4 Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyên Ngọc… Qua các công trình nghiên cứu và bài viết phê bình đó chúng ta thấy được những thành quả và đóng góp của Nguyễn Huy Tưởng đối với nền vă
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực
hiện dưới dự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thành Hưng
Các nội dung nghiên cứu và kết quả của đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
Học viên
Nguyễn Hữu Nhất
Trang 44
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thành Hưng, người thầy đã định hướng và luôn quan tâm, tận
tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy, cô giáo trong Khoa Văn học, nhà trường, gia đình và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này./
Học viên
Trang 51
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……….…
1 Lý do chọn đề tài……
2 Lịch sử vấn đề………
3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu………
4 Phương pháp nghiên cứu………
5 Cấu trúc của luận văn………
Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ THI PHÁP VĂN XUÔI TỰ SỰ VÀ MẢNG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG………
1.1 Khái lược về thi pháp văn xuôi tự sự của Nguyễn Huy Tưởng………
1.1.1 Khái lược về thi pháp học ………
1.1.2 Thi pháp truyện kể cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng
1.2 Truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng………
1.2.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng…… ………
1.2.2 Truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng trong dòng chảy văn học thiếu nhi……… ………
Chương 2: THI PHÁP NHÂN VẬT VÀ TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN… 2.1 Thi pháp nhân vật…….……… …
2.1.1 Khái niệm nhân vật……….………
2.1.2 Nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng… ………
2.1.2.1 Nhân vật thiếu nhi…….………
2.1.2.2 Nhân vật anh hùng………
2.1.2.3 Nhân vật từ thế giới loài vật…….……… …
3
3
4
8
9
10
11
11
11
13
15
15
20
24
24
24
25
26
30
37
Trang 62
2.1.3 Một số biện pháp khắc họa nhân vật: ………… ……
2.1.3.1 Khắc họa nhân vật qua hành động và xung đột… 2.1.3.2 Khắc họa nhân vật qua ngoại hình……… 2.1.3.3 Khắc họa nhân vật bằng mô tả và phân tích tâm lý……… 2.2 Tổ chức cốt truyện……… ………
2.2.1 Khái niệm cốt truyện……… ……… 2.2.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện của Nguyễn Huy
Tưởng……….… Chương 3: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ NGÔN NGỮ TRUYỆN KỂ.…
3.1 Người kể chuyện…… ……….………… 3.1.1 Khái lược về người kể chuyện………… ……….…
3.1.1.1 Điểm nhìn trần thuật trong truyện thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng…… ………
3.1.1.2 Mối quan hệ giữa người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong truyện thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng……….… 3.1.2 Người kể trong truyện của Nguyễn Huy Tưởng… …
3.1.2.1 Người kể chuyện lịch sử……… 3.1.2.2 Người kể chuyện hướng đạo……… 3.2 Ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Huy Tưởng…… ………
3.2.1 Khái lược ngôn ngữ kể chuyện……… ……
3.2.2 Ngôn ngữ truyện thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng…
KẾT LUẬN……….……….… TÀI LIỆU THAM KHẢO………
Trang 7sử, kháng chiến, về thủ đô Hà Nội, nhưng sẽ là thiếu sót nếu không nói đến mảng văn chương mà nhà văn đã dành tâm huyết để viết cho tuổi thơ như:
Tìm mẹ, Hai bàn tay chiến sĩ, Cô bé gan dạ, đặc biệt là những truyện lịch sử như: An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Quang Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng… đã góp phần tạo lập một “văn hiệu” thực sự đáng kính trọng
mang tên ông
Ở mảng đề tài lịch sử trong các truyện viết cho thiếu nhi, Nguyễn Huy Tưởng đã hướng các em vào những thời kỳ hào hùng, trọng đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, mà ở đấy những người anh hùng đã viết nên những bản anh hùng ca chói lọi, vang vọng mãi non sông Việt Nam Dù đấy
là những câu chuyện kể về những người anh hùng thời kỳ trung cận đại như: Quang Trung, Trần Quốc Toản, hay là thời kỳ cổ đại như An Dương Vương
… Tất cả hiện vẫn không thể nào phai mờ trong ký ức của người dân đất Việt
Việc nghiên cứu về con người, sự nghiệp và những sáng tác của ông đã
có khá nhiều các công trình nghiên cứu Ở đây chúng tôi có thể kể đến một số tác giả như: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phong Lê, Bích Thu, Tôn Thảo Miên… hay những nhà văn nổi tiếng nhận xét về các tác phẩm của Ông như
Trang 84
Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyên Ngọc… Qua các công trình nghiên cứu và bài viết phê bình đó chúng ta thấy được những thành quả và đóng góp của Nguyễn Huy Tưởng đối với nền văn học nước nhà qua các tác phẩm kịch, tiểu thuyết đặc biệt là truyện viết cho thiếu nhi Mặc dù vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào đi sâu vào tìm hiểu đầy đủ toàn diện về thi pháp văn xuôi tự sự của Nguyễn Huy Tưởng trong truyện viết cho thiếu nhi Để làm rõ những đặc điểm nổi bật trong thi pháp
văn xuôi tự sự của ông, xuất phát từ thực tế, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Thi pháp văn xuôi tự sự trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng” Với đề tài này, thông qua sự lý giải những thành công của văn
xuôi thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng từ bình diện thi pháp tự sự, chúng tôi có
kỳ vọng được góp một phần nhỏ vào việc đánh giá chung và khẳng định tài năng cùng những đóng góp của nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Huy Tưởng được dư luận công chúng quan tâm như một tài
năng nghệ thuật ngay từ trước cách mạng tháng Tám, khi ông cho ra đời Vũ Như Tô, An Tư công chúa Tuy nhiên, công trình nghiên cứu thực thụ về Nguyễn Huy Tưởng phải được tính từ chuyên luận Nguyễn Huy Tưởng (1912- 1960) của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức, xuất bản năm 1966
Trong công trình này các tác giả đã dành trọn chương Một để khảo sát sự chuyển biến tư tưởng, con đường đến với văn chương và những bước đường sáng tạo nghệ thuật của nhà văn từ một thanh niên yêu nước phấn đấu trở thành một nhà văn cộng sản trên mặt trận văn nghệ “Con đường đi của anh không phải là thẳng tắp, dễ dãi Có lúc anh bi quan, dao động, có lúc lòng tin của anh bị lung lay nhưng nói chung con người đôn hậu, trung thực và đầy ý thức trách nhiệm đó luôn luôn hướng về chân lý, hướng về Đảng Ngòi bút của anh lúc nào cũng đứng ở hàng đầu của cuộc chiến đấu cách mạng” [2, tr
Trang 95
21] Điều đáng ghi nhận trong công trình nghiên cứu này là các tác giả đã có
sự khảo sát kỹ về tư liệu, gắn tác phẩm với bối cảnh thời đại, trong hoàn cảnh sáng tác cụ thể để thấy được ý nghĩa xã hội, tính thời sự và những hiệu ứng tích cực trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng Dựa trên nguyên lý và phương pháp nghiên cứu theo quan điểm Mácxít, nghiêng về đánh giá, thẩm bình những giá trị nội dung với những mô típ, kết cấu quen thuộc như: Hoàn cảnh sáng tác, hình ảnh thời đại, thành công và một vài tồn tại, tinh thần dân tộc trong tác phẩm, vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử, vài nét về nghệ thuật…các tác giả chuyên luận đã đi sâu phân tích nội dung xã hội của tác phẩm trong sự tương quan, gắn kết với hiện thực cuộc sống Tuy nhiên chúng tôi thấy trong chuyên luận đầu tay, có tính khai phá đầu tiên này, hai nhà nghiên cứu còn thiên về miêu tả lại tác phẩm, tường thuật diễn biến cốt truyện mà chưa đi sâu tìm hiểu những giá trị nghệ thuật, những nét đặc sắc của một cây bút tài hoa
Với độ lùi của thời gian, sự thông thoáng, đổi mới trong tư duy đánh giá, nhìn nhận các hiện tượng văn học thời kỳ trước đổi mới, những vấn đề đặt ra trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng tiếp tục trở thành đề tài được bàn luận, nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học với các bài viết công phu nhiều phát hiện mới của các nhà nghiên cứu Phong Lê, Hà Minh Đức, Bích Thu, Tôn Thảo Miên, Đỗ Đức Hiểu, Phạm Vĩnh Cư, Trần Đăng Suyền, Nguyên Ngọc, Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu… Bên cạnh đó là các Hội thảo khoa học về cuộc đời, sự nghiệp Nguyễn Huy Tưởng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình đã đưa ra những đánh giá khách quan nhằm khẳng định vai trò, vị thế văn chương Nguyễn Huy Tưởng đối với sự phát triển của văn chương dân tộc
Năm 1996, bộ sách Nguyễn Huy Tưởng toàn tập do Nhà xuất bản Văn
học ấn hành, ra mắt bạn đọc, đã cung cấp một cách tương đối đầy đủ các tác
Trang 106
phẩm của nhà văn trên tất cả các thể loại, giúp người đọc có điều kiện thuận lợi khi tiếp cận văn nghiệp Nguyễn Huy Tưởng
Năm 2006, bộ ba Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng được Nhà xuất bản
Thanh niên xuất bản đã giúp người đọc có những hình dung rõ hơn về quá trình lao động nghệ thuật miệt mài và những khát vọng lớn của nhà văn muốn cống hiến cho văn học dân tộc Đây là tập nhật ký được nhà văn cần mẫn ghi chép trong suốt những năm cầm bút, bắt đầu từ ngày 02/11/1930 khi ông còn
là cậu học sinh trường Bonnal - Hải Phòng và kết thúc ngày 21/06/1960 với những dòng cuối được ghi chép ngay trên giường bệnh Bệnh viện Việt - Xô chỉ ít hôm trước khi nhà văn qua đời Tập nhật ký đã “thâu tóm, phản ánh toàn bộ sự nghiệp văn chương và cách mạng của ông, bắt đầu từ việc tìm đường cho đến khi đã trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, một chiến sĩ của Đảng hoạt động trên lĩnh vực văn nghệ, với tất cả những đam mê và khát khao sáng tạo, những thành tựu đã đạt được và cả những hẫng hụt của một nhà văn không bao giờ bằng lòng với mình, những phơi phới lạc quan và những băn khoăn, trăn trở của một người cả nghĩ” [20, tr 6]
Tiêu biểu như cuốn Nguyễn Huy Tưởng về tác gia, tác phẩm (Bích Thu, Tôn Thảo Miên tuyển chọn giới thiệu); Nguyễn Huy Tưởng khát vọng một đời văn (Phương Ngân tuyển chọn và biên soạn)… Và đặc biệt phải kể
tới những công trình do Nguyễn Huy Thắng - con trai nhà văn, người đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về những trước tác của cha mình, về những tâm sự, suy nghĩ khó nói của ông với mong muốn khắc họa một cách chân thực, rõ nét gương mặt nhà văn, nhà văn hóa Nguyễn Huy Tưởng trong cuộc sống đời thường và trong sáng tạo văn chương Đó là các ấn phẩm có giá
trị như: Nguyễn Huy Tưởng trong vầng sáng hồi nhớ; Nguyễn Huy Tưởng trước khi là nhà văn; Nguyễn Huy Tưởng với người thân; Nguyễn Huy Tưởng văn và người…
Trang 117
Gần đây cuốn Nguyễn Huy Tưởng một nhà văn Hà Nội (Nxb Hà Nội, 2011) ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và 50
năm ngày mất nhà văn Cuốn sách tập hợp những bài viết, bài tham luận của
các học giả, các nhà nghiên cứu trong Hội thảo khoa học “Nguyễn Huy Tưởng với Hà Nội” (do Hội Nhà văn, Viện Văn học và Nhà xuất bản Kim Đồng tổ
chức) đã nhấn mạnh đến những đóng góp và cống hiến to lớn của Nguyễn
Huy Tưởng - người nối dài những vẻ đẹp của Thăng Long, của Hà Nội dấu xưa Cuốn sách giới thiệu nhiều bài viết hay của các nhà nghiên cứu như: Nguyễn Huy Tưởng, một nhà văn Hà Nội (Phạm Xuân Nguyên), Thăng Long
- Hà Nội trong kịch và truyện của Nguyễn Huy Tưởng (Phong Lê), Cốt cách của một người viết sử (Dương Trung Quốc), Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng với tuổi thơ Hà Nội (Lê Phương Liên)… Những nhận định, đánh giá của các nhà
nghiên cứu đã nói lên tầm vóc và những đóng góp của “một nhà văn Hà Nội”, người đã mang đến cho đất kinh kỳ những trang văn hay nhất đời mình
“Nguyễn Huy Tưởng vĩnh biệt Hà Nội khi thành phố Thủ đô vào tuổi chín trăm năm mươi Ông đã viết nhiều về Thăng Long - Hà Nội, nhưng hình như điều sâu xa nhất ông vẫn chưa nói hết, nói trọn, nói xong Ông ra đi mang theo tất cả những trăn trở và ước vọng của một người con Hà Nội, một con người Hà Nội và một nhà văn Hà Nội cho xứ kinh kỳ - kẻ chợ đẹp hơn lên, văn hóa hơn lên, phong phú hơn lên, cả trên mặt đất và trong hồn người Tưởng như bất cứ cái gì đụng đến Hà Nội hôm qua, hôm nay, và ngày mai, vẫn khiến ông xúc động và lo lắng, dù đã tan vào cõi thinh không nửa thế kỷ nay Và những con chữ trên trang viết của ông về Hà Nội, cho Hà Nội, vì Hà Nội đọc lên dịp nghìn năm Thăng Long vẫn thấy động cựa, xôn xao Trên tất
cả, Nguyễn Huy Tưởng yêu Hà Nội, yêu những con người dám sống và chết cho Hà Nội.” [17, tr 204]
Trang 128
Ở mỗi công trình nghiên cứu các tác giả đã đề cập đến những khía cạnh tiêu biểu, nổi bật trong những tác phẩm cụ thể, đồng thời có sự đối sánh với tác phẩm của tác giả khác cùng viết về một thể loại để chỉ ra những nét đặc trưng riêng và sự thành công trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng ở hai bình diện nội dung tư tưởng và bút pháp nghệ thuật
Ngoài các công trình nghiên cứu được xuất bản còn có những luận văn thạc sĩ về sáng tác Nguyễn Huy Tưởng đã bảo vệ thành công gần đây như:
“Thể tài lịch sử - dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng” (Trần Thị Hồng Minh, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011); “Mạch lạc trong văn bản kịch
Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng” ( Đỗ Thị Bích Phượng, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011); “Điểm nhìn trong kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy
Tưởng” (Bùi Thị Tú, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012)… Ở mỗi công trình nghiên cứu các tác giả đã đề cập đến những khía cạnh tiêu biểu, nổi bật trong những tác phẩm cụ thể
Tuy nhiên vấn đề thi pháp tự sự trong truyện thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng vẫn để bỏ ngỏ, như là vùng đất trống mà chúng tôi hy vọng mình có thể góp được một tiếng nói riêng
3 Đối tƣợng, mục đích, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn sẽ hướng trọng tâm vào tìm hiểu thi pháp văn xuôi tự sự
truyện thiếu nhi như: Cô bé gan dạ, Chiếc bánh chưng, Truyện Tấm Cám, Tìm mẹ, Thằng Quấy, Con cóc là cậu ông Giời, Con chim Trĩ lông trắng, An Dương Vương xây thành Ốc, Hai bàn tay chiến sĩ, Điện Biên Phủ của chúng
em, Kể chuyện Quang Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng viết cho thiếu nhi để
thấy được tài năng của nhà văn qua bình diện thi pháp tự sự như: người kể chuyện, ngôn ngữ kể, tổ chức cốt truyện và hệ thống nhân vật Cùng với khảo sát 12 truyện nêu trên, ở đây chúng tôi còn khảo sát nhật ký của ông để làm rõ
Trang 139
hơn quan điểm, nghệ thuật truyện viết cho thiếu nhi mà ông đã dành cho độc giả trẻ
3.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Với đề tài đã chọn, luận văn của chúng tôi nhằm đem lại cách nhìn hệ thống, chỉ ra những đặc điểm riêng biệt về các truyện ngắn viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng trong dòng chảy văn học viết cho thiếu nhi nói chung của nước ta Đồng thời, qua nghiên cứu truyện viết cho thiếu nhi của ông chúng tôi cũng thử nghiệm vận dụng lý thuyết thi pháp văn xuôi tự sự vào nghiên cứu một hiện tượng văn học cụ thể
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi kiến thức: Vận dụng lý thuyết tự sự học và các phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm rõ vấn đề về thi pháp văn xuôi tự sự như người kể chuyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện và ngôn ngữ kể trong văn xuôi mảng đề tài viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng Đề tài được thực hiện cũng là dịp chúng tôi củng cố thêm kiến thức văn học sử về văn học Việt Nam hiện đại
- Phạm vi tư liệu: Thực hiện đề tài Thi pháp văn xuôi tự sự trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng chúng tôi tập trung khảo sát :
+ Những truyện hay viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng – sách
xuất bản tại Nxb Kim Đồng, năm 2013;
+ Nguyễn Huy Tưởng tuyển tập, Nxb Văn học; năm 2012
+ Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, 3 tập, Nxb Thanh niên; 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu đã được xác định, đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận thi pháp học và lý thuyết tự sự học Ngoài ra, cũng như mọi luận văn chuyên ngành lý luận văn học khác, chúng tôi không thể không
Trang 1410
sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh
5 Cấu trúc của luận văn
Về cấu trúc luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Khái lược về thi pháp văn xuôi tự sự và mảng truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng
Chương 2: Hệ thống nhân vật và tổ chức cốt truyện
Chương 3: Người kể chuyện và ngôn ngữ truyện kể
Trang 1511
Chương 1
KHÁI LƯỢC VỀ THI PHÁP VĂN XUÔI TỰ SỰ VÀ MẢNG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG 1.1 Khái lược về thi pháp văn xuôi tự sự của Nguyễn Huy Tưởng
1.1.1 Khái lược về thi pháp học
Trong việc định nghĩa thi pháp và thi pháp học, cũng như hầu hết các phạm trù cơ bản của khoa học nghiên cứu văn học và nhiều bộ môn của khoa học nhân văn, ta gặp phải một tình hình chung: ở trình độ phát triển hiện nay, các khoa học này chưa có khả năng đưa ra được những định nghĩa “đơn nghĩa” về đối tượng nghiên cứu của mình Chính điều này đã liệt hầu hết khoa học nhân văn vào lớp các khoa học “chưa trưởng thành” Nếu như toán học hoặc vật lý học đã có thể xây dựng những định nghĩa “đúng duy nhất” về điểm, đường thẳng, vận tốc âm thanh, trị số mét,… thì ngược lại, có thể nói rằng có bao nhiêu nhà nghiên cứu về truyện kể và thi pháp văn xuôi thì có gần như bấy nhiêu định nghĩa về thể loại và về thi pháp với tư cách một phân ngành khoa học Xét về mặt định nghĩa, “thân phận của thi pháp học không khác gì mấy so với thân phận tiểu thuyết” Vì thế, cái dung sai mà viện sĩ M Khrapchenco đã dành cho các định nghĩa về thi pháp học của ông lại phải cộng thêm những dung sai rất đa dạng mà mỗi người sử dụng Tuy nhiên, có thể nói định nghĩa của M Khrapchenco vẫn là một trong những định nghĩa tổng quát nhất và thuyết phục nhất về thi pháp học Ông viết: “Không hề kỳ vọng một định nghĩa thật đầy đủ, thật bao quát, tôi cho rằng có thể xác định thi pháp học như một bộ môn khoa học nghiên cứu của các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng” [10, tr 242]
Thi pháp học là khoa học về hình thức nghệ thuật Ngay luận điểm xuất phát đó đã chứa đựng một đặc trưng rất cơ bản của cách tiếp cận đối tượng
Trang 16Thi pháp học có nhiệm vụ phát hiện ra những liên hệ đó dưới dạng các quy luật và trong những trường hợp sáng rõ nhất – các hệ thống Khả năng hệ thống hóa – khả năng xây dựng và sắp xếp nhận thức trong một hệ thống, tức
là một tổ chức chặt chẽ, nhất quán theo những nguyên tắc nhất định – là một đòi hỏi và một biểu hiện của sự trưởng thành khoa học Mỗi trình độ nhận thức mới của khoa học lại được đánh dấu bởi những cấp độ mới, những tầm vóc mới của năng lực hệ thống
Không chỉ có nhiệm vụ thống kê và mô tả đơn thuần các phương diện, các thành tố cụ thể hiện tồn của hình thức nghệ thuật Nó còn phải nghiên cứu hình thức đó trong chức năng tổ chức và thể hiện nội dung Đồng thời, nó cần
đi ngược lên phát hiện ra những cơ sở và ảnh hưởng vô cùng phức tạp đã quy định sự lựa chọn của người nghệ sĩ, đã định hướng và dẫn dắt anh ta rốt cục đến những giải pháp hình thức cụ thể trong số vô vàn khả năng có thể có Thi pháp học đồng thời là một kiểu “triết luận” về hình thức nghệ thuật
Tựu trung, thi pháp học hiện thân như một khoa học về kỹ nghệ văn chương, lấy đối tượng nghiên cứu của mình không phải là văn học chung chung, mà nói như Jakobson, là “tính văn học của tác phẩm văn chương” Nó giải thích vì sao một văn bản ngôn từ lại trở thành tác phẩm nghệ thuật
Trang 1713
Thi pháp học phát triển theo ba hướng chính là thi pháp học quy phạm, thi pháp học lịch sử và thi pháp học cấu trúc Căn cứ trên những thành tựu nghiên cứu về lý thuyết và kết quả ứng dụng vào khảo cứu, phê bình các hiện tượng văn học cụ thể, ngày nay chúng ta đã có một hệ thống điểm nhìn thi pháp mới, như: thi pháp thể loại, thi pháp tác giả, thi pháp tác phẩm, thi pháp trào lưu… Thi pháp học hiện đại đã khẳng định hướng nghiên cứu rất hiệu
quả của nó trong lĩnh vực nghiên cứu văn xuôi tự sự Kết quả là tự sự học ra
đời và phát triển theo xu hướng “xin ở riêng”, tách lập như một phân ngành khoa học độc lập bên cạnh thi pháp học truyền thống
Do vậy, thi pháp văn xuôi tự sự được hiểu một cách giản dị như là kỹ thuật kể, hay hệ thống thủ pháp, cách thức trần thuật và xây dựng hình tượng
trong các thể truyện ngắn và tiểu thuyết
1.1.2 Thi pháp truyện kể cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng
Việc tiếp nhận và khảo cứu mảng truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có thể được tiến hành từ nhiều góc độ khác nhau Có một
số nhà sử học (như Dương Trung Quốc) tiếp cận di sản văn chương của Nguyễn Huy Tưởng từ tiêu chí thẩm định về tư liệu lịch sử Đối với các truyện lịch sử viết cho thiếu nhi, các nhà sử học cũng có thể trân trọng rút ra
từ đó tính chân thực lịch sử và ý nghĩa giáo dục truyền thống của văn chương Nguyễn Huy Tưởng Nhiều công trình nghiên cứu văn học sử khi tiếp cận hiện tượng Nguyễn Huy Tưởng cũng chủ yếu đánh giá đóng góp của nhà văn
về tính thời sự, ý nghĩa chính trị của đề tài và chủ đề tác phẩm Phần lớn các nghiên cứu đó đã ghi nhận những đóng góp của nhà văn ở phương diện nội dung tư tưởng và tính hiện thực của tác phẩm Trong luận văn này chúng tôi quan tâm chủ yếu tới phương diện hình thức nghệ thuật như: ngôn ngữ, thủ pháp dàn dựng kết cấu, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, loại hình xây dựng
Trang 1814
nhân vật Tạm thời chúng tôi có những đánh giá sơ bộ về đặc điểm thi pháp tự
sự của Nguyễn Huy Tưởng gắn với các tác phẩm cụ thể sau:
Ngôn ngữ trong truyện của Nguyễn Huy Tưởng viết cho thiếu nhi, có đặc điểm riêng khác để nhận ra với các tác giả cùng thời khác, một kiểu ngôn ngữ mộc mạc, dân dã, dễ hiểu, cú pháp đơn giản, cơ bản, mang đặc trưng chung của ngôn ngữ viết cho độc giả thanh thiếu niên, bộc lộ rõ nhất trong
truyện Tìm Mẹ; Giọng kể chuyện thân tình, mang tính đối thoại trực tiếp thể hiện rõ trong truyện Hai bàn tay chiến sỹ; Chú trọng thông tin sự kiện, không thi vị hóa kiểu Tô Hoài - truyện Điện Biên Phủ của chúng em Với truyện về
đề tài lịch sử, ngôn ngữ và giọng điệu kể có thay đổi theo đối tượng, theo đề
tài: thâm trầm, trang trọng hơn trong truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng
Về thủ pháp dàn dựng kết cấu, đặc điểm dễ nhận thấy trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng là ông tổ chức cốt truyện theo trình tự phát triển tự nhiên của thời gian theo lịch sử cụ thể, sự việc trong truyện xảy
ra tuần tự từ đầu đến cuối và không bị đứt quãng, liên tục phát triển và tiếp
diễn Những đặc điểm đó thể hiện rõ qua cốt truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng,
Kể chuyện Quang Trung, Điện Biên Phủ của chúng em Đó cũng là những
truyện tuân thủ mẫu kết cấu chương hồi; mỗi chương hồi gắn với một giai
đoạn phát triển nào đó của cốt truyện Truyện Điện Biên Phủ của chúng em
được tác giả xây dựng kết cấu làm ba phần: phần một “Đường lên Điện Biên Phủ”, phần hai “Điện Biên Phủ lịch sử”, phần ba “Điện Biên Phủ xây dựng chủ nghĩa xã hội” Ở mỗi phần nội dung của truyện được tác giả nêu cụ thể theo tiến trình thời gian của lịch sử dẫn dắt chúng ta con đường đi lên Điện Biên - những địa danh, những trận đánh và địa danh các trận đánh giành giật của bộ đội ta với địch và sự chiến thắng oai hùng của bộ đội Cuối câu chuyện tác giả đưa chúng ta tới một Điện Biên đang ngày đêm xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 19thuẫn xã hội, mâu thuẫn địch ta, tuy nhiên chưa phát triển thành xung đột cao trào
Về loại hình nhân vật: các nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng được hình thành qua ba tuyến nhân vật chính:
nhân vật thiếu nhi tiêu biểu là nhân vật Trần Quốc Toản truyện Lá cờ thêu
sáu chữ vàng, nhân vật cô Thứ truyện Cô bé gan dạ, nhân vật em Nhà và em
Gạo truyện Tìm mẹ; nhân vật anh hùng như An Dương Vương - truyện An
Dương Vương xây thành Ốc, nhân vật Quang Trung trong Kể chuyện Quang
Trung, nhân vật từ thế giới loại vật như con Cóc – truyện Con cóc là cậu ông
Giời, chim vàng anh truyện Tấm Cám…
1.2 Truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng
1.2.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 06/5/1912, tại làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội Cha
là một ông Tú nghèo, sống nhờ vợ tần tảo buôn bán Khi Nguyễn Huy Tưởng lên 7 tuổi thì cha mất, mẹ gửi ông ra Hải Phòng sống cùng gia đình người chị, học tiểu học ở trường Bonnal Năm 1932, khi 20 tuổi, ông đậu bằng Thành Chung và cũng bắt đầu học chữ Hán Ra trường, sau 3 năm vất vả tìm việc, đến 1935 ông thi đậu vào ngạch thư ký Nhà Đoan (cơ quan hải quan) Năm
Trang 2016
1939, ông cưới vợ, là tiểu thư con một vị quan ở Hải Phòng Dù sống cuộc sống công chức Nhà Đoan, nhưng Nguyễn Huy Tưởng có một đời sống nội tâm phong phú, ông chăm đọc sách, chịu khó tìm ý tưởng, hàng ngày viết nhật ký
Từ năm 1938, Nguyễn Huy Tưởng đã hoạt động cho hội Truyền bá quốc ngữ Cuối năm 1944, bắt đầu tham dự các buổi họp bí mật của hội Văn hóa cứu quốc Tháng 4/1944, ông chuyển từ Hải Phòng lên Hà Nội công tác
và được gặp các trí thức Hà thành như Nguyễn Xuân Huy, Như Phong, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trần Huyền Trân Tháng 6/1945, Nguyễn Huy Tưởng tham gia ban biên tập tạp chí Tiên Phong của Văn hóa cứu quốc Sau
đó hai tháng, Nguyễn Huy Tưởng đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào, Tuyên
Quang Ông còn là đại biểu Văn hóa cứu quốc, giúp biên tập các tờ báo Cờ giải phóng, Tiên Phong Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng thư ký Ban Trung
ương Vận động đời sống mới Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng trở thành một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc Ông qua đời ngày 25/7/1960, tại Hà Nội, khi mới 48 tuổi
Trong kí ức của những bạn văn cùng thời - những người cùng hoạt động cách mạng, cùng gắn bó, sẻ chia những vui buồn trong hành trình sáng tạo, Nguyễn Huy Tưởng luôn để lại ấn tượng và hình ảnh đẹp về một người chân thành, giản dị, cởi mở và đôn hậu Nói về Nguyễn Huy Tưởng, đa số các văn nghệ sĩ đều nhận thấy những phẩm chất tốt đẹp tỏa ra từ cuộc đời và những trang viết của ông Nhà văn Nguyễn Minh Châu khi soi chiếu cuộc đời và những tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng đã chỉ ra một đặc điểm thống nhất trong con người và văn nghiệp của nhà văn: “Những cái tên sách của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng như toát lên từ tính nết của ông thường kín đáo, điềm đạm, thủ thỉ và giản dị.” [16, tr 582] Nhà thơ Hoàng Trung Thông thì
Trang 2117
cho rằng: “Nguyễn Huy Tưởng, con người ấy, nhà văn ấy, như tôi biết là một con người chí tình…đối với bạn bè anh là một người trung hậu.”[16, tr 562]
Là người cùng hoạt động trong Hội Văn hóa cứu quốc, nhiều năm gắn
bó với Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn Như Phong nhận định: “Anh Tưởng người cao lớn, khỏe mạnh, nhưng có vẻ rất hiền Đôi mắt lim dim dưới một cặp lông mày thường nhướng cao lên như lúc nào cũng đương ngạc nhiên, một cặp môi luôn luôn hé mở hoặc tủm tỉm cười làm cho anh có vẻ thật thà,
cả tin hết sức Anh có một đức tính hiếm có ở một người đã ở vào một lứa tuổi già dặn là hết sức khâm phục, dễ hâm mộ những chuyện gì hay, những người nào tốt, hoặc anh cho là hay, là tốt…Có lẽ đó là nguyên nhân làm cho sáng tác của anh về sau này phần nhiều thiên về ca ngợi, ca ngợi với tất cả lòng chân thành, trọn vẹn và trong sáng không vẩn một chút dè dặt nào… Anh Tưởng là một người say mê lý tưởng và rất lạc quan tin tưởng ở bản chất tốt đẹp của con người”[16, tr 532 - 540]
Với nhà văn Lưu Văn Lợi, người bạn học cùng trường Bonnal, từng có những năm tháng làm việc với Nguyễn Huy Tưởng đã có nhận xét tinh tế về người bạn thân của mình: “Trong lao động nghệ thuật, Tưởng có hai nét đặc biệt: viết khó khăn, nhưng say sưa như không biết có gì xung quanh, viết viết, gạc gạc, suy nghĩ tập trung mặt thẫn thờ, cho nên Nguyên Hồng mới đặt cho Tưởng cái tên ông Mao Thuẫn (mặt thuỗn ra)” [17, tr 31]
Bằng lối nói giàu hình ảnh, nhà thơ Xuân Diệu cảm nhận: “Huy Tưởng không ánh chói, không làm người ta choáng phục ngay; nhưng anh chầm chậm nói chuyện rất có duyên, và dần dần mới hay anh có một sức hấp dẫn sâu sắc”[16, tr 508]
Sau này trong Điếu văn của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đọc khi Nguyễn Huy Tưởng mất, nhà thơ Nguyễn Đình Thi xúc động viết:
“Khiêm tốn trong đời sống hằng ngày, trong cách cư xử, trong khi viết
Trang 2218
văn…Thật thà với từng ý nghĩ, với từng dòng chữ viết ra…anh là nhà văn của lòng yêu và niềm tin cậy, anh hay nói đến niềm vui trong cuộc sống, miệng anh cười nhân hậu, mắt anh mở nhìn về phía ánh sáng” [16, tr 501-502] Gần đây, khi đánh giá về con người và văn nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng, nhà nghiên cứu Phong Lê đã phác thảo rõ nét chân dung, con người Nguyễn Huy Tưởng bằng những câu văn ngắn gọn, ấn tượng: “Con người Nguyễn Huy Tưởng, gương mặt Nguyễn Huy Tưởng: Hiền Và lành Chân thành Và đôn hậu.” (Báo Văn nghệ 16/5/1992)
Còn trong hồi ức của những người thân trong gia đình, Nguyễn Huy Tưởng là người con chí hiếu, nặng tình, sống có trách nhiệm với gia đình Đặc biệt qua những trang Nhật ký chân thực, sinh động mà ông ghi chép cần mẫn, bền bỉ suốt 30 năm, người đọc thấy hiện lên những phẩm chất đáng quý trong con người Nguyễn Huy Tưởng
Ông là người giàu lòng yêu nước, gắn bó sâu nặng với quê hương Tuổi mười tám đôi mươi ông đã ý thức rõ về trách nhiệm, bổn phận của bản thân trước vận mệnh quốc gia, “Viết văn để tỏ lòng yêu nước” Trải qua những thăng trầm, của đời sống cách mạng và kháng chiến, không lúc nào ông không trăn trở, thao thức về nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng phải viết được những tác phẩm lớn nói lên được sức sống mạnh mẽ, trường tồn của văn hóa dân tộc; cái vĩ đại của đất nước, con người Việt Nam
Nguyễn Huy Tưởng là người có khát vọng lớn, khát vọng viết được những tác phẩm có thể đạt giải Nobel như lời tâm sự ông ghi trong Nhật ký ngày 29-3-1945: “Mơ mộng viết một truyện dài, những truyện dài Khao khát một phần thưởng Nobel”, Tác phẩm ấy phải nói lên được tinh thần Việt Nam; ngợi ca, đề cao, tôn trọng con người Ông muốn mỗi người dân Việt Nam phải hiểu sâu sắc về lịch sử dân tộc mình, nhất là trong những năm tháng chịu kiếp nô lệ, tù đày, vì “Người không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi
Trang 23nỗ lực tìm tòi, sáng tạo Không bao giờ ông bằng lòng, thỏa mãn với những gì
đã làm được mà luôn lắng nghe, bình tĩnh suy xét, chỉnh sửa, bổ sung những điều mà ông cảm thấy còn khiếm khuyết, hạn chế trong từng câu chữ, trang văn
Một đặc điểm nổi bật trong con người Nguyễn Huy Tưởng là đức tính chân thành, tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh những vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra Với quan điểm đúng đắn, tiến bộ về con người, về nghệ thuật, Nguyễn Huy Tưởng kiên trì đấu tranh với những tư tưởng tập thể giản đơn, công thức, những hành động nhất thời làm tổn thương tình cảm, cuộc đời con người dù ông biết hậu quả sẽ phải nhận là những hiểu lầm, những thiệt thòi, day dứt
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị về văn chương và lịch sử Về tiểu thuyết có
Đêm hội Long Trì (1942), An Tư công chúa (1944), Truyện Anh Lục (1955), Bốn năm sau (1959), Sống mãi với Thủ đô (1960) Về kịch có Vũ Như Tô (1943), Cột đồng Mã Viện (1944), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948), Anh Sơ đầu quân (tập kịch - 1949), Lũy hoa (1960) Về truyện ký có Ký sự Cao Lạng (1951), Chiến sĩ ca nô Ngay trong lĩnh vực truyện thiếu nhi, ông
để lại những dấu ấn sâu sắc, có lẽ bởi ông chính là Giám đốc đầu tiên của Nhà
xuất bản Kim Đồng; với Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Tìm mẹ, Hai bàn tay chiến
sĩ, Con cóc là cậu ông giời, An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Quang Trung, Cô bé gan dạ và một tập Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, dày
1.700 trang
Trang 2420
Có thể nói con người Nguyễn Huy Tưởng có sự kết hợp hài hòa những phẩm chất tốt đẹp của một người giàu lòng yêu nước, yêu lịch sử dân tộc; không ngừng tìm tòi, sáng tạo để vươn tới những giá trị tốt đẹp của chân - thiện - mỹ Đường đời, đường cách mạng và đường văn chương Nguyễn Huy Tưởng có sự song hành, bổ sung, thống nhất Điều đó đã làm nên một chân dung, phong cách Nguyễn Huy Tưởng độc đáo, ấn tượng
1.2.2 Truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng trong dòng chảy văn học thiếu nhi
Nếu nhìn vào chiều sâu lịch sử của văn hóa dân tộc, chúng ta đều thấy rằng văn học dành cho trẻ em ở ta đã tồn tại từ lâu đời dưới dạng văn chương truyền miệng qua những bài hát đồng dao, trò chơi dân gian, truyện cổ tích, giai thoại và truyện dã sử về các nhân vật anh hùng Khi công cuộc truyền bá chữ quốc ngữ được các nhà văn hóa yêu nước Việt Nam dấy lên thành một phong trào rộng lớn, mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng là một thành viên tích cực của phong trào này, nhu cầu phổ biến văn hóa cho thế hệ trẻ có lẽ đã thúc đẩy sự ra đời một thể loại văn học mới, hiện hình như một loại sách riêng: Tủ sách Truyền bá, Tủ sách Hoa Xuân, Tuổi Hồng, Tuổi Xanh dành cho lứa tuổi thanh thiếu nhi, ra đời trong những năm 1940, 1941, 1942
Cũng chính từ đây, tác phẩm bất hủ Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài đã xuất
hiện và một số truyện viết cho thiếu nhi khác
Nguyễn Huy Tưởng trong quá trình sáng tác của mình ông đã viết rất nhiều thể loại như tiểu thuyết, kịch… đặc biệt với tuổi thơ ông đã dành tình
cảm nhiệt huyết nhất với thiếu nhi và đã sáng tạo và viết các truyện Cô bé gan
dạ, Chiếc bánh chưng, Truyện Tấm Cám, Tìm mẹ, Thằng Quấy, Con cóc là cậu ông Giời, Con chim Trĩ lông trắng, An Dương Vương xây thành Ốc, Hai bàn tay chiến sĩ, Điện Biên Phủ của chúng em, Kể chuyện Quang Trung, Lá
cờ thêu sáu chữ vàng
Trang 2521
Trong lời giới thiệu tập Cô bé gan dạ, anh Nguyễn Huy Thắng, con trai
nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã cho bạn đọc biết, nhà văn khi ấy 27 - 28 tuổi đời, đã hăng hái tham gia phong trào hướng đạo, một tổ chức tập hợp những thanh thiếu niên giàu nhiệt huyết, yêu đời, tràn đầy lòng tự hào dân tộc Từ
sở trường riêng sớm xác định cho mình, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã hướng suy tư thẩm mỹ của mình vào việc tìm hiểu kho tàng truyện lịch sử và
cổ tích của dân tộc Không chỉ làm công việc sưu tầm Kho tàng truyện cổ tích như nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi, hay sưu tầm Tục ngữ phong dao như
học giả Nguyễn Văn Ngọc, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng với ý thức sáng tạo
đã xuất phát từ truyện cổ tích sưu tầm ở dân gian như Cô bé gan dạ và sau này là Tìm mẹ, viết nên những truyện ngắn như huyền thoại, làm ra một bản
sắc riêng trong văn học cho thiếu nhi
Có thể nói rằng trong các tác phẩm này, dưới ngòi bút của nhà văn, tiếng Việt đã trở nên tinh xảo và sinh động, có sức gợi mở trí tưởng tượng cho
người đọc Truyện Cô bé gan dạ thể hiện hình ảnh một cô con gái liễu yếu
đào tơ, dám liều mình nhận làm vật hiến sinh cho con quái vật, để rồi đối mặt chiến đấu với mãng xà và cuối cùng đã chiến thắng, diệt trừ được mối tai họa cho dân làng Tấm lòng của Nguyễn Huy Tưởng khi ông tâm niệm: “Văn chương viết cho thiếu niên phải cốt làm sao cho bao giờ họ cũng có một tấm lòng bồng bồng bột bột, mà vẫn biết lẽ phải, và vẫn biết thương nhau” Điều
này sẽ còn được tác giả thể hiện rõ nét hơn, hào hùng hơn trong Lá cờ thêu sáu chữ vàng sau này
Đã có nhiều bài nói về các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng, những bài của đồng nghiệp, bạn bè, nhà nghiên cứu như Tô Hoài, Vũ Ngọc Bình, Văn Hồng, Vân Thanh và cũng đã có nhiều hội thảo về sự nghiệp văn học của ông trong đó có phần sáng tác cho thiếu nhi Nhưng hình như mỗi lần đọc lại tác phẩm của ông, ta lại thấy sáng ra một điều gì khác Rõ
Trang 2622
ràng nhờ có nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, nhờ có sáng tác về mảng truyện viết cho thiếu nhi của ông ta mới có thể khẳng định được sự đóng góp đặc sắc, phong phú cho văn học thiếu nhi Việt Nam Tìm đọc những sáng tác của ông, ta mới càng thấy việc viết cho thiếu nhi là một sự nghiệp đòi hỏi công phu, tinh tế và có ý nghĩa lâu dài, bởi nó tác động vào tâm hồn, tạo nên nhân cách văn hóa cho những con người còn măng tơ Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng là hành trình của sự kiếm tìm, sáng tạo không mỏi mệt nhằm tạo ra những tác phẩm có giá trị thẩm mĩ, tiến tới sự hoàn mĩ
về nội dung và hình thức biểu hiện, đem đến cho công chúng những món ăn tinh thần bổ ích, nhiều giá trị và giá trị lớn hơn cả là tinh thần dân tộc
Như vậy, với hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng
khép lại ở tuổi 49 với gần 20 năm cầm bút mà điểm đầu xuất phát là kịch Vũ Như Tô, kết thúc ở tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô còn dang dở Đó là một
hành trình đầy gian nan, vất vả Nhiều lúc ông nghẹn ngào “Đời nhiều việc quá, thấy viết không được như mình muốn, viết khó quá Và ứa nước mắt
khóc” (Nhật ký, ngày 13-18/8/1946) Nhưng với những nỗ lực và niềm đam
mê sáng tạo, khát khao cống hiến, Nguyễn Huy Tưởng đã có nhiều công lao
to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền văn học dân tộc Nổi bật lên trong văn nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng là nguồn cảm hứng mãnh liệt về lịch sử dân tộc với lòng yêu nước thiết tha, sâu nặng đặc biệt là truyện viết cho thiếu nhi Việt Nam ta
*
Tiểu kết: Sáng tác cho thiếu nhi là một thành tựu nghệ thuật quan trọng trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng Hướng tới độc giả trẻ tuổi với động cơ giáo dục nhân cách đạo đức và tình yêu quê hương đất nước cho thế hệ tương lai chính là con đường nghệ thuật chân chính và cao đẹp của mỗi người cầm bút viết văn Nguyễn Huy Tưởng đã vững bước trên con đường ấy,
Trang 2723
và trở thành một trong những cây bút mở đường, khai phá cho dòng văn học Việt Nam hiện đại viết cho tuổi trẻ Đối với mỗi kiểu độc giả, nhà văn chắc chắn phải tìm một lối viết riêng mang tính đặc thù, phù hợp với thị hiếu, tâm
lý và khả năng của độc giả Thi pháp truyện kể cho người trẻ có những đặc điểm riêng, khác biệt với độc giả lớn tuổi Trong chương viết trên, chúng tôi
đã có những nhận diện ban đầu về thi pháp truyện kể cho thiếu nhi của nhà văn Trong hai chương tiếp theo dưới đây chúng tôi sẽ cố gắng chỉ ra những đặc điểm thi pháp truyện thiếu nhi của nhà văn trên các bình diện thi pháp tự
sự cơ bản như: Kiểu nhân vật, Tổ chức cốt truyện, Người kể và Ngôn ngữ truyện kể
Trang 2824
Chương 2
THI PHÁP NHÂN VẬT VÀ TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN
2.1 Thi pháp nhân vật
2.1.1 Khái niệm nhân vật
Có thể khái quát như sau: “nhân vật chính là nơi chứa đựng nội dung, phản ánh tư tưởng tác phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con người, về nhân sinh của nhà văn Phân tích nhân vật trở thành một con đường quan trọng để
đi đến giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lí tưởng thẩm mỹ của nhà văn Nhân vật được coi là đứa con tinh thần của nhà văn, nên phân tích nhân vật để nhận ra tài năng, đặc điểm, bút pháp nghệ thuật của nhà văn” [15, tr 1]
Nhân vật trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ,
đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện qua những đặc điểm mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu
sử, nghề nghiệp Thực ra, khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự vật, loại vật khác ít nhiều mang bóng dáng con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người Đó là nhân vật Dế Mèn, võ sĩ Bọ Ngựa trong truyện thiếu nhi của
Tô Hoài Đó là con Cóc, chim Trĩ, vàng anh trong truyện thiếu nhi của
Nguyễn Huy Tưởng, hay vầng trăng, bông hoa trong thơ Bác cũng có khi
đó không phải là những con người, sự vật cụ thể, mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan đến con người được thể hiện nổi bật trong tác phẩm, chẳng hạn như nói “nhân dân” là nhân vật chính trong tác phẩm hay
“thời gian” là nhân vật chính trong tác phẩm
Trang 2925
Các tác phẩm thuộc thể văn xuôi tự sự (như truyện ngắn, tiểu thuyết) không thể thiếu nhân vật, vì đó là phương diện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn
đề nào đó của hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định Các loại hình nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng Xét về vai trò nhân vật trong tác phẩm,
có thể nói tới nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm
2.1.2 Nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng
Nhân vật là hình tượng trung tâm, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng, tình cảm, chủ đề của tác phẩm Mỗi nhà văn trong quá trình sáng tạo đều cố gắng tạo ra những nhân vật điển hình đại diện cho số phận, tính cách của một giai cấp, một cộng đồng trong một giai đoạn, thời kỳ lịch sử nhất định “Văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch
sử nhất định.” [8, tr 160] Nhân vật trong truyện Nguyễn Huy Tưởng rất đa dạng, đó là những con người nhỏ bé như nhân vật em Nhà và em Gạo trong
Tìm Mẹ, nhân vật cô Thứ trong Cô bé gan dạ, những người anh hùng gắn liền với những chiến công thời đại như nhân vật Quang Trung trong Kể chuyện Quang Trung, nhân vật Trần Quốc Toản trong Lá cờ thêu sáu chữ vàng,… tất
cả đều được chọn lựa, phản ánh qua cách xử lý, sáng tạo tài tình của nhà văn Nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng mang sắc màu, cá tính riêng qua điểm nhìn nghệ thuật và cách miêu tả, phản ánh độc đáo Nếu coi
Trang 3026
“Phong cách biểu hiện những đặc điểm của cá tính sáng tạo của nhà văn, sự hoàn chỉnh của nhận thức nhà văn về cuộc sống, của cách nhìn của nhà văn đối với thế giới” [8, tr 272] thì việc xây dựng thành công hình tượng các nhân vật lịch sử, các gương người tốt việc tốt, nhân vật anh hùng cũng phần nào thể hiện quan điểm, cách nhìn của nhà văn về cuộc sống, con người Chúng tôi tiến hành khảo sát các kiểu nhân vật trong sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng để thấy được những nét riêng và những đóng góp, sáng tạo của nhà văn trong nghệ thuật xây dựng nhân vật - một yếu tố quan trọng góp phần làm nên nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng
Nhìn chung có thể nhận thấy có ba tuyến nhân vật chủ yếu nổi lên trong thế giới nhân vật truyện thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng Sự phân định ra ba tuyến nhân vật này chỉ có tính tương đối, vì không thể lấy ra một tiêu chí chung để phân loại, chọn lọc mà đưa vào hệ thống Có những nhân vật có tính giao thoa, chồng lấn sang tuyến nhân vật bên cạnh, có thể xếp vào
cả hai tuyến kiểu trong ba tuyến nhân vật: nhân vật thiếu nhi, nhân vật anh hùng và nhân vật từ thế giới loài vật
2.1.2.1 Nhân vật thiếu nhi
Nhân vật thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng trong các truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Tìm mẹ, Thằng Quấy, Cô bé gan dạ là các nhân vật chính trung tâm Đây là những gương mặt tiêu biểu cho lòng quả cảm, ý chí sắt đá, kiên
cường, vượt lên hoàn cảnh số phận, vượt lên chính bản thân mình để chiến thắng kẻ thù, để tìm về với hạnh phúc, cao hơn nữa là khẳng định cho tình yêu với đất nước khi có giặc ngoại xâm
Khi xây dựng nhân vật Trần Quốc Toản - một thiếu niên yêu nước thời Trần, Nguyễn Huy Tưởng đã chọn lựa những chi tiết phù hợp với tính cách nhân vật, đáp ứng được tâm lý của trẻ em khi đọc tác phẩm Trần Quốc Toản
là một thiếu niên sớm có ý thức trách nhiệm với non sông Trước thái độ
Trang 3127
nghênh ngang, hợm hĩnh coi thường “phép nước Nam” của sứ giả nhà Nguyên, lòng dân vô cùng căm giận Nỗi uất giận đó cũng xen vào giấc ngủ trẻ thơ Trần Quốc Toản mơ bắt được Sài Thung (tên sứ giả hống hách của nhà Nguyên) nhốt vào cũi giải về kinh Trong mơ, Sài Thung đớn hèn chắp tay lạy như tế sao, làm Trần Quốc Toản bật cười tỉnh dậy và biết đây là một giấc mơ Bực tức vì nhỏ tuổi không được dự bàn việc nước, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản đã nhịn đói, rong ruổi ngựa suốt một ngày dưới nắng hè tìm nơi họp bàn việc nước của nhà vua Bị quân lính Thánh Dực ngăn cản, Quốc Toản đã liều mình rút kiếm đe dọa Sự khảng khái đó thể hiện tinh thần yêu nước thiết tha khiến chú bé chẳng nghĩ gì đến tính mạng của mình
Vua Thiệu Bảo ngợi khen và ban cho cam quý Uất giận vì giặc cướp nước, tủi hổ vì vẫn bị coi là trẻ con, Trần Quốc Toản đã bóp nát cam quý vua ban lúc nào không biết Những chấn động trong tình cảm đã khiến chú bé có những hành động vượt ra ngoài sự kiểm soát của lý trí Sức mạnh của lòng căm thù có thể biến thành một sức mạnh vật chất lớn lao Trần Quốc Toản đã
tự dựng cờ nghĩa với sáu chữ vàng đã nhanh chóng thu phục được hơn sáu trăm trai tráng thành lập quân đội, luyện tập võ nghệ, lên đường đánh giặc… Những hành động đó thể hiện ý thức tự lập, tự cường cao cả của người anh hùng nhỏ tuổi Trận Hàm Tử Quan là trận phản công đầu tiên của nhà Trần nhằm bẻ gãy sự phối hợp của hai cánh quân đường bộ do Thoát Hoan chỉ huy, đường thủy do Toa Đô chỉ huy Trần Quốc Toản đã xung phong đi đánh Toa
Đô với những lời khẳng khái “Một Toa Đô chứ mười Toa Đô cháu cũng không sợ”, “Nếu không lấy được đầu Toa Đô cháu xin nộp đầu mình dưới trướng” Thái độ cương quyết của Trần Quốc Toản đã khiến Trần Hưng Đạo hết sức hài lòng, tin tưởng giao nhiệm vụ là tướng tiên phong trong trận Hàm
Tử Quan Trong cuộc giao tranh với lão tướng nhà Nguyên, Trần Quốc Toản
đã ba lần chủ động tấn công sang thuyền Toa Đô với một ý chí ngoan cường
Trang 3228
Bằng những chi tiết tiêu biểu, sinh động nhà văn đã khắc họa thành công tấm gương thiếu nhi yêu nước: “Hoài Văn tuổi trẻ chí cao/ Cờ đề sáu chữ quyết vào lập công”
Tìm Mẹ là truyện cổ tích xuất sắc, hấp dẫn nhiều thế hệ bạn đọc bởi
tính cách nhân vật và truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc là: ác giả, ác báo,
ở hiền gặp lành … ngay vào đầu câu chuyện, người đọc bắt gặp cái tên của hai nhân vật chính thật đặc biệt thằng Nhà và con Gạo Tác giả viết: “Thôi, đặt tên cho nó là Nhà để nó sau này nó có cái nhà trú mưa trú nắng… thôi, đặt tên cho nó là Gạo để nó sau này nó còn có hột gạo mà ăn” [24, tr 67]
Có nhà để ở, có gạo để ăn đó là ước muốn cháy bỏng ngàn đời của cha ông và dường như đến nay câu chuyện ấy vẫn là khát vọng, mong ước không
dễ thực hiện với bao người Truyện kể thằng Nhà và con Gạo có hoàn cảnh khốn khó, phải sống dưới sự cai trị của chúa làng gian ác Hai anh em phải trải qua bao gian truân, khổ cực, lạc mất mẹ, đói khát, rơi vào nanh vuốt hổ Nhưng được sự giúp đỡ của Rận, của Đại Bàng, các em đã tìm thấy mẹ, được trở về mái ấm gia đình Với mong ước nhỏ nhoi, bình dị: “Trở về làng từ nay
có nhà, có gạo, có mẹ có con Con ơi con ngủ cho ngoan…” [24, tr 96] Câu hát à ơi của người mẹ vang lên khi kết thúc truyện chứa đựng bao tình cảm thiết tha, lòng yêu thương con vô bờ bến với khát vọng về một tương lai no
ấm, sum vầy đó là khát vọng của nhân dân ta Tìm Mẹ xứng đáng được xếp
vào một trong những truyện viết cho thiếu nhi xuất sắc nhất, một đỉnh cao của văn học hiện đại Việt Nam
Sau truyện Tìm Mẹ phải kể đến truyện Cô bé gan dạ, một câu chuyện
mới được phát triển in trong tủ sách Hoa Xuân được Nguyễn Huy Tưởng viết vào những năm 1940 của thế kỷ trước khi ông tham gia phong trào hướng đạo Truyện kể về một cô bé gan dạ đã vượt lên sự mê muội, mê tín của dân làng khi ông Tiên chỉ cho biết thần làng báo mộng mỗi tháng phải nộp một
Trang 3329
con lợn sống và mỗi năm phải cống nộp một người con gái tân Làng Thần Quyết hai mươi năm nay phải sống trong khủng bố, đe dọa với tâm lí nơm nớp lo sợ Năm nay cô Thứ con gái cụ Trương Nghiêm – một gia đình khốn khó, hiếm hoi chỉ có một mụn con gái tới lượt phải nộp cho hung thần theo sự bốc thăm của làng Nhưng trái với tâm lí sợ sệt của thầy u, dân làng, cô Thứ không hề run sợ, không sợ đối mặt với cái chết, cô chỉ thương cha mẹ già không có ai chăm nom, lo liệu sớm hôm Với bản lĩnh cứng cỏi, trí thông minh, tinh thần dũng cảm, cô Thứ tưởng lúc đi vào cõi chết chỉ xin thầy u một điều hãy rèn cho hai con dao thực sắc để nàng quyết sống chết với con ác thú Không tin vào những tin đồn nhảm, cô Thứ linh cảm và biết chắc trong hang động không có thần thánh nào tác oai, tác quái mà chỉ có con thú dữ ăn thịt người
Nguyễn Huy Tưởng bằng tài quan sát, miêu tả, nghệ thuật kể chuyện dẫn dắt độc đáo, khéo léo đã tái hiện cuộc chiến giữa người với ác thú, giữa chính nghĩa với tàn bạo, hủ tục Cuộc vật lộn, tấn công giữa một bên là người con gái trẻ đẹp, đơn độc với một bên là con cá sấu dũng mãnh, phi thường mình dài hơn một trượng được miêu tả chi tiết, gay cấn: “Mắt nó đang tìm tòi, thì vụt một cái, giữa lúc cổ nó vừa ra khỏi miệng hang, một chiếc dao nhọn của cô bé can đảm đã đâm thẳng vào chỗ hiểm ấy Con vật bị đánh bất thình lình kêu rít lên; nó định quay đầu lại để cắn kẻ thù nhưng không được vì con dao đã cắm ngập cổ nó, mà mình nó còn bị giam hãm trong hang nên nó thiếu đà” [24, tr 19] Cuối cùng bằng tài năng nghị lực và niềm tin vào cái thiện sẽ chiến thắng, cô Thứ đã giải được cơn u mê, diệt trừ mối tai họa cho dân làng, được nhân dân kính phục và ngưỡng mộ
Viết cho thiếu nhi mảng măng non, Nguyễn Huy Tưởng còn mang đến cho các em những câu chuyện cổ tích thần kỳ, những xứ sở thần tiên Nhưng
thấp thoáng và ẩn sâu sau những chi tiết li kì, kì ảo như truyện An Dương
Trang 3430
Vương xây thành Ốc, bạn nhỏ có thể bắt gặp những hình ảnh, con người trong
câu chuyện ở ngay giữa cuộc đời
2.1.2.2 Nhân vật anh hùng
Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn đã dành nhiều tâm huyết cho đề tài lịch
sử Các tác phẩm của ông về đề tài này đã tái hiện thành công những mốc lịch
sử của dân tộc Ngay từ khi còn trẻ, Nguyễn Huy Tưởng đã có ý thức sâu sắc, tầm quan trọng của việc am hiểu lịch sử trong đời sống tinh thần dân tộc, cũng như trong sự phát triển của từng cá nhân, đặc biệt đối với thiếu niên nhi
đồng Bằng những tác phẩm như An Dương Vương xây thành ốc, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung, Hai bàn tay chiến sĩ…Nguyễn Huy
Tưởng đã đưa các em trở về với những năm tháng đầy hào hùng trong lịch sử dân tộc Điều hấp dẫn trẻ thơ từ những tác phẩm này chính là nghệ thuật khắc họa các nhân vật anh hùng lịch sử
Đề tài lịch sử không hề dễ viết nhưng bằng vốn kiến thức sâu rộng bằng việc căn cứ vào các sử liệu và phát huy khả năng tưởng tượng sáng tạo trong khi viết, Nguyễn Huy Tưởng đã giúp trẻ em hình dung một cách rõ nét, sinh động về các giai đoạn lịch sử, các nhân vật lịch sử nhiều khi bị lớp bụi thời gian làm mờ nhòa Nhà văn đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật đặc sắc trong việc khắc họa các nhân vật lịch sử đem lại sự thích thú cho thiếu nhi khi được đọc tác phẩm của ông
Nguyễn Huy Tưởng đã lựa chọn những tình huống truyện nhiều ý nghĩa để khắc họa chân dung nhân vật lịch sử Các nhân vật được đặt trong những biến cố lịch sử dân tộc để bộc lộ phẩm chất Bản lĩnh và tài năng của Thục Phán - An Dương Vương trong việc xây thành, ghi lại hoàn cảnh đầy thử thách, cam go của cả dân tộc Giặc Triệu Đà đang tiến gần bờ cõi, làm cách nào để chiến thắng giặc ngoại xâm, An Dương Vương cùng nhân dân Âu Lạc đã dốc sức, đồng lòng để xây thành trì kiên cố chống giặc Chuỗi truyền
Trang 3531
thuyết về An Dương Vương có nhiều sự kiện lịch sử nhưng Nguyễn Huy Tưởng đã chọn công việc xây thành để nhân vật vua An Dương Vương bộc lộ phẩm chất và tài năng Nhà văn đã mượn giấc mơ của An Dương Vương được thần núi Thất Diện bày cách xây thành Ốc “Thành này không có bốn cửa đông, tây, nam, bắc Quân Triệu Đà không biết đánh vào chỗ nào Thành này
có nhiều lần tường Thành này chỉ có một con đường đi vào, càng vào càng heo hút, thẳm cùng Vào không dễ mà ra Vào ít thì không có sức mà đánh, vào nhiều thì tắc nghẽn Nhà vua đắp được thành này thì đánh được Triệu Đà Đấy gọi là thành Ốc” [24, tr 136]
Giấc mơ kỳ diệu là kết quả của những trằn trọc, cân nhắc, An Dương Vương cùng toàn dân bắt tay vào công cuộc xây thành Hằng đêm, nhà vua có mặt nơi diễn ra việc xây thành Nhà vua mừng ra mặt khi bức thành vững chãi hiện dần qua thời gian, lo lắng tái mặt, toát mồ hôi lúc gần sáng, có tiếng gà gáy thành lại sụp đổ Nhà vua bồn chồn ngày không ăn, đêm không ngủ, người gầy như xác ve Tấm lòng yêu nước đau đáu của nhà vua đã được muôn dân chia sẻ, được thần linh cảm động giúp đỡ Những người dân tự nguyện giết hết gà trống để không còn tiếng gáy quái ác làm sụp thành Gạt
bỏ những yếu tố kì ảo của một truyện cổ tích, các chi tiết của truyện vẫn giúp trẻ hình dung ra tâm trạng, hành động, ý nghĩa xây dựng thành giữ nước của
An Dương Vương
Nếu Lá cờ thêu sáu chữ vàng tái hiện lại giai đoạn lịch sử thế kỷ XIII thì Kể chuyện Quang Trung lại đưa trẻ thơ đến với giai đoạn lịch sử thế kỷ
XVIII người anh hùng áo vải được đặt trong cuộc tiến công ra Bắc với nhiệm
vụ quyết sạch hai mươi vạn Quân Thanh Bản lĩnh lãnh đạo, tầm nhìn, đức độ của người chỉ huy được bộc lộ trong hoàn cảnh lịch sử này
Chỉ bằng vài nét chấm phá với kể chuyện Quang Trung, Nguyễn Huy
Tưởng giúp trẻ em hiểu hơn tầm vóc của người anh hùng Đọc xong tác phẩm
Trang 3632
trẻ thơ không thể quên một ông vua tài năng, đức độ, có tài cầm quân đánh đồn, hạ trại siêu phàm Đoàn quân áo vải từ Nam ra Bắc với biết bao khó khăn nhưng Quang Trung đều động viên được tinh thần quân sĩ, tạo nên cuộc hành quân thần tốc, bất ngờ, bí mật Đoàn quân qua dòng sông Gianh vào lúc nửa đêm giữa mùa đông giá rét, Quang Trung đã “vi hành”, giả vờ ngủ để hiểu tâm tư quân sĩ Khi mọi người lính đều tuân theo lá cờ lệnh, ào ào vượt sông sang bờ bắc, quyết tâm đánh giặc, ông mới trình bày kế hoạch vào thành Thăng Long và cho quân ăn tết sớm Quang Trung đã thương yêu quân sĩ như những người thân trong gia đình Nhà vua chia đội thành những nhóm nhỏ ba người, dùng cáng để hành quân hai người khiêng và một người nằm nghỉ rồi lại thay phiên nhau Cách hành quân thần diệu đó vừa giữ sức cho quân lính, vừa đảm bảo thần tốc
Bạn đọc nhỏ tuổi nhớ mãi hình ảnh Quang Trung mặt sạm đen với chiếc áo chiến bào tối như mực bên lá cờ hiệu cũng đen vì thuốc súng, cùng quân sĩ lao vào đồn địch Trận Hạ Hồi chỉ bằng việc ra oai gây thanh thế mà
kẻ thù khiếp sợ, lũ lượt ra hàng Trận Ngọc Hồi, giặc trong đồn dùng súng thần công bắn ra như mưa, khói đen mù mịt Quang Trung đã đưa ra những quyết định sáng suốt, kịp thời Nhà vua dựa vào dân quanh vùng làm những khiên lớn bằng gỗ nhồi rơm, cử mười người lính khiêng một chiếc mở đường vượt thành lũy hạ đồn giặc Nguyễn Huy Tưởng đã miêu tả hết sức cụ thể những trận đánh hào hùng của nghĩa quân áo vải, qua đó ngợi ca tài thao lược quân sự của Quang Trung Không chỉ là người giỏi cầm quân, Quang Trung còn là người có tầm nhìn xa, trông rộng biết trọng người tài Hành quân đến vùng Nghệ An, biết La Sơn phu tử là Nguyễn Thiếp đang ở ẩn trên núi, Quang Trung không hề giữ sĩ diện cá nhân đã ba lần đích thân lên núi mời Nguyễn Thiếp cùng tham gia giúp quân Tây Sơn Ngay lúc đoàn quân áo vải với sức mạnh như chẻ tre làm cho giặc kinh hoàng, Quang Trung đã nhờ
Trang 3733
người viết thư cầu hòa với nhà Thanh để giữ hòa hiếu lâu dài tránh hao tổn xương máu…
Cảm động hơn cả là mỗi lần đọc lại Hai bàn tay chiến sĩ người đọc
không thể kìm nén nổi cảm xúc trước những trang văn miêu tả sinh động tinh thần dũng cảm hi sinh, quyết tâm đánh đuổi quân thù của một người nông dân – đảng viên mang trong mình cái tên giản dị, mộc mạc như đất đai quê hương:
Bẩm Với cách kể chuyện dung dị, Nguyễn Huy Tưởng đã dẫn dắt người đọc
đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác với những sự kiện, chi tiết, hình ảnh gây xúc động mạnh Vào truyện là cảnh tưng bừng của hội nghị chiến sĩ thi đua Anh chiến sĩ nông dân, quê Nam Định lên báo cáo thành tích trước hội nghị
và câu chuyện về hai bàn tay của Bẩm được tiếp diễn qua các sự việc: cảnh buồng giam, cuộc đối thoại giữa Bẩm và đồng chí bí thư chi bộ xã với những lời dặn dò, cảnh hai người bị tra tấn, họ bị đốt hai bàn tay và bị trôi sông Tiếp đến là dồn dập những cảnh tượng và hình ảnh đau đớn, ghê rợn: Bẩm bị lũ quạ xúm xít vào rỉa chỗ bị thương, cảnh Bẩm dúi tay vào cát nóng, cảnh đàn kiến lửa bu vào người Bẩm, rúc vào đôi bàn tay đã thối rữa
Cuối cùng Bẩm vẫn chiến thắng “Anh còn sống Phải sống để chiến đấu thay người đã chết” [25, tr 53] Bẩm vượt qua được những thử thách ấy
“Anh vượt được, không phải vì có xương đồng da sắt, mà vì anh có một lòng tin sắt đá vào Đảng, vào các đồng chí của anh, vào chính bản thân anh” [25,
tr 53]
Là nhà văn cách mạng, theo sát từng bước đi của kháng chiến, gắn bó mật thiết với nhân dân, Nguyễn Huy Tưởng ý thức rõ về thiên chức của người nghệ sĩ với quan niệm nghệ thuật tiến bộ: “Phàm văn chương mục đích thứ nhất là để dạy dỗ thiếu niên… cốt làm sao cho bao giờ họ cũng có một tấm lòng bồng bồng, bột bột, mà vẫn biết lẽ phải và biết thương nhau”; vì thế khi viết truyện thiếu nhi, nhà văn rất nhạy cảm, tinh tế trong việc lựa chọn đối
Trang 3834
tượng phản ánh, khơi gợi được trong các em những tình cảm trong sáng, vị tha, học tập những tấm gương anh hùng cách mạng để sống, học tập xứng đáng với kỳ vọng của người đã ngã xuống, của gia đình, nhà trường, xã hội Đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, mỗi hành động nhỏ, có ích của các em đều góp phần làm cho quê hương thêm tươi đẹp…
Là cây bút chuyên viết đề tài về lịch sử, Nguyễn Huy Tưởng đã miêu tả, khắc họa thành công nhiều nhân vật anh hùng - những người đã được lưu danh trong sử sách Bằng nghệ thuật miêu tả, phân tích diễn biến tâm lí, xây dựng kết cấu, cốt truyện, tác giả đã làm sống dậy cuộc đời, sự nghiệp của các nhân vật lịch sử gắn liền với những chiến công hiển hách Nhân vật lịch sử cũng như nhiều nhân vật khác đều được xây dựng trong những mối quan hệ
đa chiều, trong sự phức tạp của bối cảnh, sự phong phú của thế giới nội tâm Điều này khác hẳn với lối miêu tả nhân vật lịch sử của một số tiểu thuyết gia cùng thời Xây dựng hình tượng nhân vật Quân vương, tướng sĩ, tác giả đảm bảo được tính chân thực, khách quan của lịch sử, đồng thời tôn trọng quy luật của đời sống nội tâm Vì thế nhân vật lịch sử vừa truyền tải được âm vang, không khí thời đại, vừa gần gũi, thân quen với người đọc
Trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, nhân vật lịch sử thường được
đặt làm tên nhan đề cho tác phẩm như: An Dương Vương - An Dương Vương xây thành Ốc, Quang Trung - Kể chuyện Quang Trung, hay những địa danh
gắn liền với những sự kiện trọng đại, gợi nhắc hình tượng nhân vật: “Him Lam là trận mở màn và cũng là trận đánh thắng đầu tiên của chiến dịch Điện Biên Phủ… Him Lam còn ghi mãi hình ảnh của anh hùng Phan Đình Giót, người đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai cho đồng đội tiến lên tiêu diệt một tiểu đoàn lê dương tinh nhuệ và chọc thẳng cái cửa sắt của tập đoàn cứ điểm
Điện Biên [25, tr 70] Viết về nhân vật lịch sử, tác giả thể hiện lòng biết ơn,
kính trọng, ngợi ca, tự hào Ngay từ thuở nhỏ thông qua các tích truyện lịch
Trang 3935
sử, nhà văn đã có những xúc động mạnh về hình ảnh các vị anh hùng Nhà văn muốn nêu công lao, sự nghiệp các vị ấy trong các trang văn để người đời ngưỡng mộ, tôn thờ, thắp lên niềm tin, lòng tự hào, tự tôn dân tộc Bởi vậy
hình tượng nhân vật lịch sử thường được khai thác ở phương diện thái độ, tinh thần, trách nhiệm đối với non sông, đất nước
Đó là hình ảnh An Dương Vương trong buổi đầu dựng nước, dù nhiều lần giao chiến thất bại nhưng không vì thế mà nản chí, nhà vua quyết tâm dựng xây Loa thành, huy động tinh thần đoàn kết, sáng tạo của nhân dân để bảo vệ non sông Đó là hình ảnh vua Thiệu Bảo - một vị vua nhân từ đức độ, cùng đau với nỗi đau của dân chúng, ngày đêm lo bàn mưu kế chống lại yêu sách của giặc Và cảm động hơn cả là câu chuyện giữa vua và người lính hầu Trần Lai Trong một lần chở nhà vua đi thị sát tình hình quân giặc trên sông Cái, thấy vua sau một ngày vất vả, Trần Lai dâng lên nhà vua một nắm cơm
đỏ bọc lá chuối xanh Nhà vua cảm động, mắt rơm rớm lệ cảm kích trước tấm lòng thơm thảo của người lính Có thể nói, Vua Thiệu Bảo hiện lên trong tác phẩm là hình ảnh cao đẹp của tấm lòng yêu nước thương dân, căm thù giặc sâu sắc Tấm lòng ấy được thể hiện qua lời nguyền: “Dẹp giặc mạnh xong nguyện xin thề phát xuất gia, phổ độ chúng sinh, cầu cúng cho oan hồn kẻ sĩ.” Bên cạnh hình ảnh các vị vua, Nguyễn Huy Tưởng còn đi sâu miêu tả, khắc họa hình ảnh các tướng lĩnh, nhất là các tráng sĩ nhà Trần Từ dáng vẻ bề ngoài, hành động, cử chỉ, lời nói đến những diễn biến tâm trạng đều toát lên
vẻ đẹp khỏe khoắn, mạnh mẽ, dũng cảm, tràn đầy tinh thần yêu nước Xây dựng hình tượng nhân vật Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, nhà văn tập trung khắc họa vẻ đẹp ngoại hình: “Đại vương như tất cả đàn ông họ Trần, người cao lớn, nhưng đặc biệt nhất là vai rất nở, mắt rất tinh, tuổi già càng thêm quắc thước”
Trang 4036
Như vậy, đằng sau tướng mạo oai phong lẫm liệt của một vị tướng từng xông pha chiến trận, làm nên những chiến công hiển hách lại là một con người với những suy tư trăn trở, có những đêm trằn trọc, lo lắng khi trong quân ngũ xuất hiện những tư tưởng dao động, nhiều binh sĩ đảo ngũ, mải mê với thú vui tầm thường mà sao nhãng việc nhà binh Trước tình hình đó, Quốc
Công viết Hịch tướng sĩ với những câu văn thấm thía: “Ta nay ngày thì quên
ăn, đêm thì quên ngủ, nước mắt đầm đìa, ruột đau như cắt, lúc nào cũng bực tức rằng sao chưa xả thịt lột da chúng được ”[25, tr 42]
Còn với nhân vật Chiêu Thành Vương, nhà văn cũng dành nhiều trang văn để tô đậm hình ảnh tráng kiện, vẻ đẹp ngoại hình của một vị Đại vương chức trọng quyền cao: “Vương đã ngoài bốn mươi tuổi, nhưng thân hình nở nang, bắp thịt rắn như sắt, người chắc như một hòn đá tảng” [25, tr 109] Với nhân vật Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, nhà văn dành cả một thiên truyện, tương đương như một truyện vừa, để khắc họa vẻ đẹp, cuộc đời của người anh hùng tuổi trẻ tài cao, chí lớn có những hành động quả cảm, lập nên
những chiến công hiển hách Lá cờ thêu sáu chữ vàng đã tạo được ấn tượng
sâu đậm trong lòng bạn đọc, nhất là các bạn nhỏ tuổi Tuy còn trẻ tuổi nhưng những hành động đầy quả quyết như: bóp nát quả cam vua ban khi không được tham dự hội nghị bàn việc nước ở bến Bình Than; phất cao lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân”, chiêu binh mãi mã, ngày đêm luyện tập binh thư yếu lược, cùng anh em người Mán là Thế Lộc đuổi bắt quân thù trên đồi Ma Lục với những kế sách, mưu tính chính xác, khôn lường khiến quân thù khiếp sợ… đã nói lên tinh thần, khí phách, vẻ đẹp dũng mãnh của chàng trai trẻ thời Trần
Với đối tượng hướng tới là thiếu nhi, Nguyễn Huy Tưởng đặc biệt chú ý đến việc sử dụng câu chữ, ngôn từ để làm nổi bật hình tượng nhân vật, phù
hợp với tâm lí và khả năng tiếp nhận của bạn đọc Lá cờ thêu sáu chữ vàng