Tuy nhiên, khái niệm này cho rằng nếu quản lý nhà nước hay các thể chế nói chung không tăng trưởng phù hợp với thu nhập trên đầu người, thì tăng trưởng đến một lúc nào đó sẽ chậm dần trư
Trang 1
Việt Nam: Kinh tế chính trị học
về chiếc bẫy thu nhập trung bình
Bối cảnh
Có một cụm từ mà các nhà kinh tế chính trị thường sử dụng nhiều hơn so với các nhà kinh tế học – “chiếc bẫy thu nhập trung bình.” Khái niệm này liên quan đến những nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong một hay nhiều thập niên và đạt đến trạng thái thu nhập trung bình nhưng rồi tỷ lệ tăng trưởng chậm dần trước khi đạt đến trạng thái thu nhập cao Được minh họa dưới đây:
Lưu ý rằng “bẫy thu nhập trung bình” KHÔNG có nghĩa là các nước thu nhập trung bình sẽ không thể đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng Trung Quốc đã chứng tỏ điều đó Tuy nhiên, khái niệm này cho rằng nếu quản lý nhà nước hay các thể chế nói chung không tăng trưởng phù hợp với thu nhập trên đầu người, thì tăng trưởng đến một lúc nào đó sẽ chậm dần trước khi đạt được mức thu nhập trên đầu người của EU (hay thậm chí của miền Nam EU) Cho tới năm 1945, không đất nước nào duy trì được tỷ lệ tăng trưởng hơn 3% trên đầu người trong nhiều thập niên Nhật Bản xoay xở để tăng trưởng với tỷ lệ 8-10% từ đầu thập niên 1950 đến năm 1973 với tỷ lệ
Myanmar
Bangladesh
North Korea
Cambodia
Pakistan
Vietnam India
Philippines Indonesia China Thailand
Brazil Malaysia
Russia
S Korea Taiwan
0
100
200
300
400
500
600
$1,325 $1,693 $1,800 $2,216 $2,787 $3,359 $3,694 $4,073 $4,666 $8,382 $9,396 $11,769 $15,568 $16,736 $31,714 $37,720
World Bank Governance Indicators/Income Per Capita (PPP)
Middle Income Trap
2011
Income
per
capita
Middle Income Trap:
- Where medium income nations slow their growth due to lagging institutions and political development
- Crony groups capture government policy and even democracy may not reverse this.
- Poor nations may face similar challenges but at a lower income level Elite capture must be avoided.
Bẫy thu nhập trung bình:
- Là khi các nước có thu nhập trung bình tăng trưởng chậm lại do trì trệ về phát triển thể chế và chính trị
- Các nhóm thân hữu thao túng chính sách nhà nước và ngay cả dân chủ cũng không thể đảo ngược tình trạng này
- Các nước nghèo có thể gặp nhiều thách thức nhưng ở mức thu nhập thấp hơn Cần tránh tình trạng thao túng của
giới tinh hoa cầm quyền
Trang 2
tăng trưởng dân số khoảng 1% Theo sát Nhật Bản là Hàn Quốc và Đài Loan, cũng xoay xở để tăng trưởng nhanh trong khoảng 3 thập niên Vào cuối những năm 1970, Trung Quốc tiến hành cải cách và bắt đầu những thập niên tăng trưởng nhanh chóng, chỉ đến bây giờ mới kết thúc Việt Nam bắt đầu vào cuối những năm 1980, đã xoay xở để tăng trưởng nhanh trong gần hai thập niên nhưng rồi chậm dần với tỷ lệ tăng trưởng GDP quay về phạm vi 4-6% (trừ đi tỷ lệ tăng trưởng dân số khoảng 1% ), tỷ lệ này vốn tiêu biểu cho những nền kinh tế ASEAN giàu có hơn như Thái Lan hay Malaysia.1
Nguồn gốc tăng trưởng
Bài viết trước đã tham khảo các đồ thị của IMF trình bày các nguồn gốc tăng trưởng khác nhau Các đồ thị này bao gồm sự gia tăng số lượng lao động, số lượng vốn, chất lượng lao động (thường được đo bằng số năm đi học) và tổng năng suất các yếu tố sản xuất (TFP) Như đã lập luận, nguồn gốc chính của TFP là sự di chuyển người lao động từ khu vực năng suất thấp sang khu vực năng suất cao Ngay cả nếu năng suất trong nông nghiệp và công nghiệp chế tạo không thay đổi, nếu người nông dân chỉ sản xuất được 1000 USD một năm trên một người lao động, và công nhân nhà máy sản xuất được 4000 USD một năm, việc di chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp cũng giúp thúc đẩy TFP đối với tổng thể nền kinh tế Gần như không thể duy trì tăng trưởng GDP rất nhanh nếu không có sự di chuyển người lao động sang những lĩnh vực có năng suất cao hơn
Ở Việt Nam, năng suất của các lĩnh vực khác nhau vào năm 2010 và 2013 là như sau (giá không đổi năm 2010):
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
2010 2013 2010 2013 2010 2013 Người lao động (triệu) 24,3 24,4 10,3 11,1 14,5 16,7
Sản lượng/Người lao động 16,8 18,3 80,3 88,7 63,8 66,8
(triệu đồng)
% tăng trưởng năng suất 3% 3,5% 1,6%
trên một năm
% tăng trưởng người lao động 0,0% 2,6% 5,1%
1
Trường hợp của Singapore và Hong Kong không nằm trong phân tích này Đó là nhà nước chỉ có một thành phố và không có những vấn đề mà chỉ có những nước lớn hơn với các vùng nông thôn rộng lớn mới gặp phải Bên ngoài châu Á, có rất ít quốc gia duy trì được sự tăng trưởng nhanh trong nhiều thập niên
Trang 3
Trong khi lực lượng lao động nông nghiệp gần như không đổi, năng suất nông nghiệp tăng trưởng 3% một năm, không thấp hơn nhiều so với công nghiệp với tỷ lệ tăng trưởng năng suất là 3,5% một năm Tăng trưởng chậm nhất về năng suất (1,6% một năm) là trong lĩnh vực dịch vụ,
và dịch vụ cũng đang hấp thu hai phần ba của toàn bộ lực lượng lao động Điều này chẳng phải
hoàn toàn xấu – mức năng suất trong nông nghiệp chỉ bằng một phần ba mức năng suất của dịch
vụ và một phần năm của công nghiệp Nhưng người lao động hiện không di chuyển ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp – lĩnh vực này chỉ không tăng thêm người lao động mới Tình trạng không di chuyển người lao động hiện hữu vào những lĩnh vực năng suất cao (so với những người mới tham gia) chính là lý do khiến GDP của Việt Nam chỉ tăng trưởng khoảng 5% một năm Từ năm
2003 đến 2006, tỷ trọng người lao động trong nông nghiệp giảm 5% và số lượng người lao động làm việc trong công nghiệp tăng thêm 1,8 triệu người – người lao động rời khỏi khu vực nông nghiệp được tuyển dụng vào những lĩnh vực có năng suất cao hơn Khu vực dịch vụ tăng 1,2 triệu việc làm (Mỗi lĩnh vực cũng tăng trưởng về sản lượng trên người lao động nhiều hơn so với gần đây.) Từ năm 2003 đến 2006, GDP tăng trưởng hơn 8% một năm
Một lý do khiến tăng trưởng chậm dần là sự thay đổi cơ cấu chậm chạp của lực lượng lao động
Có điều gì đó đang giữ chân những người lao động hiện hữu trong lĩnh vực nông nghiệp có năng suất thấp hơn và họ không chuyển đến những hoạt động có năng suất cao hơn Lẽ dĩ nhiên, một
số người lao động nông thôn cũng làm những công nghiệp phi nông nghiệp, nhưng Điều tra Mức sống năm 2012 cho thấy tiêu dùng trên đầu người ở các thành phố cao hơn 74% so với ở vùng nông thôn
Phát triển đô thị
Một giả thuyết khả dĩ để ta tìm hiểu là xem thử có phải đô thị hóa ở Việt Nam là không hiệu quả hay không Tại sao tăng trưởng đô thị chỉ có 3-3,5% một năm từ năm 2000, và không đến 2,5% trong những năm gần đây? Nếu người lao động có thể kiếm được thu nhập cao hơn nhờ di cư ra thành phố, tại sao họ còn ở lại nông thôn? Công nghiệp và dịch vụ đang tăng trưởng nhanh cỡ gấp đôi so với nông nghiệp
Một câu trả lời là: người già ít có khả năng di chuyển Nếu dân chúng ở các vùng nông thôn đang già đi, có thể câu trả lời nằm ở khía cạnh nhân khẩu học chứ không phải ở chính sách đô thị
Trang 4
Người già chậm nắm bắt các kỹ thuật mới và có lẽ cũng có trình độ thấp hơn Nếu đúng như thế, khu vực nông thôn là nơi duy trì việc làm cho những người lao động kém nhanh nhẹn, thậm chí nếu khu vực đó có năng suất kém Sự thay đổi chính sách nông nghiệp có thể giúp dễ dàng hợp nhất các trang trại thành những đơn vị lớn hơn nếu người ta mong muốn đạt được tăng trưởng nhanh chóng hơn về năng suất nông nghiệp, nhưng điều đó có thể làm những người lao động nông nghiệp già nua bị mất việc Các chương trình đào tạo và hỗ trợ đối với các hoạt động tăng năng suất ở nông thôn là một phương pháp khác để giúp người lao động già trở nên có năng suất hơn
Câu trả lời thứ hai là giá đất và giá nhà quá cao, nhất là ở các vùng đô thị Nếu quả đúng như thế, người lao động mới có thể phải sống bên ngoài các thành phố, nơi giá đất rẻ hơn nhưng nhiều người phải đi qua những chặng đường dài để đến nơi làm việc hay đến trường Điều này dẫn đến
ùn tắc giao thông, ô nhiễm và tình trạng phi hiệu quả làm chậm tăng trưởng Tình trạng thiếu phương tiện giao thông công cộng (ngay cả với xe buýt, vốn không được sử dụng rộng rãi) khiến người ta khó lòng hài hòa giữa giá đất cao, nhà cao tầng, và giao thông hiệu quả ở các thành phố lớn Với phân tích này, giải pháp là phát triển giao thông công cộng, hạn chế sử dụng ô tô2, và ban hành thuế bất động sản để tài trợ dịch vụ đô thị và giúp hạn chế đầu cơ đất hay đầu cơ bất động sản
Câu trả lời khả dĩ thứ ba – và các khả năng này không loại trừ lẫn nhau – là nền kinh tế không tạo ra đủ việc làm trong những lĩnh vực có năng suất cao (chủ yếu là đô thị) Bài này ngụ ý rằng, vấn đề có thể nằm ở việc tiếp cận đất đai hay tiếp cận các khoản vay, một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp tư nhân, tình trạng phi hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, hay hiệu quả yếu kém của việc xây dựng cơ sở hạ tầng giúp giảm chi phí Cơ sở hạ tầng ở đây liên quan đến
cả cơ sở hạ tầng “cứng” như đường sá và cầu cống, cũng như cơ sở hạ tầng “mềm” như thủ tục hải quan hay quản lý nước
Đơn cử ví dụ về tình trạng ngập úng Một tình trạng phi hiệu quả là việc tiếp tục bơm hút nước ngầm Điều này dẫn đến sụt lún đất ngầm và làm cho tình trạng ngập úng trở nên tồi tệ hơn Việc
2
Singapore làm điều này bằng cách qui định phải có giấy phép hàng ngày tốn kém để lái xe vào các quận trung tâm vào giờ cao điểm Còn có những ví dụ khác, như lái xe ngày chẳn và ngày lẻ tùy thuộc vào số biển số cấp phép, nhưng những biện pháp này có khuynh hướng bị lạm dụng
Trang 5
san lấp những vùng đầm lầy tự nhiên để phát triển đô thị có thể làm cho nước từ những trận mưa
to không còn nơi thoát nên phải chảy trở vào thành phố Một tình trạng phi hiệu quả khác là việc xây dựng không đúng loại đê hay bờ kè kiểm soát ngập, hay hệ thống thoát nước – hoặc không xây dựng ở đúng nơi cần thiết Ngập úng gây ra nhiều vấn nạn - ở Thái Lan, ngập nặng đã phá hủy hàng chục nhà máy và gây gián đoạn chuỗi cung quốc tế Để có được những chính sách và những dự án đầu tư đúng – đảm bảo giải quyết được những vấn đề quan trọng một cách hiệu quả,
và không xây dựng những gì không cần thiết – xem ra thật khó khăn
Khía cạnh chính trị của chi tiêu công
Ở Việt Nam, chỉ có 10 hay 13 tỉnh thành là địa phương đóng góp ròng cho ngân sách trung ương, sau khi khấu trừ chi từ trung ương cho tỉnh thành Những tỉnh thành còn lại là địa phương nhận ngân sách ròng từ trung ương Những tỉnh thành “thâm hụt” này biết rằng bất kỳ việc đầu tư thêm nào cũng đòi hỏi phải thương nghị và hoạt động chính trị để thành công trong việc thu hút ngân sách công vào tỉnh nhà (Điều này cũng đúng với những tỉnh thành có thặng dư ngân sách, nhưng họ dễ dàng thu hút đầu tư tư nhân hơn, mà đó cũng là lý do khiến họ có thặng dư ngân sách Đồng thời, cơ sở hạ tầng ở những nơi năng động hơn thường được chi trả bằng cách thu phí
sử dụng hay quyền phát triển.) Cơ cấu Quốc hội và Hội đồng trung ương là đảm bảo việc thương nghị này phải được thực hiện và có vai trò quan trọng Nhiều đề án đầu tư đề xuất nhằm mục đích đáp ứng các ưu tiên chính trị địa phương nhưng không nhất thiết có ưu tiên kinh tế cao.3
Vì chí ít phải có một vài đề án này “phải” được tài trợ, nên hậu quả là Việt Nam nhận được điểm số thấp về cơ sở hạ tầng bất chấp mức chi tiêu cơ sở hạ tầng tương đối cao Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu năm 2014 xếp Việt Nam ngang với Ấn Độ và thấp hơn Indonesia, mặc dù cả Ấn Độ và Indonesia đều chi tiêu cho cơ sở hạ tầng ít hơn nhiều so với Việt Nam.4 Điều này cho thấy rằng Việt Nam không đạt được giá trị của đồng tiền trong đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là vì điều kiện địa
lý của đất nước tốt hơn nhiều so với Indonesia với hàng nghìn hòn đảo
3
Nguyễn Xuân Thành đã chứng minh việc đầu tư dư thừa vào nhiều cảng lớn là lãng phí như thế nào ở Việt Nam Các dự án đầu tư này thường được các bộ ở trung ương hỗ trợ, chứ không phải chỉ có sự ủng hộ của địa phương Điều đó giúp làm cho ngân sách và tầm quan trọng của họ trở nên to lớn hơn
4
Price Waterhouse, một công ty tư vấn và kế toán, có một báo cáo về cơ sở hạ tầng ở Đông Nam Á:
http://www.pwc.com/sg/en/capital-projects-infrastructure/assets/cpi-sea-infrastructure-spend-summary-201405.pdf và cho thấy rằng, tính theo tỷ trọng trong GDP, chi tiêu cho cơ sở hạ tầng ở Việt Nam (11,7%) cao hơn nhiều so với Indonesia (6,9%) trong những năm gần đây
Trang 6
Nếu mạch phân tích này đúng đắn, ắt phải có một giải pháp chính trị cho những gì về cơ bản vốn
là một vấn đề chính trị Ta có thể phác thảo một cách tiếp cận nào đó khi xem xét các cụm hoạt động có năng suất cao Ta có thể tìm thấy những cụm hoạt động có năng suất này trên khắp đất nước Việt Nam, chứ không chỉ ở các thành phố lớn Nếu các tỉnh có hoạt động “cụm” này đã tìm được các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng có năng suất cao và hợp tác với những tỉnh có thặng dư ngân sách, thì một liên minh chính trị để đầu tư hiệu quả hơn có thể giúp đẩy lùi những dự án kém hiệu quả Kết hợp với cải thiện chính sách cơ sở hạ tầng – hãy nghĩ tới việc bơm hút nước ngầm
và quản lý giao thông – cơ cấu chi phí của nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ được cải thiện Điều này có thể giúp Việt Nam dành được một phần trong đầu tư trực tiếp nước ngoài đang gia tăng
Giáo dục
Nhìn chung, đúng là xét bình quân người lao động có trình độ cao hơn sẽ có thu nhập cao hơn và
có thể cho rằng họ cũng có năng suất cao hơn Tuy nhiên, không có gì tự động trong quá trình
đó Ở một số nước, số lượng lao động quan trọng hơn so với chất lượng và nhu cầu về người lao động có trình độ Trong những trường hợp này, chênh lệch thu nhập giữa các trình độ khác nhau trở nên thu hẹp hoặc biến mất hoàn toàn, và (hoặc) người lao động có trình độ có thể di cư để tìm
cơ hội tốt hơn Vấn đề là liệu Việt Nam có rơi vào trường hợp này hay không
Một cách để trả lời câu hỏi này là quan sát các mức thu nhập khác nhau giữa những người lao động có trình độ học vấn khác nhau Năm 2013, người lao động với trình độ học vấn không cao hơn giáo dục cơ bản có thu nhập 3,3 triệu một tháng, trong khi người lao động đã qua đào tạo hướng nghiệp có thu nhập 4,6 triệu Tuy nhiên, người lao động với trình độ nghề nghiệp cao hơn (trung cấp) có thu nhập cao hơn 0,4 triệu và người lao động có trình độ cao đẳng chỉ có thu nhập 4,7 triệu Người lao động có trình độ đại học có thu nhập tăng vọt lên 6,6 triệu (Report on Labor Force Survey 2013, GSO, trang 34.) Như vậy, xem ra những phần quan trọng của hệ thống giáo dục không làm tăng thêm nhiều giá trị so với giáo dục hướng nghiệp cơ bản
Một phần khoảng cách năng suất có thể là do “giá trị gia tăng” nghèo nàn trong giáo dục ở cấp trung và trung cao Nếu đúng như thế, cần phải cải cách để mang lại những kỹ năng cần thiết cho những sinh viên này Nhưng một phần vấn đề có thể là do nền kinh tế gần như không tạo ra những việc làm “tốt” thậm chí khi đã có đủ kỹ năng Công việc ngoài quốc doanh chỉ trả lương
Trang 7
bình quân 3,5 triệu trong khi công việc nhà nước trả lương 5,1 triệu Có đúng là người lao động nhà nước thật sự có năng suất cao hơn, hay chẳng qua họ chỉ may mắn kiếm được việc làm trong những công ty có thế lực thị trường hay những lợi thế khác, và nhờ đó được hưởng lương cao hơn? (Đây là câu hỏi có thể đặt ra ở nhiều nước khác, và không chỉ đặt ra với việc làm nhà nước!) Nếu tiền lương không thể hiện năng suất do thất bại thị trường, thì một giải pháp của nhà kinh tế học là giảm biến dạng để tiền lương và năng suất tương xứng với nhau hơn Ở Việt Nam, hoàn toàn có thể áp dụng cả hai cách giải thích này
Các doanh nghiệp nhà nước
Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các doanh nghiệp nhà nước nhận được nguồn vốn vật chất và nhân lực trên một đơn vị doanh số nhiều hơn so với khu vực tư nhân hay khu vực đầu tư nước ngoài.5
Đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước cho GDP (và tỷ trọng vốn và lao động của họ) đã giảm dần, nhưng họ vẫn nhận được nhiều hơn, đồng thời họ cho đi chẳng được bao nhiêu so với các khu vực khác Việc thay đổi luật lệ hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sẽ giúp thúc đẩy giới quản lý của các doanh nghiệp này để họ chú ý nhiều hơn vào sinh lợi kinh tế
và bớt lo lắng hơn về các ràng buộc chính trị Nhìn chung, nói thì hay, nhưng rất khó thực hiện trên thực tế Nhưng khi mà các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn giữ “vai trò chủ đạo” và có thể lấn lướt các nhà sản xuất hiệu quả hơn nhờ được tiếp cận đặc biệt với đất đai, vốn vay, các hợp đồng và qui định dễ dàng hơn, thì tăng trưởng năng suất sẽ còn chậm hơn Điều đó cũng làm chậm sự phát triển của các thể chế hỗ trợ thị trường cần thiết cho cả khu vực nhà nước lẫn tư nhân – những thể chế giúp phát triển kiến thức chuyên môn trong những lĩnh vực cụ thể như tiếp thị, công nghệ, tài chính hay thiết kế sản phẩm Khi tiền lương tăng, nếu Việt Nam không tìm cách hỗ trợ tăng trưởng năng suất, đất nước sẽ rơi vào bẫy (cũng như Thái Lan) và hứng chịu tình trạng tăng trưởng chậm ở mức GDP trên đầu người tương đối thấp
Tối đa hóa chính trị và thỏa mãn kinh tế
Tăng trưởng với tỷ lệ 4-6% không phải là điều tệ hại nhất trên đời Tỷ lệ tăng trưởng đó vẫn còn nhanh theo các tiêu chuẩn lịch sử (trước Chiến tranh Thế giới II) và có thể giúp tăng gấp đôi thu nhập trên đầu người sau mỗi hai thập niên Có thể, một phần của chiếc bẫy thu nhập trung bình
5 Xem: Unplugging Institutional Bottlenecks to Restore Growth, một bài thảo luận VELP, tháng 8/2013 ở:
http://www.ash.harvard.edu/extension/ash/docs/VELP.pdf
Trang 8
là bài toán chính trị cho rằng tăng trưởng trung bình dù sao vẫn tốt về mặt chính trị hơn là làm quá sức và thay đổi những vai trò thể chế làm hạn chế tăng trưởng Nếu đúng như thế, thì hệ thống đang làm đúng những gì nó muốn: mang lại giải pháp chính trị tốt nhất đồng thời đạt được một giải pháp kinh tế có thể chấp nhận được
Vấn đề trục trặc với cách tiếp cận này là ở chỗ, Trung Quốc đã có thu nhập trên đầu người gấp đôi Việt Nam và sẽ có một vị thế kinh tế hùng mạnh để ảnh hưởng đến các phương án chọn lựa kinh tế của Việt Nam nếu Việt Nam là một nền kinh tế tăng trưởng chậm với khoảng cách thu nhập (trên đầu người) so với Trung Quốc ngày càng mở rộng Nếu Trung Quốc thật sự đang chậm dần, Việt Nam có cơ hội tiệm cận ngang bằng, hay chí ít cũng thu hẹp khoảng cách Biết rằng Việt Nam và Trung Quốc từng gần như bằng nhau về thu nhập trên đầu người theo ngang bằng sức mua vào năm 1990 (ít ra là căn cứ theo Ngân hàng Thế giới, hai nước chỉ cách nhau có 10%), mà giờ đây Việt Nam đạt chưa đến một nửa GDP trên đầu người của họ với khoảng cách ngày càng tăng, lên đến nhiều nghìn đô la, xem ra đây là một thất bại
Một đất nước Việt Nam đang tăng trưởng nhanh và tiệm cận mức thu nhập trên đầu người của Trung Quốc có thể cũng là một nền kinh tế mở hơn với nhiều phương án kinh tế hơn và nhiều bạn bè sẵn lòng giúp đỡ hơn Suy cho cùng, vấn đề chủ yếu không phải là tiền bạc mà là về khả năng Việt Nam có đứng vững được không và có ảnh hưởng nhiều đến các công việc riêng của mình hay không Để đạt kết quả tốt hơn, đất nước cần cải cách Cải cách thật khó khăn Nhưng tụt lại sau một đất nước láng giềng xem ra cũng khó Để cải cách, cần phải xây dựng liên minh của những người cải cách Đó là vấn đề chính trị mà có thể mang lại câu trả lời về kinh tế vô cùng cần thiết