Trong xu thế hội nhập hiện nay sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt .Các doanh nghiệp muốn tồn tại,đứng vững trên thị trường,muốn sản phẩm của mình có thể cạnh tranh với các sản phẩm của các doanh nghiệp khác thì không cách nào khác phải tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho có hiệu quả . Do vậy, tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề đang được rất nhiều các doanh nghiệp quan tâm chú trọng. Công ty TNHH Hóa Dệt Hà Tây có n.iệm vụ chính là gia công sản xuất giày dép để xuất khẩu.Là một doanh nghiệp sản có mặt hàng được xuất khẩu công ty phải chịu nhiều sự cạnh tranh trong nước cũng như ngoài nước,muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi các nhà quản lý phải thường xuyên cải tiếng nâng cao chất lương sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm.Trong quá trình tìm hiểu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty,em thấy việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một vấn đè bức xúc đặt ra cho công ty cần giải quyết.Xuất phát từ thực tiễn đó,cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Đỗ Thị Hải Hà ,và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú nhân viên của Công ty TNHH Hóa Dệt Hà Tây em đã chọn đề tài : ‘Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH Hóa dệt Hà Tây” Với mục đích đó chuyên đề được chia làm 3 phần Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chương II: Phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty TNHH hóa dệt Hà Tây trong thời gian qua Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty TNHH hóa dệt Hà Tây
Trang 1Lời nói đầu
Trong xu thế hội nhập hiện nay sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt Cácdoanh nghiệp muốn tồn tại,đứng vững trên thị trường,muốn sản phẩm củamình có thể cạnh tranh với các sản phẩm của các doanh nghiệp khác thìkhông cách nào khác phải tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho cóhiệu quả Do vậy, tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh là vấn đề đang được rất nhiều các doanh nghiệp quan tâm chú trọng
Công ty TNHH Hóa Dệt Hà Tây có n.iệm vụ chính là gia công sảnxuất giày dép để xuất khẩu.Là một doanh nghiệp sản có mặt hàng được xuấtkhẩu công ty phải chịu nhiều sự cạnh tranh trong nước cũng như ngoàinước,muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi các nhà quản lý phải thườngxuyên cải tiếng nâng cao chất lương sản phẩm và hạ giá thành sảnphẩm.Trong quá trình tìm hiểu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tạicông ty,em thấy việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một vấn đè bức xúc đặt
ra cho công ty cần giải quyết.Xuất phát từ thực tiễn đó,cùng với sự hướng dẫn
tận tình của cô giáo Đỗ Thị Hải Hà ,và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú nhân viên của Công ty TNHH Hóa Dệt Hà Tây em đã chọn đề tài : ‘Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH Hóa dệt Hà Tây”
Với mục đích đó chuyên đề được chia làm 3 phần
Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chương II: Phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công
ty TNHH hóa dệt Hà Tây trong thời gian qua
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty TNHH hóa dệt Hà Tây
Trang 2CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
I.Lý luận chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trungcủa sự phát triển kinh tế theo chiều sâu,phản ánh trình độ khai thác các nguồnlưc (nhân lực,vật lưc,tiền tốn)và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quátrình tái sản xuất để đạt được các mục tiêu kinh doanh
Nếu kí hiệu: H _Hiệu quả kinh doanh
K _ Kết quả đạt được
C_ Hao phó nguồn lực gắn với kết quả đó
Thì ta có công thức để miêu tả hiệu quả kinh doanh
K
H= _
C
Như vậy hiệu quả kinh doanh là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của
sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mụctiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kì
2.Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Để hiểu rõ hơn bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phânbiệt được hai khái niệm về hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả là một phạm trù phản ánh những cái thu được sau một quátrình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó Kết quả baogiờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp và có thể biểu hiện bằng đơn vị hiệnvật như (tạ, tấn, kg, ) và đơn vị giá trị (đồng, triệu đồng, tỷ đồng, ) haycũng có thể phản ánh mặt chất lượng của sản xuất kinh doanh như uy tín củacông ty, chất lượng của sản phẩm Kết quả còn phản ánh quy mô hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 3Trong khi đó, hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ tận dụng cácnguồn lực sản xuất hay phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh.Hiệu quả kinh doanh không phải là số tuyệt đối mà là một số tương đối, là tỷ
số giữa kết quả và hao phí nguồn lực để có kết quả đó Việc xác định hiệu quảsản xuất kinh doanh cũng rất phức tạp bởi kết quả kinh doanh và hao phínguồn lực gắn với một thời kỳ cụ thể nào đó đều rất khó xác định một cáchchính xác
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trịdoanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh của mình Khi tiến hànhbất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, các doanh nghiệp đều phảihuy động sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có nhằm đạt được mục tiêu là tối
đa hoá lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh là một trong những công cụ, phươngpháp để doanh nghiệp đạt được mục tiêu đó
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt lợi nhuận tối đavới chi phí tối thiểu
II.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.Các nhân tố bên ngoài
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa kếtquả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đo,nó phản ánh trình dộ tậndụng các nguồn lực đầu vào để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.Các đạilượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra chịu tác động của rất nhiều nhân tốkhác nhau với các mức độ khác nhau.do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp.các nhân tố bên ngoài bao gồm:
Môi trường khu vực và quốc tế : môi trường kinh tế cũng như chính trị
ổn định là cơ sở thuận lợi giúp các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình đạt hiệu quả cao
Môi trường kinh tế quốc dân :bao gồm môi trường pháp lý môi trường
kinh tế ,văn hóa xã hội,các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng,trình độ khoa học kĩ
Trang 4thuật và công nghệ đây là các nhân tố vô cùng quan trọng tác động trực tiếptới hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường ngành :trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay ,trong hầu
hết các lĩnh vực kinh doanh ,môi trường nghành là nhân tố không nhỏ ảnhhưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nó bao gồm cácdoanh nghiệp trong ngành ,khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp khác,các sản phẩm thay thế ,người cung ứng và khách hàng.trong đó khách hàng làvấn đề vô cùng quan trọng được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm chú ý
2.các nhân tố bên trong
Bao gồm lực lượng lao đông,cơ cấu bộ máy quản trị,đặc tính về sản phẩm
và công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm,nguyên liệu và công tác đảm bảonguyên liệu,cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ sản xuất,khả năng tàichính,lao động tiền lương
Lực lượng lao động:lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao
động,trình độ sử dụng các nguồn lực khác ( máy móc nguyên liệu )nên tácđộng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Cơ cấu bộ máy quản trị: Nếu bộ máy quản trị được tổ chức với cơ cấu phù
hợp với nhiệm vự sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòng thời có sự phâncông phân nhiệm cụ thể giữa các thành viên của bộ máy quản trị sẽ đảm bảocho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
Đặc tính về sản phẩm :những đặc tính của sản phẩm như mẫu mã ,bao
bì,.nhãn hiệu là những yếu tố cạnh tranh không thể thiếu được.Các đặc tínhcủa sản phẩm là nhân tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp,góp phần lớn vào việc tạo uy tín,đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩmảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm:Tiêu thụ là khâu cuối cùng trong quá
trình sản xuất,Doanh nghiệp sản xuất ra có được tiêu thuh hay không mới làđiều quan trọng nhất.tốc độ tiêu thụ sản phẩm quyết định tốc độ sản xuất vànhịp độ cung ứng nguyên vật liệu
Trang 5Nguyên liệu và công tác đảm bảo nguyên liệu:nguyên liệu là một trong
những yếu tố đầu vào không thể thiếu của doanh nghiệp.chí phí sử dụngnguyên liệu thường chiếm tỉ lệ lớn trong chi phí kinh doanh và giá thành sảnphẩm nên việc sử dụng tiết kiệm nguyên liệu có ý nghĩa rất lớn đối với việcnâng cao giá thành sản phẩm.hạ được giá thành sản phẩm sẽ nâng cao khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ sản xuất: nếu doanh nghiệp có trình độ
kĩ thuật sản xuất cao có công nghệ tiên tiến và hiện đại cơ sở vật chất kĩ thuậttốt sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp tiết kiệm được lượng nguyên vật liệu nângcao năng suất và chất lượng sản phẩm còn nếu như trình độ kĩ thuật sản xuấtcủa doanh nghiệp thấp kém hay công nghệ sản xuất lạc hậu, hay thiếu đồng
bộ cơ sở vật chất kĩ thuật kém sẽ làm cho năng suất chất lượng sản phẩm củadoanh nghiệp thấp làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Khả năng tài chính :Tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động mạnh
tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Khả năng tài chính ảnh hương trựctiếp tới uy tín của doanh nghiệp,khả năng chủ động sản xuất kinh doanh ,tốc
độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Lao động và tiền lương: lao động là 1 trong các yếu tố đầu vào quan
trọng,nó tham gia mọi quá trình sản xuất kinh doanh nên có ảnh hưởng trựctiếp.Bên cạnh đó tiền lương,thu nhập cảu người lao động cũng ảnh hưởng trựctiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vì tiền lương cũng là một bộphân cấu thành chi phí sản xuất của doanh nghiệp và nó còn tác động tới tâm
lý của người lao động trong doanh nghiệp
III: Hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1 Hiệu quả kinh doanh tổng hợp:
Để đánh giá Hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp của toàn doanhnghiệp người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu Doanh thu trên một đồng chi phí: cho biết với một đồng Chi
phí bỏ ra, doanh nghiệp tạo ra được mấy đồng Doanh thu
Trang 6Doanh thu trên một
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳTổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trongkỳ
Chỉ tiêu Doanh thu trên một đồng vốn kinh doanh: phản ánh một đồng
Vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng Doanh thu
Chỉ tiêu doanh lợi theo chi phí: cho biết bỏ ra một đồng Chi phí đem lại
bao nhiêu đồng Lợi nhuận
Chỉ tiêu Doanh lợi theo vốn kinh doanh: cho biết một đồng vốn kinh
doanh đem lại bao nhiêu đồng Lợi nhuận
Chỉ tiêu Doanh lợi doanh thu thuần: phản ánh một đồng Doanh thu
thuần đem lại bao nhiêu đồng Lợi nhuận
2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động:
Doanh thu trên một
đồng vốn kinh doanh =
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳVốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Doanh lợi theo chi phí =
Lợi nhuận sau thuế trong kỳTổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trongkỳ
Doanh lợi theo vốn
Trang 7Lao động là yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất, hiệu quả sử dụng laođộng góp phần nâng cao hiệu quả chung của toàn doanh nghiệp Chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả sử dụng lao động trong mỗi doanh nghiệp sẽ mang lại hiệu quảcao hay thấp Hầu hết doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường đều phải
sử dụng lao động, nhưng việc sử dụng lao động đó sẽ mang
lại hiệu quả ra sao thì ta cần đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu năng suất lao động: cho biết bình quân một lao động trong một
kỳ kinh doanh sẽ có khả năng đóng góp sức mình vào sản xuất để thu lại đượcbao nhiêu giá trị sản lượng cho doanh nghiệp
Chỉ tiêu sức sản xuất của lao động: cho biết bình quân một lao động
trong một kỳ kinh doanh làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Tài sản cố định (TSCĐ):
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ, người ta thường sử dụng các chỉtiêu như : Sức sản suất của TSCĐ (Hiệu suất sử dụng TSCĐ trong một kỳ),Sức sinh lợi của TSCĐ và Suất hao phí từ TSCĐ
Chỉ tiêu Sức sản xuất của TSCĐ: phản ánh một đồng nguyên giá bình
quân TSCĐ đem lại mấy đồng Doanh thu thuần
Chỉ tiêu sức sinh lợi TSCĐ: cho biết một đồng nguyên giá bình quân
TSCĐ đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần (hay lãi gộp)
Năng suất lao động = Giá trị sản xuâtTổng số lao động bình quân trong kỳ
Sức sản xuất của lao
Trang 8Chỉ tiêu Suất hao phí từ TSCĐ: cho thấy để có một đồng Doanh thu
thuần hay Lợi nhuận thuần phải hao phí bao nhiêu đồng Nguyên giá TSCĐ
4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Tài sản lưu động (TSLĐ):
Nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ trong doanh nghiệp, người tathường sử dụng các chỉ tiêu: Vòng quay TSLĐ trong kỳ, Hiệu quả sử dụngTSLĐ trong kỳ và Mức đảm nhiệm TSLĐ
Vòng quay TSLĐ trong kỳ (hay hiệu suất sử dụng TSLĐ): cho biết mỗi
đơn vị TSLĐ sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần, chỉtiêu này càng lớn càng chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSLĐ cao
Hiệu quả sử dụng TSLĐ: phản ánh khả năng sinh lợi của TSLĐ Nó cho
biết mỗi đơn vị TSLĐ có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị Lợi nhuận sauthuế
Mức đảm nhiệm TSLĐ: cho biết để đạt dược mỗi đơn vị doanh thu,
doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu phần trăm đơn vị TSLĐ Chỉ tiêu nàycàng thấp càng chứng tỏ hiệu quả kinh tế cao
5 Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế xã hội.
Suất hao phí từ TSCĐ = Nguyên giá bình quân TSCĐ
Doanh thu thuần (hay lợi nhuận thuần)
Trang 9Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài việcđánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp còn phải đánh giá hiệu quả kinhtế-xã hội của doanh nghiệp Đó là bao gồm một số chỉ tiêu:
3.1 Tăng thu ngân sách cho chính phủ.
Mọi doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh thì đều phải có nghĩa vụ nộpngân sách cho Nhà nước dưới hình thức là các loại thuế: thuế doanh thu, thuếlợi tức, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, Đây là nguồn thu chính củaChính phủ
3.2 Tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
Để tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và nhanh chóng thoátkhỏi đói nghèo, lạc hậu đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tìm tòi nhằm đưa ranhững biện pháp nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy môsản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động
3.3 Nâng cao mức sống cho người lao động.
Ngoài việc tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động đòi hỏi mỗidoanh nghiệp phải làm ăn có hiệu quả để góp phần nâng cao mức sống chongười lao động Nó được phản ánh qua các chỉ tiêu như: Tăng mức thu nhậpbình quân GDP/người, tăng đầu tư xã hội và phúc lợi xã hội
3.4 Phân phối lại thu nhập.
Do sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế xã hội giữa các vùng,lãnh thổ trong một quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Để từngbước xoá bỏ sự cách biệt về mặt kinh tế xã hội, phân phối lại thu nhập thì đòihỏi cần có những chính sách khuyến khích đầu tư phát triển, nhất là đầu tưvào các vùng kinh tế kém phát triển
6.Các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để đánh giá hiêu quả sản xuất kinh doanh người ta thường so sánh kết
quả đầu ra so với chi phí đầu vào của một quá trình sản xuất và làm sao phảigiảm chi phí đầy vào xuống mức thấp nhất có thể.Có như vậy thì quá trìnhsản xuất kinh doanh mới đạt hiệu quả cao
Trang 10Chi phi đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thường bao gồm :Chiphí sản xuất,chi phí lưu thông sản phẩm và các chi phí bán hàng,quản lýdoanh nghiệp.Chi phí sản xuất là các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sảnxuất sản phẩm trong một thời kì nhất định Để quản lý và kiểm tra chặt chẽviệc thực hiện các định mức chi phí tính toán được kết quả tiết kiệm chi phí ởtừng bộ phận sản xuất và toàn doanh nghiệp.Cần phải tiến hàng phân loại chiphí sản xuất.Việc phân loại chi phí sản xuất có tác dụng để kiểm tra và phântích quá trình phát sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩm.Từ đó ta cóthể xem xét để giảm chi phí ở từng loại góp phần hạ giá thành sản phẩm sảnxuất ra.
Trong quá trình sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường ,việc tiêu thụ đốivới một doanh nghiệp là hết sức quan trọng.Để thực hiện việc tiêu thụ sảnphẩm doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định ,đó là chi phí lưuthông sản phẩm bao gồm chi phí trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩm như:chiphí đóng goi ,bao bì ,vận chuyển chi phí marketting :chi phí điều tra nghiêncứu thị trường,chi phí giới thiệu sản phẩm,chi phí bảo hành Ngoài ra chi phíbán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là bộ phận cấu thành nên chiphí đầy vào của quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Việc phân loại chi phí một cách rõ ràng kết hợp với việc giảm các loạichi phí một cách hợp lý sẽ góp phần hạ giá thành sản phẩm,nâng cao tínhcạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.Từ đó góp phần nâng cao hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp
Trang 11CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH HÓA DỆT HÀ TÂY I.Giới thiệu chung về công ty:
1.Sơ lược về hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH Hóa dệt Hà Tây là Công ty TNHH từ 2 thành viên trởlên.Công ty TNHH Hóa dệt Hà Tây được thành lập năm 2002 tại chuỗi côngnghiệp thôn Hạnh Đàn - xã Tân Lập - huyện Đan Phượng, ngoại thành HàNội, được sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Tây (cũ) cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh số 0302000279 và được quan tâm giúp đỡ nhiều mặt Sau khixây dựng hoàn chỉnh nhà xưởng, tường bao, trụ sở làm việc và lắp đặt máymóc thiết bị đồng bộ, ngày 19/8/2006 công ty chính thức đưa dây chuyền sảnxuất vào hoạt động với tổng vốn đầu tư xây dựng ban đầu lên tới 30 tỉ đồng
Do công ty mới thành lập nên ban đầu còn gặp nhiều khó khăn Từ việc xâydựng cơ sở hạ tầng, tuyển dụng, tuyển chọn công nhân viên vào làm việc tạicông ty, tìm các đối tác kinh tế cho đến việc tìm các nhà cung cấp… Tuynhiên với sự giúp đỡ của các công ty bạn như công ty Giầy Thượng Đình,công ty Giầy Thụy Khuê… Công ty đã dần đi vào ổn định, yên tâm sản xuất.Các hoạt động chính của công ty TNHH Hoá Dệt Hà Tây bao gồm: Sản xuất
và xuất khẩu theo đơn đặt hàng, sản xuất và tiêu thụ nội địa, gia công theođơn đặt hàng Sau đây là một vài thông tin cơ bản về Công ty :
Tên gọi: Công ty TNHH Hóa Dệt Hà Tây
Tên giao dịch quốc tế: Hà Tây chemichcal - weave companylimiedTên viết tắt: TEXCHCO, LDT
Trụ sở giao dịch chính: Thôn Hạnh Đàn - xã Tân Lập - huyện ĐanPhượng - thành phố Hà Nội
Diện tích mặt bằng 35.000 m 2
Giám đốc công ty: Nguyễn Thanh Tùng
Lĩnh vục kinh doanh: sản xuất kinh doanh giầy, dép xuất khẩu
Năng lực sản xuất: 1.730.393 đôi / năm
Trang 12Sản phẩm chính: giày vải, giầy thể thao, dép sandal
ra công ty còn khai thác thêm một thị trường đầy tiềm năng khác là thị trườngtrong nước, tiêu thụ từ 300.000 đến 400.000 đôi / năm
Công ty TNHH Hoá Dệt Hà tây là đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt độngtheo luật doanh nghiệp nhà nước Việt Nam Quy chế pháp định rõ ràng vớichức năng là đại lý ký gửi hàng hóa, sản xuất và kinh doanh giầy dép các loại
Từ khi thành lập đến khi đưa vào sản xuất đến nay, công ty đã trải qua nhiềukhó khăn vất vả, lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong công ty đã nỗ lựckhông ngừng để phát triển sản xuất ngày càng cao có hiệu quả, hoàn thànhmục tiêu đã đặt ra Công ty tập trung đầu tư chiều sâu nâng cao chất lượngsản phẩm công nghệ sản xuất, một số công đoạn đã được tự đông hóa Trongthời gian hoạt động, công ty đã không ngừng lớn mạnh Vì vậy việc mở rộngquy mô kinh doanh là rất phù hợp giúp tạo thêm việc làm cho người lao động.Tháng 6 năm 2009 công ty đã mở rộng thêm chi nhánh ở Ba Vì - Hà Nội Ởgiai đoạn I, Nhà máy hoạt động với 2 dây chuyền sản lượng đạt 800.000 đến900.000 đôi/năm Tổng vốn đầu tư lên tới 25 tỷ đồng Dự kiến, giai đoạn II,Nhà máy sử dụng 700 lao động Từ năm 2012 đến năm 2016, Nhà máy sẽtăng quy mô lên ba dây chuyền; với công suất lên 18.000 triệu đôi/năm Tăngvốn đầu tư thêm 25 tỷ đồng và sử dụng 1.000 lao động có việc làm Ngoài ra,Công ty sẽ thành lập thêm hệ thống công ty thương mại nhằm mục đích xây
Trang 13dựng và phát triển thị trường trong nước với thương hiệu D và A (mềm mại
và linh hoạt) đang từng bước tự khẳng định chỗ đứng trên thị trường trongnước Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty luôn chủ trương xâydựng lòng tin bằng uy tín với khách hàng Đặc biệt là mở rộng thị trường,tranh thủ sự giúp đỡ ủng hộ của các Bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địaphương Nhờ đó, Công ty TNHH Hoá dệt Hà Tây rất tự tin bước vào Hộinhập và tiến tới sự phát triển bền vững Từ khi thành lập thêm chi nhánh mới,
số lao động của Công ty không ngừng tăng lên, chu kỳ sản xuất mang tínhhoàn chỉnh, sản lượng hàng năm tăng, đời sống cán bộ công nhân viên ngàycàng được nâng cao
2.Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty
* Mặt hàng sản xuất chủ yếu: mặt hàng sản xuất chủ yếu của Công ty
là: giày vải, giày da các loại
Trang 14* Quy trình công nghệ sản xuất.
Quy trình công nghệ sản xuất giầy của Công ty được xác định là quytrình sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục có công đoạn song song.Sản phẩm nhập kho là kết quả của nhiều công đoạn
Tại Công ty chia ra thành bốn phân xưởng sản xuất chính Mỗi phânxưởng sẽ chuyên đảm nhận một khâu trong quy trình sản xuất Cụ thể quytrình sản xuất giày tay Công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất giày tại Công ty TNHH Hóa Dệt Hà Tây
Trang 15- Phân xưởng Bồi - Cắt: đảm nhận hai khâu đầu của quy trình công
nghệ đó là bồi tráng và cắt vải bạt Nguyên vật liệu được chuyển tới máy bồi,máy bồi có chức năng kết dính các vật liệu này với nhau bằng một lớp keodính Các tấm vải sau khi đã cắt bồi xong thì chuyển cho bộ phận Cắt Sau khicắt xong sản phẩm của phân xưởng này được chuyển sang phân xưởng May
để may lắp ráp mũ giày
- Phân xưởng May: Đảm nhận công việc tiếp theo của công đoạn cắt
đó là có nhiệm vụ may các chi tiết thành mũ giày hoàn chỉnh Nguyên vật liệu
ở phân xưởng này ngoài các chi tiết nhận từ phân xưởng Bồi - Cắt còn dùngthêm chỉ, ôzê, bông gai, để may các chi tiết thành mũ giày hoàn chỉnh
- Phân xưởng Cán: Có nhiệm vụ chế biến cao su nhựa nguyên chất,
hóa chất chế tạo ra cao su làm đế giày Ngoài ra, còn có bộ phận cắt viền đếgiày Sản phẩm của phân xưởng này được chuyển sang phân xưởng Gò đểnắp ráp giày
- Phân xưởng Gò: Là phân xưởng đảm nhận khâu cuối cùng của quy
trình công nghệ sản xuất giày, sản phẩm của phân xưởng này là từng đôi giàythành phẩm Ở phân xưởng này, mũ giày và đế giày được lắp ráp với nhau đểtạo lên chiếc giầy hoàn chỉnh Việc ghép mũ với đế giày đươc thực hiện trênbăng chuyền liên tục bao gồm mũ, gót, quét keo, dán đế, dán viền Giày saukhi gò xong được đưa vào bộ phận lưu hóa để hấp ở nhiệt độ cao đảm bảo cho
độ bền của giày Cuối cùng, giày được lên đôi, xâu dây, đóng gói và nhậpkho Việc kiểm tra giám sát cuối cùng được quy về kiểm tra chất lượng KCS
Tuy thành lập chưa lâu nhưng ban giám đốc Công ty đã tìm ra hướng đicho riêng mình, tìm đối tác làm ăn, ký kết các hợp đồng chuyển giao côngnghệ Hiện nay dây chuyền sản xuất chủ yếu của Công ty đều nhập từ ĐàiLoan, Hàn Quốc và phù hợp với điều kiện sản xuất của Việt Nam Đến nayCông ty đã đầu tư được 7 dây chuyền sản xuất Trong đó có 3 dây chuyền sảnxuất giày thời trang, 4 dây chuyền sản xuất giày thể thao và giày bảo hộ laođộng Đây là những dây chuyền tự động hoá hoàn toàn khép kín Trong cácphân xưởng, công nhân không phải đi lại vì có hệ thống băng chuyền cung
Trang 16cấp nguyền vật liệu chạy đều khắp nơi Dây chuyền công nghệ này luôn đảmbảo cho việc sản xuất được tiến hành cân đối, nhịp nhàng.
Quy trình sản xuất giày được tiến hành như sau:
- Vải (vải, vải bạt các loại) đưa vào cắt may thành thân giày sau đó dập
- Crếp (cao su, hoá chất) đưa vào cán luyện, đúc làm ra đế giày
- Mũi giày vải kết hợp với đế cao su hoặc nhựa tổng hợp đưa xuốngxưởng gò lắp ráp lồng mũ giày vào phom giày, quết keo vào đế và dán vào
mũ giày, ráp đế giày và các chi tiết vào mũ giày và đưa vào gò Tiếp đó tiếnhành gò mũ, mang gót, dán cao su làm nhãn giày rồi giàn đường trang trí lêngiày để tạo ra sản phẩm giày sống Các sản phẩm giày sống này sẽ được lưuhoá với nhiệt độ 120-135 độ C để trở thành giày chín Cuối cùng tiến hànhhoạt động xâu giày, kiểm nghiệm chất lượng và đóng gói
2.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Hoá dệt Hà Tây
Công ty TNHH Hóa dệt Hà Tây là một đơn vị kinh tế hạch toán độclập, tiến hành tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng, cơ cấu tổ chứcsản xuất được bố trí sắp xếp theo kiểu trực tuyến chức năng phù hợp với quy
mô sản xuất cũng như chức năng nhiệm vụ của Công ty
Trang 17Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty Hoá Dệt Hà Tây
- Giám đốc công ty: Là người đứng đầu bộ máy của công ty, chịu trách
nhiệm chỉ huy toàn bộ bộ máy quản lý, các bộ phận sản xuất của công ty
- Phó giám đốc kỹ thuật: Do giám đốc bổ nhiệm Phó giám đốc kỹ thuật
là người giúp việc cho giám đốc trong lĩnh vực sản xuất, quản lý và điều hànhhoạt động của khối kỹ thuật bao gồm Phòng Mẫu, Phòng QC, Tổ Cơ điện
- Phó giám đốc kinh doanh: do giám đốc công ty bổ nhiệm Phó giám
đốc kinh doanh là người giúp việc cho giám đốc trong lĩnh vực kinh doanh,quản lý và điều hành hoạt động của khối kinh tế bao gồm các phòng ban:Phòng kế hoạch sản xuất, Phòng vật tư, Phòng tài chính kế toán, Phòng xuấtnhập khẩu, Phòng y tế, Phòng tổ chức hành chính, Ban thanh tra bảo vệ
- Phòng mẫu: là phòng thiết kế và sản xuất ra sản phẩm mẫu Sau khi
sản phẩm mẫu được thông qua sẽ được đưa vào sản xuất thực tế
Giám đốc
Phó Giám đốc
kỹ thuật
Phòng Tổ chức hành chính
Phó Giám đốc kinh doanh
Các
PX sản xuất
Phòng kế hoạch sản xuất
Phòng vật tư PhòngTài
chính
kế toán
Phòng Xuất nhập khẩu
Phòng Bảo vệ
Phòng Y tế
Trang 18- Phòng trưng bày: là phòng trưng bày và lưu trữ các sản phẩm mẫu.
- Phân xưởng cơ điện: có trách nhiệm bảo quản, sửa chữa các máy
móc thiết bị sản xuất và hệ thống điện nước của Công ty đảm bảo cho cáchoạt động của Công ty diễn ra bình thường và thông suốt
- Phân xưởng sản xuất: bao gồm 4 phân xưởng chính: PX Bồi - Cắt,
PX May, PX Cán và PX Gò Thực hiện các quy trình sản xuất để cho ranhững thành phẩm cuối cùng, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an toànlao động, phòng cháy chữa cháy, rèn luyện tay nghề cho người lao động, phốihợp với phòng tổ chức hành chính tiến hành tuyển dụng người lao động đápứng nhu cầu của sản xuất
- Phòng kế hoạch sản xuất: nghiên cứu, xây dựng chiến lược kinh
doanh dài hạn, trung hạn, ngắn hạn, kế hoạch hoạt động và kế hoạch kinhdoanh hàng năm, hàng quý của Công ty Tham khảo ý kiến của các phòng cóliên quan để phân bổ kế hoạch sản xuất kinh doanh, phân lịch sản xuất chotừng phân xưởng sản xuất Tổng hợp, phân tích và lập báo cáo tình hình hoạtđộng và tình hình kinh doanh tháng, quý, 6 tháng, cả năm theo yêu cầu củaBan Giám đốc Công ty
- Phòng vật tư: theo dõi quản lý toàn bộ vật tư của toàn Công ty, lập
dự toán dự trù mua sắm các vật tư, máy móc thiết bị, bàn giao cho các phòngban, phân xưởng theo yêu cầu sử dụng Kiểm tra việc khai thác và sử dụng vật
tư, máy móc thiết bị tại các phân xưởng Thu hồi và làm các thủ tục điềuchuyển thanh lý máy móc thiết bị không còn sử dụng được, hư hỏng để trìnhlên lãnh đạo Công ty
- Phòng tài chính kế toán: có nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch về
tài chính, tổ chức ghi chép, hoạch toán, kiểm tra các nghiệp vụ kinh tế phátsinh; thực hiện phân tích, tham mưu đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầuquản trị doanh nghiệp và cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy địnhcủa pháp luật, tổ chức lưu trữ các chứng từ kế toán theo quy định của phápluật, tiến hành kiểm kê định kỳ hoặc đột xuất theo quy định đảm bảo đúngtiến độ sản xuất
Trang 19- Phòng xuất nhập khẩu: phòng này có nhiệm vụ thực hiện mọi hoạt
động xuất nhập khẩu của Công ty, tổ chức quản lý hoạt động Marketing nhằm
hỗ trợ tốt nhất cho việc thực hiện kế hoạch xuất nhập khẩu, đảm bảo củng cố
và duy trì thị trường cũ, khai thác, phát triển thị trường mới, đem về cho Công
ty nhiều hợp đồng xuất khẩu đồng thời góp phần mở rộng quy mô sản xuấtkinh doanh của Công ty
- Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ quản lý nhân sự, thực hiện
các công việc liên quan đến nhân sự của Công ty như tuyển dụng, đào tạo laođộng, xây dựng các quy chế về tiền lương, tiền thưởng và thực hiện các chế
độ khác theo quy định như bảo hiểm xã hội, mất sức,…
- Phòng y tế: thực hiện việc khám sức khỏe định kỳ cho công nhân
viên trong Công ty Luôn túc trực, cấp phát thuốc men, sơ cứu kịp thời trongnhững trường hợp cần thiết
- Phòng bảo vệ: bảo vệ tài sản, tình hình an ninh của Công ty
2.3.Đặc điểm về nguyên vật liệu và sản phẩm của Công ty
2.3.1.Đặc điểm nguyên vật liệu
Nguyên liệu của công ty bao gồm các mặt hàng :Phom giày,hóa chất.keodiamond,mút xốp,xăng công nghiệp,hộp giấy.thùng catton,vải mộc các loại…Các mặt hàng này được cung cấp bởi doanh nghiệp trong nước,cung cấp bởicác nguồn cố định
Trang 20Bảng 1: Danh sách các nhà cung cấp một vài nguyên liệu chính
4 Công ty TNHH sản xuất và thương mại Hà Thành Mút xốp
5 Công ty TNHH sản xuất và thương mại Vạn Yên Xăng công nghiệp
7
Công ty TNHH thương mại và sản xuất bao bì xuất
8 Công ty sản xuất và thương mại Thiên Trường Phú Vải mộc các loại
Nguồn: Phòng kế hoạch sản xuất
2.3.2 Đặc điểm vể sản phẩm
Trong các loại giày mà Công ty sản xuất thì giày vải là loại giàyluôn giữ tỷ trọng lớn nhất và không ngừng tăng lên trong cơ cấu sản xuấtcủa Công ty, từ 35,47% năm 2009 đến 39,75% năm 2011 Với mặt hànggiày vải Công ty sản xuất chủ yếu là giày thể thao, giày búp bê, giày cao
cổ và giày bata Trong đó giày thể thao luôn giữ tỷ trọng lớn nhất từ52% năm 2008 đến cuối năm 2011 đã đạt 68% trong tổng lượng giày vải
do nhu cầu đặt hàng của khách hàng
Trong thời gian tới, Công ty dự định phát triển thêm sản phẩm mới
để giữ vững được doanh thu xuất khẩu hiện tại đặc biệt là mặt hàng giàythể thao bởi mặt hàng này đang được rất nhiều người tiêu dùng ưachuộng do những đặc tính ưu việt của nó
2.4.Đặc điểm lao động trong công ty
Trang 21Đứng trước tình hình toàn cầu hóa,kinh tế hoa.Doanh nghiệp không ngừng
tuyển thêm lao động.Số lao động qua các năm không ngừng tăng
Biểu 1:cơ cấu lao động trong công ty
Là một doanh nghiệp sản xuất nên lao động trực tiếp trong công ty chiếm tỷ
lệ lớn.xấp xỉ 85%.trình độ đại học giữ hầu hết vị trí quan trong trong côngty.Tuy số trình độ đại học không nhiều nhưng cũng đủ đáp ứng như cầu quản
lý quá trình sản xuất kinh doanh của công ty
2.5.Đặc điểm về thị trường
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới (WTO), cũng như rất nhiều các doanh nghiệp khác,Công ty đã gặp nhiều thuận lợi trong việc thâm nhập vào thị trường quốc tế
do hàng rào hạn ngạch và các thủ tục hải quan phức tạp đang dần được xoá
bỏ và trở nên đơn giản hơn Hàng hoá của Công ty sẽ được phép cạnh tranhmột cách bình đẳng với hàng hóa của các nước thành viên khác Vì thế,Công ty có thể mở rộng thị trường xuất khẩu sang thị trường các nước làthành viên của các tổ chức như ASEAN, APEC, AFTA, WTO bởi khi thâmnhập một trong các thị trường này thì Công ty sẽ được hưởng những ưu đãi
về thuế quan và hạn ngạch
Trong những năm qua, bằng sự nỗ lực không ngừng, Công ty đã tậndụng được các lợi thế để tìm kiếm các bạn hàng mới, mở rộng các thị trường
Trang 22xuất khẩu Cho đến nay, Công ty đã đạt được những thành quả đáng khích lệ,hàng hóa xuất khẩu mở rộng đến nhiều nước thuộc nhiều thị trường khácnhau Hiện nay thị trường xuất khẩu chủ yếu của Công ty là Mỹ, khu vực thịtrường EU, các nước ở khu vực Châu Á, đặc biệt là Đài Loan, Hàn Quốc,Hồng Kông và một số nước ở thị trường khác Với sự năng động ngày càng
có nhiều đối tác tin tưởng vào khả năng và uy tín của Công ty
Bảng 2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của công ty TNHH Hóa dệt Hà Tây
Tình hình xuất khẩu giày dép của Công ty vào thị trường Mỹ hiện nayvẫn chưa đi vào ổn định Tuy nhiên, việc nước ta chính thức trở thành thànhviên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và trước đó giữa ta và Mỹ cũng
đã ký hiệp ước Thương mại Việt - Mỹ vào 10/12/2001 đã tạo cho Công tynhững thuận lợi trong việc xuất khẩu sang thị trường này trong thời gian tới
Hàng năm lượng giày của Công ty xuất khẩu sang Mỹ chiếm khoảng 15% giá trị xuất khẩu của Công ty Nhưng gần đây tình trạng lạm phát xảy ra
12-đã khiến cho giá nguyên vật liệu ở Mỹ trở lên đắt đỏ khiến cho sản xuất trong
Mỹ giảm Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng giày dép ở thị trường này rất cao
Trang 23nên thị trường này sẽ có nhu cầu nhập khẩu nhiều hơn Do vậy trong thời giantới ban lãnh đạo công ty dự kiến sẽ xuất khẩu nhiều hơn sang thị trường này.
2 Thị trường EU
Liên minh Châu Âu (EU) là một thị trường lớn về giày dép trên thếgiới Đây là nơi mà ngành công nghiệp giày dép có truyền thống lịch sử pháttriển từ rất lâu đời với quy mô lớn và hiện đại Từ thập kỷ 90 do việc cạnhtranh lấn lướt tại các nước có giá nhân công rẻ nên mức tăng trưởng sản xuấtcủa ngành giày da EU giảm, thay thế vào đó EU trở thành khu vực thị trườngnhập khẩu lớn Các nước sản xuất da giày lớn ở Châu Âu là Italia, Tây BanNha, Pháp, Anh, Đức tập trung sản xuất những sản phẩm cao cấp với nhữngnhãn hiệu nổi tiếng, còn lại gần 50% giày dép tiêu thụ trong khu vực này cónguồn gốc từ thị trường ngoài khối
EU là một thị trường rộng lớn với số dân khoảng 400 triệu người có mứcsống vào loại cao nhất thế giới và có nhu cầu tiêu thụ giày dép lớn, bình quân 6-7đôi/ người/ năm Tuy nhiên đây là một thị trường có yêu cầu tương đối cao vềmẫu mã và chất lượng sản phẩm Nắm bắt được nhu cầu của thị trường EU, Công
ty đã nỗ lực đầu tư sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã để thâm nhậpvào thị trường này Thực tế Công ty đã thu được những kết quả đáng kể, Công ty
đã ký được nhiều hợp đồng kinh tế có giá trị lớn sang thị trường này Năm 2010,thị trường EU chiếm gần 30% giá trị xuất khẩu của Công ty
Do EU là thị trường xuất khẩu theo phương thức gia công thuần tuý,khách hàng gửi nguyên liệu phụ từ một nước thứ ba, thuê Công ty gia côngsau đó xuất ngược trở lại về EU Vì vậy công ty không nắm bắt được nhu cầu
về mẫu mã giày do khâu tiếp cận thị trường yếu, không quan hệ trực tiếp đượcvới các nhà nhập khẩu EU mà phụ thuộc vào người trung gian Trong thờigian tới Công ty cần có chiến lược thâm nhập thị trường này tốt hơn để nângcao lợi nhuận xuất khẩu
3 Thị trường Châu Á
Châu Á là thị trường lớn với GDP đạt trên 650 triệu và dân số là hơn
520 triệu người Từ những năm đầu thập kỷ 90 cho đến năm 1997, thị trường