Lịch sử loài người đã và đang trải qua năm hình thái kinh tế xã hội đó là: Cộng sản nguyên thuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Chủ nghĩa tư bản (CNTB), Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Mỗi một hình thái kinh tế xã hội tồn tại trên một phương thức sản xuất đặc trưng riêng, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Học thuyết kinh tế chính trị của Mác - Lê Nin khẳng định: nếu đúng theo nguyên lý về hình thái kinh tế xã hội thì tất cả các quốc gia muốn phát triển từ phương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất khác cao hơn thì tất yếu phải qua một bước trung gian mà Mác gọi đó là thời kỳ quá độ. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếu phải trải qua những bước trung gian để tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật. Trong những bước trung gian đó chủ nghĩa tư bản nhà nước (CNTBNN) được coi như một “chiếc cầu nhỏ” bắc giữa xã hội cũ tới xã hội chủ nghĩa (XHCN) và “chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho CNXH, là phòng chờ đi vào CNXH, là nấc thang lịch sử mà giữa nó với nấc thang được gọi là CNXH thì không có một nấc thang nào ở giữa cả”. Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, để xây dựng và tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật thì chúng ta phải có những giải pháp để khai thác triệt để vai trò của mọi thành phần kinh tế tồn tại trong thời kỳ quá độ, trong đó có thành phần kinh tế TBNN. Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận của Lê nin về CNTB nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, để vận dụng nó vào việc phát triển kinh tế đất nước là vô cùng hợp lý.
Trang 1MỞ ĐẦU
Lịch sử loài người đã và đang trải qua năm hình thái kinh
tế xã hội đó là: Cộng sản nguyên thuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phongkiến, Chủ nghĩa tư bản (CNTB), Chủ nghĩa xã hội (CNXH) Mỗimột hình thái kinh tế xã hội tồn tại trên một phương thức sảnxuất đặc trưng riêng, phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Học thuyết kinh tế chính trị củaMác - Lê Nin khẳng định: nếu đúng theo nguyên lý về hình tháikinh tế xã hội thì tất cả các quốc gia muốn phát triển từphương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất kháccao hơn thì tất yếu phải qua một bước trung gian mà Mác gọi
đó là thời kỳ quá độ Trong thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếuphải trải qua những bước trung gian để tạo lập cơ sở vật chất
kỹ thuật Trong những bước trung gian đó chủ nghĩa tư bảnnhà nước (CNTBNN) được coi như một “chiếc cầu nhỏ” bắc giữa
xã hội cũ tới xã hội chủ nghĩa (XHCN) và “chủ nghĩa tư bản độcquyền nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho CNXH,
là phòng chờ đi vào CNXH, là nấc thang lịch sử mà giữa nó vớinấc thang được gọi là CNXH thì không có một nấc thang nào ởgiữa cả”
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, để xây dựng và tạo lập
cơ sở vật chất kỹ thuật thì chúng ta phải có những giải pháp để khai thác triệt
để vai trò của mọi thành phần kinh tế tồn tại trong thời kỳ quá độ, trong đó cóthành phần kinh tế TBNN Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận của Lê nin vềCNTB nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, để vận dụng nó vào việcphát triển kinh tế đất nước là vô cùng hợp lý
Trang 21.1 Khái niệm về CNTB nhà nước.
Dưới chế độ TBCN, TBNN được thực hiện bằng cách chuyển các xínghiệp cá biệt vào trong tay nhà nước tư sản, xây dựng các xí nghiệp mới dựavào ngân sách nhà nước, nắm cổ phiếu khống chế công ty cổ phần CNTBnhà nước trong điều kiện chuyên chính tư sản là hình thức biến dạng của sởhữu TBCN Mặc dù đó là quyền sở hữu của nhà nước nhưng hình thức sởhữu này không làm thay đổi bản chất chế độ TBCN Ở các nước đế quốc,CNTBNN mang tính chất CNTB độc quyền nhà nước
CNTB độc quyền nhà nước là hình thức thống trị của tư bản độc quyềndựa trên cơ sở tích tụ và tập trung tư bản cao độ, là biểu hiện của trình độ sảnxuất xã hội hoá trên thực tế cao độ, là hình thức mới của sở hữu TBCN Dướichế độ tư bản, việc xã hội hoá sản xuất đã tiến một bước dài với mức độ cao
so với các hình thái xã hội trước đó và được gắn liền với sự phá t triển của sựphân công xã hội, với sự tích tụ và tập trung tư bản Các mác đã chỉ ra quyluật chung của tích luỹ tư bản rằng: sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoálao động đã đạt mức không còn phù hợp với cái vỏ TBCN của nó nữa Cái vỏTBCN ấy phải nổ tung” Còn Lê nin thì vạch rõ, CNTB độc quyền nhànước là tiền đề vật chất đầy đủ và là ngưỡng cửa của CNXH
Ngày nay, CNTB nhà nước dưới chế độ tư bản đang manghình thức CNTB độc quyền nhà nước Lê nin đã khẳng địnhCNTB độc quyền nhà nước như sau: “CNTB nhà nước, theo sựgiải thích của toàn bộ sách báo kinh tế là CNTB dưới chế độ tư
Trang 3bản, khi chính quyền nhà nước trực tiếp khống chế những xínghiệp TBCN , là sự chuẩn bị đầy đủ nhất cho sự ra đời củaCNXH
CNTB nhà nước ở các nước đang phát triển dưới chính quyền không thuộc vềgiai cấp công nhân và nông dân Ở các nước này, CNTBNN tồn tại dưới rấtnhiều hình thức: liên doanh với tư bản nước ngoài, đặc khu kinh tế, khu chếxuất, khu đầu tư kỹ thuật, nắm cổ phiếu của một số công ty cổ phần Trongcác hình thức này thì việc xây dựng các xí nghiệp quốc doanh TBCN có vaitrò đặc biệt quan trọng Dựa vào thực tế một số nước, có ý kiến cho rằng, mặc
dù vẫn là thứ CNTB nằm trong quan hệ TBCN nhưng đó là một kiểu CNTBnhà nước mới, là thứ CNTB do nhà nước trực tiếp khống chế Một mặt, nhànước ở các nước đang phát triển vẫn chưa phải là nhà nước do giai cấp vô sảnlãnh đạo nhưng cũng không thuộc về giai cấp tư sản độc quyền, mà thuộc vềgiai cấp tư sản dân tộc Vì thế, không thể tránh khỏi những tiêu cực vốn cócủa bất kỳ nhà nước tư sản nào Nhưng mặt khác, kiểu CNTBNN này có vaitrò tích cực trong việc phát triển kỹ thuật và cải tạo cơ cấu kinh tế, trong việccủng cố nền độc lập về kinh tế, chống lại thế lực tư bản nước ngoài, đẩy mạnh
sự phát triển tự chủ vì nền độc lập của những nước đó
CNTBNN trong điều kiện chuyên chính vô sản là một kiểu CNTBNNchưa hề có trong lịch sử Chính bản chất mới của nhà nước này đã làm choCNTBNN mang một nội dung mới và có một vai trò mới
Từ sự phân tích sơ lược về lịch sử hình thành và các kiểu CNTBNN đãtừng tồn tại trong thực tế đến nay, có thể rút ra một khái niệm chung vềCNTBNN cho dù chúng tồn tại trong điêù kiện lịch sử khác nhau như thế nào
Theo quan niệm của Lê nin thì:
CNTBNN là CNTB do nhà nước kiểm soát và điều tiết sự phát triển, vấn
đề khác nhau chỉ là chỗ kiểm soát và điều tiết nhằm mục đích gì, có lợi cho
ai, trong giới hạn nào, bằng phương pháp gì và khả năng kiểm soát, điềutiết đạt mức độ nào
Trang 4 CNTBNN là chính quyền nhà nước trực tiếp khống chế những xí nghiệpTBCN Sự khống chế trực tiếp ấy đạt tới mức độ nào trong thực tế sẽ quyếtđịnh trình độ và hình thức khác nhau của CNTBNN.
Toàn bộ vấn đề là phải hiểu rõ với điều kiện nào thì phải phát triển CNTB
và nhà nước là của ai Cũng từ đây mà hiểu được tính chất “đặc biệt”,
“không thông thường” của CNTBNN trong điều kiện chính quyền nằmtrong tay nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
1.2 CNTBNN trong hệ thống chính sách kinh tế mới của Lê nin.
1.2.1 Chính sách cộng sản thời chiến và sự tất yếu phải chuyển sang chính sách kinh tế mới (NEP).
Khi cách mạng Tháng Mười vừa thành công thì chính quyền Xô viết phảiđương đầu với cuộc nội chiến và cuộc can thiệp vũ trang của cả chủ nghĩa đếquốc thế giới Đứng trước nguy cơ một mất một còn, chính quyền Xô viết tìmmọi cách để tập trung mọi lực lượng nhằm đánh bại những lực lượng thù địchbên trong và bên ngoài Chính sách “Cộng sản thời chiến” ra đời trong hoàncảnh ấy Đó là chính sách kinh tế của nhà nước Xô viết nhằm huy động mọitài nguyên trong nước cho nhu cầu của tiền tuyến trong điều kiện nền kinh tế
bị tàn phá sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất
Nội dung cơ bản của chính sách “Cộng sản thời chiến”:
Trưng thu lương thực thừa của nhân dân
Xoá bỏ quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật choquân đội và bộ máy nhà nước
Thi hành chế độ nghĩa vụ lao động phổ biến đối với tất cả mọi người cónăng lực lao động
Chính sách cộng sản thời chiến đã đóng vai trò quan trọngtrong việc bảo đảm thắng lợi cho cuộc nội chiến Nhưng saukhi đập tan bọn vũ trang can thiệp và kết thúc nội chiến, tìnhhình kinh tế, chính trị, xã hội nước Nga rất bi đát Đất nước lâmvào cuộc khủng hoảng toàn diện trầm trọng Đất nước Xô viếtcần có những biện pháp mới, chiến lược mới để khôi phục và
Trang 5phát triển vì chính sách “Cộng sản thời chiến” không còn phùhợp Thực tế cho thấy không thể thực hiện ngay CNXH mà cầnphải lùi về CNTBNN, từ bỏ biện pháp tấn công chính diện vàbắt đầu một cuộc bao vây lâu dài Sự chuyển đổi ấy được đánhdấu bằng chính sách “kinh tế mới”.
1.2.2 CNTBNN trong hệ thống chính sách kinh tế mới của
Lê nin
Những tư tưởng của Lê nin về CNTBNN trong nhà nước chuyên chính
vô sản: là CNTB do nhà nước vô sản kiểm soát và điều tiết Là sự kết hợp,liên hợp, phối hợp, nhà nước Xô viết, nền chuyên chính vô sản với CNTB Làmột khối với CNTB ở bên trên
Bản chất của CNTBNN trong chính sách kinh tế mới của Lê nin: thực chấtcủa NEP là tăng cường cơ sở kinh tế của liên minh chặt chẽ giữa giai cấp côngnhân và nông dân NEP kiến lập mối quan hệ đúng đắn giữa công nghiệpXHCN với kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân thông qua việc sửdụng rộng rãi quan hệ hàng hoá - tiền tệ dưới sự kiểm soát của nhà nước đểphát triển lực lượng sản xuất, đồng thời NEP cho phép phát triển và hướngkinh tế tư bản vào con đường CNTBNN Với nội dung cụ thể của NEP là :
Thay thế chế độ trưng thu lương thực thừa bằng chế độ thuế lương thựcnghĩa là sau khi thu hoạch người nông dân phải nộp thuế cho nhà nướcphần còn lại thuộc về nông dân và được trao đổi tự do trên thị trường
Thiết lập một cách đúng đắn quan hệ hàng hoá tiền tệ giữa nhà nước vớinông dân, giữa công nghiệp XHCN với nông nghiệp
Chuyển các doanh nghiệp nhà nước (quốc doanh) sang chế độ hạch toánkinh tế
Sử dụng khả năng của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh
tế trung gian quá độ, đặc biệt là sử dụng CNTB nhà nước
Tăng cường vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước trong quá trình chuyển đổinền kinh tế
Trang 6Khi chuyển sang NEP, Lê nin đã thẳnh thắn thừa nhận rằng “toàn bộ quanđiểm của chúng ta về CNXH đã thay đổi về cơ bản” Trước đấy, Đảng và nhànước Xô viết đã tính có thể dựa vào nhiệt tình cách mạng mà trực tiếp thựchiện những nhiệm vụ về kinh tế như những nhiệm vụ về quân sự; có thể dùngnhững biện pháp trực tiếp của nhà nước vô sản để tổ chức sản xuất và phânphối sản phẩm theo kiểu cộng sản chủ nghĩa ở một nước tiểu nông Nhưng chỉmột thời gian ngắn thực hiện, Lê nin đã thấy rằng không thể xây dựng trựctiếp CNXH ở một nước tiểu nông như nước Nga lúc đó mà phải “ bắc nhữngchiếc cầu nhỏ, đi xuyên qua CNTBNN, tiến lên CNXH”.
Với chế độ thuế lương thực thay thế cho chế độ trưng thu lương thực thừa,phần còn lại sau khi nộp thuế sẽ thuộc về nông dân và có thể tự do trao đổi nótrên thị trường “Tự do buôn bán có nghĩa là có sự phát triển của CNTB”nhưng “ CNTB ấy không đáng sợ” làm như thế sẽ cải thiện được nền kinh tếnông dân mà chúng ta rất cần cải thiện
Khi chuyển sang NEP, nhà nước Xô viết đã sử dụng những biện pháp,phương pháp hoạt động của CNTBNN và đã thực hiện việc “điều tiết trao đổihàng hoá” Nhưng việc trao đổi ấy ít nhiều vẫn theo phương thức cũ, nên đã
bị thất bại: trao đổi sản phẩm đã biến thành mua bán sản phẩm Vậy theo Lênin “rút lui” là chưa đủ Cần chuyển từ CNTBNN sang thiết lập chế độ nhànước điều tiết việc mua bán và lưu thông tiền tệ Và khẳng định: “đó là conđường duy nhất có thể đi theo được đối với chúng ta”
Lê nin đã nêu lên những hình thức của CNTBNN Người đặc biệt chú ý tới
tô nhượng, vì tô nhượng tăng cường nền sản xuất lớn hiện đại mà không có nóthì về phương diện kinh tế bước quá độ lên CNXH là không thể thực hiệnđược Hợp tác xã, trong điều kiện cụ thể của nước Nga lúc đó, theo Lê nincũng là một hình thức của CNTBNN nhưng có hình thù ít rõ rệt hơn, phức tạphơn Việc chuyển đổi từ chế độ hợp tác xã lên CNXH là chuyển từ tiểu sảnxuất lên đại sản xuất Chế độ hợp tác xã không xoá bỏ người sản xuất nhỏ vớilợi ích tư nhân của họ mà đặt lợi ích đó dưới sự điều tiết của nhà nước và phục
vụ lợi ích chung
Trang 7Về mặt chính trị, Lê nin khẳng định nhiều lần rằng CNTBNN là khôngđáng sợ, không thay đổi được gì có tính chất căn bản trong chế độ xã hội củanước Nga Xô viết, với hai điều kiện là: một là, chính quyền nhà nước phảinằm trong tay giai cấp công nhân và nhà nước quy định khuôn khổ cho sựphát triển của CNTBNN; hai là nhà nước phải nắm các đỉnh cao kinh tế đểđiều tiết nền kinh tế Lê nin cũng cho rằng CNTBNN là một hình thức mớicủa đấu tranh giai cấp, chứ không phải là hoà bình giai cấp Vì vậy, nhà nướcphải bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động.
CNTBNN mà Lê nin nêu là một hình thức đặc biệt Nó khác với khái niệmthông thường về CNTBNN, vì ở đây nhà nước nằm trong tay giai cấp vô sản
và những đỉnh cao của nền kinh tế thì nằm trong tay nhà nước XHCN
Từ những điều trình bày trên, chúng ta có thể thấy: CNTBNN không chỉ làmột thành phần kinh tế trong kết cấu của nền kinh tế quá độ mà còn là sáchlược của nhà nước vô sản, là con đường để thực hiện sự quá độ lên chủ nghĩa
xã hội trong một nước tiểu sản xuất chiếm ưu thế
2 Thực tiễn thực hiện CNTBNN ở nước Nga thời Lênin.
2.1 Tính tất yếu của CNTBNN ở nước Nga.
Chính sách kinh tế mới nói chung, CNTBNN nói riêng ra đời
là xuất phát từ điều kiện thực tế và là sự tất yếu do hoàn cảnhthực tế đề ra Nước Nga là nước chậm tiến ở Châu Âu, cho nênnước Nga Xô viết chỉ mới có nguyện vọng kiên quyết tiến lêncon đường chủ nghĩa xã hội mà chưa có nền móng kinh tế của
nó Trong một nước như vậy theo Lê nin, cuộc cách mạngXHCN chỉ có thể thắng lợi triệt để với hai điều kiện: Điều kiệnthứ nhất là có sự ủng hộ kịp thời của cách mạng XHCN ở một
số nước tiên tiến Điều kiện thứ hai: Là sự thoả thuận giữa giaicấp vô sản đang thực hiện sự chuyên chính của mình hoạcđang nắm chính quyền nhà nước với đại đa số nông dân Lênin khẳng định: chừng nào cách mạng chưa nổ ra ở các nước
Trang 8khác thì chỉ có thoả thuận với nông dân mới có thể cứu vãnđược cuộc cách mạng XHCN Đó là lý do phải quay về tư bảnnhà nước.
Sự thoả thuận giữa hai giai cấp này sau khi kết thúc nội chiến đã trở nênkhông vững chắc vì nông dân không hài lòng với hình thức quan hệ hiện có,không muốn có hình thức quan hệ ấy nữa và không muốn tiết tục sống mãinhư thế Do đó phải thiết lập những mối quan hệ mới thông qua các hoạtđộng kinh tế và phải thoả mãn được những yêu cầu của nông dân về thực chất
có thể thoả mãn tiểu nông bằng hai việc: Phải có sự tự do trao đổi nhất định vàphải kiếm ra hàng hoá và lương thực
Chính sách tự do trao đổi là nhằm “kiếm ra hàng hoá” căn cứ vào tâm lýcủa người tiêu dùng Nhờ chính sách tự do buôn bán mà kích thích ngườinông dân, vì lợi ích của bản thân mà tạo ra nhiều nông sản, hàng hoá, chínhsách tự do buôn bán là sự thoả thuận với nông dân một cách thực tế, khéo léo,khôn ngoan và mềm dẻo Cũng chính từ chính sách tự do trao đổi trong nôngdân và chính sách đó mà xuất hiện hai vấn đề dẫn đến CNTBNN
Trước hết, tự do trao đổi là tự do buôn bán , mà tự do buôn bán tức là lùilại CNTB Lê nin đã dự kiến trước như vậy nhưng không phải vì thế mà ta cóthể ngăn cấm được Từ đó thấy được sự cần thiết phải “dung nạp” CNTB Ởđây diễn ra một điều mà chính Lê nin cũng phải nói “ hình như là ngược đời:CNTB tư nhân lại đóng vai trò trợ thủ cho CNXH, có thể sử dụng CNTB tưnhân để xúc tiến CNXH” Muốn không để thay đổi bản chất của mình, nhànước vô sản chỉ có thể thừa nhận cho CNTB được phát triển trong một chừngmực nào đó và tư bản tư nhân phải phục tùng sự điều tiết của nhà nước, phảitìm cách hướng chúng vào con đường của CNTBNN bằng một tổ chức củanhà nước và những biện pháp có tính chất nhà nước từ bên trên Vậy, trongđiều kiện nhà nước vô sản, tự do trao đổi, tự do buôn bán tất dẫn đến sự phụchồi của CNTB dưới hình thức chủ yếu là CNTBNN
Trong điều kiện một nước mà CNTB tư sản chiếm ưu thế, hàng hoá chỉ
có thể có được từ nông dân, từ nông nghiệp, như vậy, phạm vi trao đổi chỉ
Trang 9diễn ra trong phạm vi hàng hoá nông sản điều đó sẽ kích thích nông dân, nôngnghiệp phát triển Do đó, phải có những hàng hoá mà nông dân cần đó lànhững sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp Nhưng tình hình trong nướckhông thể giải quyết ngay vấn đề này “nếu không có sự giúp đỡ của tư bảnnước ngoài ” theo Lê nin cần phải “du nhập” CNTB từ bên ngoài bằngnhững hợp đồng buôn bán với nước tư bản lớn, bằng chính sách tô nhượngtóm lại bằng những hình thức khác nhau của CNTBNN
2.2 Vai trò của CNTBNN trong nền kinh tế Nga.
Bản thân CNTBNN là sự “kết hợp, liên hợp, phối hợp Nhà nước Xô viết,nền chuyên chính vô sản với CNTB”, là “ một khối với CNTB ở bên trên” vàđương nhiên sẽ không có CNTBNN, nếu không có những điều kiện cho họ,điều kiện ấy theo Lênin, chính là những “cống vật” Trong điều kiện trên thếgiới chỉ có mình chính quyền Xô viết, xung quanh là cả 1 hệ thống các nước
tư bản, muốn tồn tại, chính quyền Xô viết không thể bỏ qua sự thật ấy Khithực hiện CNTBNN, nhà tư bản được lập lại, được “du nhập” “không phải vìlợi ích củng cố chính quyền Xô viết, mà vì lợi ích của bản thân họ” ChínhLênin còn dự kiến cả khả năng sự phân chia lợi ích đó thoạt đầu có lợi nhiềucho các nhà tư bản dưới hình thức “trả giá” cho sự lạc hậu, cho sự kém cỏi củamình Vấn đề là không cần che giấu sự thật: phải nộp “cống vật” Nhưng đốivới nhà nước vô sản thì sự dung nạp và du nhập CNTB sẽ mang lại nhứng lợiích cơ bản và lâu dài
Sự phát triển của CNTB do nhà nước vô sản kiểm soát và điều tiết có thểđẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc nền nông nghiệp Nhờ việc tăng nhanhlực lượng sản xuất trong nông nghiệp mà ổn định xã hội, thoát khỏi khủnghoảng, thoát khỏi tình cảnh giảm sút tín nhiệm của nông dân đối với chínhquyền Xô viết, khắc phục tình trạng trộm cắp của công
Bằng sự “du nhập” chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài mà tăng nhanh lựclượng sản xuất, tăng lên ngay hoặc trong một thời gian ngắn Cải thiện đờisống công nhân và nông dân, nền đại công nghiệp sẽ được phục hồi
Trang 10CNTBNN là công cụ để liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, khắc phục tìnhtrạng phân tán và đấu tranh chống tính tự phát tiểu tư sản và TBCN.CNTBNN là một bước tiến lớn, nhờ nó mà chiến thắng được tình trạng hỗnđộn, tình trạng suy sụp về kinh tế, hiện tượng lỏng lẻo, nhứng thói quen, địa vịkinh tế của giai cấp Cũng chính vì thế mà CNTBNN sẽ đưa nước Nga lênCNXH bằng con đường chắc chắn nhất
CNTBNN là công cụ để khắc phục được “kẻ thù chính trong “nội bộ” đấtnước, kẻ thù của các biện pháp kinh tế” của chính quyền Xô viết Đó là bọnđầu cơ, gian thương, bọn phá hoại độc quyền của nhà nước CNTBNN cònđược xem là công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và những lệch lạcquan liêu chủ nghĩa
Thông qua CNTB và CNTBNN mà giai cấp công nhân có thể học tậpđược cách quản lý một nền sản xuất lớn, tổ chức một nền sản xuất lớn.CNTBNN thông qua sự “du nhập” của tư bản từ bên ngoài là hình thức dunhập tiến bộ kỹ thuật hiện đại, qua đó có được trình độ trang bị cao củaCNTB
CNTBNN thông qua sự phát triển của nó mà phục hồi được giai cấp côngnhân Nếu CNTB được lợi thế thì sản xuất công nghiệp cũng sẽ tăng lên vàgiai cấp vô sản cũng theo đó mà lớn mạnh lên
2.3 Điều kiện cần có để vận dụng các hình thức kinh tế TBNN:
Để sử dụng CNTBNN: Để sử dụng CNTBNN cần có những giới hạn,điều kiện để sự phát triển của các quan hệ thị trường và các quan hệ TBCNnói chung và các quan hệ CNTBNN nói riêng không nguy hại cho định hướngXHCN cần có những giới hạn và điều kiện then chốt là:
Chính quyền nhà nước phải nằm trong tay giai cấp công nhân và nhànước quy định khuôn khổ cho sự phát triển của CNTBNN
Nhà nước phải nắm các đỉnh cao kinh tế để điều tiết nền kinh tế Chấpnhận điều kiện của CNTB để tạo điều kiện cho CNTBNN phát triển và pháthuy tác dụng Sử dụng sức mạnh của nền kinh tế nhiều thành phần từ đó vậndụng tất cả các hình thức kinh tế TBNN
Trang 11Kiên định về định hướng CNXH và độc lập kinh tế trong quan hệ vớiCNTB nước ngoài.
Hình thức tô nhượng là sự “du nhập” chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài vào.Tất cả khó khăn trong nhiệm vụ này là phải suy nghĩ, phải cân nhắc hết mọiđiều khi ký hợp đồng tô nhượng và sau đó phải biết theo dõi việc chấp hành
nó Lê nin đã nêu ra những vấn đề cần chú ý:
- Để thực hành tô nhượng cần phải từ bỏ chủ nghiã ái quốc địa phươngcủa một số người cho rằng, tự mình có thể làm lấy, không chấp nhận trở lạichịu ách nô dịch của tư bản
- Người nhận tô nhượng có trách nhiệm cải thiện đời sống công nhântrong xí nghiệp tô nhượng sao cho đạt tới mức sống trung bình của nướcngoài Ngoài ra, người nhận tô nhượng phải bán thêm cho chính quyền Xôviết từ 50 -> 100 % số lượng sản phẩm tiều dùng (nếu được yêu cầu để cảithiện đời sống công nhân khác)
- Vấn đề trả lương cho cống nhân ở các xí nghiệp tô nhượng sẽ được quyđịnh riêng trong từng hợp đồng Điều kiện về thuê mướn, về sinh hoạt vậtchất, về trả lương cho các công nhân và nhân viên nước ngoài được quy định
Trang 12theo sự thoả thuận tự do giữa người nhận tô nhượng với những loại công nhânviên nói trên Công đoàn không có quyền đòi áp dụng các mức lương củaNga, cũng như các luật lệ của Nga về thuê mướn nhân công đối với nhữngcông nhân đó.
- Đối với những công dân Nga, chuyên gia Nga có trình độ cao, nếu các
xí nghiệp tô nhượng muốn mời thì phải được sự đồng ý của các cơ quan chínhquyền trung ương
- Phải tôn trọng pháp luật của nước Nga
- Phải nghiêm chỉnh tuân theo những quy tắc khoa học và kỹ thuật phùhợp với pháp luật của nước Nga và của nước ngoài
Lê nin
2.4.3 Hình thức đại lý uỷ thác.
Theo hình thức này thì nhà nước lôi cuốn nhà tư bản với tư cách một nhàbuôn, trả cho họ một số tiền hoa hồng để họ bán sản phẩm của nhà nước vàmua sản phẩm của người sản xuất nhỏ
2.4.4 Cho tư bản trong nước thuê xí nghiệp, vùng mỏ, rừng, đất Cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ:
Cho tư bản trong nước thuê xí nghiệp giống hình thức tô nhượng,nhưng đối tượng tô nhượng không phải là tư bản nước ngoài mà là tư bảntrong nước
Cho nông dân thuê những hầm mỏ là một hình thức nữa của CNTBNN.Chính ở những hầm mỏ nhỏ cho nông dân thuê, sản xuất lại đặc biệt phát triển
Trang 13hơn là những xí nghiệp lớn nhất trước kia là của tư bản Những nông dân nàyhoạt động theo kiểu nộp tô cho nhà nước Đây cũng là kiểu cho thuê, nhưngđối tượng thuê là những tiểu tư bản
2.5 Kết quả đạt được và ý nghĩa:
2.5.1 kết quả đạt được:
Sự thực hành chế độ CNTBNN ở thời Lê nin đã mang lại những kết quả
to lớn Đến tháng 11 năm 1922, Lê Nin đã trình bày khái quát nhũng thànhtựu của chính sách kinh tế mới nói chung, CNTBNN nói riêng:
Tình hình giai cấp nông dân, từ chỗ đói kém, một bộ phận rất lớn trongnông dân bất bình đến chỗ trong vòng một năm, nông dân đã thoát khỏi đượcnạn đói và còn nộp được thuế lương thực hàng trăm triệu rúp Nông dân đã hàilòng với tình hình của họ
Công nghiệp nhẹ đang có đà phát triển, đời sống của công nhân được cảithiện, tình trạng bất mãn của công nhân không còn nữa
Công nghiệp nặng tuy vẫn còn khó khăn nhưng đã có sự thay đổi nhấtđịnh
Riêng về chính sách CNTBNN, nhìn chung đã mang lại cho nước Nganhững tác dụng tích cực nhất định, góp phần làm sống động nền kinh tế nướcNga đã bị suy sụp sau chiến tranh Nhờ tô nhượng với nước ngoài, nhiềungành công nghiệp quan trọng đã phát triển, nhiều kinh nghiệm tiên tiến với
kỹ thuật, thiết bị hiện đại của nền sản xuất lớn TBCN đã được đưa vào quátrình sản xuất, mang lại hiệu quả cao Tô nhượng cùng các công ty hợp doanh
đã góp phần phát triển sản xuất hàng hoá, tăng thêm dự trữ ngoại tệ cho đấtnước, mở rộng các quan hệ liên doanh, liên kết kinh tế trong các lĩnh vực đầu
tư sản xuất, chuyển giao công nghệ tiên tiến và phát triển ngoại thương vớicác nước tư bản phương tây Thông qua các hoạt động của công ty hợp doanh,những người cộng sản Nga có thể thực sự học cách buôn bán, điều mà bấy giờ
Lê nin thường nói là nhiệm vụ quan trọng Hoạt động của các xí nghiệp chothuê, các xí nghiệp hỗn hợp góp phần giúp nhà nước Xô viết duy trì hoạt độngsản xuất bình thường ở các cơ sở kinh tế, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, việc