngày), nằm trong khoảng trung bình giữa các giống thí nghiệm
Trang 39Biều đồ 4 1: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô lai thí nghiệm 4.3 Số lá và tốc độ ra lá
4.3.1 Số lá
Đối với cây trồng, lá là bộ phận quang hợp tạo chất hữu cơ, quyết định đến năng suất của cây Số lá, độ lớn của lá phụ thuộc vào bản chất di truyền của từng giống, điều kiện thời tiết và kỹ thuật canh tác Số lá ngô tăng dần và có số lá nhiều nhất vào thời kỳ ngô bắt đầu trổ cờ Số lá có liên quan đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây
Số liệu theo dõi ở bảng 4.4 cho thấy:
Giai đoạn 15 ngày sau gieo, giai đoạn này tất cả các giống thí nghiệm và giống đối chứng có số lá không khác nhau, vì là cây con sống chủ yếu nhờ vào chất dinh dưỡng có trong hạt, bộ rễ của cây chưa phát triển nên khả năng hút chất dinh dưỡng và nước còn kém, đó cũng là một nguyên nhân làm cho số lá trong giai đoạn này còn ít Các giống có
số lá dao động trong khoảng 2,9 - 3,1 lá
Giai đoạn 30 ngày, lúc này cây ngô đã được bón phân 1 lần, cây được cung cấp chất dinh dưỡng nhiều hơn và bộ rễ của cây cũng đã bắt đầu phát triển, số lá bắt đầu tăng dần, để quang hợp và bắt đầu tích lũy chất khô cho cây Theo số liệu theo dõi thu được thì giống có số lá thấp nhất 7 lá của giống SB-N58, còn các giống còn lai có số lá dao động trong khoảng 7,2 - 7,7 lá
Trang 40Giai đoạn 45 ngày sau gieo, nhìn chung tất cả các giống trong thời kỳ này có số lá
khá đồng đều, nó chỉ dao động trong khoảng 12,1 - 14,2 lá, trong đó giống đối chứng
C919 có số lá là 13,0 lá, nó nằm ở khoảng trung bình của các giống thí nghiệm Qua số lá
ta cũng có thể đánh giá được tốc độ tăng trưởng của cây trong giai đoạn này là khá cao, vì
nó là giai đoạn gần cuối của quá trình phát triển thân lá
Giai đoạn cây ngô được 60 ngày, lúc này ngô đã trổ cờ hoàn toàn và số lá của cây
cũng đã ổn định, đến giai đoạn này chúng ta đã có thể xác định được số lá của từng giống
Tất cả các giống đều có số lá dao động trong khoảng 18,2 - 20,7 lá Có thể nói số lá của
các giống cũmg tương đương với bao giống ngô đang được sản xuất, các giống có số lá
cao nhất là: SB-N58, SX2022, BB1A, TB68A có số lá cao hơn 20 lá, còn giống có số lá
thấp nhất là D8102 có 18,0 lá
Bảng 4.4: Số lá qua các thời kỳ của các giống ngô lai thí nghiệm (lá/cây)
Ở tất cả các cây trồng trong một quần thể thì bao giờ cũng có sự cạnh tranh về ánh
sáng trong quá trình quang hợp Tuy nhiên, các cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng,
cây khác nhau thì sự cạnh tranh về ánh sáng cũng khác nhau Sự cạnh tranh ánh sáng đã
ảnh hưởng đến tốc độ ra lá của cây Ngoài ra tốc độ ra lá còn phụ thuộc vào điều kiện thời