Trong bối cảnh kinh tế đầy cạnh tranh và khốc liệt như hiện nay, sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố như môi trường kinh doanh, trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp, đặc biệt trình độ quản lý tài chính là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp. Mục đích của việc phân tích tài chính là giúp người sử dụng thông tin đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp. Do vậy, phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mà còn hữu ích đối với các nhà đầu tư, nhà cung cấp, nhà cho vay, người lao động trong doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế. Hoạt động phân tích tài chính trong doanh nghiệp không chỉ cung cấp thông tin về tình hình thực hiện công tác tài chính của doanh nghiệp trong thời gian đã qua mà qua đó còn giúp nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra được những đánh giá, rút kinh nghiệm từ những điểm còn bất cập, phát huy điểm mạnh để từ đó vạch ra được các quyết định quản lý và tài chính phù hợp để tiến hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhằm tối đa hóa lợi nhuận, củng cố hình ảnh doanh nghiệp trong thị trường. Ngày này, với sự phát triển của kinh tế tài chính, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và cách mạng công nghệ thông tin, phân tích tài chính càng được chú trọng nhiều hơn và phát huy vai trò của nó, đồng thời có nhiều đổi mới cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội mới. Tuy nhiên, hiện nay do chưa ý thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính và còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động phân tích tài chính, nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa đầu tư thích đáng cho lĩnh vực này dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh có năng suất thấp, chưa tạo được bước phát triển nhảy vọt, đóng góp lớn vào sự phát triển của đất nước Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao, hoàn thiện chất lượng phân tích tài chính trong các doanh nghiệp, và qua thời gian thực tập tại Công ty CP Sản xuất và Dịch vụ MS, trong khuôn khổ chuyên đề này, xin được chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Sản xuất và Dịch vụ MS” với mong muốn cung cấp thông tin khách quan về tình hình phân tích tài chính của doanh nghiệp này và sau đó cũng xin được nêu ra một số gợi ý nhằm thúc đẩy hoạt động này trong doanh nghiệp. Chuyên đề bao gồm ba chương như sau: Chương 1: Lý thuyết và hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính tại Công ty CP Sản xuất & Dịch vụ MS Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phân tích tài chính tại Công ty CP Sản xuất & Dịch vụ MS
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ
Giảng viên hướng dẫn : PGS, TS Nguyễn Thị Bất
Sinh viên thực hiện : Đào Bích Hạnh
Hà Nội 2012
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế đầy cạnh tranh và khốc liệt như hiện nay, sự tồn tại và pháttriển của các doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố như môi trường kinhdoanh, trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp, đặc biệt trình độ quản lý tàichính là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng trực tiếpđến sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp Mục đích của việc phân tích tài chính
là giúp người sử dụng thông tin đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinhlời và triển vọng của doanh nghiệp Do vậy, phân tích tài chính có ý nghĩa quantrọng không chỉ đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp màcòn hữu ích đối với các nhà đầu tư, nhà cung cấp, nhà cho vay, người lao độngtrong doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế
Hoạt động phân tích tài chính trong doanh nghiệp không chỉ cung cấp thông tin vềtình hình thực hiện công tác tài chính của doanh nghiệp trong thời gian đã qua màqua đó còn giúp nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra được những đánh giá, rút kinhnghiệm từ những điểm còn bất cập, phát huy điểm mạnh để từ đó vạch ra được cácquyết định quản lý và tài chính phù hợp để tiến hành hoạt động kinh doanh có hiệuquả nhằm tối đa hóa lợi nhuận, củng cố hình ảnh doanh nghiệp trong thị trường.Ngày này, với sự phát triển của kinh tế tài chính, xu hướng hội nhập kinh tế quốc
tế và cách mạng công nghệ thông tin, phân tích tài chính càng được chú trọngnhiều hơn và phát huy vai trò của nó, đồng thời có nhiều đổi mới cho phù hợp vớihoàn cảnh kinh tế xã hội mới
Tuy nhiên, hiện nay do chưa ý thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính vàcòn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động phân tích tài chính, nhiều doanh nghiệp ởViệt Nam vẫn chưa đầu tư thích đáng cho lĩnh vực này dẫn đến hoạt động sản xuấtkinh doanh có năng suất thấp, chưa tạo được bước phát triển nhảy vọt, đóng góplớn vào sự phát triển của đất nước
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao, hoàn thiện chất lượng phân tíchtài chính trong các doanh nghiệp, và qua thời gian thực tập tại Công ty CP Sản xuất
và Dịch vụ MS, trong khuôn khổ chuyên đề này, xin được chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Sản xuất và Dịch vụ MS” với
mong muốn cung cấp thông tin khách quan về tình hình phân tích tài chính của
Trang 3doanh nghiệp này và sau đó cũng xin được nêu ra một số gợi ý nhằm thúc đẩy hoạtđộng này trong doanh nghiệp
Chuyên đề bao gồm ba chương như sau:
Chương 1: Lý thuyết và hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính tại Công ty CP Sản xuất & Dịch vụ MS
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phân tích tài chính tại Công ty
CP Sản xuất & Dịch vụ MS
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VÀ HIỆU QUẢ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phương pháp vàcác công cụ theo một hệ thống nhất đinh, cho phép thu thập và xử lý các thông tin
kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của mộtdoanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tinđưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sảntác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánhgiá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi củadoanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu vàđưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêngcủa doanh nghiệp trong tương lai Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theonhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ),với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích (trong doanhnghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp)
Trang 4Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có các hoạt độngtrao đổi điều kiện và kết quả sản xuất thông qua những công cụ tài chính và vậtchất Chính vì vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào các mốiquan hệ tài chính đa dạng và phức tạp Các quan hệ tài chính đó có thể chia thànhcác nhóm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước Quan hệ này biểu
hiện trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữangân sách Nhà nước với các doanh nghiệp thông qua các hình thức:
- Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định
- Nhà nước cấp vốn kinh doanh hoặc tham gia với tư cách góp vốn
Thứ hai: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác huy động
các yếu tố đầu vào (thị trường hàng hóa, dịch vụ lao động ) và các quan hệ đểthực hiện tiêu thụ sản phẩm ở thị trường đầu ra
Thứ ba: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và các tổ
chức tài chính Thể hiện cụ thể trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn và ngắnhạn cho nhu cầu kinh doanh:
- Trên thị trường tiền tệ: Đó là mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các ngânhàng, các tổ chức tín dụng
- Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài hạnbằng cách phát hành các loại chứng khoán cũng như việc trả các khoản lãihoặc doanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗ vào ngân hàng hay muachứng khoán của các doanh nghiệp khác
Thứ tư: Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp Đó là các khía
cạnh tài chính liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách tài chínhcủa doanh nghiệp như vấn đề cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sáchlợi tức cổ phần, sử dụng ngân quỹ nội bộ doanh nghiệp
Trang 51.2 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp như: Chủdoanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng Mỗi đối tượng quan tâmvới các mục đích khác nhau nhưng thường liên quan đến nhau
- Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâmhàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Ngoài ra, các nhàquản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến mục tiêu khác nhau như tạo công
ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện các mục tiêu này nếu họ kinhdoanh có lãi và thanh toán được nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục rút cụcsẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa, còn nếu doanh nghiệpkhông có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng buộc phải ngừnghoạt động
- Đối với các chủ ngân hàng, cái họ quan tâm hàng đầu là khả năng thanhtoán các khoản nợ khi tới hạn bao gồm cả gốc và lãi mà không cần biết đếnkết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Đối với người lao động: Đây là nhóm đối tượng liên quan trực tiếp tới tìnhhình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp Cái họ quantâm là khả năng chi trả các khoản tiền lương đúng hạn và sự ổn định việclàm lâu dài
- Đối với nhà đầu tư: Mối quan tâm hàng đầu của họ là giá trị doanh nghiệp
Họ kỳ vọng vào khả năng sinh lời, tối đa hoá giá trị của chủ sở hữu doanhnghiệp thông qua mức tăng trưởng đều của giá trị cổ phiếu trên thị trường và
cổ tức trả lãi cho các cổ đông trên cơ sở an toàn tài chính Vì vậy, họ cần cácthông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh vàtiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp để nhận biết khả năng sinh lợicủa doanh nghiệp Đó là một trong những căn cứ giúp họ quyết định có bỏvốn vào doanh nghiệp hay không Trong doanh nghiệp Cổ phần, các cổ
Trang 6đông là người đã bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp và họ có thể phải gánhchịu rủi ro Những rủi ro này liên quan tới việc giảm giá cổ phiếu trên thịtrường, dẫn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Chính vì vậy, quyếtđịnh của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độ rủi ro và doanh lợi đạtđược Vì thế, mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông là khả năng tăngtrưởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị chủ sở hữu trong doanhnghiệp Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và nguồn tài trợ Trên cơ
sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanhhàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọngphát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp Cácnhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điềukiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương Khi đó lượng tiền của dự án tạo rasẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãi suất yêucầu cho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại sự giàu có cho nhữngngười sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và cơcấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hếtsức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Ta biết rằng thunhập của cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá trịtăng thêm của cổ phiếu trên thị trường Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ vàvốn chủ sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanhnghiệp tăng vốn đầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổphiếu (EPS) Hơn nữa các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy môdoanh nghiệp khi quyền lợi của họ ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy, cácyếu tố như tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổphần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trênthị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng nhưhiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khithực hiện phân tích tài chính
Trang 7- Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế (cục thuế, các bộ chủquản…) không chỉ thực hiện việc giám sát, kiểm tra tình hình kinh doanh vàtài chính của mỗi doanh nghiệp, mà còn theo dõi khả năng hoàn thành nghĩa
vụ đối với nhà nước, lợi ích kinh tế -xã hội mà hoạt động của doanh nghiệpđem lại cho nền kinh tế, để từ đó kịp thời điều chỉnh vào hoạt động sản xuấtkinh doanh theo những chủ trương, định hướng của Đảng và Chính phủ.Tất cả những cá nhân, tổ chức quân tâm nói trên đều có thể tìm thấy và thoảimãn nhu cầu về thông tin của mình thông qua hệ thống chỉ tiêu do phân tích tàichính cung cấp Như vậy, việc phân tích tài chính trong doanh nghiệp phải đạtđược các mục tiêu chủ yếu sau đây:
- Cung cấp đầy đủ thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các tín chủ và nhữngđối tượng có nhu cầu sử dụng khác giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn
- Cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay và cácđối tượng khác trong việc đánh giá khả năng, tính chắc chắn của các dongtiền mặt và tình hình sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tình hình vầ khả năngthanh toán của doanh nghiệp
- Cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quảcủa quá trình, sự kiện và các tình huống làm biến đổi cơ cấu nguồn vốn vàcác khoản nợ của doanh nghiệp
1.3 Trình tự các bước tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Thu thập thông tin
Đây là bước đầu tiên và có ý nghĩa xuyên suốt quá trình phân tích tài chính doanhnghiệp trong nền kinh tế Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khảnăng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụcho quá trình dự đoán tài chính
Trang 8Có rất nhiều nguồn khác nhau để thực hiện "thu thập thông tin" từ thông tin nội bộđến thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin kế toán đến các thông tin quản
lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị , trong đó, thông tin kế toán đượccoi là nguồn quan trọng nhất được phản ánh trong các báo cáo tài chính của doanhnghiệp Do vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, thực chất của phân tích tài chínhdoanh nghiệp là phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
1.3.2 Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thậpđược Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứngdụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phântích đã đặt ra : Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những mụctiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhâncủa các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
Những phân tích tài chính sẽ không có ý nghĩa khi chỉ đơn thuần là công việc tổnghợp và sắp xếp số liệu trong khi các đối tượng tài chính cần nghiên cứu lại luônluôn biến động về số lượng và trạng thái tồn tại Cho nên ở giai đoạn này, cácchuyên gia phân tích tài chính phải biết đặt một đối tượng tài chính này trong mốiquan hệ biện chứng với các đối tượng khác trong các báo cáo tài chính và trongmối liên hệ với các tiêu chuẩn, các định mức tài chính và kinh tế được đặt ra bởicác đối tác tài chính của doanh nghiệp Mỗi đối tượng đều đưa ra cho doanh nghiệpnhững tiêu chuẩn khác nhau song nhìn chung, đều nhằm vào bốn mục tiêu: khảnăng sinh lời, khả năng thanh toán, khả năng cân đối tài chính và mức độ rủi ro
1.3.3 Dự đoán và ra quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết đểngười sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra những quyết định tài chính Cóthể nói mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính Nếu haigiai đoạn trên được thực hiện theo đúng thứ tự và đúng nguyên tắc thì kết quả của
Trang 9giai đoạn này chỉ còn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của những người sửdụng thông tin.
Dự đoán và ra quyết định được thực hiện sẽ xây dựng lên bức tranh toàn cảnh vềhoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng củadoanh nghiệp trong quá khứ Qua đó, mỗi đối tượng khác nhau khi sử dụng các kếtquả phân tích để đưa ra các quyết định riêng của mình trong tương lai đáp ứng mụctiêu đã lựa chọn ở giai đoạn 1
- Đối với chủ doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp: đó là quyết định cóliên quan tới mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp
- Đối với các nhà đầu tư và chủ nợ của doanh nghiệp: đó là các quyết định tàitrợ và đầu tư
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế: đó là các quyết định quản
lý doanh nghiệp
1.4 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụng tàisản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ và tình hìnhbiến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tàichính với nhau
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phương pháp:phương pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọc báo cáo tài chính.Phân tích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động cả
về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính, cònphân tích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối t ương quangiữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính vớinhau để rút ra kết luận
Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
Trang 101.4.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương pháp chủ yếu trongphân tích tài chính để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến đổi của chỉtiêu phân tích
Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳ thuộc vào mụcđích và yêu cầu của việc phân tích
Người ta thường tiến hành các cách so sánh sau:
- So sánh số thực hiện kỳ này so với kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi vềtài chính, đánh giá sự tăng trưởng hay suy thoái của hoạt động kinh doanh
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch trong kỳ để thấy mục đích phấnđấu của doanh nghiệp
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành đểđánh giá tình trạng tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể
dể đánh giá bién động của từng cá thể trong tổng thể
- So sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy sự biến đổi về số lượngtương đối, tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánhđược của các chỉ tiêu:
+ Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng
+ Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng
+ Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nội dung, cơ cấucủa các chỉ tiêu
+ Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêu này bằngnhững đơn vị tính đổi nhất định
Trang 11+ Khi không so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể so sánh bằngcác chỉ tiêu tương đôí Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một số trường hợp,việc so sánh các chỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện được hoặc không mangmột ý nghĩa kinh tế nào cả, nhưng nếu so sánh bằng các chỉ tiêu tương đối thìhoàn toàn cho phép và phản ánh đầy đủ, đúng đắn hiện tượng nghiên cứu.
Trong phân tích so sánh có thể sử dụng số bình quân, số tuyệt đối và số tươngđối
Số bình quân phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát triểnkhông đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói cách khác,
số bình quân đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu Số bìnhquân có thể biểu thị dưới dạng số tuyệt đối hoặc dưới dạng số tương đối( tỷsuất) Khi so sánh bằng số bình quân sẽ thấy mức độ đạt được so với bình quânchung của tổng thể, của ngành, xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật
Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy rõ khối lượng, quy mô của hiện tượng kinh
tế Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh, cáchtính toán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị đo lường
Sử dụng số tương đối để so sánh có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu củahiện tượng kinh tế, đặc biệt có thể liên kết các chỉ tiêu không giống nhau đểphân tích so sánh Tuy nhiên số tương đối không phản ánh được thực chất bêntrong cũng như quy mô của hiện kinh tế Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi sosánh cần kết hợp đồng thời cả số tuyệt đối và số tương đối
1.4.2 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các đại lượng tài chínhtrong các quan hệ tài chính Mỗi sự biến đổi của các tỷ lệ cố nhiên sẽ là sự biếnđộng của các đại lượng tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phảixác định được các định mức, các ngưỡng để nhận xét đánh giá tình hình hoạt động
Trang 12tài chính doanh nghiệp trên cơ sở các tỷ lệ nhất định Các ngưỡng này còn gọi làcác tỷ lệ tham chiếu.
Phân tích tài chính doanh nghiệp sử dụng các nhóm chỉ tiêu tỷ lệ có lựa chọn sau:
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng
để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn cuả doanh nghiệp
- Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng choviệc sử dụng tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp
- Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định
và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi và phân phối lợi nhuận.: Phản ánh hiệuquả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất cuả doanh nghiệp
Tuỳ theo mục tiêu phân tích mà các nhà phân tích tài chính lựa chọn nhữngchỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu phù hợp
1.4.3 Phương pháp Dupont
Trong phân tích tài chính người ta thường vận dụng mô hình Dupont để phân tíchmối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữacác chỉ tiêu mà người ta có thể thấy được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ sốhoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn
Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích tài chính có dạng:ng được vận dụng trong phân tích tài chính có dạng: ận dụng trong phân tích tài chính có dạng:c v n d ng trong phân tích t i chính có d ng:ụng trong phân tích tài chính có dạng: ài chính có dạng: ạng:
để có thể đưa ra các quyết định tài chính có hiệu quả
Trang 13Từ mô hình phân tích trên cho thấy, để nâng cao khả năng sinh lời của một đồngtài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng, quản trị doanh nghiệp phải nghiên cứu vàxem xét có những biện pháp gì cho việc nâng cao không ngừng khả năng sinh lờicủa quá trình sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
Mô hình phân tích t i chính Dupont ài chính có dạng: được vận dụng trong phân tích tài chính có dạng:c bi u hi n b ng s ểu hiện bằng sơ đồ sau: ện bằng sơ đồ sau: ằng sơ đồ sau: ơ đồ sau: đồ sau: sau:
Tỷ suất lợi nhuận theo tài sản
Tỷ lệ lãi theo doanh thu Vòng quay của tài sản
Lợi nhuận
thuần
Doanh thuthuần
Doanh thuthuần
Tổng tàisản
Doanh thu
thuần
Tổng chiphí
Tổng tài sảnngắn hạn
Tổng tàisản dài hạn
Chi phí ngoài
sản xuất
Chi phí sảnxuất
Vốn vật tưhàng hóa
Vốn bằngtiền phải thu
Mô hình trên cho thấy, số vòng quay của tài sản càng cao thì sức sản xuất tài sảncủa doanh nghiệp càng lớn làm cho tỷ lệ sinh lời của tài sản càng lớn Để nâng cao
số vòng quay của tài sản, một mặt phải tăng quy mô về doanh thu thuần, mặt khácphải sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản Như vậy tổng doanhthu thuần và tổng tài sản bình quân quân có quan hệ mật thiết với nhau, thôngthường chúng có quan hệ cùng chiều Nghĩa là tổng tài sản thì tổng doanh thuthuần cũng tăng
Trang 14Mô hình trên cũng cho thấy, tỷ lệ lãi theo doanh thu thuần phụ thuộc vào hai nhân
tố cơ bản đó là tổng lợi nhuận thuần và doanh thu thuần Hai nhân tố này lại cóquan hệ cùng chiều nghĩa là doanh thu thuần tăng thì cũng làm cho lợi nhuận thuầntăng Để tăng quy mô về doanh thu thuần, ngoài việc phải giảm các khoản giảm trừdoanh thu, còn phải giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, bao gồm cả chiphí ngoài sản xuất và chi phí sản xuất sản phẩm Đồng thời cũng phải thườngxuyên nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng giá bán, góp phần nâng cao tổng mứclợi nhuận
1.5 Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Trước khi tiến hành phân tích các chỉ tiêu tài chính, trước hết cần phải có đượcnhững thông tin cần thiết về tình hình tài chính chung nhất của doanh nghiệp
Trước hết cần đánh giá khái quá tình hình tài chính qua phân tích báo cáo tài chính:
Việc này sẽ cung cấp cho chúng ta những thông tin khai quát về tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp trong kỳ là khả quan hay không khả quan thông qua một số nộidung sau
Để đánh giá chung trước khi đi vào đánh giá chi tiết, ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lãitrên tổng tài sản (ROI):
Trang 15Bên cạnh việc huy động và sử dụng vốn, khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính vàmức độ độc lập về mặt tài chính cũng cho thấy một cách khái quát về tình hình tàichính doanh nghiệp.
Tỷ suất tài trợ =
Vốn CSHTổng nguồn vốn Chỉ tiêu này càng nâng cao, chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanhnghiệp càng lớn vì hầu hết tài sản doanh nghiệp có được đều là của doanh nghiệp
Tỷ suất thanh toánhiện hành =
Tổng tài sản lưu động Tổng số nợ ngắn hạn
Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp làcao hay thấp Nếu tỷ lệ này càng dần tới 1 thì doanh nghiệp có tình hình tài chínhcàng bình thường tương đương với việc có đủ khả năng thanh toán các khoản nợngắn hạn
Tỷ suất thanh toáncủa vốn lưu động =
Tổng số vốn bằng tiềnTổng số vốn bằng tài sản lưu
độngChỉ tiêu này cho thấy khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu động Nếu chỉtiêu này lớn hơn 0,5 hoặc nhỏ hơn 0.1 đều không tốt vì sẽ gây ra ứ động vốn hoặcthiếu vốn cho hoạt động thanh toán
Tỷ suất thanh toántức thời =
Tổng số vố bằng tiềnTổng số nợ ngắn hạnNếu tỷ suất này lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, nếu nhỏhơn 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh toán nợ Vì vậy có thểxảy ra khả năng bán gấp hàng hóa để thanh toán nợ Tuy nhiên, nếu tỷ suất này quá
Trang 16cao thì cũng không tốt vì lúc này vốn bằng tiền quá nhiều Điều đó phản ánh khảnăng quay vòng vốn chậm, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Một số chỉ tiêu khác cần được xem xét:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạnNếu chỉ tiêu này càng lướn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao.Nhưng khi vốn hoạt đồng quá cao thì lại làm giảm hiệu quả hoạt động đầu tư vàgiảm thu nhập vì phần tài sản lưu động nằm dư ra so với nhu cầu chắc chắn khônglàm tăng thêm thu nhập
Tuy nhiên, do hoạt động tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của hoạt động sảnxuất kinh doanh và có mối liên hệ trực tiếp, hai chiều với hoạt động sản xuất kinhdoanh Vì vậy, để quá trình đánh giá được sâu sắc hơn, chúng ta cũng cần phải đinghiên cứu các báo cáo tài chính khác
Khái quát tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh qua phân tích bảng cân đối kế toán:
- Tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự thay đổicác chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên BCĐKT về nguồn vốn và cách sử dụng vốncủa doanh nghiệp vào công việc cụ thể Sự thay đổi của các tài khoản trên BCĐKTtừ kỳ trước tới kỳ này cho ta biết nguồn vốn và sử dụng vốn
Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, trước tiên người tatrình bày BCĐKT dưới dạng BCĐ báo cáo từ tài sản đến nguồn vốn, sau đó sosánh số liệu cuối kỳ với đầu kỳ trong từng chỉ tiêu của BCĐ để xác định tình hinhtăng giảm vốn trong doanh nghiệp theo nguyên tắc:
+ Nếu tăng phần tài sản và giảm phần nguồn vốn thì được xếp vào cột sử dụngvốn
Trang 17+ Nếu giảm phần tài sản và phần tăng nguồn vốn thì được xếp vào cột nguồn vốn.+ Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối với nhau.
Cuối cùng, tiến hàng sắp xếp các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn theo nhữngtrình tự nhất định tùy theo mục tiêu phân tích và phản ánh vào bảng biểu
Nội dung phân tích này, cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng, giảmbao nhiêu, tình hình sử dụng vốn như thế nào Những chỉ tiêu nào là chủ yếu, ảnhhưởng tới sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp Từ đó có giảipháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả vốn trong doanh nghiệp
- Tình hình đảm bảo nguồn vốn:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tài sản cố định, đầu tưdài hạn, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn Để hình thành hai loại tài sản này,phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứng, bao gồm nguồn vốn dài hạn và nguồn vốnngắn hạn Nguồn vố dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành TSCĐ, phần dưcủa nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thành lên TSCĐ
Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn, các nhà phântích còn quan tâm đến chỉ tiêu vốn lưu động ròng hay vốn lưu động thường xuyêncủa doanh nghiệp Chỉ tiêu này cũng là một yếu tố quan trọng và cần thiết cho việcđánh giá điều kiện cân bằng tài chính của một doanh nghiệp Nó được xác định làphần chênh lệc giữa tổng tài sản lưu động và tổng nợ ngắn hạn (Vốn lưu động ròng
= TSLĐ – Nợ ngắn hạn)
Vấn đề về khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô phụ thuộc phầnlớn vào vốn lưu động nói chung và vốn lưu động ròng nói riêng Do vậy, sự pháttriển còn được thể hiện ở sự tăng trưởng vốn lưu động ròng Mức độ an toàn của tàisản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của vốn lưu động thường xuyên
Muốn phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cần phải tính toán và so sánh giữacác nguồn vốn với tài sản Nói cách khác, khi nguồn vốn dài hạn < TSCĐ hay
Trang 18TSLĐ < Nguồn vốn ngắn hạn, nghĩa là nguồn vốn thường xuyên < 0 Do đó nguồnvốn dài hạn không đủ đầu tư cho TSCĐ, doanh nghiệp phải đầu tư vào TSCĐ mộtphần nguồn vốn ngắn hạn
Khi đó cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất cân bằng, doanh nghiệp phảidùng một phần TSCĐ để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn Khi đó, doanh nghiệpcần tăng cường huy động vốn ngắn hạn hoặc giảm qui mô đầu tư dài hạn
Trường hợp ngược lại, tức là nguồn vốn lưu động thường xuyên dương (>0) chothấy nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào TSCĐ Đồng thời TSLĐ >nguồn vốn ngắn hạn, do vậy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt
Trường hợp nguồn vốn dài hạn đủ tài trợ cho TSCĐ và TSLĐ, nghĩa là vốn lưuđộng thường xuyên = 0 Lúc này doanh nghiệp có đủ khả năng trả các khoản nợngắn hạn, tình hình tài chính doanh nghiệp lành mạnh, nghĩa là nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho mộtphần tài sản lưu động không phải là tiền
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên = Tồn kho và các khoản phải thu – Nợ ngắnhạn
Khái quát tình hình tài chính qua Báo cáo kết quả kinh doanh
Đây là một bản báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tình hình và kết quả hoạt độngkinh doanh theo từng loại hoạt động của doanh nghiệp
Nội dung của báo cáo này thay đổi theo từng thời kỳ tùy thuộc vào yêu cầu quản
lý, nhưng khi đánh giá khái quát tình hình tài chính thì phân tích báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh phải phản ánh được bốn nội dung cơ bản đó là doanh thu, giávốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp thông qua phươngtrình: Lãi (Lỗ) = Doanh thu – Chi phí bán hàng – Chi phí hoạt động kinh doanh
Trang 19Sau khi đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, ta đi vào đánh giáchi tiết một số chỉ tiêu tài chính cơ bản của doanh nghiệp như sau:
1.5.1 Nhóm chỉ tiêu về cấu trúc tài chính
Phân tích cấu trúc tài chính là việc phân tích tình hình huy động, sử dụng vốn vàmối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp.Qua đó giúp các nhà quản lý nắm được tình hình phân bổ tài sản và các nguồn tàitrợ tài sản, biết được nguyên nhan cũng như các dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằngtài chính
Thực chất của việc phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp bao gồm các nộidung: Phân tích cơ cấu tài sản, nguồn vốn và mối quan hệ giữa chúng
1.5.1.1 Cơ cấu tài sản – nguồn vốn
- Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách so sánhtình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộphận tài sản chiếm trong tổng số tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sảnchiếm trong tổng số tài sản được xác định như sau:
Tỷ trọng này cho phép nhà quản lý đánh giá được khái quát tình hình phân bổ (sửdụng) vốn và đánh giá được việc sử dụng vốn có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh
và có phục vụ tích cực cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp hay không
- Phân tích cơ cấu nguồn vốn: Cũng tiến hành tương tự như phân tích cơ cấutài sản Trước hết, cần tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phântích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng sốnguồn vốn Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng sốnguồn vốn được xác định như sau:
Trang 20Tỷ trọng trên chỉ ra được cơ cấu huy động vốn, biết được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các nhà cho vay, nhà cung cấp, người lao động, ngân sách Tỷ trọng này cũng cho thấy được mức độ độc lập về tài chính cũng như xu hướng biếnđộng của cơ cấu nguồn vốn huy động.
1.5.1.2 H số về khả năng thanh toán lãi vay ện bằng sơ đồ sau:
Khả năng thanh
toán lãi vay =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
CP trả lãi vay
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán lãi vay thông qua lợi nhuận trước thuế vàlãi vay; đây cũng chính là khả năng sinh lợi trên các khoản nợ Chỉ tiêu này càngcao (càng lớn hơn 1) bao nhiêu càng chứng tỏ tình trạng tài chính của doanhnghiệp càng lành mạnh bấy nhiêu Nếu chỉ tiêu này càng gần 1, thì nó chỉ ra là chiphí vốn vay của doanh nghiệp đang quả lớn mà doanh nghiệp không thể gánh nổibằng EBIT, theo đó, lợi nhuận sau thuế sẽ giảm sút, buộc doanh nghiệp phải tìmkiếm nguồn tài trợ khác để giảm chi phí vốn, tăng lợi nhuận và tăng giá trị doanhnghiệp
1.5.1.3 H s n t ng t i s nện bằng sơ đồ sau: ố nợ tổng tài sản ợc vận dụng trong phân tích tài chính có dạng: ổng tài sản ài chính có dạng: ản
Trang 21doanh nghiệp đối với các khoản nợ Đối với chủ nợ, với mục tiêu là an toàn chocác khoản vay, tức là phải đảm bảo thu hồi đầu tư cả gốc là lãi đúng thời han, thì
họ mong muốn hệ số này càng cao càng tốt
Ngay cả trong trường hợp xấu nhất là doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản thìcác khoản nợ của họ vẫn sẽ được giải quyết theo đúng trình tự pháp lý hiện hành.Còn đối với chủ doanh nghiệp, họ lại thích và mong muốn một hệ số nợ lớn Nóđồng nghĩa với việc sẽ được sử dụng một lượng tiền nhiều hơn của người kháctrong trong tổng nguồn vốn có được vào hoạt động kinh doanh của mình
Trong các khoản nợ của doanh nghiệp, sử dụng vốn của người khác bằng cách đivay (sử dụng nợ vay) càng cao thì tác động đòn bẩy tài chính càng lớn mà quyền
sử hữu của các cổ đông của doanh nghiệp vẫn đảm bảo không bị pha loãng
Tuy nhiên, duy trì một hệ số nợ quá cao để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận sẽ dẫn tớirủi ro tài chính do mất cân đối về cơ cấu vốn giữa nguồn vốn chủ sở hữu và vốnvay Cho dù tình hình kinh doanh của doanh nghiệp có khả quan, nhẹ thì dẫn tớitâm lý thoái lui đầu tư, nặng sẽ dẫn tới phá sản doanh nghiệp Do đó, xác định một
tỷ lệ nợ hợp lý sẽ là cơ sở để tạo ra cơ cấu vốn tối ưu và khả năng kinh doanh chodoanh nghiệp
1.5.2 Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động
1.5.2.1 Hệ số vòng quay hàng tồn kho
Nhìn chung, ây l nhóm xem xét hiêu qu s d ng v n c a doanh nghi p,đ ài chính có dạng: ản ử dụng vốn của doanh nghiệp, ụng trong phân tích tài chính có dạng: ố nợ tổng tài sản ủa doanh nghiệp, ện bằng sơ đồ sau:
hi u qu ho t ện bằng sơ đồ sau: ản ạng: động sản xuất kinh doanh qua chỉ tiêu doanh thu thuần.ng s n xu t kinh doanh qua ch tiêu doanh thu thu n.ản ất kinh doanh qua chỉ tiêu doanh thu thuần ỉ tiêu doanh thu thuần ần
Vòng quay hàng
Giá vốn hàng bánHàng tồn kho bình quân
Trong đó: Số dư bình quân hàng tồn kho = (tồn đầu kỳ + tồn cuối kỳ)/2.
Trang 22Như đã biết, hàng tồn kho là một loại TSLĐ có tính chất dự trữ nhằm đảm bảo hoạtđộng sản xuất của doanh nghiệp được diễn ra bình thường, liên tục, đáp ứng nhucầu thị thường qua từng thời kỳ Do vậy, hàng tồn kho nhiều hay ít chịu sự chi phốicủa đặc điểm hàng hoá, đặc điểm thị trường và kế hoạch kinh doanh cũng như sựnhạy bén với nhu cầu thị trường của nhà quản lý doanh nghiệp
Nếu tỷ lệ này cao thì doanh nghiệp sẽ tạo ra khả năng tiêu thụ hàng hoá khả quan.Song nếu tỷ lệ này quá thấp thì tốc độ tiêu thụ hàng hoá bị trì trệ, giảm khả năngchi trả và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh Khi đó, doanh nghiệp sẽ phải cânnhắc đến các chương trình tiếp thị sản phẩm và đề ra một chiến lược kinh doanhhiệu quả hơn
1.5.2.2 H số luân chuyển tài sản ngắn hạn ện bằng sơ đồ sau:
Chỉ tiêu này cho biết khả năng chuyển đổi thành tiền của các tài sản ngắn hạn, chỉtiêu này càng cao, chứng tỏ tốc độ chuyển đổi (luân chuyển) tài sản ngắn hạn thànhvốn bằng tiền, chứng khoán dễ thanh khoản càng nhanh, góp phần nâng cao khảnăng thanh toán
1.5.2.3 Hi u suất sử dụng tổng tài sản ện bằng sơ đồ sau:
Trang 231.5.2.4 Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình
Các khoản phải thu Doanh thu bình quân ngàyHoặc
Kỳ thu tiền bình
Các khoản phải thu x 360 ngày
Doanh thu
Trong đó: Số vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần/phải thu bình quân
Phải thu bình quân = (Số đầu kỳ + số cuối kỳ)/2
Kỳ thu tiền bình quân cho biết thông tin về khả năng thu hồi vốn trong thanh toán,đặc biệt là thu hồi khoản từ bán chịu hàng hoá Nó chịu tác động bởi nhiều yếu tố:Chính sách bán hàng, chu kỳ sản xuất kinh doanh, chính sách tín dụng, nhu cầuxâm nhập hay mở rộng thị trường, tình trạng của nền kinh tế…
Chỉ tiêu này có giá trị cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã bị chiếm dụng vốn,điều này rất có thể đe doạ tới khả năng thanh toán của chính doanh nghiệp Tuynhiên, đổi lại, doanh nghiệp sẽ tăng được lợi nhuận bổ sung do tăng doanh số bán.Ngược lại, nếu thời hạn thanh toán nợ giảm xuống, chứng tỏ rằng doanh nghiệp đã
có những cải thiện trong hệ thống quản lý bán hàng, những chặt chẽ hơn trongchính sách bán chịu hoặc đã đề ra những biện pháp thu hồi nợ gắt gao hơn
1.5.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
1.5.3.1 H số thanh toán ngắn hạn ện bằng sơ đồ sau:
Trang 24Hệ số thanh toán
ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này còn được gọi là hệ số luân chuyển TSLĐ hay tỷ số thanh khoảnchung Đây là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, phản ánhmức độ các khoản nợ ngắn hạn của chủ nợ được trang trải bằng bao nhiêu lần cácloại tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong một thời gian tương đương với thờihạn của khoản nợ đó Chỉ số này càng cao, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn củadoanh nghiệp càng tốt và ngược lại
1.5.3.2 H số thanh toán nhanh ện bằng sơ đồ sau:
Hệ số thanh toán
Tiền và các khoản tương
đương tiềnTổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này còn gọi là tỷ số thanh toán tương đối, xem xét khả năng trả nợ củadoanh nghiệp từ hai nguồn là vốn bằng tiền và khoản phải thu So với hệ số khảnăng thanh toán ngắn hạn, đây là hệ số có khả năng thanh khoản cao hơn
Chỉ tiêu này cao chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp dồi dào, tuynhiên, tỷ lệ này duy trì ở mức độ nào cho phù hợp là điều mà doanh nghiệp cầntính đến trong cơ cấu chung của ngành, trong mục tiêu ưu tiên của doanh nghiệp vànhiều yếu tố khác Bởi nếu doanh nghiệp duy trì một lượng tiền mặt và phải thuquả cao so với số nợ ngắn hạn để duy trì khả năng thanh toán cao thì sẽ rất dễ rơivào tình trạng ứ đọng vốn kinh doanh, mất cơ hội kinh doanh và giảm hiệu quả sửdụng vốn Nếu quá thấp kéo dài sẽ ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và cóthể dẫn tới doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản
Trang 251.5.3.3 H số thanh toán tức thời ện bằng sơ đồ sau:
Hệ số thanh toán
1.5.4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời
1.5.4.1 H số doanh lợi doanh thu ện bằng sơ đồ sau:
Doanh lợi doanh
Lợi nhuận sau thuếDoanh thu thuầnChỉ tiêu này phản ánh: Một đồng doanh thu bỏ ra, doanh nghiệp thu được baonhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Hệ số này càng cao, chứng tỏ công ty kinh doanhcàng có hiệu quả Hệ số này thường được sử dụng để xem xét khả năng tạo ra lợinhuận từ các hoạt động của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp riêng lẻ khác
1.5.4.2 H số doanh lợi vốn chủ sở hữu ện bằng sơ đồ sau:
Trang 26tỷ lệ cổ tức và tăng thị giá cổ phiếu mình đang nắm giữ trên thị trường.
Chỉ tiêu trên theo dõi số lợi nhuận sau thuế được tạo ra trên 1 đồng vốn chủ sởhữu Nếu tỷ lệ này cao thì chứng tỏ rằng doanh nghiệp đang ở đà tăng trưởng bềnvững, đầu tư vào doanh nghiệp là một quyết định đúng đắn Nhờ vậy, doanhnghiệp có thể thêm nguồn vốn kinh doanh qua thị trờng tài chính (đặc biệt là từ thịtrường chứng khoán)
Mặc dù vậy, tỷ lệ lợi nhuận còn phải đặt trong một mối quan hệ với cơ cấu vốnhợp lý (sự tương đồng giữa vốn chủ sở hữu và các khoản nợ vay khác)
1.5.4.3 H số doanh lợi tài sản (ROA) ện bằng sơ đồ sau:
Doanh lợi tài sản =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản
Tỷ lệ tài chính trên cho ta biết 1 đồng vốn đầu tư của doanh nghiệp sẽ tạo ra baonhiêu đồng lợi nhuận; được sử dụng như là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá khảnăng sinh lời vốn đầu tư, hiệu quả và cách thức sử dụng vốn cũng như mức độ mạohiểm của hoạt động kinh doanh; bên cạnh đó còn tạo ra một thông tin phản hồinâng cao năng lực thu hút vốn đầu tư
1.6 Hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp
1.6.1 Khái niệm hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang 27Trong tài chính, có thể hiểu một cách đơn giản hiệu quả phân tích tài chính doanhnghiệp là tập hợp các kết quả của hoạt động phân tích tài chính trong doanh nghiệpphù hợp với mục đích đưa ra được những quyết định tài chính của chủ doanhnghiệp và những đối tượng có liên quan
Hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp là mục tiêu mà các nhà phân tích tàichính muốn hướng đến Phân tích tài chính bao gồm rất nhiều đối tượng quan tâmtừ vĩ mô cho đến vi mô, thông tin vô cùng đa dạng, nhiều phương pháp phân tích,nội dung phân tích đề cập đến nhiều vấn đề Chính vì vậy, muốn phân tích tàichính đạt hiệu quả thì việc phân tích trước hết phải được quan tâm một cách đúngđắn, thực hiện phải khoa học ở tất cả các doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp cần được coi là một công việc nghiêm túc vì nó
có quan hệ trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như: Quyết địnhđầu tư, quyết định quản lý, kế hoạch mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng sảnphẩm, thu hút đầu tư Phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là việckhái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, cùng với việc tính toán đơn thuầnmột vài chỉ tiêu mang tính dập khuôn, máy móc, theo mẫu quy định sẵn mà cầnphải tìm tòi, nghiên cứu những chỉ tiêu mới sau đó kết hợp các chỉ tiêu đặt trongmối quan hệ hữu cơ để so sánh Các con số được tính toán mang tính định lượng,cần phải kết hợp với việc phân tích khoa học, logic để đưa ra những quyết định tàichính phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tài chính chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nó phản ánh một cách trungthực tình trạng tài chính doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanhnghiệp khác trong ngành Muốn vậy, thông tin sử dụng trong phân tích phải chínhxác, có độ tin cậy cao, cán bộ phân tích có trình độ chuyên môn giỏi Ngoài ra, sựtồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành cũng là một trong những nhân tố ảnhhưởng đến hiệu quả phân tích tài chính
Trang 28Khi tiến hành đánh giá chất lượng của hoạt động phân tích tài chính doanhnghiệp, chúng ta không chỉ căn cứ vào các chỉ tiêu tài chính mà cần xem xét đếnmột số yếu tố như sau:
- Thông tin đã được cung cấp đầy đủ?
Có thể nói, thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phântích tài chính Việc cung cấp thông tin có đầy đủ hay không ảnh hưởng rất lớn tớichất lượng của hoạt động phân tích tài chính Thông tin được chia ra làm hai loại làthông tin nội bộ doanh nghiệp cung cấp và thông tin thu thập từ bên ngoài, baogồm: Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, các thông tin về việc thay đổi chính sách,pháp luật, thông tin của các tổ chức phân tích tài chính… Từ những thông tin bêntrong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài liênquan đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp, người phân tích có thể thấyđược tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán xu hướngphát triển trong tương lai Việc thiếu đi một trong vài thông tin liên quan đến vấn
đề này có thể ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phân tích tài chính của doanhnghiệp Mặc dù, chất lượng phân tích tài chính phụ thuộc rất lớn vào nguồn thôngtin nhưng chỉ là phụ thuộc vào những thông tin đã qua chọn lọc và có chất lượng.Điều quan trọng là ở tính chính xác và trung thực của thông tin ở mức độ nào?Nguồn cung cấp thông tin có đáng tin cậy không?
- Liệu đây có phải là thông tin mới hay chưa?
Đây là muốn nói tới tính kịp thời của thông tin Thông tin mang tính độngrất cao, một thông tin có thể có giá trị hôm nay nhưng ngày mai thì chưa chắc dovậy để tạo nên các báo có chất lượng cần thiết cho phân tích tài chính các thông tinthu thập được cần phải được có mức cập nhật cao độ đến từng chi tiết, theo từngngày để đảm bảo tính kịp thời Tính kịp thời của thông tin làm tăng chất lượngphân tích còn thể hiện ở chỗ: các số liệu để phân tích được tập hợp qua nhiều năm
và có độ chính xác cao
- Thông tin có độ chính xác tới đâu?
Trang 29Tính chính xác của thông tin ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của công tácphân tích tài chính doanh nghiệp Có thể nói, yếu tố chính xác được quan tâm hàngđầu, bởi vì phân tích tài chính dựa trên các con số tính toán được và chọn ra chỉtiêu nào cần thiết, dựa trên các con số này mà các nhà phân tích đưa ra nhữngquyết định tài chính và những giải pháp do vậy chỉ cần một sự sai sót nhỏ có thểdẫn đến những sai phạm lớn cho những kết luận tài chính
Tính kịp thời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làm nên sự phù hợp của thôngtin Thiếu đi sự phù hợp và chính xác, thông tin không còn độ tin cậy và điều nàytất yếu ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp
1.6.2 Các nhân tố tác động đến hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp, cóthể kể tới một số nhân tố sau:
- Yếu tố con người:
Nhân tố con người đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phân tích tàichính nói chung và phân tích tài chính trong doanh nghiệp nói riêng Người thựchiện phân tích tài chính doanh nghiệp trước hết phải là người có trình độ để có thểtừ kết quả phân tích chính xác đưa ra được các kết luận đúng đắn Phải có sự hiểubiết về doanh nghiệp, tình hình chung về cả kinh tế, xã hội và nắm được các nhân
tố tác động tới hoạt động của doanh nghiệp Người thực hiện phân tích tài chínhdoanh nghiệp cũng phải có mục đích rõ ràng để định hướng cho cả quá trình phântích nhằm đưa ra được một kết luận phù hợp
Có được thông tin phù hợp và chính xác nhưng tập hợp và xử lý thông tin đónhư thế nào để đưa lại kết quả phân tích tài chính có chất lượng cao lại là điềukhông đơn giản Nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ thực hiện phântích Từ các thông tin thu thập được, các cán bộ phân tích phải tính toán các chỉtiêu, thiết lập các bảng biểu Tuy nhiên, đó chỉ là những con số và nếu chúng đứng
Trang 30riêng lẻ thì tự chúng sẽ không nói lên điều gì Nhiệm vụ của người phân tích làphải gắn kết, tạo lập mối liên hệ giữa các chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin về điềukiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp để lý giải tình hình tài chính của doanhnghiệp, xác định thế mạnh, điểm yếu cũng như nguyên nhân dẫn đến điểm yếutrên Hay nói cách khác, cán bộ phân tích là người làm cho các con số “biết nói”.Chính tầm quan trọng và sự phức tạp của phân tích tài chính đòi hỏi cán bộ phântích phải có trình độ chuyên môn cao
Kết quả phân tích tài chính luôn mang dấu ấn cá nhân do vậy nhà phân tích
có những đánh giá nhận xét riêng của mình về tình hình tài chính doanh nghiệp làđiều không thể tránh khỏi Nhà phân tích phải trung thực ý thức được tầm quantrọng và nhiệm vụ của mình thì việc phân tích tài chính mới có hiệu quả cao Khiđã xác định được người thực hiện phân tích chính thì cũng cần lập một ban hỗ trợcông tác phân tích như thu thập số liệu, lập kế hoạch, kiểm tra và giám sát
- Yếu tố liên quan đến nguồn thông tin:
Thông tin là một vấn đề hết sức cần thiết trong tất cả các lĩnh vực nói chung và trongphân tích tài chính nói riêng Thông tin là vô cùng quan trọng vì vậy phải đặc biệtchú ý đến nguồn cung cấp thông tin xem có đáng tin cậy không? Ví dụ: Khi nghiêncứu về sự thay đổi trong cơ chế cho vay tín dụng của các ngân hàng thì một trongnhững nguồn thông tin tin cậy là trang web chính thức của Ngân hàng nhà nước xem
có thay đổi trong cơ chế, chính sách của nhà nước không
Nếu không có thông tin hoặc thiếu thông tin thì việc phân tích tài chính không thểthực hiện được, tuy nhiên nếu phân tích trong điều kiện thông tin không đầy đủchính xác thì chất lượng phân tích sẽ không có ý nghĩa
Nguồn thông tin tham khảo như các chỉ tiêu trung bình ngành hay các chính sách,qui định của nhà nước cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc đưa ra đánh giá và kếtluận trong phân tích tài chính Việc phân tích tài chính của doanh nghiệp sẽ có ýnghĩa hơn khi có sự tồn tại của các chỉ tiêu trung bình ngành đây là cơ sở thamchiếu quan trọng trong khi tiến hành phân tích Người ta có thể nói các tỷ lệ tài
Trang 31chính của doanh nghiệp là cao hay thấp, tốt hay xấu khi đem so sánh với tỷ lệ trungbình ngành Nhà quản lý doanh nghiệp đánh giá được thực trạng tài chính củamình mà từ đó có những giải pháp khắc phục Các chính sách, qui định của nhànước cũng được dùng làm cơ sở tham chiếu để đưa ra phân tích nguyên nhân cácthực trạng hay sự thay đổi trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp
- Phương pháp phân tích được lựa chọn:
Việc áp dụng phương pháp phân tích tài chính nào để đánh giá thực trạng tài chínhcủa doanh nghiệp là một điều rất quan trọng Trong điều kiện hiện nay, phải kếthợp các phương pháp phân tích tài chính tùy theo từng mục tiêu cụ thể của nhàquản lý quan tâm thì việc phân tích mới mang lại hiệu quả như ý Tuy nhiên, thựchiện phương pháp phân tích nào thì phải thực hiện nhất quán
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CP
SẢN XUÂT VÀ DỊCH VỤ MS (CÔNG TY MS) 2.1 Khái quát về Công ty CP Sản xuất & Dịch vụ MS
2.1.1 Thông tin cơ bản về doanh nghiệp
Công ty Cổ phần Sản xuất và Dịch vụ MS được thành lập tháng 7 năm 2008 vàhoạt động theo giấy phép kinh doanh số 0102760271 ngày 27 tháng 5 năm 2008
Trụ sở chính Công ty đặt tại: Số nhà 172, ngõ 192 phố Lê Trọng Tấn, PhườngĐịnh Công, Quận Hoàng Mai, Hà Nội Công ty hoạt động chủ yếu trên lĩnh vựccung cấp thiết bị, phụ tùng thay thế, thiết bị phòng thí nghiệm cho các nhà máygiấy và bột giấy
- Tên doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Sản xuất và Dịch vụ MS
- Tên giao dịch nước ngoài: MS Manufacturing & Service Joint Stock Company
Trang 32- Tên viết tắt: MS., JSC
- Địa chỉ trụ sở chính: Số 172, ngõ 192 phố Lê Trọng Tấn, Phường ĐịnhCông, Quận Hoàng Mai, Hà Nội
- Điện thoại: 04 3552 7691 Fax: 04 3 552 7693
- Email: ms-jsc@vnn.vn
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
- Giấy phép đăng ký kinh doanh số: 0102760271 ngày 27 tháng 05 năm 2008
- Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty:
+ Tư vấn thiết kế, chuyển giao công nghệ, công nghệ thông tin
+ Nâng cấp dây chuyền
+ Cung cấp thiết bị đồng bộ hay thiết bị riêng lẻ, phụ tùng thay thế cho cảphần sản xuất bột và sản xuất giấy
+ Tư vấn chuyển giao công nghệ, công nghệ thong tin
- Quy mô của doanh nghiệp:
+ Tổng số vốn: 1.868.000.000 đồng
+ Tổng số lao động: 20 người
Công ty được thành lập với trụ sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị
và kinh tế của cả nước Hiện nay, Công ty Cổ phần Sản xuất và Dịch vụ MS là đạidiện chính thức của Hãng GL&V tại Việt Nam, một trong những tập đoàn chế tạothiết bị lớn trên thế giới trong ngành công nghiệp giấy Công ty CP Sản xuất &Dịch vụ MS có thể tư vấn thiết kế, nâng cấp dây chuyển, cung cấp các thiết bị đồng
bộ cũng như thiết bị riêng lẻ, phụ tùng thay thế cho cả phần sản xuất bột và sảnxuất giấy, đặc biệt là: hệ thống lọc cát, hệ thống thu hồi sơ sợi, hệ thống hòm phun,hệ thống nghiền và sàng áp lực
Trang 331.1.2 S đ t ch c ơ đồ tổ chức ồ tổ chức ổ chức ức
1.1.2.1 Giới thiệu các phòng ban
Tổ chức b máy nhân sự của Công ty Cổ phần Sản xuất & Dịch vụ MS có thể được sơ đồ hóa theo mô ộng sản xuất kinh doanh qua chỉ tiêu doanh thu thuần hình sau:
Ban Giám đốc
Trang 34- Phòng Kỹ thuật: 04 cán bộ
- Phòng Kế toán - Hành chính: 02 nhân viên hậu cần, hành chính nhân sự, 02cán bộ kế toán
1.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban
Văn phòng trụ sở chính:
Ban Giám đốc:
Giám đốc:
Đứng đầu là Giám đốc, có chức năng quản lý chung toàn bộ hoạt động của tất cảcác phòng ban trong công ty thực hiện các kế hoạch, quy định do Ban giám đốc đềra
- Giám đốc đưa ra các đường hướng phát triển Công ty
- Chỉ đạo xây dựng kế hoạch hợp tác, mở rộng thị trường
- Đề ra các phương hướng, kế hoạch kinh doanh
- Định hướng hoạt động cho các phòng ban trong giai đoạn ngắn và dài hạn
- Trực tiếp quyết định vấn đề nhân sự
Phó Giám đốc:
Với vị trí của mình, Phó giám đốc Công ty có những quyền lợi và nhiệm vụ sau:
- Hỗ trợ Giám đốc trong việc xây dựng và thực hiện những chính sách vàđường hướng phát triển công ty
- Trực tiếp chỉ đạo các phòng ban thực hiện các chỉ thị do Giám đốc Công tyđưa ra
- Hỗ trợ Giám đốc trong các công tác đối ngoại
- Các công việc khác theo chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Công ty
Trang 35 Trợ lý giám đốc:
- Sắp xếp lịch họp của Giám đốc và Phó giám đốc
- Hỗ trợ tư vấn khi cần thiết
- Các công việc khác theo yêu cầu của Giám đốc và Phó Giám đốc
Phòng marketing:
Trưởng phòng: Trưởng phòng Marketing có nhiệm vụ xây dựng và đệ trình
lên Ban giám đốc các kế hoạch quảng cáo, mở rộng, phát triển thị trường
- Trưởng phòng Marketing có thể đề xuất các hình thức quảng cáo mới, xâydựng chiến lược phát triển lâu dài cho Công ty
- Chỉ đạo các cán bộ dưới quyền thực hiện những kế hoạch đã được phê duyệt
và quản lý hoạt động chung của phòng
- Đảm bảo tính hiệu quả trong mọi hoạt động của cán bộ dưới quyền
Nhân viên viết bài quảng cáo có trách nhiệm soạn thảo các bài viết quảngcáo cho Công ty và phối hợp với nhân viên phát triển thị trường trong cáccông tác tổ chức hội thảo gặp gỡ đối tác, liên hệ các đơn vị cung cấp dịch vụquảng cáo
Nhân viên liên hệ, phát triển thị trường có trách nhiệm tìm hiểu thị trườnggiàu tiềm năng, lên kế hoạch khảo sát thị trường, để xuất các phương ánphát triển và mở rộng thị trường trong và ngoài nước
Phòng kinh doanh:
Các cán bộ kinh doanh co nhiệm vụ duy trì những quan hệ kinh doanh hiện có,nhận đơn đặt hàng; thiết lập những những mối quan hệ kinh doanh mới bằngviệc lập kế hoạch và tổ chức lịch công tác hàng ngày đối với những quan hệkinh doanh hiện có hay những quan hệ kinh doanh tiềm năng khác
Trang 36- Bên cạnh đó là tiếp xúc khách hàng, ghi nhận toàn bộ các thông tin củakhách hàng trong báo cáo tiếp xúc khách hàng Báo cáo nội dung tiếp xúckhách hàng trong ngày cho Trưởng nhóm kinh doanh.
- Phát triển việc kinh doanh ở địa bàn được giao phó, Giao dịch, tìm hiểu nhucầu của khách hàng Tìm kiếm khách hàng tiềm năng, chăm sóc khách hàng
và bán hàng theo lịch trình đã định Mở rộng thị trường
- Nắm được quy trình tiếp xúc khách hàng, quy trình xử lý khiếu nại thôngtin, quy trình nhận và giải quyết thông tin khách hàng, ghi nhận đầy đủ theocác biểu mâu của các quy trình này
- Lập kế hoạch công tác, báo cáo kết quả theo yêu cầu của trường phòng
Phòng Kỹ thuật:
Nhiệm vụ chủ yếu là tư vấn cho ban Giám đốc, khách hang về mặt kỹ thuật
- Giải đáp và xử lý những khiếu nại, hỏng hóc cần sửa chữa của máy móctrong thời gian bảo hành
- Điều tra các sự cố, kiểm tra máy móc trước khi xuất xưởng,bàn giao chokhách hàng
- Duyệt dự toán
Phòng Kế toán – Hành chính:
- Phối hợp với Phòng kinh doanh để lưu trữ hồ sơ và thông tin khách hàng
- Phụ trách toàn bộ công việc liên quan đến hành chính và kế toán của công ty
- Các công việc liên quan đến tài chính kế toán của Công ty
Qua sơ đồ và phân tích mô hình hoạt động cũng như nhiệm vụ của các phòng bannhư trên có thể thấy bộ máy Công ty đã được tổ chức chặt chẽ và có sự phân côngtương đối rõ ràng giữa các phòng ban, tuy nhiên khối lượng công việc tập trung