Với đề tài này, chúng tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu hình tượng người phụ nữ trong hai tiểu thuyết lớn để đời của V.Hugo Những người khốn khổ và Nhà thờ Đức Bà Paris để thấy được nét đặc s
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 22
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3.1 Mục đích nghiên cứu 8
3.2 Đối tượng nghiên cứu 8
3.3 Phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT LÃNG MẠN CỦA V.HUGO 10
1.1 Hoàn cảnh lịch sử - văn hóa 10
1.1.1 Bối cảnh xã hội và văn hóa, văn học Pháp thế kỷ XIX 10
1.1.2 Quan niệm thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn 14
1.1.3 Sáng tác của V Hugo 20
1.2 Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của V.Hugo 25
1.2.1 Khái niệm nhân vật văn học 25
1.2.2 Nhân vật phụ nữ trong văn chương lãng mạn 27
1.2.3 Hình tượng người phụ nữ trong quan niệm nghệ thuật của V.Hugo và trong hệ thống nhân vật của tiểu thuyết V.Hugo 29
CHƯƠNG 2 THÂN PHẬN VÀ PHẨM CHẤT CỦA CÁC NHÂN VẬT NỮ TRONG TIỂU THUYẾT V.HUGO 34
Trang 33
2.1 Sự tương phản giữa thân phận và nhân phẩm 34
2.1.1 Thân phận thấp hèn, số phận đau thương của các nhân vật nữ - những kẻ nhỏ bé, cùng khổ và yếu đuối nhất xã hội 34
2.1.2 Những phẩm chất tốt đẹp của các nhân vật nữ 49
2.1.2.1 Kiên cường, bất khuất, dám vươn lên, dám ước mơ 50
2.1.2.2 Vô tư, vị tha, trong sáng, thánh thiện 52
2.1.2.3 Lòng yêu thương vô tận, khả năng hy sinh, dâng hiến cho con người và cuộc đời 54
2.2 Quá trình hoàn thiện nhân cách 58
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA V.HUGO 63
3.1 Kiểu quan hệ giữa tính cách nhân vật và hoàn cảnh 63
3.1.1 Tính cách phát triển độc lập với hoàn cảnh 63
3.1.2 Dấu ấn nổi bật của nhà văn trên tính cách nhân vật 65
3.2 Các thủ pháp nghệ thuật đặc trưng 68
3.2.1 Cường điệu, phóng đại 68
3.2.2 Đặt các nhân vật nữ trong những tương phản thẩm mỹ 71
3.3 Nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật 80
3.3.1 Miêu tả nội tâm 80
3.3.2 Cường độ cảm xúc mãnh liệt 83
3.3.3 Độc thoại nội tâm 85
3.4 Ngôn từ và giọng điệu đặc trưng của nghệ thuật lãng mạn 89
3.4.1 Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm 89
3.4.2 Giọng điệu đa dạng, phong phú 91
Trang 44 KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 55
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỗi tác phẩm văn học ra đời là sự kết tinh nhuần nhụy bối cảnh lịch sử
xã hội, văn hóa của thời đại Nhìn lại lịch sử văn học Pháp thế kỷ XIX ta thấy
có sự phát triển phong phú đa dạng của nhiều khuynh hướng, nhiều luồng tư tưởng đánh dấu những bước chuyển biến lớn lao của đời sống văn học
Victor Hugo là một trong những nhà văn lãng mạn Pháp tiêu biểu thế
kỷ XIX Ông đã “sống gần trọn thế kỷ” đầy bão táp cách mạng, “mãnh liệt”
và “cường tráng” Hugo đã vượt qua tất cả những trở ngại của cuộc sống để bước vào văn đàn ở tuổi 17, để rồi qua hơn 60 năm cầm bút Hugo đã trở thành hiện thân của chủ nghĩa lãng mạn Sự nghiệp của Hugo có những cống hiến to lớn bao trùm lên các thể loại: thi ca, kịch, tiểu thuyết Ở lĩnh vực nào Hugo cũng có những dấu ấn đáng nhớ khắc vào nền văn học Pháp và thế giới Đặc biệt trong lĩnh vực tiểu thuyết, tên tuổi của ông đã được khẳng định Ông được coi là “Tiếng vọng âm vang của mọi thời đại”, “nhà tiên tri của nền hòa bình thế giới” Mỗi tiểu thuyết của Hugo là một bức tranh, một mảng màu của cuộc sống hiện thực Và ở đó, cũng thể hiện đầy đủ nhất tài năng nhà văn Ông đã vận dụng hết sức sáng tạo những đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn để tạo nên những hình tượng nghệ thuật vừa mang dấu ấn chủ quan của mình, vừa mang dấu ấn của thời đại Tiểu thuyết là một thể loại đã đặc biệt thể hiện sáng rõ những dự định sáng tạo, mới mẻ và thầm kín nhất của Hugo
Trước những tư tưởng lớn lao và tài năng của Hugo, chiêm ngưỡng nó bất kỳ phía nào chúng ta vẫn có thể tìm được những điều mới mẻ và thú vị
“Cái mà hôm nay chúng ta cúi chào, không phải chỉ là một con người; mà là một thế kỉ Pháp” (Anatôn Frăngxơ) Chính vì thế hàng năm luôn xuất hiện nhiều đề tài, luận văn, luận án, chuyên luận nghiên cứu về tác phẩm của Hugo
Trang 66
nhất là các tiểu thuyết của ông Bên cạnh sự nghiệp thơ, tiểu thuyết gây được tiếng vang lớn, đánh dấu một mốc quan trọng trên con đường sự nghiệp của Hugo Mỗi trang tiểu thuyết của ông là sự kết hợp tuyệt vời nhiều bút pháp, tư tưởng nghệ thuật khác nhau và ở đó cũng chứa đựng cái nhìn hết sức nhân văn của ông đối với số phận con người, nhất là người phụ nữ
Với đề tài này, chúng tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu hình tượng người
phụ nữ trong hai tiểu thuyết lớn để đời của V.Hugo Những người khốn khổ và Nhà thờ Đức Bà Paris để thấy được nét đặc sắc của văn học lãng mạn trong
bút pháp nghệ thuật, miêu tả cũng như cái nhìn nhân đạo của nhà văn đối với người phụ nữ
2 Lịch sử vấn đề
Bước vào văn đàn lúc 17 tuổi, với cuộc sống kéo dài trong hơn 80 năm đầy ắp những biến cố sôi động, V.Hugo đã nhanh chóng khẳng định mình như chủ soái của trường phái lãng mạn Hugo xuất hiện giữa trào lưu văn học này như một ngôi sao mọc sớm và lặn rất muộn Ông đã tạo nên một luồng sinh khí mới, thổi một cơn gió mới đến nền văn học của nhân loại Những tác phẩm của ông thu hút đông đảo độc giả trên nhiều lĩnh vực khác nhau của văn chương nghệ thuật Nó thể hiện một cường độ sáng tác hiếm hoi trong lịch sử văn học xưa nay Chính vì thế, công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm của V.Hugo xuất hiện rất nhiều Các công trình đó không chỉ giới hạn ở nước Pháp mà còn mở rộng ra toàn thế giới trong đó có Việt Nam Điển hình như:
“Văn học lãng mạn và văn học hiện thực phương Tây” của tác giả Lê Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp,1985
Victor Hugo - Một tâm hồn cao cả” của tác giả Nguyễn Hạnh, Trần Thị Thanh Nguyên, NXB Tuổi trẻ, 1990
“Victo Hugo” của tác giả Phùng Văn Tửu, NXB Giáo dục, 1997
Trang 77
Văn học phương Tây giản yếu, Minh Chính NXB ĐHQG TPHCM
2002
Văn học phương Tây, nhiều tác giả biên soạn NXB GD 2002
Nhìn chung, các công trình này đã giới thiệu khá đầy đủ về cuộc đời,
sự nghiệp sáng tác của ông
Về vấn đề nhân vật, cũng đã có nhiều công trình, luận văn nghiên cứu
đi vào tìm hiểu cụ thể những loại hình nhân vật khác nhau trong tiểu thuyết lãng mạn của V.Hugo Riêng tại trường Đại học Tổng hợp, nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã có rất nhiều khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về sáng tác của V.Hugo
Khóa luận tốt nghiệp năm 1977 của Nguyễn Đình Hợi với đề tài “Hình tượng người chiến sĩ cộng hòa trong sáng tác của V.Hugo”
Khóa luận tốt nghiệp đại học năm 1978 của Trần Thị Minh Châu với
đề tài “Nhân vật nổi loạn trong các tác phẩm của Bairơn và V.Hugo”
Khóa luận năm 1994 của sinh viên Hồ Thị Minh Nguyệt với đề tài
“Bước đầu nhận xét và khảo sát một số cặp quan hệ đối lập trong tiểu thuyết
“Những người khốn khổ” của Victor Hugo”; và “Hệ nhân vật trung tâm tích cực mang “tì vết” của Victor Hugo trong tiểu thuyết Nhà thờ đức bà Paris, Những người khốn khổ, Thằng cười” đề tài khóa luận tốt nghiệp năm 2003
của Hoàng Trà My
Có thể nói, vấn đề nhân vật luôn là mối quan tâm hàng đầu của người nghiên cứu văn học Bởi nhân vật là nơi thể hiện tài năng nghệ thuật của nhà văn, thể hiện quan niệm, tư tưởng thẩm mỹ của nhà văn, gửi gắm những thông điệp của nhà văn muốn nói đến bạn đọc muôn đời Thông qua nhân vật chúng ta hiểu được thông điệp tác phẩm truyền tải cũng như hiểu được lịch
sử, văn hóa của thời đại đã qua Trong tiểu thuyết của V.Hugo thế giới nhân vật vô cùng đa dạng, phong phú, nhân vật được khai thác ở nhiều khía cạnh
Trang 88
khác nhau và trải qua bao nhiêu thời gian, nó vẫn là đối tượng để chiêm ngưỡng, để say mê và để nghiên cứu, được mọi người quan tâm
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về nhân vật
nữ trong tiểu thuyết của V Hugo Hơn nữa ở đề tài này, chúng tôi nghiên cứu
nhân vật nữ dựa trên hai tiểu thuyết chính là Nhà thờ đức bà Paris, Những người khốn khổ, hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về nhân vật
nữ qua hai tác phẩm này Vì vậy, chúng tôi khẳng định rằng đề tài nghiên cứu của luận văn là không trùng lặp
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát các nhân vật nữ trong tiểu thuyết của V.Hugo, luận văn hướng đến nhận thức đầy đủ không chỉ vị trí và ý nghĩa của tuyến nhân vật này trong sáng tác của nhà văn mà còn qua đó hiểu rõ hơn quan niệm thấm đẫm tinh thần nhân đạo của nghệ thuật lãng mạn về con người Cũng chính trên định hướng khái quát đó, người viết luận văn sẽ cố gắng liên
hệ giữa các nhân vật nữ trong tiểu thuyết của V.Hugo và tuyến nhân vật nữ trong tiểu thuyết lãng mạn Việt Nam để thấy được những giá trị xã hội - thẩm
mỹ chung của văn chương lãng mạn
Luận văn cũng làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật của văn học lãng mạn trong việc xây dựng hình tượng nhân vật nữ
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của V.Hugo trong hai tiểu thuyết tiêu
biểu của V.Hugo Những người khốn khổ, Nhà thờ Đức Bà Pari
Trang 99
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian cũng như khả năng cá nhân, trong luận văn này
chúng tôi chỉ tập trung khảo sát hai tiểu thuyết tiêu biểu của V.Hugo: Những người khốn khổ, Nhà thờ Đức Bà Pari với trọng tâm là các nhân vật nữ trong
quan hệ đối chiếu và liên hệ với các sáng tác khác của nhà văn
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp lịch sử - xã hội;
+ Phương pháp tiếp câ ̣n thi pháp ho ̣c;
+ Phương pháp tiếp câ ̣n loa ̣i hình;
+ Phương pháp phê bình nữ quyền;
Trong quá trình xây dựng luận văn, các chỉ dẫn, gợi ý của Tự sự học, Liên văn bản và các thao tác thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích sẽ được thường xuyên vận dụng Các phương pháp trên không tách rời nhau mà kết hợp với nhau trong quá trình thực hiện luận văn
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tiểu thuyết lãng mạn của V.Hugô và các nhân vật chính diện
Chương 2: Thân phận và phẩm chất của các nhân vật nữ trong tiểu thuyết V.Hugo
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong tiểu thuyết V.Hugo
Trang 1010
CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT LÃNG MẠN CỦA V.HUGO
1.1 Hoàn cảnh lịch sử - văn hóa
1.1.1 Bối cảnh xã hội và văn hóa, văn học Pháp thế kỷ XIX
Sau cách mạng tư sản, vào buổi bình minh của thế kỷ XIX là thắng lợi của chủ nghĩa tư bản Pháp Cuộc cách mạng tư bản Pháp bắt đầu từ năm 1789
đã mở ra một thời kỳ phát triển mới trong lịch sử châu Âu Đây là cuộc cách mạng duy nhất đã chiến thắng triệt để chủ nghĩa phong kiến lâu đời Cách mạng Pháp phát triển và bùng dậy là tất yếu, phù hợp với việc giải quyết mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chế độ phong kiến
Phái Jacobanh kiên quyết đập tan tất cả mọi trở ngại phong kiến đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và thiết lập một nền chuyên chính cách mạng Nhiệm vụ của họ là tiêu diệt chế độ phong kiến Pháp, mở đường cho chủ nghĩa tư bản và sự thống trị của giai cấp tư sản (1793)
Cuộc đảo chính phản cách mạng ngày 9 Tecmido (27-VII-1794) đã đưa tầng lớp tư sản mới, làm giàu bằng đầu cơ tích trữ trong mấy năm cách mạng lên nắm chính quyền Phái Tecmido đã khủng bố những người cách mạng, đưa ra hiến pháp phản động, bãi bỏ luật giá tối đa, bãi bỏ tuyển cử phổ thông Sự cai trị của Viện chấp chính đã tạo điều kiện cho “đời sống thực sự của xã hội tư sản mới vươn ra ngoài và phát triển đầy đủ” (K.Mac)
Thời kỳ này, những cuộc nổi loạn của bọn bảo hoàng muốn phế bỏ nền cộng hòa và khôi phục chế độ quân chủ đã nổ ra ở Pari, ở Văngđê Tướng Napôlêông Boonapac đã nổi tiếng khi thực hiện nhiệm vụ chỉ huy quân đội chống bọn phiến loạn trong nước và chiến thắng quân Áo trong chiến dịch chiếm gần hết nước Italya
Trang 1111
Giai cấp tư sản Pháp định thực hiện một chương trình to lớn dùng Italya làm bàn đạp đánh chiếm toàn châu Âu rồi tiến đánh Ai Cập, Xyri Giai cấp tư sản cần một chính quyền mạnh dựa vào tay kiếm vững chắc Bônapac để đập tan bọn bảo hoàng và phái Jacôbanh, đồng thời tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh chống liên minh phong kiến châu Âu
Cuộc đảo chính ngày 18 tháng Sương mù đã chuyển chính quyền sang tay Napôlêông thiết lập chế độ Tổng tài (1799) và nền Đế chế I (1804)
Chính phủ Napôlêông là một chính phủ tư sản đã “giữ những thành quả cách mạng có lợi cho giai cấp tư sản” Ông đã khuyến khích phát triển công nghiệp, dự thảo bộ Dân luật là một văn bản luật pháp có hệ thống đảm bảo quyền hữu của giai cấp tư sản
Đế chế Napôlêông đã tiến hành xâm chiếm châu Âu và hầu hết các nước châu Âu đều bị đặt dưới ách thống trị của đế quốc Pháp
Năm 1814 đế chế Napôlêông sụp đổ, dòng họ Buôcbông đưa chế độ phong kiến trở lại nắm thế lực chính quyền ở Pháp Nhà vua đã khuyến khích bọn bảo hoàng cực đoan hoành hành đàn áp nhân dân Nhân dân đã làm cuộc cách mạng tháng Bảy năm 1830 Giai cấp tư sản cướp đoạt thắng lợi của nhân dân, thiết lập nền quân chủ tháng Bảy, nhưng thực chất là chế độ tư sản, đứng đầu là Lui Philip, ông vua của giai cấp tư sản tài chính Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân liên tục nổ ra Giai cấp vô sản dần lớn mạnh và đối diện trực tiếp với giai cấp tư sản Cuộc Cách mạng tháng Hai năm 1848 tái lập nền Cộng hòa Cuộc Cách mạng tháng Sáu năm 1848 là cuộc đụng độ quyết liệt giữa hai giai cấp tư sản và vô sản nước Pháp Từ đây đã tạo ra một hố sâu ngăn cách giữa những kẻ bảo vệ trật tự tư sản và nhân dân lao động Tính chất cách mạng của giai cấp tư sản Pháp chấm dứt và giai cấp vô sản trở thành một giai cấp tự giác bước lên vũ đài lịch sử
Trang 1212
Cuộc đảo chính ngày 2.XII.1851 đã đưa Lui Napôlêông lên ngôi hoàng
đế Dưới dự thống trị của Napôlêông III, đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân đều bị rơi vào tình trạng khốn cùng Những thiệt hại về ngoại giao quân sự từ sau năm 1860 đã làm cho đế chế II suy yếu và sụp đổ vào năm
1870
Công xã Pari bùng nổ ngày 18.III.1871 Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, giai cấp vô sản thể nghiệm việc giành, giữ chính quyền của mình Sau 72 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, Công xã thất bại, Tư sản đã khủng bố tàn bạo nhân dân lao động
Nền Cộng hòa Pháp từ những năm 80 sắp kết thúc giai đoạn chủ nghĩa
tư bản tự do cạnh tranh để chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư bản và vô sản ngày càng diễn ra ác liệt
Văn chương Pháp cũng đi từ thế kỷ triết học sang thế kỷ lãng mạn Thế
kỷ XVIII - Thế kỷ ánh sáng là một thế kỷ mà văn chương Pháp đã dành trọn thời gian để hướng về mục tiêu khai sáng, đổi mới nền văn hóa tinh thần của nước Pháp, hướng về nền cộng hòa dân chủ tự do Ðó là thế kỷ của văn chương triết học, văn chương chính luận và bút chiến, văn chương luận đề hướng về mục tiêu chống phong kiến, chống cơ chế văn hóa tinh thần trung đại, cỗ vũ cho một nền văn học mới với những mục tiêu nhân bản mới Do đó cách mạng 1789 là một biến cố được nhân dân Pháp trông đợi, trong đó không loại trừ những người thuộc tầng lớp quí tộc phong kiến
Cuối thế kỷ XVIII là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tình cảm (Sentimentalisme), là thời kỳ tiền lãng mạn, được coi là tiền thân của chủ nghĩa lãng mạn Pháp sẽ phát triển mạnh mẽ và thống trị văn đàn Pháp trong ba thập niên đầu của thế kỷ XIX Những tên tuổi nổi tiếng của chủ
nghĩa tình cảm như Bernadin de Saint Pierre với Paul và Virginie thể hiện khát vọng về một chốn ẩn cư giữa thiên nhiên và tình yêu, lên án sự tha hóa
Trang 1313
của xã hội văn minh với đời sống con người; J.J.Rousseau với nhiều tiểu luận,
tiểu thuyết, đặc biệt là tác phẩm La Nouvelle Héloise chống tinh thần luân lý
cứng nhắc, cổ vũ cho tự do, say sưa mô tả niềm đam mê của tình yêu cá nhân,
vẻ đẹp của tình yêu trong thiên nhiên, tràn đầy cảm xúc âm nhạc và thơ ca,
vượt ra khỏi rào chắn của tôn ti đẳng cấp Rousseau là người tiên phong của
chủ nghĩa tình cảm Tư tưởng của ông là nguồn cảm hứng cho thế hệ lãng
mạn tiếp theo
Mối giao lưu văn học giữa Pháp và các nước châu Âu cũng được rộng
mở Nếu chủ nghĩa cổ điển thế kỷ XVII hoàn toàn là một "đặc sản Pháp"
(spécialement francais), thì chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu mang tính chất
toàn châu Âu (mouvement europénne) Văn học lãng mạn Pháp có những cội
nguồn riêng từ dân tộc, nhưng đồng thời nó cũng chịu một số ảnh hưởng nhất
định của thị hiếu âm u trong những bi ca của lãng mạn Anh trong thơ của
Gray, Hervey, Young và đặc biệt là ảnh hưởng rộng rãi của Byron Văn
học lãng mạn Ðức cũng có nhiều ảnh hưởng sâu sắc, đặc biệt là thơ ca và
tiểu thuyết của Goethe như Tình sầu của chàng Werther được thanh niên Pháp
yêu mến một thời
Văn học Pháp thế kỷ XIX đã phản ánh những biến động cách mạng,
những tư tưởng lớn của thời đại như chủ nghĩa xã hội không tưởng đầu thế kỷ
và chủ nghĩa xã hội nửa sau thế kỷ, cuộc sống chính trị của nhân dân Pháp
trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều trào lưu và khuynh hướng văn học liên tục
xuất hiện qua các thời kỳ khác nhau với nhiều tác giả danh tiếng và tiêu biểu
Đặc biệt, văn học lãng mạn phản ánh tình hình đấu tranh giai cấp trong khoảng thời gian giữa hai cuộc cách mạng cách mạng năm 1789 và cách
mạng năm 1848 Đúng như nhận định của Mác: “sự phản ứng đầu tiên đối với
cách mạng Pháp và tư tưởng ánh sáng gắn liền với cuộc cách mạng đó”
Trang 1414
1.1.2 Quan niệm thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn
Từ lãng mạn (romanticism, romantisme) xuất phát từ tình ca
(romances) của thời trung cổ, để chỉ những bài thơ dài nói về những chàng kỵ
sĩ, những anh hùng, về những vùng đất xa xôi và những cuộc tình lỡ làng
hoặc những bài ca mà người hát rong (troubadour) thường sử dụng trong ca
diễn của mình Nó xuất hiện sớm nhất ở Đức Vậy lãng mạn là gì? Có rất
nhiều cách quan niệm về chủ nghĩa lãng mạn và cách hiểu nào cũng tự cho
mình là đúng đắn hơn hết
Biélinski trong bài Văn học Nga, năm 1841, định nghĩa: Chủ nghĩa
lãng mạn, đó là thế giới nội tâm của con người, thế giới của tâm hồn và trái
tim
M.Gorki đã viết: Đã có nhiều công thức về chủ nghĩa lãng mạn, nhưng
một công thức chính xác, hoàn toàn đầy đủ và có tầm khái quát, một công
thức mà mọi nhà nghiên cứu lịch sử văn học đều có thể chấp nhận thì cho đến
nay vẫn chưa có, chưa được làm ra
Tình hình đã là và hiện nay vẫn đang là như thế Khái niệm chủ nghĩa
lãng mạn là một trong những khái niệm phức tạp nhất, rối rắm nhất và được
lý giải theo những cách khác nhau nhất trong nghiên cứu văn học Có những
quan niệm cho Romantique là tất cả những gì hoang đường, khác thường, do
trí tưởng tượng tạo ra Cũng chính vì thế mà văn chương lãng mạn, một nền
văn chương khác với tất cả những gì đã có trước đó trong nghệ thuật, ở đó trí
tưởng tượng bay bổng chiếm vị trí lớn chưa từng có, được gọi là Romantisme
Có cách định nghĩa chủ nghĩa lãng mạn theo kiểu phủ định: chủ nghĩa
lãng mạn là sự loại trừ luật tam duy nhất trong kịch và nói chung là sự xuất
hiện của một hệ thống những nguyên tắc thẩm mỹ đối lập với chủ nghĩa cổ
điển
Trang 1515
Có cách định nghĩa chủ nghĩa lãng mạn theo kiểu tổng hợp: chủ nghĩa lãng mạn là sự phá bỏ hàng rào ngăn cách, là sự trộn lẫn các phạm trù mỹ học với nhau, các thể loại với nhau
Có cách định nghĩa chủ nghĩa lãng mạn theo thể loại: chủ nghĩa lãng mạn là sự thống trị của thể loại tâm tình
Cũng giống như V.Hugo, Vêxêlốpxki, một nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng ở Nga thế kỷ XIX cho rằng nghệ thuật lãng mạn chính là chủ nghĩa tự
do trong văn học Bằng cách nói này, ông muốn nhấn mạnh đến khát vọng của cá nhân con người thời đại lãng mạn muốn vượt thoát khỏi những ràng buộc của các giáo điều, công thức văn học đã lỗi thời và hướng đến những gì
là tự do, phóng khoáng hơn Nhiều nhà nghiên cứu trong các thời đại khác nhau có nói đến chủ nghĩa lãng mạn với các dấu hiệu nổi bật như sự đề cao chủ nghĩa cá nhân, sự khước từ lệ thuộc vào thực tại, sự ưu tiên cho ước mơ, mộng tưởng, sự ca tụng đời sống tình cảm và xưng tụng con người cá thể Những người khác lại gắn nghệ thuật lãng mạn với thời đại quá độ trong tất
cả những tác động và hệ lụy đặc biệt của nó; hay với một tâm thế điển hình của người nghệ sỹ lãng mạn là nhiệt tình đề cao tuyệt đối cái lý tưởng đi kèm với ý thức sáng rõ về tình trạng không có khả năng hiện thực hóa cái lý tưởng trong thực tế và từ đó xuất hiện tâm trạng nhức nhối, căng thẳng cực độ về cái bản chất lưỡng kép đó của thực tại Chính V.Hugo cũng có những thay đổi trong cách nhấn mạnh đến trọng tâm của quan niệm về chủ nghĩa lãng mạn Lúc đầu, ông cho bản chất của chủ nghĩa lãng mạn là ở sự pha trộn giữa các phạm trù thẩm mỹ với nhau ( đẹp - xấu, bi - hài, cao cả - thấp hèn ) và giữa các thể loại với nhau (anh hùng ca, trữ tình, bi kịch, hài kịch, sử thi, tiểu thuyết ) Về sau, V.Hugo lại quan niệm về chủ nghĩa lãng mạn từ bản chất
chính trị xã hội của nền văn học này khi ông cho rằng chủ nghĩa lãng mạn chính là chủ nghĩa tự do trong văn học
Trang 16Do vậy, chỉ có thể hiểu đúng về chủ nghĩa lãng mạn như một tập hợp, hay chính xác hơn, như một hệ thống các đặc trưng thẩm mỹ riêng biệt, độc đáo và thống nhất
Chủ nghĩa lãng mạn ra đời và phát triển từ cuối thế kỉ XVIII đến những năm 30, 40 của thế kỉ XIX, đầu tiên hình thành ở Đức, sau đó lan sang Anh, Pháp, Nga… nhanh chóng phát triển thành phong trào văn học rộng khắp châu Âu, tạo ra rất nhiều tác giả, tác phẩm có ảnh hưởng lớn Đến thế kỉ XIX
ở Pháp, chủ nghĩa lãng mạn phát triển thành một trào lưu có hệ thống luận điểm, có phương pháp sáng tác riêng, phổ biến trên mọi lĩnh vực: thơ, kịch, tiểu thuyết như trong các tác phẩm của Lamartine, Muyxê, Vigny, V.Hugo
Ra đời trong thời đại quá độ từ hình thái xã hội phong kiến sang hình thái xã hội tư sản, với tất cả những đặc trưng và hệ lụy của thời quá độ đã in dấu sâu sắc lên nghệ thuật lãng mạn Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789, đánh đổ chế độ phong kiến, là một bước ngoặt vĩ đại không chỉ đối với Pháp mà còn đối với cả Châu Âu Chính sự sụp đổ của chế độ phong kiến và sự hình thành quan hệ xã hội mới đã tác động sâu sắc đến tư tưởng tình cảm của mọi tầng lớp trong xã hội
Trang 1717
Sự hình thành của chủ nghĩa lãng mạn có quan hệ mật thiết với tư tưởng triết học ở châu Âu đương thời Triết học duy tâm cổ điển Đức bản thân nó chính là phong trào lãng mạn trong lĩnh vực triết học Đại biểu của chủ nghĩa duy tâm chủ quan Kant, Johann Fichte đưa tâm hồn con người lên địa vị chủ đạo trong sáng tạo thế giới khách quan, nhấn mạnh thiên tài, tình cảm, tính năng động chủ quan; đại biểu của chủ nghĩa duy tâm khách quan Schelling, Hegel đề cao vị trí của tinh thần khách quan trong việc phái sinh thế giới vật chất, đưa con người đến đỉnh cao của sự phát triển tinh thần, cho rằng con người không chỉ cho mình mà còn vì mình, trên ý nghĩa cho mình,
vì mình, nhân tài mới là tuyệt đối, tự do, vô hạn Những điều này đề cao sự tôn nghiệm của con người, thức tỉnh dân tộc, thúc đẩy ước muốn, khao khát độc lập tự do, cung cấp cơ sở lí luận cho chủ nghĩa lãng mạn trong văn học
Mặt khác, sự hình thành của chủ nghĩa lãng mạn cũng có cội nguồn từ kinh nghiệm lịch sử và đấu tranh trong bản thân văn học Văn học cảm thương chủ nghĩa Anh thế kỉ XVIII, yêu cầu giải phóng cá tính, chủ trương tự
do tình cảm, quay trở lại tự nhiên thuần phác của Rousseau, nhấn mạnh cá tính, sắc thái tình cảm mãnh liệt trong phong trào cách tân với đại biểu là Goethe, nghiên cứu về tính bi kịch, ngợi ca, vẻ đẹp đăng đối của Kant, Schiele; sự thưởng thức nghệ thuật bắt đầu bằng việc đặt nghệ thuật trong dòng phát triển lịch sử của Herder, Hegel… tất cả đã kích hoạt tư tưởng của con người, làm cho cảm nhận, lí giải của con người đối với nghệ thuật trở nên sâu sắc hơn, từ đó yêu cầu nghệ thuật biểu hiện tinh thần vĩ đại và tư tưởng tình cảm một cách sâu sắc… Tất cả những điều này đều có vai trò quan trọng đối với sự hình thành chủ nghĩa lãng mạn
Chủ nghĩa lãng mạn chia làm hai khuynh hướng: chủ nghĩa lãng mạn
tiêu cực và chủ nghĩa lãng mạn tích cực
Trang 1818
Trước hết, chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực là sự phản ánh ý thức hệ của giai cấp bị Cách mạng tư sản tước đoạt quyền lợi và đẩy ra khỏi đời sống chính trị Những nhà văn lãng mạn xuất thân từ tầng lớp quý tộc thường tìm tới thời Trung cổ, thời hoàng kim của chế độ phong kiến, hướng tới lý tưởng
về cuộc sống đẹp đẽ êm đềm của thời xưa cũ Vì thế họ thường có thái độ bi quan trốn chạy cuộc đời, họ thường tìm về quá khứ, mộng ảo hay thu mình vào “cái tôi” bí ẩn, thiên định về cuộc đời, về tình ái, về cái chết Khuynh hướng lãng mạn tiêu cực này mơ ước khôi phục lại chế độ cũ và đức tin đối
với nhà thờ để truyền bá thuyết Thần bí về thế giới
Ngược lại, chủ nghĩa lãng mạn tích cực gắn liền với tâm trạng quần chúng nhân dân đang bất mãn trước những hệ quả của cuộc Cách mạng tư sản Pháp Nhưng họ cũng mơ ước một tương lai tốt đẹp hơn thực tại mà họ đang sống, nơi đó con người được giải phóng khỏi mọi áp bức bất công Chủ nghĩa lãng mạn tích cực chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng, họ nhìn vào chiều hướng của sự phát triển thực tại, nhưng thực tế họ
đã đi trước sự phát triển của thực tại Những nhà văn lãng mạn không hòa hoãn thỏa hiệp với thực tại mà họ mong muốn thiết lập nên một xã hội mới bảo đảm hạnh phúc cho con người và thường vẽ nên một xã hội lý tưởng
Có thể nói chủ nghĩa lãng mạn ra đời đã đưa nền văn học thế giới chuyển sang một bước ngoặt mới, là mảnh đất màu mỡ để người nghệ sĩ thỏa sức bộc lộ tài năng của mình
Về mặt quan niệm thẩm mỹ, chủ nghĩa lãng mạn là sự nổi dậy chống lại mọi ước lệ, mọi quy tắc gò bó của chủ nghĩa cổ điển Vì thế, tự do là nguyên tắc lớn nhất của chủ nghĩa lãng mạn Với chủ nghĩa lãng mạn, đã xuất hiện “một nền văn học được giải phóng” trên nhiều bình diện: thơ ca, tiểu thuyết, sân khấu Nhờ nguyên tắc tự do, chủ nghĩa lãng mạn đã đem lại một làn sóng tiểu thuyết cực kỳ phong phú và đa dạng
Trang 1919
Các chủ đề về tình yêu, nỗi cô đơn, nỗi buồn, những lý tưởng không đạt được… được sử dụng rộng rãi trong nghệ thuật lãng mạn Những chủ đề quan trọng và quen thuộc của văn học lãng mạn bắt nguồn từ cảm thức về thời đại, về lịch sử, về thân phận con người Trong đó, con người thất vọng, bàng hoàng trước những cơn lốc lịch sử, trước sự trôi chảy của dòng đời, về định mệnh, về tôn giáo… Họ đã làm phong phú cho nghệ thuật bằng những hình tượng, những chủ đề mới Trong các tác phẩm, họ đã đề cập đến các chủ
đề có liên quan đến cuộc đấu tranh của nhân dân, đến quá khứ anh hùng, đến các sự kiện và những chiến công anh dũng của nhân dân Điều đó cho thấy, người nghệ sĩ lãng mạn không phải là người chỉ biết có ước mơ, mà thực tế
xã hội đã thức tỉnh người nghệ sĩ tình cảm yêu nước tha thiết và sự phản đối với mọi bất công
Nhân vật lãng mạn không phải là cá nhân hài hòa với tập thể như con người trong thời đại Ánh sáng Nhân vật lãng mạn là những nhân vật “nổi loạn” chống đối với thực tại tư sản tầm thường Họ là những người thực hiện các suy tưởng lãng mạn, các phản kháng lãng mạn Các thái độ lãng mạn thường giống nhau: nặng chất suy tưởng, thiên về đời sống tình cảm, cô đơn
và u sầu, xa cách và nổi loạn, không thỏa hiệp được với thực tại cuộc đời, thường có kết thúc mang tính bi kịch, dù họ là nhân vật lãng mạn hướng nội hay lãng mạn hướng ngoại, tiêu cực hay tích cực Tuy nhiên các nhân vật lãng mạn thường mang vẻ đẹp phi thường độc đáo và dấu ấn chủ quan của người cầm bút Kiểu nhân vật trong chủ nghĩa lãng mạn thường là kiểu nhân vật cô độc Họ bất mãn với thực tại thối nát, không chấp nhận thực tại và chối bỏ xã hội
Chủ nghĩa lãng mạn ưa sử dụng các thủ pháp nghệ thuật như: thị hiếu
ưa thích phong vị ngoại lai thể hiện trong cách lựa chọn đề tài, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật sao cho đó không phải
Trang 2020
là những khung cảnh, con người quen thuộc ở thị thành, cung đình, mà ở những nơi xa lạ, những thời điểm xa xưa, những tập tục khác thường… là một phương thức hữu hiệu đem lại phong vị tươi mới cho tác phẩm Nguyên tắc tự
do góp phần trẻ hóa lối hành văn, cách gieo vần, cách sử dụng các biện pháp
tu từ, cách lựa chọn các không gian và thời gian nghệ thuật Và do nhiệt tình, sôi nổi muốn tự thể hiện, chia sẻ và thuyết phục, văn chương lãng mạn nói chung thường mang tính hùng biện Ở từng nhà văn có các thủ pháp riêng Đặc biệt nhất là V.Hugo, người đã thể hiện được cả một hệ thống nghệ thuật riêng của mình với một loạt các thủ pháp nghệ thuật đặc thù như tương phản, cường điệu, trữ tình ngoại đề, sự đối lập giữa cái trác tuyệt và cái thô kệch…
Theo nhận xét của các nhà phê bình, nghệ thuật lãng mạn có khả năng dung nạp rộng rãi các phương tiện thể hiện Quan niệm thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn chú ý sự hỗn hợp chặt chẽ giữa các thể loại với nhau, tạo nên
tính sinh động, sự tự do… “Tinh thần lãng mạn chính là sự nối kết liên tục các yếu tố đối kháng nhau: tự nhiên và nghệ thuật, thơ ca và văn xuôi, sự nghiêm túc và thú vui, kỷ niệm và dự cảm, tư tưởng trừu tượng và những cảm giác sống động, sự sống và cái chết… hòa lẫn với nhau một cách mật thiết trong thể loại lãng mạn” (A W Slegel)
Có thể nói, chủ nghĩa lãng mạn ra đời là cuộc cách tân không chỉ về nội dung mà cả nghệ thuật Qua nghệ thuật lãng mạn này, nhà văn muốn nói lên khát vọng hướng đến cái cao cả, cái đẹp, chống đối lại cuộc sống tư sản tầm thường như là giấc mơ đầy kiêu hãnh nhưng cũng đậm ảo tưởng của người nghệ sĩ về con người, cuộc sống đương thời
1.1.3 Sáng tác của V Hugo
Victor Hugo (1802- 1885) là nhà văn lãng mạn tiêu biểu của nước Pháp
và là chủ soái của văn chương lãng mạn đương thời
Trang 2121
Sinh ra tại thành phố Besancon, Hugo xuất thân từ một gia đình bình dân, ông nội làm nghề thợ mộc ở vùng Nancy, cha ông là một quân nhân dưới thời Napoleon I, thường đi chinh chiến liên miên hết Ý đến Tây Ban Nha Cậu bé Hugo sống êm đềm trong sự chăm sóc của mẹ, một người phụ nữ trí thức tiến bộ, theo quan điểm bảo hoàng và mộ đạo, rất quan tâm đến sự phát triển của con Nhờ vậy, tài năng thi ca của Victor Hugo phát triển rất sớm, trở
thành cậu bé trác việt Năm 15 tuổi ông tham gia cuộc thi thơ của Viện Hàn Lâm Pháp 17 tuổi, đoạt giải Bông huệ vàng Hai mươi tuổi, tập Tụng ca của
ông được giải thưởng của nhà vua 21 tuổi, ông kết hôn với người bạn thời
niên thiếu của mình: Adele Foucher Năm 22 tuổi, ông viết Đoản thi mới (Nouvelles Odes) và năm 24 tuổi, cho ra đời Đoản thi và Balát (Odes et
Ballades)
Từ năm 1820 đến 1830, V.Hugo liên lạc với nhóm nhà văn lãng mạn
và trở thành lãnh tụ của nhóm này Ông mang hết tài năng và nhiệt huyết đấu tranh cho một nền văn học mới, tự do, chống lại thứ nghệ thuật gò bó, giả tạo
của chủ nghĩa cổ điển lúc ấy đã lỗi thời Năm 1827, Kịch Crôm-oen (Cromwell) ra đời và một loạt tác phẩm khác của ông như tập thơ Về phương Đông (Les Orientales, 1829) kịch Hécnani (Hernani -1830)
Thời kỳ sau năm 1830 là một giai đoạn mới trong cuộc đời cũng như trong sáng tác của V.Hugo Phong trào cách mạng Pháp ngày càng mạnh mẽ, nhân dân nổi dậy chống chính quyền tư sản phản động, Hugo có cảm tình đặc biệt với cách mạng Ông không ngừng sáng tác và tích cực tham gia đấu tranh chính trị Phái lãng mạn lúc này có sự chia rẽ giữa một bên chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật và một bên chủ trương nghệ thuật phục vụ dân sinh Hugo
đã trở thành thủ lĩnh của chủ nghĩa lãng mạn tích cực Năm 1831, ông viết
cuốn tiểu thuyết lịch sử vĩ đại Nhà thờ Đức bà Paris, bộc lộ những tư tưởng
Trang 22nhất Tập thơ Trừng phạt và bộ thiểu thuyết Những người khốn khổ ra đời trong thời gian này
Năm 1870, ông trở về Paris sau khi chế độ Luis Napoléon sụp đổ,
chứng kiến khí thế xông lên đoạt trời của công xã Paris, rồi lại mất gần hết những người thân: vợ, con trai, con gái Ông viết Năm khủng khiếp (1870- 1871) để khắc sâu khúc ca công xã đầy bi tráng, tiểu thuyết Chín mươi
ba (1874) để nhớ lại cách mạng tư sản
Những năm cuối đời, ông viết Nghệ thuật làm ông (1877) dành cho hai
cháu trai và gái của mình Giai cấp tư sản từ sau 1871 đã biết vỗ về dân chúng bằng cách tôn vinh V.Hugo: tên ông được đặt cho đường phố ông đang sống, 600.000 người Paris diễu hành trên đường phố mừng năm ông bước vào tuổi
80 Victor Hugo trở thành âm vang của thời đại bằng sự đồng vọng nhân đạo lớn lao Ngày 22.5.1885, trái tim vĩ đại của những kiếp người khốn khổ đã đi
vào cõi vĩnh hằng trong chiếc quan tài của kẻ khó Ông khước từ lễ cầu hồn của nhà thờ, chỉ cầu xin ở mỗi tâm hồn một lời cầu nguyện và viết trong di chúc: Tôi để 50 vạn quan cho người nghèo Ngày đưa tang ông được coi như
ngày quốc tang
Trang 2323
Victor Hugo sinh ra vào buổi khởi đầu và ra đi trước 15 năm kết thúc thế kỷ XIX, nghĩa là sống gần trọn “cõi người ta”, một thế kỷ nhiều bão táp của lịch sử nước Pháp Cuộc đời ấy đã trải nghiệm qua bao bước thăng trầm
Đó là thời như Flaubert tiên tri – thời mà bóng đen của Chủ nghĩa tư bản đã bao phủ toàn bộ thế kỷ
Ra đời cách đây 2 thế kỷ, Victor Hugo đã khẳng định vị trí của mình
trên văn đàn thế giới với những danh hiệu không ai lặp lại được Hugo khổng
lồ, Hugo trái núi, Hugo cây sồi, Hugo chim đại bàng Ông đã để lại cho di
sản văn học nhân loại một khối lượng đồ sộ các tác phẩm văn học ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, kịch, thơ ca Ở tất cả những lĩnh vực mà ông đặt chân đến, ông đều để lại dấu ấn của một thiên tài, nhưng độc giả khắp nơi trên thế giới cũng như ở Việt Nam lại yêu thích và biết nhiều đến Hugo qua những trang tiểu thuyết lãng mạn, đầy nhân ái và các nhân vật nổi tiếng của ông như Giăng VanGiăng, Giave, Côdét, Phăngtin, Cadimôđô Những di sản nghệ thuật đồ sộ của ông là bằng chứng của một tài năng vô tận, một sức sáng tạo
đa dạng, diệu kỳ Hugo đã phá vỡ những quy tắc thông thường của chủ nghĩa
cổ điển Về nghệ thuật, ông đã từng nhấn mạnh: Những tác phẩm vĩ đại đều
có một tiêu chuẩn chung là tính tuyệt đối, Cái bình thường là cái chết của nghệ thuật Bởi vậy, những nhân vật trong các tác phẩm của ông thường là
những nhân vật phi thường, được lý tưởng hóa như Giăng Vangiăng, Cadimôđô, Gôvanh… Ông thường hòa trộn những cái bi với cái hài, cái cao quý, đẹp đẽ với cái tầm thường, thô kệch Ông khắc họa những cái xấu đến độ kệch cỡm của hình dáng bên ngoài nhưng bên trong lại là vẻ đẹp tâm hồn đến mức cao cả
Về nội dung, sáng tác của V.Hugo phản ánh đầy đủ những hoài vọng, những ảo tưởng, những lầm lạc, những tiên báo, những yêu thương và thù hận, những lo sợ và hy vọng của thời đại Và hơn cả, ông vượt lên trên thực
Trang 2424
tại xã hội để mơ ước, khát vọng về một thế giới mới - một thế giới tốt đẹp cho con người mà chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa hiện thực cũng đã từng mơ ước theo những cách khác Có thể nói Hugo là ngọn gió của chủ nghĩa lãng mạn
và ngọn gió ấy đã lan tỏa đi khắp chân trời của thế giới
Là lãnh tụ của văn chương lãng mạn, V.Hugo luôn trung thành với
những tư tưởng lãng mạn tích cực, chống đối lại xu hướng lãng mạn tiêu cực, thoát ly Hugo đề ra nhiệm vụ là nghệ thuật phải phục vụ lợi ích của nhân dân; sức mạnh của văn chương là mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân Bởi thế, chủ nghĩa lãng mạn của ông thấm nhuần tinh thần nhân đạo chủ nghĩa Nó rất gần chủ nghĩa hiện thực Tác phẩm của ông phản ánh đời sống cùng cực của nhân dân dưới chế độ tư bản, đồng thời mô tả được những con người lao động vùng dậy làm cách mạng Hugo đã tiến từ xu hướng quân chủ đến tư tưởng dân chủ xã hội, từ nghệ thuật lãng mạn đến xu hướng hiện thực Cuộc đời và tác phẩm của ông tiêu biểu cho cuộc phấn đấu không ngừng cho cách mạng, cho tự do dân chủ, cho hòa bình hữu nghị các dân tộc Tác phẩm của ông thấm nhuần tư tưởng nhân văn chân chính Đã từ lâu, cả thế giới đều công nhận Victor Hugo là một nhà văn vĩ đại không những của nước Pháp mà còn
là của toàn nhân loại
Victor Hugo được coi là một khuôn mặt vĩ đại của thế kỷ XIX, một tài danh trong thời đại, được đánh giá cao trong giới văn hoá, văn nghệ thế giới Người ta tìm thấy qua di sản đồ sộ về văn học của văn hào là nguồn ánh sáng của lòng nhân ái và ý chí đấu tranh cho hoà bình, hạnh phúc của con người Đặc biệt là các tác phẩm ấy rất có ý nghĩa trong tình hình thế giới hiện nay – còn chiến tranh và đe doạ vũ lực, khủng bố, còn những thảm cảnh lầm than, nghèo khổ và bất bình đẳng trên phạm vi toàn cầu
Không chỉ vậy, với tầm vóc là vị chủ soái của chủ nghĩa lãng mạn Pháp, Hugo đã dám đương đầu đấu tranh với những quy phạm ngặt nghèo của
Trang 2525
chủ nghĩa cổ điển, ông là trợ lực hùng mạnh của những nhà văn lãng mạn ở Đức, Nga, Anh, và cả Việt Nam trong cuộc đấu tranh cho khuynh hướng sáng tác của mình
1.2 Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của V.Hugo
1.2.1 Khái niệm nhân vật văn học
Nhân vật theo tiếng Latinh là “Persona” nghĩa là cái mặt lạ, về sau được dùng để chỉ con người trong tác phẩm văn học Có rất nhiều cách diễn đạt khái niệm về nhân vật:
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên, thì “nhân vật có nghĩa là vai trong tác phẩm văn học” [47, 914]
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học, nhân vật là “đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học, nghệ thuật.” [6, 916]
Henri Bénac trong cuốn “Dẫn giải ý tưởng cho văn chương” cho rằng khái niệm nhân vật được hiểu là một người được hư cấu tưởng tượng trong một tác phẩm văn học, một tác phẩm điện ảnh hay sân khấu Nhân vật là tấm gương cho phép người ta hiểu rõ hơn những quy luật của tâm hồn con người Đôi khi nhân vật giúp cho người đọc hiểu được những quy ước của một thời đại, thậm chí cả những thói hư, tật xấu của thời đại ấy.” [5, 115]
Theo “150 thuật ngữ văn học” thì: “Nhân vật là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người thật trong cuộc sống
Nó có chức năng cơ bản là khái quát tính cách của con người và chức năng này cũng mang tính lịch sử Nhân vật văn học còn có khả năng dẫn dắt độc giả vào các thế giới khác của đời sống, thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người.” [3, 249]
Trang 2626
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người Do tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử nên chức năng khái quát tính cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử.”[48,
235]
Từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, mang tính lịch sử và mang dấu ấn chủ quan của nhà văn Nhân vật có thể có tên, không tên, hay có khi nhân vật là con vật, cây cỏ song ít nhiều đều mang bóng dáng, tính cách của con người in trên đó
Trong tác phẩm văn học, các loại hình nhân vật rất đa dạng và số lượng nhân vật là không giới hạn: có thể chỉ vài nhân vật nhưng cũng có thể vài trăm nhân vật Sự phân loại nhân vật cũng hết sức phức tạp dựa trên các tiêu chí khác nhau: tính cách, vai trò của nhân vật trong tác phẩm, cấu trúc hình tượng…người ta chia nhân vật thành nhiều loại khác nhau Xét về vai trò nhân vật trong tác phẩm, có thể nói tới nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm Xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lý tưởng xã hội của nhà văn, có thể nói đến nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Trong đó, nhân vật chính diện thường được tác giả đề cao và khẳng định, đó
là nhân vật mang lý tưởng, quan điểm tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của tác giả, của thời đại
Như vậy, nhân vật chính là phương tiện, là công cụ để nhà văn phản ánh hiện thực Nhân vật là phương tiện tạo nên thế giới nghệ thuật của tác phẩm Nhân vật được miêu tả bao giờ cũng gắn với một môi trường, hoàn cảnh sống, thời gian, không gian nhất định Chính từ môi trường ấy từng mảng hiện thực đời sống, số phận nhân vật được hiện ra
Trang 2727
Nhân vật là một “người giấy” được sinh ra từ trí tưởng tượng và óc
sáng tạo của nhà văn, vừa mang những đặc điểm của một con người trong cuộc đời thực, lại cũng là công cụ để nhà văn bộc lộ, gửi gắm tư tưởng thẩm
mĩ của mình Tư tưởng của một tác phẩm không đơn giản nằm trong lời phát biểu của tác giả mà chuyển hóa vào hình tượng Bởi thế, mỗi nhân vật vừa là con người có trong cuộc đời thực, đồng thời cũng là đứa con tinh thần của nhà văn
Nhân vật còn là phương tiện có tính thứ nhất trong hình thức của tác phẩm, quyết định phần lớn đến cốt truyện, sự lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, ngôn ngữ, kết cấu
Nghiên cứu nhân vật chính là chìa khóa giúp chúng ta hiểu được giá trị của tác phẩm văn học, tư tưởng của nhà văn cũng như đặc điểm của thời đại
mà nhà văn đã sống
1.2.2 Nhân vật phụ nữ trong văn chương lãng mạn
Con người là trung tâm của tác phẩm văn học Trong lịch sử văn học nhân loại, phụ nữ là một trong những đối tượng được giới nghệ sĩ dành sự quan tâm đặc biệt Trước V.Hugo, ngoài những sáng tác dân gian, trong văn học viết hình tượng người phụ nữ đã được thể hiện qua nhiều sáng tác Trong
đó có những nhân vật nổi tiếng từ xa xưa như Mêđê, Ăngtigôn trong bi kịch
cổ đại, Ximen, Ăngđrômác trong bi kịch cổ điển…, có những tác phẩm nổi
tiếng như“Truyện Kiều” của Nguyễn Du hay những bài thơ trữ tình của Hồ Xuân Hương, những bi kịch bất hủ: “Rômêô và Juyliet”, “Ôtenlô” của
Sêcxpia… Ở những sáng tác này, các tác giả đều thể hiện thái độ bênh vực, bảo vệ và đấu tranh cho quyền lợi của người phụ nữ
Trong văn học lãng mạn, nhân vật nữ xuất hiện đa dạng, phong phú
Họ là một thế giới đầy bí ẩn và cần được khám phá với rất nhiều những khát
Trang 2828
khao về tình yêu, hạnh phúc Biết bao cảnh đời khác nhau, có hạnh phúc ngọt ngào, có đắng cay trong đời riêng - chung, có tốt, có xấu và có cả cao cả lẫn thấp hèn trong phẩm chất nhân cách con người Đó là Catherine
Earnshaw trong Đồi gió hú - người phụ nữ trong lòng bị chênh vênh giữa hai
bên yêu và chọn lựa mang đầy bi kịch đời tư Cô không dám dứt khoát trong tình yêu, vẫn vì danh dự cá nhân, để rồi dẫn đến bi kịch trong cuộc đời đến lúc sang thế giới bên kia vẫn không thể nhắm mắt yên nghỉ
Có thể nói, văn học lãng mạn đã vẽ nên những gương mặt nữ ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế, đa chiều và còn ẩn sâu đằng sau những câu chữ trau chuốt là những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con người, về cuộc đời và nhân tình thế thái Cảm giác mất mát hạnh phúc và nỗi khát khao hạnh phúc, vươn lên nghịch cảnh, những nỗi niềm đau đớn tủi hờn trong đời tư là các tâm trạng và cảm xúc thường gặp ở các nhân vật nữ trong văn học lãng mạn Số phận của người phụ nữ có thể nào vượt ra khỏi ranh giới của hoàn cảnh xã hội và những cố gắng tuyệt vọng của họ đã phải trả giá bằng biết bao đắng cay, tủi hờn
Trong văn học lãng mạn Việt Nam người phụ nữ cũng mang một số phận, “gương mặt” như vậy Người phụ nữ trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn hiện lên điển hình là những người phụ nữ thành thị như hình mẫu của
“phụ nữ tân thời”, “phụ nữ tân tiến” Họ chính là lớp người tiêu biểu cho đấu tranh xung đột mới, cũ của thời đại, cho khát vọng chống lễ giáo phong kiến
Đó là Mai trong Nửa chừng xuân và một số nhân vật khác trong tác phẩm cùng đề tài Tương tự là nhân vật Nhung trong Lạnh lùng của Nhất Linh Tuyết trong Đời mưa gió lại là một ngoại lệ khi cô nổi bật như một nhân vật
phụ nữ nổi loạn cực đoan Nói chung, phần lớn nhân vật thuộc tuyến này được miêu tả là những con người đáng thương cảm và đáng trân trọng, có nhiều đức tính phụ nữ tốt đẹp, có thế giới tinh thần phong phú, nhất là có ý
Trang 2929
thức đấu tranh mạnh mẽ để cải tạo số phận Các nhân vật của Tự lực văn đoàn
đã luôn xung đột với những gì cản trở quyền vươn tới cuộc đời mới Ở đó, họ tranh đấu để sống một cuộc sống theo ý muốn cá nhân mình, đồng thời khẳng định giá trị của quyền cá nhân, quyền con người Hơn nữa, ý thức về quyền bảo vệ nhân phẩm và danh dự của mình là một ý thức thường trực trong nhân vật nữ các tác phẩm của Tự lực văn đoàn Họ luôn được đặt trong sự thử thách của hoàn cảnh nhưng họ đã không cam chịu để hoàn cảnh bóp chết Họ
là những con người khỏe khoắn, đã luôn đấu tranh để giành thế chủ động dù thắng lợi có khi chỉ nửa chừng Tư thế lạc quan đậm màu ảo tưởng ấy đem lại cho con người Tự lực văn đoàn một tính chất lãng mạn Từ đó, có thể khẳng định rằng: “Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là bản tuyên ngôn nhân quyền bằng nghệ thuật”
Tựu trung, có thể nói rằng, trong văn chương lãng mạn, hình tượng nhân vật nữ được nhà văn xây dựng bằng trái tim yêu thương thổn thức, bằng cái nhìn lý tưởng qua lăng kính chủ quan của nhà văn, nên nhân vật vừa mang
lý tưởng, quan điểm tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của tác giả, vừa mang dấu ấn của thời đại Điều ấy đã giúp cho nhân vật nữ trong bất cứ tác phẩm văn học lãng mạn nào cũng vừa mang những nét riêng, độc đáo vừa gần gũi nhau khi thể hiện khát vọng chung của con người thời đại
1.2.3 Hình tượng người phụ nữ trong quan niệm nghệ thuật của V.Hugo
và trong hệ thống nhân vật của tiểu thuyết V.Hugo
Hình tượng người phụ nữ luôn là đối tượng khám phá muôn đời của nghệ thuật Trong sáng tác của V.Hugo, nhân vật nữ đã được nhà văn khám phá và thể hiện đa dạng, nhiều chiều Tuy nhiên, họ đều được nhà văn nhìn bằng lăng kính của tình yêu thương và trái tim nhân đạo cao cả Có thể nói, tình yêu thương con người khốn khổ bị đoạ đày như được gieo mầm khắp các
Trang 3030
tác phẩm để kết thành những rung động âm vang qua các hình tượng lớn
trong tiểu thuyết của Hugo Là một người nghệ sĩ cả đời đi kiếm tìm cái đẹp ở
con người, tin vào bản chất tốt đẹp của người lao động nên trong hầu hết các sáng tác của ông, vẻ đẹp của con người lao động, con người chân chính luôn được khẳng định và đề cao, kết tinh ở hình tượng người phụ nữ Ông đã dành cho họ những trang viết cảm động với một tình cảm chân thành, sâu nặng Số phận của họ đa số là đói nghèo, khốn khổ và cằn cỗi nhưng mỗi người đều có một vẻ đẹp riêng toát nên từ phẩm chất tốt đẹp Có những người đã từng sai
lầm nhưng tội lỗi không phải ở họ, “con người có tối tăm mới gây nên tội lỗi Cho nên kẻ có tội không phải là người đã lầm lỗi mà chính là kẻ đã gây nên tối tăm”, là xã hội tư sản đã cướp đi quyền sống, quyền tự do và quyền được
giáo dục của người lao động
V.Hugo cũng ưu ái và dành cho người phụ nữ một vị trí trung tâm trong những tác phẩm Ông đặc biệt quan tâm đến những người phụ nữ nghèo, những người bị áp bức đày đọa Thêm vào đó Hugo là nhà văn của tình yêu lớn, trái tim ông không chỉ đóng khung trong những tình yêu nhỏ hẹp
mà nó lan tràn với tình yêu rộng lớn với nhân dân và nhân loại Vì thế cũng
dễ hiểu một điều tưởng như mâu thuẫn khi Hugo hết sức bênh vực người phụ
nữ ngay cả khi họ phạm tội hay sa đọa Ông vừa đồng cảm với thân phận của
họ, vừa lên án tố cáo chế độ xã hội và luật lệ xã hội hà khắc đã bức con người vào đường cùng Mỗi người phụ nữ đều mang vẻ đẹp của riêng mình, nhưng
số phận lại không dành cho họ hạnh phúc Họ bị chà đạp, đày đọa và thậm chí
có nhân vật đi đến kết thúc là cái chết Nguyên nhân dẫn đến sự bất hạnh đó
đã được tác giả đã chỉ rõ trong lời đề từ tác phẩm Những người khốn khổ:
“Khi pháp luật và phong hoá còn đầy đọa con người, còn dựng lên những địa ngục ở giữa xã hội văn minh và đem một thứ định mệnh nhân tạo chồng thêm lên thiên mệnh; khi ba vấn đề lớn của thời đại là sự sa đọa của đàn ông vì
Trang 3131
bán sức lao động, sự trụy lạc của đàn bà vì đói khát, sự cằn cỗi của trẻ thơ vì tối tăm, chưa được giải quyết, khi ở một số nơi đời sống còn ngạt thở Nói khác đi và trên quan điểm rộng hơn, khi trên mặt đất, dốt nát và đói khổ còn tồn tại thì những quyển sách như loại này còn có thể có ích” Như thế, số
phận của các nhân vật bất hạnh không phải là do thiên định như người ta vẫn nghĩ mà vì nó phải gắn chặt với xã hội tư sản với thứ pháp luật phản động đã
đem “định mệnh nhân tạo chồng thêm lên thiên mệnh”: Đàn ông sa đọa vì
phải bán sức lao động, làm việc đến kiệt sức để phục vụ nền văn minh tư bản; đàn bà trở nên trụy lạc vì đói khát, phải bán mình để kiếm từng đồng; trẻ em thì cằn cỗi, tối tăm vì không được giáo dục đến nơi đến chốn Không những vậy, xã hội còn đè nặng lên người lao động vô số những định kiến và phong hóa khắc nghiệt làm cho cuộc sống của họ càng thêm khốn khổ và bị trói buộc
Là hiện thân của chủ nghĩa lãng mạn tích cực, khác với những tiền bối của mình là Satôbriăng hay Vinhy, các sáng tác của Victor Hugo không chỉ mang đậm chất lãng mạn mà còn phản ánh hiện thực một cách sâu sắc Ông không đem lý tưởng của mình đối lập với thực tại tư sản Không trốn tránh nó bằng việc đi tìm nguồn an ủi ở tình yêu, ở thiên nhiên như Muytxê hay bảo thủ quay về tiếc nuối quá khứ vàng son như Satôbriăng và Lamactin Ông cũng không dùng những lời văn hào hoa tẻ nhạt an ủi con người trong giấc ngủ triền miên của cuộc sống tầm thường, ích kỷ Ngược lại, là một nhà văn lãng mạn tiến bộ, V.Hugo luôn tỉnh táo, sáng suốt đứng vững trên thực tại và thấu hiểu những cảnh đời éo le bất hạnh Từ “ một kẻ quyền thế danh vọng và vinh quang ”, V.Hugo thực sự trở thành “đấu thủ nhiệt thành của những kẻ nghèo và những người bị áp bức” Việc xây dựng hình tượng người phụ nữ và đưa họ vào tác phẩm không chỉ thể hiện chất lãng mạn vốn có trong ngòi bút của Hugo, mà còn là cảm quan hiện thực tài ba của nhà văn Đặt nhân vật vào
Trang 3232
hiện thực cuộc sống nhà văn không chỉ yêu thương, ngợi ca con người mà còn phản ánh xã hội một cách chân thực Là phụ nữ, họ không được Hugo xây dựng như những người anh hùng, song gương mặt của họ ám ảnh độc giả và nhân loại sâu xa hơn Những cuộc chính biến dường như vẫn đi qua bên lề của đời họ
Trong những trang tiểu thuyết của Hugo hình tượng người phụ nữ thường được xây dựng theo một số mô típ chính: Môtip người gái điếm - tình
mẫu tử (Phăngtin – Côdét trong Những người khốn khổ, Pakettơ trong Nhà thờ đức bà Paris), môtip người phụ nữ trong tình yêu đơn phương (Êpônin
tình yêu đơn phương cao cả với Mariuytx, yêu mà không cần đền đáp, sống trọn nghĩa tình với người mình yêu) và môtip người phụ nữ bị tha hóa Nhà
văn cũng hướng về chủ đề Tình yêu – chủ để ấy nổi bật trong tiểu thuyết lãng
mạn của Hugo và được tô đậm Có tình yêu tuyệt vọng của Phăngtin, Êpônin, tình phụ tử và mẫu tử với Côdét; tình yêu trong sáng và thánh thiện của đôi Mariuytx - Côdét…
Cái chết đã làm tăng thêm vẻ đẹp của hình tượng các nhân vật nữ nhưng cũng cho thấy sự bi đát trong số phận của họ Cả cuộc đời hi sinh cho mục đích mình hường tới, phấn đấu hết mình để kiếm tìm hạnh phúc nhưng
có nhân vật lại không thể vượt qua được hoàn cảnh và số phận, cái chết của
họ mang tính tố cáo xã hội sâu sắc hoặc thể hiện bi kịch trong cuộc đời họ
Nhân vật phụ nữ trong sáng tác của Hugo sống động, phong phú và đa dạng Mỗi một nhân vật xuất hiện là sự đan cài của nhiều môtip chứ không chỉ dừng lại ở một môtip cụ thể Cả một thế giới nhân vật nữ sống động, đông đúc mà bao quanh họ là một bầu khí quyển của sự khốn khổ cựa quậy trên trang sách của Hugo Để rồi các nhân vật nữ của ông cứ như những người phụ
nữ từ ngoài đời thực bước vào tác phẩm mà không bị ngăn cản bởi hàng rào
Trang 33áo Vì vậy,ông mong ước chấm dứt sự khốn cùng trong xã hội và khát vọng vươn tới một xã hội bình đẳng, bác ái Nhưng chấm dứt bằng cách nào? Xuất phát từ ảnh hưởng của tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng, V.Hugo cho rằng tình thương có thể “ dành giật con người ra khỏi điều ác ” Nó là công lý cao cả có thể tiêu diệt được tội lỗi con người và xây dựng một xã hội tốt đẹp Bởi vậy, V.Hugo đưa ra “ dự án ” cải tạo xã hội và con người bằng “giải
pháp tình thương và công lý tha thứ ”
Trang 3434
CHƯƠNG 2 THÂN PHẬN VÀ PHẨM CHẤT CỦA CÁC NHÂN VẬT
NỮ TRONG TIỂU THUYẾT V.HUGO
2.1 Sự tương phản giữa thân phận và nhân phẩm
Mỗi nhân vật xét đến cùng là kết quả của những khát vọng, những cảm xúc và kinh nghiệm mà bản thân Hugo đã thể nghiệm về con người Bởi thế, những nhân vật nữ của Hugo không phải hoàn toàn chết cứng, trừu tượng, mà
đã có sự sống sinh động và phức tạp trong đó Chính vì thế mà cho tới nay, dù trào lưu lãng mạn đã qua, thời trung cổ của phương Tây càng trở nên xa xôi
hơn bao giờ hết đối với độc giả nhiều nước nhưng Nhà thờ Đức Bà Paris, Những người khốn khổ vẫn là những cuốn truyện được dịch và đọc nhiều trên
thế giới đặc biệt ở Việt Nam
Nhà văn đã miệt mài đi tìm vẻ đẹp ẩn khuất bên trong mỗi con người
và ông tin vào sự hướng thiện như là chân lý bất biến mà con người hướng đến Nhân vật nữ trên các trang viết của ông là hình tượng mà ông gửi gắm những quan niệm, tư tưởng và những ước muốn của mình về một cuộc sống, một xã hội tốt đẹp hơn Bằng cảm quan nhân đạo sâu sắc và ngòi bút lãng mạn thiên tài, Hugo đã xây dựng được những hình tượng người phụ nữ mang
vẻ đẹp bất hủ Nếu như trong xã hội tư sản thế kỉ XIX, những người phụ nữ bị phủ nhận, coi rẻ thì dưới ngòi bút của Hugo, họ hiện lên thật đẹp đẽ với những phẩm chất cao cả, sáng ngời
2.1.1 Thân phận thấp hèn, số phận đau thương của các nhân vật nữ - những kẻ nhỏ bé, cùng khổ và yếu đuối nhất xã hội
Sống trong xã hội tư sản vô nhân đạo, V.Hugo nhận thấy số phận bấp bênh, chìm nổi của người phụ nữ Ông cảm thông sâu sắc với cuộc đời đau
Trang 3535
khổ của họ Trước Phăngtin, trong tiểu thuyết Nhà thờ đức bà Paris, V.Hugo
đã nhắc đến hình ảnh người đàn bà điên dại, sống cô đơn trong một căn hầm tăm tối của một dòng tu Đó là Pakettơ Người đàn bà ấy, thời trẻ đã từng làm say đắm bao người Nhưng xã hội đã đẩy cô vào con đường đau khổ Một cuộc sống mòn mỏi, ê chề với “nghèo đói trên môi” và “sa đoạ trong tim” ở các tiểu điếm đã in lên đời cô Người phụ nữ ấy bị bỏ rơi, bị xua đuổi Tuổi xuân của cô tàn tạ bởi sức phá hoại của cuộc sống ghê tởm Tuy nhiên, cô vẫn giữ trong tim mình tình yêu với đứa con thơ dại Bao nhiêu năm sống cuộc đời điên dại, niềm mơ ước được gặp con đã trở thành hiện thực Nhưng trớ trêu thay, đứa con gái của cô – vũ nữ Exmêranđa xinh đẹp lại bị người ta kết
án tử hình vì không chịu hiến mình cho linh mục Phrôlô Pakettơ phải ngậm ngùi bởi không cứu được con mình Có thể nói, những bất hạnh Pakettơ chịu đựng chính là phác thảo đầu tiên để V.Hugo nói về Phăngtin đầy đủ hơn, rõ
nét hơn
Exmêranđa – con gái của Pakettơ là một vũ nữ tài hoa, xinh đẹp nhưng kết thúc cũng mang một bi kịch tột cùng đau khổ Cô gái trẻ có một tuổi thơ bất hạnh và một số phận đau thương: Exmêranđa bị bắt cóc xa rời Pakettơ khi chưa đầy một tuổi Cô phải sống lang thang với đám người du thủ du thực mà lòng luôn khát khao tìm lại được mẹ Sau này khi lớn lên, vẻ đẹp của cô gái
độ tuổi trăng rằm đã tạo nên sự bất hạnh cho cô, khi linh mục Phrôlô say mê sắc đẹp cho Exmêranđa và là một trong những nguyên nhân gây lên cái chết
thảm thương cho Exmêranđa
Cả cuộc đời Exmêranđa giống như một huyền thoại Sống tự do như khí trời, sống gần như man dại cuộc đời Bohémiens giữa cái gọi là nền văn minh quý tộc, tu sĩ, Exmêranđa - một thứ đàn bà của định mệnh, đã khơi gợi tình yêu cho nhiều người và tự mình cũng yêu si mê cuồng nhiệt Với cô, tình yêu mạnh hơn cái chết Yêu Phêbuýt, cô yêu tuổi trẻ, yêu một viễn ảnh tương
Trang 3636
lai xán lạn, tươi đẹp, như vẻ ngoài quyến rũ của viên sĩ quan Với cô, Phêbuýt
là trên hết Cô đã cho con dê trắng của mình xếp chữ PHÊBUÝT “Phêbuýt –
Đó là một từ mà cô gái tin có phép nhiệm màu bí mật nào đó Cô thường khẽ nhắc tới khi có một mình” Cô yêu Phêbuýt, yêu với tất cả sự say mê của tình yêu đầu tiên Để sau đó khi thấy Phêbuýt ngã vật xuống sàn nhà cô đã ngất đi Khi bị đưa đến giàn treo cổ, cô không nghĩ đến ai ngoài Phêbuýt Cô khẩn nài quan tòa: “Ôi quý tòa, trước khi giết tôi, hãy làm phúc cho tôi biết hiện chàng còn sống không?” Cô đã yêu Phêbuýt với tất cả sự chân thành và trong sáng nhất của mình Cô yêu, tin Phêbuýt và cố gắng sống trọn vẹn với niềm tin ấy Cho dù niềm tin ấy, tình yêu ấy là một trong những nguyên nhân đẩy cô tới cái chết Cô yêu mù quáng trong tình yêu Cô hướng cả tâm hồn lẫn thể xác vào Phêbuýt mà không biết rằng đằng sau vẻ đẹp trai, hào hoa là một tâm hồn trống rỗng Bị đưa đến giàn bêu, phải chịu nhục hình và sẽ phải kết thúc cuộc đời ở giá treo cổ nhưng cô vẫn tìm kiếm Phêbuýt Trong khi đó, hắn đã hầu như quên lãng cô vì hắn còn phải “chăm sóc” nhiều cô gái khác Cadimôđô đã
đi tìm hắn cho cô Cadimôđô đã thấy hắn đang vui vẻ cùng một cô gái khác trong khi cô đã đợi hắn cả đêm, đợi với một niềm hi vọng lẫn tình yêu Phêbuýt là hình ảnh hiện hữu duy nhất trong trái tim Exmêranđa Khi bị đưa vào vòng tra khảo, khi bị tra tấn kẹp chân, khi “cô gái bất hạnh cảm thấy sâu
xa cả Chúa lẫn loài người đều bỏ rơi mình, đành gục đầu xuống ngực như một vật bất động đã kiệt lực” Cô thầm kêu: “Ôi! Phêbuýt của em” Cô gọi tên Phêbuýt như một sự hối lỗi tưởng như vì hò hẹn với nàng mà hắn bị giết Cô gọi Phêbuýt như để tiếp thêm niềm hy vọng, tiếp thêm sức lực trong cơn đau đớn Cô luôn bị dằn vặt, đau khổ bởi vì mình mà người cô yêu đã chết Khi nghe chánh án tuyên bố chính cô đã giết đại úy Phêbuýt, lòng dạ cô đau như thắt, cô không ngờ cuộc đời lại nghiệt ngã với cô đến vậy Cô đã khóc, khóc rất nhiều Cô khóc vì thương nhớ Phêbuýt, cô khóc cho tình yêu đầy trắc trở
Trang 3737
của mình Vậy mà trong khi đó, Phêbuýt đã quay về đơn vị, nơi cách Paris vài trạm đường để tránh mọi sự rắc rối có thể đến Hắn không muốn tên tuổi của hắn bị vạ lây qua vụ án lôi thôi, kì quặc này Lúc cận kề cái chết, cô vẫn nghĩ đến Phêbuýt với tất cả thương yêu “đôi môi trắng chợt mấp máy như cầu nguyện, và khi gã phụ việc đao phủ lại gần để đỡ cô xuống xe, hắn nghe thấy
cô thầm nhắc cái tên “Phêbuýt” Cô yêu hắn, đau khổ vì hắn và tự huyễn hoặc rằng hắn cũng yêu cô một cách chân thành Thân xác cô bị đánh đập, trái tim
cô tan nát vì hắn Và nếu cô biết được rằng, lúc cô sắp từ giã cõi đời thì hắn đang trong vòng tay của một người con gái khác và nhìn cô Thật bất hạnh cho cô! Vậy nhưng, đau khổ vẫn chưa buông tha Khoảnh khắc cô đau đớn luyến tiếc cuộc đời, cô đã thấy hắn “người bạn tình, vị chúa tể của cô, một biểu hiện khác của cuộc đời cô” Lúc tuyệt vọng nhất cô đã tìm thấy niềm hy vọng, hy vọng Phêbuýt sẽ cứu cô, nhưng sự thật là sự thật! Phêbuýt bỏ vào trong cùng người tình mới Câu hỏi của cô: “Phêbuýt! Anh có tin là vậy không?” đong đầy nước mắt Cô hỏi Phêbuýt có tin tình yêu của cô không, có tin cô đã giết chàng không? Câu hỏi không lời đáp Thế là hết, cô chẳng còn chỗ bấu víu nào nữa khi hắn là một tên đểu giả Cô vẫn ngộ nhận rằng hắn là một chàng trai đứng đắn như vẻ ngoài của hắn Đau khổ của cô, bi kịch của
cô là ở chỗ đó, ở chỗ niềm tin, tình yêu bị đặt nhầm chỗ Exmêranđa dửng dưng với tình yêu của Cadimôđô, Phrôlô mà chạy theo Phêbuýt Khước từ tình yêu của những người khác, cô lại ngập chìm trong đau khổ của chính mình và cô chỉ nhận được sự lừa dối
Không những thế, trớ trêu và bất hạnh nữa trong cuộc đời Exmêranđa
là mọi người coi cô như phù thủy Cô là ai? Bố mẹ ở đâu? Không ai rõ Chính
cô cũng không biết cha mẹ mình thế nào? Exmêranđa bất hạnh ngay từ nhỏ, chưa đầy một tuổi cô bị đánh cắp, bọn người Ai Cập đã tàn nhẫn dứt cô ra khỏi vòng tay yêu thương của người mẹ Sống cuộc đời lưu lạc, không có chỗ
Trang 3838
dừng chân, Exmêranđa không có gia đình ruột thịt, sống chung trong cộng đồng của những người dân du thủ, du thực Sau này khi lớn lên , cô lưu la ̣c khắp nơi cùng những người hát múa rong , cùng chú dê Djali thân thuộc và cũng là bạn của mình , mang tiếng hát và sự tự do cho mo ̣i người , đồng thời cũng là để đi tìm lại cha mẹ của mình Có thể thấy bi kịch lối tiếp bị kịch trong cuộc đời Exmêranđa Những người mà cô yêu quý và cần được yêu thì không mang lại cho cô tình cảm chân thành khiến cô thấy quanh mình toàn móng vuốt không biết nương tựa vào đâu Cho đến những giây phút cuối cùng chính người đàn bà trong dòng tu kín lúc nào cũng nguyền rủa cho cô chết lại chính là người mẹ mà cô khát khao được gặp mặt bấy lâu nay Người
mẹ mà cô tìm kiếm gần hai mươi năm nay, ở ngay cạnh cô mà cô lại luôn
“khiếp sợ” và chính mẹ cô lại là người luôn “căm thù” cô Người mẹ ấy đã nhận ra cô qua đôi giày của trẻ con mà Exmêranđa luôn mang bên người là do
bà làm cho cô khi còn nhỏ Tưởng rằng hạnh phúc đã đến với hai mẹ con, tưởng rằng được gặp mẹ cô sẽ có một mái ấm gia đình Thế nhưng, đau đớn
và nghiệt ngã thay khi mẹ con nhận ra nhau cũng là lúc cảnh binh đã tìm được nơi ẩn nấp của Exmêranđa Mẹ con sau mười lăm năm nhận ra nhau, khóc cười chưa kịp, lại bị bắt lại (cũng do thói nông cạn đàn bà của Exmêranđa đã đặt tình yêu lầm chỗ?) Sự hiểu lầm nọ đan chéo vào sự hiểu lầm kia, khiến bi kịch càng lúc càng trở nên căng thẳng Người mẹ hết sức bảo vệ con, nhưng Exmêranđa vẫn bị bắt đi Exmêranđa sống trong bi kịch và kết thúc cuộc đời trong bi kịch: cô bị treo cổ còn người mẹ thì gục chết ngay vì không thể vượt qua nỗi đau Đó là bi kịch của những cuộc đời bất hạnh Có thể thấy, trong
Nhà thờ Đức Bà Paris xa cách thì nhiều mà giây phút gặp lại thì quá ngắn
ngủi để rồi sau đó là sự chia ly vĩnh viễn Sự chia sẻ của nhà văn với nỗi đau
mà nhân vật phải chịu, sự căm phẫn khi khắc họa nỗi đau của nhân vật mà xã
Trang 3939
hội gây ra, nhiệt tình tố cáo bất công xã hội chính là những ý tưởng và cảm xúc đã làm nên giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm…
Trong tác phẩm Những người khốn khổ, Phăngtin là nhân vật có số
phận bất hạnh nhất Cuộc đời đầy đau khổ của chị tạo nên một ám ảnh xoáy sâu trên từng trang giấy Những câu văn viết về chị như có máu chảy ở đầu ngọn bút khiến người đọc không khỏi ám ảnh xót xa Từ thuở lọt lòng, chị đã
chịu những bất hạnh, khổ đau Chị chính là “bông hoa mọc lên từ trong quần chúng Ở trong lòng bóng tối dày đặc nơi đáy sâu của xã hội nhô lên Nàng quả là một người không tên, không tuổi, không ai biết… Cha mẹ là ai? Người
ta không thấy nàng có cha mẹ và gọi nàng là Phăngtin” [21, 207] Như vậy,
nỗi khổ của Phăngtin trước hết là nỗi khổ của một trẻ mồ côi, không cửa, không nhà, không người thân Tuổi thơ của nàng là tuổi thơ của một trẻ lang
thang nơi vỉa hè đầu phố “Thuở nàng còn là một con bé đi chân không trên hè phố, khách qua đường ai muốn gọi tên gì thì gọi Nàng hứng lấy một cái tên như hứng nước từ trên trời rơi xuống” [21,127 ]
Lớn lên, bước vào cuộc sống, Phăngtin càng trở nên khốn cùng Bản
thân nàng phải tự bươn trải “Năm lên 10, Phăngtin rời bỏ thành phố đi ở cho một gia đình trung nông ngoại thành Năm 15 tuổi lên Pari để lập nghiệp”
[21, 207 ] Cũng từ đây cuộc đời Phăngtin liên tiếp những khổ cực Xuất phát
là mối tình đầu chớm nở Nàng dành tất cả tình cảm chân thành say đắm cho Tôlômiet Đó là một anh chàng sinh viên, con nhà tư sản Nhưng thật bất hạnh, Phăngtin lại bị phụ tình Sau chuyến du lịch về đồng quê, cũng như ba người bạn: Đalia, Đêphin, Phavarit, Phăngtin bị bỏ rơi Bởi bốn chàng trai cho rằng họ phải trở về với bổn phận, với mẹ cha, nề nếp Phăngtin vô cùng
đau đớn, nàng khóc cho mối tình đầu, khóc cho chính bản thân Bởi “nàng đã hiến thân hoàn toàn cho Tôlômiet và tội nghiệp nàng đã có con” [21, 242 ] Cũng chính từ đó Phăngtin bị đẩy vào cảnh khốn cùng: “người mẹ trông
Trang 40khổ” cứ đeo đẳng mãi đời chị Nó không buông tha mà đẩy chị vào con
đường tăm tối Không còn cách nào khác, “nàng quyết định từ bỏ tất những thứ mình có, thay áo hàng, mặc áo vải Những thứ áo lụa, dải là đăng ten, nàng đem chữa tất cả cho con, niềm kiêu hãnh thiêng liêng độc nhất Có gì nàng đem bán tất để trang trải nợ nần” [21, 248 ]
Không những thế, mang một tình yêu lớn lao nhưng lúc nào chị cũng
cô đơn, có con nhưng không được ở cùng với nó mà cứ lủi thủi một mình Bởi thực tế xã hội tư sản không chấp nhận một người phụ nữ đi làm có con nhưng không có chồng Hoàn cảnh bắt buộc Phăngtin phải gửi con cho gia đình Tênacđiê để có việc làm Vì thế, Phăngtin phải chịu nỗi khổ của một người mẹ yêu thương con nhưng phải sống xa lìa Trở về quê cũ, người ta không còn nhớ chị Nhưng may mắn thay cánh cổng xưởng máy của ông Mađơlen laị mở rộng đón chị Phăngtin được vào làm ở khu nữ Có được việc làm, chị cảm thấy vui và hi vọng sẽ sống lương thiện bằng chính đôi bàn tay lao động cần cù Nhưng xã hội tư sản luôn bóp nghẹt những ước mơ bình dị của những người lao động nghèo Chính vì thế, những niềm vui chỉ thoáng qua trong đời Phăngtin Chỉ vì người ta biết chị có con nhưng không có chồng Thói ích kỷ, hẹp hòi, lòng đố kỵ đen tối của người đời đã không cho
chị sống yên lành Người ta bàn tán, dị nghị Bởi thế, “chị bị chúng ghen ghét
vì có mái tóc dài và hàm răng trắng” [21, 291 ] Cuối cùng, nỗi khổ của một
người thất nghiệp đã đè lên cuộc đời bất hạnh của chị Phăngtin mất việc làm