1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Motif và biểu tượng trong hồ quý ly của nguyễn xuân khánh

125 248 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể lấy ví dụ như thông tin về tính cách tham vọng đời sống của nhân vật được miêu tả thông qua tên gọi, giấc mơ, loài hoa, loài vật yêu thích, khung cảnh và bố trí khu vườn… Sức sống

Trang 1

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ HUẾ

MOTIF VÀ BIỂU TƯỢNG TRONG HỒ

QUÝ LY CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

Trang 3

Motif và biểu tƣợng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả những nhà nghiên cứu hay những sách lý luận chuyên ngành đƣợc trích dẫn nguồn rõ ràng, cụ thể trong từng mục và trong phần tài liệu tham khảo Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu Nếu có sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên

Trang 4

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn em xin gửi lời cảm ơn đến thầy PGS.TS Phạm Quang Long người đã trực tiếp hướng dẫn, cung cấp các tài liệu tham khảo cần thiết và tận tình góp ý, chỉnh sửa giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Khoa văn học cùng tất cả các thầy cô trong hội đồng bảo về đề cương đã đóng góp ý kiến giúp em hoàn thiện luận văn này

Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên Luận văn của em không tránh khỏi những sai sót và chưa hợp lý, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy

cô Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên thực hiện

Trang 5

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Cấu trúc luận văn 8

6 Những đóng góp mới của luận văn

CHƯƠNG 1 MOTIF VÀ BIỂU TƯỢNG NHƯ NHỮNG ĐƠN VỊ LIÊN VĂN BẢN NGHỆ THUẬT 1.1.Khái niệm, kiểu dạng và chức năng của motif 9

1.2.Khái niệm, kiểu dạng và chức năng của biểu tượng 10

1.3.Motif và biểu tượng-những đơn vị liên văn bản nghệ thuật 13

CHƯƠNG 2 MOTIF TRONG TIỂU THUYẾT HỒ QUÝ LY 2.1.Motif giấc mơ (chiêm mộng) 15

2.2.Motif hồng nhan bạc mệnh 30

2.3 Motif thù trong giặc ngoài 41

CHƯƠNG 3 BIỂU TƯỢNG TRONG TIỂU THUYẾT HỒ QUÝ LY 3.1.Biểu tượng tín ngưỡng 53

3.1.1 Biểu tượng Âm Dương 53

3.1.2 Biểu tượng Lửa 64

3.2 Biểu tượng về sinh hoạt văn hóa 70

Trang 6

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

3.2.1 Biểu tượng âm nhạc 70

3.2.2 Biểu tượng về vẽ tranh 79

3.3 Biểu tượng về không gian 90

3.3.1 Biểu tượng chùa 90

3.3.2 Biểu tượng vườn cảnh 97

KẾTLUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 7

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Văn hóa là những gì còn lại khi ta quên đi tất cả, là cái còn thiếu khi ta

đã học tất cả” (Edouard Herriot), một câu châm ngôn đầy ý nghĩa cho thấy phạm vi vô cùng rộng lớn của văn hóa Iu.Lotman đã chỉ cho chúng ta một hướng tiếp cận văn hóa mới: “các biểu tượng là một trong những yếu tố bền

vững nhất của không gian văn hóa” [7;220] Tiểu thuyết Hồ Quý Ly của

Nguyễn Xuân Khánh viết về một giai đoạn lịch sử đầy biến động cuối Trần đầu Hồ đưa đến cái nhìn mới về lịch sử và văn hóa của dân tộc

Hồ Quý Ly mở đầu thành công của tiểu thuyết gia Nguyễn Xuân

Khánh, trong seri tiểu thuyết viết về lịch sử của ông Tiếp cận văn hóa học đang là khuynh hướng thời sự trong nghiên cứu văn học thế giới, phân tích

các motif và biểu tượng của Hồ Quý Ly nằm trong khuynh hướng nghiên

cứu hiện đại đó

Kí hiệu học như một bộ môn khoa học mới xuất hiện cách đây chưa lâu, mặc dù ngay từ thế kỷ XVII, nhà triết học duy vật Anh J.Locke đã xác định cực kỳ chính xác đối tượng và dung lượng của kí hiệu học, nhưng suốt một thời gian dài, những tư tưởng sâu sắc của J.Locke không nhận được sự ủng hộ Khái niệm kí hiệu học, một khái niệm do các nhà ngôn ngữ học, toán học và logic học cùng sáng tạo ra, đã trở thành khái niệm nền móng của

kí hiệu học Không phải ngẫu nhiên kí hiệu học vẫn thường được gọi là khoa học về các hệ thống kí hiệu Iu.Lotman nhà nghiên cứu văn học, nhà văn hóa học và kí hiệu học nổi tiếng thế giới một trong số những học giả hàng đầu của thế kỷ XX, người đã đóng góp những tư tưởng lòng cốt làm nên Lý thuyết kí hiệu học văn hóa

Trang 8

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Việc nghiên cứu nghệ thuật như một hệ thống kí hiệu là lĩnh vực đặc biệt, ai cũng biết về tính tích cực xã hội của nghệ thuật, các kí hiệu được nghệ sĩ và nhà văn ứng dụng mang lại giá trị xã hội vô giá Nghiên cứu xem nghệ thuật kết tụ trong bản thân thông tin có tầm quan trọng xã hội như thế nào là nhiệm vụ thú vị của kí hiệu học

Tác phẩm nghệ thuật là một phương thức tổ chức cực kỳ tiết kiệm, hàm súc, thuận tiện cho việc lưu trữ và truyền đạt thông tin Có thể lấy ví dụ như thông tin về tính cách tham vọng đời sống của nhân vật được miêu tả thông qua tên gọi, giấc mơ, loài hoa, loài vật yêu thích, khung cảnh và bố trí khu vườn… Sức sống của vương triều qua hình ảnh cuả những người phụ nữ, qua sự thay đổi của vườn ngự uyển, qua hình ảnh núi Yên Tử… Một lượng thông tin khổng lồ được nén trong các biểu tượng thể hiện chiều sâu của thông tin và ngụ ý nghệ thuật cuả tác giả vô cùng phong phú

Hồ Quý Ly đã được tiếp cận nhiều trên phương diện nghệ thuật từ nghệ

thuật trần thuật đến thế giới nhân vật Nhưng trên phương diện văn hóa học, đi vào giải mã ký hiệu văn hóa ở tác phẩm là một hướng đi ít được

quan tâm Bởi vậy tôi đã quyết định chọn đề tài Motif và biểu tượng trong

Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh như một thử nghiệm theo hướng đó

2 Lịch sử vấn đề

Tiểu thuyết Hồ Quý Ly thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử xuất bản năm

2000, được tái bản rất nhiều lần, ngay từ khi ra đời tiểu thuyết đã nhận được nhiều đánh giá, quan tâm của cả độc giả và giới nghiên cứu Nhiều giải

thưởng đã được trao cho Hồ Quý Ly công nhận những nỗ lực của tiểu thuyết gia U80 như: Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết (1998 – 2000) của Hội nhà văn Việt Nam, Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội, 2001, giải thưởng Mai

Trang 9

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

vàng của báo Người lao động, 2001, giải thưởng Thăng Long của ủy ban

nhân dân thành phố Hà Nội, 2002

Đã có rất nhiều hội thảo, chuyên luận, luận văn nghiên cứu về tiểu

thuyết Hồ Quý Ly nói riêng và bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh nói chung: tọa đàm Lịch sử và văn hóa qua tự sự nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh, Vấn đề xây dựng nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh do viện Văn học tổ chức Những bài báo Nỗi cô đơn cuả trí thức trong Hồ Quý Ly và Hội thề (Nguyễn Thị Hương Quê), Bài học canh tân trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh (Thái Sơn), Nguyễn Xuân Khánh và sự va chạm với cái vảy ngược trên ngực của những con rồng (Phan Tuấn Anh) được đăng trên WEBOOK thế giới sách online của bạn Các luận văn: Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh: từ lịch

sử đến tiểu thuyết của học viên Lê Thị Kim Loan (2012) (Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn Hà Nội), Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Quý

Ly và Mẫu thượng ngàn của học viên Lê Thị Thúy Hậu (Đại học Vinh)…

Những công trình trên chủ yếu tiếp cận tác phẩm dưới góc nhìn nghệ thuật, nhân vật, trần thuật, tự sự học

Tuy nhiên, theo chúng tôi được biết, ở Việt Nam chưa có công trình nào trực tiếp và chuyên sâu nghiên cứu đặc điểm, vai trò của các motif và

biểu tượng trong Hồ Quý Ly

3 Đối tượng mục đích và phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ đi vào khảo sát và cắt nghĩa các biểu tượng, motif trong tác phẩm để thấy được những liên kết tạo nên sự đa dạng trong phương thức biểu hiện tác phẩm

Đối tượng nghiên cứu sẽ là các biểu tượng và motif được lặp đi, lặp lại trong tác phẩm gắn liền với tình huống cốt truyện, số phận các nhân vật

Trang 10

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

và không gian của tiểu thuyết Các biểu tượng sẽ được tìm hiểu từ việc giải thích ý nghĩa văn hóa sau đó soi chiếu trong từng tình huống cụ thể của tiểu thuyết

Các motif trong tiểu thuyết được khảo sát ở ba motif chính là motif Giấc mơ, motif hồng nhan bạc mệnh và motif thù trong giặc ngoài, sự sắp

xếp trình tự các motif cho thấy sự tăng dần phạm vi và tầm quan trọng của vấn đề được khảo sát Đi từ thế giới tinh thần của con người thông qua motif giấc mơ, đến vấn đề thân phận con người mà ở đây là thân phận người phụ

nữ trong motif hồng nhan bạc mệnh và mở rộng ra là vấn đề của quốc gia dân tộc ở motif thù trong giặc ngoài

Ba nhóm biểu tượng được khảo sát là nhóm biểu tượng về tôn giáo, nhóm biểu tượng về sinh hoạt văn hóa và nhóm biểu tượng về không gian Không chỉ khảo sát các biểu tượng chính được nêu ra ở mỗi nhóm biểu tượng mà trong quá trình khảo sát còn mở rộng khảo sát các biểu tượng đi kèm với các biểu tượng chính trong sự so sánh đối chiếu ý nghĩa của biểu tượng trong văn hóa phương đông và văn hóa phương tây trong sự liên hệ với bối cảnh và thời đại hiện nay

Luận văn không chỉ đi tìm hiểu ý nghĩa của các biểu tượng trong bản

thân tác phẩm Hồ Quý Ly mà còn có sự so sánh với hai tiểu thuyết lớn của Nguyễn Xuân Khánh là Mẫu thượng ngàn (2005) và Đội gạo lên chùa

(2011) để thấy được dòng chảy văn hóa và sự biến thiên của chúng theo thời gian Bởi bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh là một sự tiếp nối từ

thời gian cho đến sự kiện: Hồ Quý Ly là giai đoạn cuối Trần đầu Hồ cuối thế

kỷ XIV đầu thế kỷ XV, Mẫu thượng ngàn là cuộc kháng chiến chống Pháp, Đội gạo lên chùa là khoảng giữa hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ, số phận của con người, tôn giáo và văn hóa trong dòng chảy lịch sử với

Trang 11

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

những thăng trầm và đổi thay Không phải ngẫu nhiên mà trong bộ ba tiểu thuyết lớn của mình Nguyễn Xuân Khánh đã gạt hết mọi đề tài mang tính cá nhân, để hướng đến ba giai đoạn lớn đất nước bị ngoại bang xâm lấn những

sự kiện lịch sử đầy tính nhạy cảm mà phần đa vẫn đang né tránh, bàn về chuyện quốc gia dân tộc về những vấn đề lớn lao mang tính vận mệnh thể hiện tầm nhìn bao quát của con người sống qua hai thế kỉ với con mắt bao dung công tâm và nếm đủ các trải nghiệm để hiểu được bản thân và những giá trị đích thực của cuộc sống

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp tiếp cận thi pháp học, có kết hợp phương pháp tiếp cận văn hóa học

Phương pháp tiếp cận thi pháp học được vận dụng để nghiên cứu hình thức của tác phẩm, tìm đến những nội dung được thể hiện trong những hình thức ấy, khảo sát văn bản, hướng đến nội dung tư tưởng, thông điệp tác giả gửi gắm thông qua tác phẩm

Phương pháp tiếp cận văn hóa học là phương pháp thuộc khoa học xã hội nhân văn nghiên cứu bản chất, những quy luật tồn tại và phát triển của văn hóa, nghiên cứu ý nghĩa nhân bản của văn hóa Văn hóa học có đối tượng là văn hóa với tư cách là tổng thể các hình thái giá trị, chuẩn mực và biểu tượng chi phối cá nhân, xã hội dân tộc và nhân loại Văn học là một dạng biểu hiện của văn hóa, nghiên cứu văn học nếu tách khỏi văn hóa sẽ không hiểu được môi trường đã sinh ra nó và những liên hệ với môi trường ấy

Phương pháp tiếp cận văn hóa học mà chủ yếu là kí hiệu học văn hóa để tiếp cận các motif và biểu tượng, cắt nghĩa từng biểu tượng trong từng bối cảnh văn hóa xã hội, khả năng liên kết xâu chuỗi của nó trong kết cấu tiểu thuyết

Trang 12

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Ngoài hai phương pháp nghiên cứu trên, trong luận văn cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu: thống kê, phân tích, tổng hợp

Phương pháp thống kê nhằm mục đích chỉ ra số lần xuất hiện, tần xuất của mỗi biểu tượng, motif trong tiểu thuyết, liệt kê các sự kiện trong tác phẩm để thấy được giá trị và ý nghĩa biểu đạt cũng như sự liên kết của các motif và biểu tượng

Phương pháp phân tích từng biểu tượng và motif giúp hiểu rõ ý nghĩa

và vai trò biểu hiện, liên kết tác phẩm của chúng cũng như ngụ ý nghệ thuật của tác giả trong việc sử dụng và móc nối các chi tiết trong tiểu thuyết Phương pháp so sánh cho thấy sự xuất hiện của mỗi biểu tượng và motif trong bối cảnh khác nhau thể hiện hoàn cảnh riêng cũng như tâm trạng của nhân vật, để dự báo cho những sự việc xảy ra sau đó

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Motif và biểu tượng như những đơn vị liên văn bản nghệ thuật

Chương 2: Motif trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly

Chương 3: Biểu tượng trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn đã phần nào cắt nghĩa được các motif và biểu tượng trong

Hồ Quý Ly nói riêng và trong đời sống văn hóa nói chung

Luận văn đi vào tìm hiểu các biểu tượng và motif được lặp đi lặp lại trong tác phẩm gắn liền với tình huống cốt truyện, số phận tính cách các nhân vật và không gian tiểu thuyết Các biểu tượng và motif tạo nên sự đa dạng trong phương thức biểu hiện trở thành công cụ thông tin giao tiếp giữa các

nền văn hóa với ngôn ngữ khác nhau

Trang 13

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Luận văn không chỉ tìm hiểu ý nghĩa của các biểu tượng trong tác phẩm

Hồ Quý Ly mà còn so sánh với các tác phẩm khác để thấy được giá trị văn hóa

kết tinh trong từng motif biểu tượng Mở ra một hướng tiếp cận mới cho tác phẩm văn học theo hướng văn hóa học

Trang 14

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Chương 1: Motif và biểu tượng như những đơn vị liên văn bản nghệ thuật

1.1 Khái niệm, kiểu dạng và chức năng của motif

Motif có thể là yếu tố hoặc ý tưởng lặp đi lặp lại trong suốt những đoạn

văn, nó không nhất thiết phải là một chủ đề mà có thể như một thông điệp

Người đầu tiên trên thế giới đưa ra khái niệm motif là nhà Folklore

học người Nga A.N Vexelopxki vào thế kỷ XIX, trong công trình Thi pháp học lịch sử, sau đó năm 1910, A.Arnes, năm 1949 S.Thompson đã làm từ điển về tif và motif Ở Việt Nam, Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, và Trần Đình Sử trong cuốn Dẫn luận thi pháp học được coi là hai

người đầu tiên giới thiệu về motif và đưa ra những khái niệm về nó Trong khi đó motif gắn liền với văn hóa dân gian của các dân tộc trên thế giới hình thành ngay từ buổi bình minh cùng lịch sử loài người Về nguồn gốc của khái niệm motif được phiên âm từ tiếng Pháp gắn với văn hóa âm nhạc, với

tư cách một phạm trù của nghiên cứu văn học Các học giả đã khảo sát motif như một yếu tố không thể phân chia nhỏ hơn cuả văn bản và ngôn bản, đó là những sự vật, hình ảnh, là đơn vị nhỏ nhất cuả cốt truyện dân gian Về sau motif gắn với tác giả và cảm quan nghệ thuật của tác giả, với việc phân tích chỉnh thể của tác phẩm

Theo cuốn 150 Thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân, motif gắn với

thế giới tư tưởng và cảm xúc của tác giả một cách trực tiếp hơn so với các thành tố khác của hình thức nghệ thuật, nhưng khác với các thành tố ấy, motif không mang tính hình tượng “độc lập”, không mang tính toàn vẹn thẩm mỹ, chỉ trong quá trình phân tích cụ thể sự “vận động” của motif, chỉ trong việc soi tỏ tính bền vững, tính cá thể ở sự hàm nghĩa của nó, nó mới có được ý nghĩa và giá trị nghệ thuật [1, 210]

Trang 15

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Motif là một trong những thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất hiện nay

trong những nghiên cứu về thể loại tự sự dân gian Hướng nghiên cứu theo kết cấu và nội dung của motif cũng như mối quan hệ giữa motif và cốt truyện ngày càng gia tăng mạnh mẽ Việc phân tích các motif có vai trò rất quan trọng: để tìm kiếm những tầng nghĩa sâu xa được giấu kín trong đó, những biểu tượng văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia, phân tích motif để tìm

ra con đường ngắn nhất của các văn bản có yếu tố văn hóa dân gian Những motif lặp đi lặp lại trong văn học truyền thống, những ám ảnh tâm lý của con người ở những giai đoạn lịch sử với những không gian văn hóa khác nhau là phác họa chân thực nhất về tiến trình nhận thức của loài người

Các motif được khảo sát trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh bao gồm: Motif giấc mộng, motif hồng nhan bạc mệnh, motif thù trong giặc ngoài Các motif đi từ vấn đề mang tính cá nhân về thế giới

tinh thần của con người đến vấn đề thân phận con người mà cụ thể ở đây là người phụ nữ và mở rộng ra bàn đến vấn đề vận mệnh của quốc gia, dân tộc Các motif trên không chỉ xuất hiện trong bộ ba tiểu thuyết lớn của Nguyễn Xuân Khánh mà còn là những vấn đề lớn và trung tâm của văn học dân tộc mọi thời đại từ văn học dân gian đến văn học hậu hiện đại ngày nay

1.2 Khái niệm, kiểu dạng và chức năng của biểu tượng

Biểu tượng (symbol) là các đối tượng, các kí tự, con số, mầu sắc được

sử dụng để đại diện ý tưởng hoặc khái niệm triù tượng Biểu tượng luôn hàm chứa trong nó những giá trị mà đằng sau mỗi giá trị thường ẩn dấu một nhu cầu nào đó của con người Giải mã các biểu tượng là chìa khóa để giải mã đời sống văn hóa, tinh thần của một cộng đồng dưới góc nhìn kí hiệu học

Biểu tượng trong tiếng Việt là một từ gốc Hán, có nghĩa khá trừu

tượng Theo Từ điển tiếng Việt, biểu tượng có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là

Trang 16

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

hình ảnh tượng trưng, nghĩa thứ hai là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan của ta chấm dứt

Symbol trong tiếng Anh là một từ bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ ở châu

Âu (symbolus trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp), theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới thì những gì được gọi là biểu tượng khi nó

được một nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó, biểu tượng có thể chia làm hai nghĩa chính là biểu hình và biểu ý Mỗi biểu tượng đều có ý nghĩa riêng tùy thuộc vào thời gian, không gian của nó, ý nghĩa mỗi biểu tượng phụ thuộc vào nền văn hóa sinh

ra nó, bối cảnh và thời điểm mà nó ra đời

Có thể hiểu biểu tượng là cái dùng để biểu thị một cái gì đó ngoài nó,

nó là hình ảnh tượng trưng phô bày ra khiến ta cảm nhận một giá trị trừu xuất Biểu tượng cũng có thể coi như một vật môi giới làm trung gian để biểu hiện những vật khó có thể tri giác được

Về mặt chức năng biểu tượng còn mang tính thay thế, nó không chỉ thay thế cho các đối tượng thực mà còn thay thế cả các quá trình, hiện tượng

ý niệm của con người, bên cạnh đó biểu tượng còn có các thuộc tính chức năng khác nữa như giáo dục, liên kết, dự báo, giáo tiếp hay thông tin

Đặc điểm cực kỳ quan trọng của biểu tượng là cơ cấu cảm xúc Bất kì một biểu tượng nào cũng đều mang trong nó hệ thống cảm xúc nhất định Giữa quan hệ với thực tế thể hiện trong hình tượng nghệ thuật và cảm xúc được ghi nhận trong biểu tượng có sự khác biệt đương nhiên đối với người cảm thụ nghệ thuật

Trong Kí hiệu học văn hóa Iu Lotman đã chỉ ra quá trình biểu tượng

đi vào văn bản “biểu tượng rơi vào ký ức nhà văn từ chiều sâu của kí ức văn

Trang 17

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

hóa và được làm sống lại trong văn bản mới như một hạt giống đánh rơi vào lòng đất Sự gợi nhớ chuyện cũ, trích dẫn hay gợi nhắc đều là bộ phận hữu

cơ của văn bản mới, thực hiện chức năng trong bình diện đồng đại Chúng đi

từ văn bản vào chiều sâu của kí ức, còn biểu tượng thì đi từ kí ức vào văn bản” [7;223] Ông còn cho thấy ý nghĩa của biểu tượng là vô cùng rộng lớn

“tiềm năng nghĩa của biểu tượng bao giờ cũng rộng hơn sự thực hiện cụ thể của chúng: các mối liên hệ mà biểu tượng xuất hiện nhờ sự biểu hiện của nó trong hoàn cảnh kí hiệu nào đó, không thể hiện hết tất cả các giá trị ý nghĩa của nó Điều đó tạo nên một trữ lượng ý nghĩa mà nhờ đó biểu tượng có thể xuất hiện trong những mối liên hệ bất ngờ, thay đổi bản chất và thay đổi hình thức của hoàn cảnh kí hiệu xung quanh một cách bất ngờ” [7;221]

Ngôn ngữ biểu tượng cho phép con người ở những nền văn minh khác nhau, những vùng văn hóa khác nhau, thậm chí ở những không gian, thời gian khác nhau hiểu được nhau nhờ vào đặc tính căn bản của nó là thông tin Ngôn ngữ biểu tượng là thành tố văn hóa do con người tạo ra để

sử dụng như một loại công cụ thông tin giao tiếp

Ferdinand de Saussure cha đẻ của ngành kí hiệu học đã tạo ra những nền tảng cho khoa học nghiên cứu về biểu tượng, với phương pháp tiếp cận

rõ ràng khúc chiết giúp tránh được đặc tính khó lường của biểu tượng là tính trìu tượng và đa nghĩa

Có rất nhiều kiểu dạng biểu tượng trong tiểu thuyết, nhưng trong luận văn chủ yếu tập trung vào ba nhóm biểu tượng sau: Biểu tượng về tín ngưỡng bao gồm biểu tượng âm dương và lửa; biểu tượng sinh hoạt văn hóa bao gồm biểu tượng âm nhạc và vẽ tranh; biểu tượng không gian bao gồm vườn cảnh, ngôi chùa Trong các biểu tượng trên ta nhận thấy biểu tượng về

âm dương có vai trò chi phối và tồn tại trong tất cả các biểu tượng còn lại,

Trang 18

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

bởi trong đời sống người Việt triết lý âm dương ngấm sâu vào nhận thức, tính chất cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội của con người

Nếu như ở motif sự sắp xếp đi từ những vấn đề nhỏ để mở rộng ra vấn

đề mang tính vận mệnh quốc gia dân tộc, thì ở biểu tượng sự sắp xếp các nhóm biểu tượng được thực hiện theo chiều ngược lại đi từ những vấn đề lớn đến nhỏ để thấy được sự thấm đẫm và sâu đậm của triết lý âm dương trong mọi khía cạnh của đời sống

Biểu tượng là sự vật, hình ảnh giúp chúng ta vượt qua cái dáng vẻ bên ngoài để đi tìm ý nghĩa thiêng liêng bên trong, ý nghĩa các biểu tượng trong tiểu thuyết gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc đặc biệt là tín ngưỡng Phật giáo

1.3 Motif và biểu tượng-những liên văn bản nghệ thuật

Motif và biểu tượng tạo nên thế giới nghệ thuật phong phú đa nghĩa kết hợp cùng với cách đọc liên văn bản đề cao sự so sánh, đối chứng phản

biện mở rộng ý nghĩa giúp Hồ Quý Ly vượt qua ý nghĩa của của một tiểu

thuyết lịch sử thông thường trở thành một cuốn bách khoa toàn thư về lịch

sử, chính trị, tôn giáo cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ sau

Liên văn bản là một khái niệm lý luận xuất phát từ phương Tây vào

những năm 60 của thế kỷ XX gắn với tên tuổi của ba lý thuyết gia tiên phong về trào lưu giải cấu trúc và phê bình hậu hiên đại là: Jacques Derrida,

Roland Barthes và Julia Kristeva Với tác phẩm Cái chết của tác giả Roland

Barthes là người đi đầu cổ xúy, và đánh dấu sự cáo chung vai trò của người viết trong quan hệ với tác phẩm, văn bản luôn tồn tại độc lập với tác giả và hàm chứa một ý nghĩa rộng hơn Kristeva người đặt nền móng và xây dựng

Trang 19

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

hoàn chỉnh lý thuyết liên văn bản “bất cứ văn bản nào cũng được tạo nên như một bức tranh khảm chứa đựng cả một thiên hà các trích dẫn bất cứ văn bản nào cũng mang dấu vết của sự hấp thụ và chuyển thể từ các văn bản khác”[32] Lý thuyết liên văn bản đã nhắc nhở người đọc một thực tế mỗi văn bản đều tồn tại trong sự liên hệ với văn bản khác có thể xuất hiện trước hoặc cùng thời

Áp dụng cách đọc theo kiểu hậu hiện đại và liên văn bản là tìm ra những tương đồng ẩn chứa trong tác phẩm khai thác nhiều tầng nghĩa của các đối tượng trong các mối liên hệ với xã hội để mở rộng phạm vi, giới hạn cuả tác phẩm ra vô hạn phụ thuộc vào phạm vi kiến thức của người đọc

Tiểu thuyết lịch sử là thể loại “tiểu thuyết lấy một giai đoạn lịch sử làm khung cảnh và mong muốn truyền bá các tinh thần, kiểu cách, và các điều kiện xã hội của một thời kỳ quá khứ với những chi tiết hiện thực và trung thành với sự thật lịch sử (tuy nhiên trong một số trường hợp sự trung thành này chỉ là giả tạo) Công trình sáng tạo đó có thể đề cập đến những nhân vật lịch sử có thật hoặc có thể bao hàm một sự pha trộn nhân vật lịch

sử với nhân vật hư cấu” văn học thực sự là nguồn cảm hứng cho tự do sáng tác văn chương và giá trị tác phẩm lúc này không còn nằm ở chân lý lịch sử

mà nằm ở chân lý nghệ thuật Trong nền văn học Việt Nam tiểu thuyết lịch

sử trung đại chưa thực sự thành công phải đến văn học đương đại thể loại tiểu thuyết lịch sử mới thực sự có chỗ đứng khi con người lật dở lại lịch sử

“mượn lịch sử để bàn về hiện tại “lịch sử giống như một kho kinh nghiệm cho con người của thời đại ngày nay”.[18]

Motif và biểu tượng tạo nên những liên kết vượt thời gian và không gian mang đến một thế giới nghệ thuật phong phú cùng sự kết hợp với thể loại tiểu thuyết lịch sử cung cấp bài học kinh nghiệm quý báu cho người

Trang 20

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

đọc Motif và biểu tượng thực sự là những liên văn bản nghệ thuật kết nối giá trị văn hóa từ các giai đoạn, thời đại khác nhau tạo nên tính đa tầng đa nghĩa cho các motif và biểu tượng

Tiểu kết

Motif và biểu tượng được sử dụng như những đơn vị liên văn bản nghệ thuật tạo nên sự đa dạng trong phương thức biểu hiện của tác phẩm nói

chung, Hồ Quý Ly nói riêng Những motif, biểu tượng được khảo sát gắn

liền với tình huống cốt truyện, số phận tính cách của các nhân vật và không gian văn hóa của tiểu thuyết nhằm thể hiện được nhiều nhất ý đồ của tác giả, như một phương thức cảm nhận đời sống và bày tỏ thái độ của mình Việc sắp xếp trình tự các motif theo trình tự tăng dần, còn các biểu tượng sắp xếp theo trình tự giảm dần cho thấy mối quan hệ đa chiều của một hiện thực phức tạp, đầy biến động, làm nổi rõ những phức tạp trong số phận, tính cách các nhân vật Motif, biểu tượng trong tiểu thuyết tạo thành không gian văn hóa đa tầng kết nối giá trị từ các thời đại khác nhau, làm cơ sở để cắt nghĩa hành vi, số phận các nhân vật, cắt nghĩa những ứng xử lịch sử Nghiên cứu

kí hiệu học đòi hỏi sự bao quát, liên tưởng, xâu chuỗi để kết nối các giá trị văn hóa được tích tụ trong các motif và biểu tượng văn hóa

Trang 21

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Chương 2: Motif trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly

2.1 Motif giấc mơ

Mơ, hay giấc mơ là những trải nghiệm, những ảo tượng trong trí óc

khi ngủ, từ hàng ngàn năm trước con người đã cố gắng lý giải về giấc mơ và tìm ra ý nghĩa của giấc mơ Sigmund Freud nhà tâm lý học tiên phong trong việc đi tìm ý nghĩa của những giấc mơ đã tin rằng giấc mơ mang tính biểu tượng và là cửa sổ cho những ký ức vô thức của chúng ta Giấc mơ phản ánh đặc điểm tính cách cuả mỗi cá nhân cũng như hoàn cảnh cá nhân đó trong đời sống hàng ngày bằng các giấc mơ về điềm gở, tai họa, hay những giấc

mơ mang tính dự báo trước cho tương lai Kết thúc giấc mơ những trạng thái tinh thần còn lại có thể là bất an, hoang tưởng, yêu thương, thù hận, sợ hãi…

Giấc mơ cần thiết cho sự cân bằng sinh học giúp giải thoát những căng thẳng ức chế hằng ngày để thiết lập một cơ chế cân bằng bù trừ trong đời sống tinh thần của con người Giấc mơ là tác nhân chỉ báo tốt nhất về tình trạng tinh thần của người nằm mơ “nó cung cấp, như là một biểu tượng sống, một bức tranh về trạng huống hiện sinh của con người ấy: đối với người nằm mơ, đó là hình ảnh thường bất ngờ của chính họ, nó tiết lộ cái tôi

và cái mình Nhưng đồng thời, nó cũng che đậy chúng, giống hệt một biểu tượng, dưới hình ảnh những sinh linh khác biệt với chủ thể” [2;166]

Giấc mơ một hiện tượng tâm lý vô thức xảy ra trong lúc ngủ, bao gồm

một chuỗi các hình ảnh Đôi khi nó lộn xộn không ý nghĩa, đôi khi nó mạch lạc như một câu chuyện Trong các thời đại khác nhau của lịch sử loài người giấc mơ xuất hiện và đã từng có vai trò hết sức quan trọng đối với vận mệnh của quốc gia, vương triều, khoa học tâm lý đã từng có những tổng kết chi tiết về ý nghĩa của những giấc mơ

Trang 22

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Những ác mộng báo trước sự thật điển hình trên thế giới như: giấc mơ của tổng thống Mỹ Abraham Lincoln năm 1865, trước khi bị ám sát ông kể cho bạn bè về một giấc mơ nghe thấy tiếng động đám tang từ căn phòng phía tây trong nhà Trắng, một cái xác quấn vải niệm với lính gác đứng xung quanh, Lincoln đã bị ám ảnh bởi giấc mơ và một tuần sau ông bị ám sát Ba năm sau đó 28/5/1968, tâm linh gia Alan Vaughan gửi thư cho một chuyên gia về giấc mơ Stanley Krippner để kể cho ông này giấc mơ về một người da

đỏ bắn chết Robert Kennedy ứng cử viên tổng thống Mỹ, rồi sau đó Vaughan mơ thấy cách bảo vệ nạn nhân, nhưng trước khi nhận được cảnh báo ngày 5/6 Kennedy đã bị ám sát… và còn rất nhiều những giấc mộng báo trước khác

Có những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng được sáng tác trong vô thức

giấc mơ phải kể đến như nhạc phẩm Yesterday được sáng tác bởi nhạc sĩ

Paul McCartney thành viên của nhóm nhạc lừng danh Beatles Paul McCartney đã kể rằng: trong một đêm mơ vào tháng 5/1965, “tôi mở mắt ra với một khúc nhạc đáng yêu trong đầu, nghĩ bụng hay nhỉ, cái khúc nhạc ở đâu ra nhỉ? McCartney vùng dậy mở đàn piano chơi lại khúc nhạc đang ngân nga trong đầu và phát triển thành một trong những bản nhạc được ưa chuộng

nhất của thế kỷ XX Nhà thơ Hoàng Cầm của chúng ta cũng sáng tác bài thơ

Lá diêu bông bài thơ dựa trên câu chuyện có thật về mối tình đầu thơ dại của

nhạc sĩ với một người chị hàng xóm tên Vinh mà sau này nhạc sĩ Trần Tiến phổ nhạc thành bài hát cùng tên theo thể loại nhạc trữ tình Bài thơ được sáng tác trong vô thức của giấc mơ Hoàng Cầm kể rằng vào một đêm năm

1959, khoảng 3 giờ sáng, nhà thơ chợt tỉnh giấc rồi thao thức không ngủ lại được, trong đêm khuya thanh vắng nhà thơ văng vẳng trong đầu mấy câu

thơ do một người đàn bà đọc bằng giọng lanh lảnh: Váy Đình Bảng buông

Trang 23

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

chùng cửa võng …từng mẩu kí ức theo những câu thơ cứ thế tuôn ra và ông

lấy giấy bút chép lại

Thế giới của những giấc mơ vô cùng phong phú và phức tạp, nó trở thành đối tượng nghiên cứu của cả y học và tâm lý học, những nghiên cứu đầu thế kỷ XX chỉ ra rằng: giấc mơ là hiện thực hóa mong muốn chưa đạt được của mỗi người, những cơn ác mộng giúp xóa khỏi đầu bạn điều không mong muốn Trên quan điểm hiện đại giấc mơ là những trải nghiệm, những

ảo tưởng trong trí óc ta khi ngủ, phát sinh từ những vùng sâu kín của bản ngã ta, buộc ta phải nhìn thẳng vào chính mình Chúng không khác gì tấm gương soi nội tâm phản chiếu bản thân ta, giấc mơ là tiếng nói của vô thức nơi thoát ra rất nhiều những xung động bị dồn nén ban ngày, giúp giải phóng những ưu tư, thù hận, khổ tâm, thèm muốn, bởi vậy ngôn ngữ giấc mơ mang tính tượng trưng và bí hiểm

Chiêm mộng cần thiết cho việc cân bằng sinh học và tinh thần giống như giấc ngủ nó là lối thoát cho những đè nén phải chịu đựng ban ngày Giấc mơ dù xấu hay tốt cũng vô cùng quý báu, giúp ta sống thoải mái hơn, trong lúc ngủ mơ là để kiểm điểm lại các sự kiện của cuộc sống, tổ chức lại trí nhớ, loại bỏ những gì bị đè nén làm cho ta có thể sống một ngày mới nhẹ nhõm hơn

Giấc mơ mang trong nó rất nhiều những thông điệp và ý nghĩa khác

nhau bởi vậy đi giải mã các giấc mơ là điều nên làm Theo Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới “phân tích chiêm mộng phải tìm cho ra cái nội dung

tiềm ẩn … che dấu những ức chế, những nhu cầu và xung năng, những mâu thuẫn, xung đột trong khát vọng chôn sâu trong tâm khảm Nội dung chiêm mộng không chỉ những hình ảnh thể hiện và động thái của chúng mà còn cả điệu thức, mầu sắc của chúng, tức là cái bầu tâm sự tác động đến chúng”

Trang 24

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

[2;167], “việc giải thích mộng mị, cũng như giải mã của biểu tượng, không chỉ đáp ứng sự tò mò của trí tuệ Nó nâng lên một cấp cao hơn những quan

hệ giữa cái hữu thức và cái vô thức và cải tiến mạng lưới liên thông giữa chúng”.[2;168]

Theo cách nhìn của kí hiệu học: “chiêm bao là tấm gương ký hiệu học, mỗi người nhìn thấy ở đó hình ảnh ngôn ngữ của mình” [4,191], Schiller cũng nghĩ rằng “giấc mơ là giọng nói ẩn ức của lương tri con người, là vị quan tòa ẩn kín trong nội tâm Người La Mã cổ đại đã nhìn thấy trong giấc

mơ lời tiên tri cuả thần linh, còn các tín đồ của chủ nghĩa Freud hiện đại lại thấy ở đó giọng nói của ẩn ức tính dục” [7;193] Còn việc giải mộng “Chiêm bao cần có người giải đoán – đó sẽ là nhà tâm lý học hiện đại, hay là vị tư tế ngẫu tượng giáo Còn có một đặc điểm nữa của chiêm bao: nó mang tính cá nhân, không thể thâm nhập vào giấc mơ của người khác Cho nên, đó hoàn toàn là “ngôn ngữ dành cho một người” Đây là nguyên nhân khiến cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ này trở nên khó khăn vô hạn: có thể nói, kể lại giấc

mơ cũng khó như dùng lời nói để kể lại một tác phẩm âm nhạc Đặc điểm không thể kể lại của chiêm bao khiến cho mọi sự ghi nhớ hóa thành một biến thể chỉ phản ánh gần đúng bản chất của nó”.[7;194]

Motif giấc mơ đã trở thành truyền thống trong cuộc sống và trong văn

học có vai trò phản ánh hiện thực đời sống tinh thần, dự báo tương lai

Trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly motif giấc mơ xuất hiện ở nhiều nhân vật với

những dạng thức khác nhau, giấc mơ trong tiểu thuyết vừa là điềm báo về tương lai vừa hé mở bản chất cuả thế giới tinh thần đầy bấn loạn tương ứng với thế giới hiện thực đầy tàn nhẫn Motif này khiến cho tác phẩm khoác thêm mầu sắc huyền ảo, cũng như một gợi mở về thế giới tinh thần thầm kín của con người mà ngay cả khoa học hiện đại cũng chưa giải mã được

Trang 25

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Trong tiểu thuyết xuất hiện 20 giấc mơ ở các nhân vật: Nguyên Trừng

5 giấc mơ (giấc mơ bay, giấc mơ gặp hồn ma cây ngọc lan, giấc mơ thấy Thanh Mai cưỡi con voi trắng trong đêm thứ ba của ngày hội Tây Đô, giấc

mơ cái bóng đen cùng những hình ảnh cuộc hỗn chiến giữa phe canh tân và phe phục Trần, và giấc mơ thấy Thanh Mai bị bắt khi trở về Tây Đô), Thuận Tông 3 giấc mơ (giấc mơ báo về cái chết của thái tử Ngạc, giấc mơ người cầm dao đuổi theo khi Thuận Tông bị ốm, giấc mơ về ngôi nhà với khu vườn trồng toàn liễu điềm báo sinh thái tử), Hồ Quý Ly có 3 giấc mơ (giấc

mơ Hồ Quý Ly gặp Nghệ Hoàng, giấc mơ Hồ Quý Ly kể với Nguyễn Cẩn bà Huy Ninh về báo mộng khuyên nên dùng Phạm Sinh, và giấc mơ giữa ban ngày mà Nguyên Trừng chứng kiến khi ông đối thoại với hồn bà Huy Ninh),

Lý Thái Tổ có 2 giấc mơ được thần Đồng Cổ về báo mộng (lần đầu khi vua

Lý Thái Tổ đưa quân đi đánh Chiêm thần Đồng Cổ xin theo giúp phá giặc, lần thứ hai thần hiện lên báo cho vua việc ba vị em vua đang âm mưu làm phản), Trần Duệ Tông cũng có hai giấc mơ (một giấc mơ giả dựa vào giấc

mơ điển hình được ghi trong sách “mộng kinh” giấc mơ của Tấn Vương, và một giấc mộng trên đường đi đánh Chiêm gặp thần biển đòi cung phi), Quỳnh Hoa vợ Nguyên Trừng con Thái bảo Trần Nguyên Hàng với ác mộng lúc thì lửa cháy, lúc thì đất lở, lúc thì nhà sập Nguyễn Cẩn với giấc mơ tiếng nói trong đầu mà Cẩn vẫn cho đó là tiếng nói của đức Phật sau này được Thuận Tông cắt nghĩa, Nghệ Hoàng với giấc mơ hầu mõm đỏ nhăm nhe cướp ngôi lầu gà trắng Giấc mơ của Thánh Ngẫu về cái chết của Thuận Tông Giấc mơ của Sử Văn Hoa gặp Bạch Cư Dị khi ông đang bị giam trong ngục thất Trong hai mươi giấc mơ ở trên có một giấc giả mộng nhưng vẫn báo đúng sự thật, hai giấc mơ được thể hiện nội dung bằng thơ (giấc mơ hầu mõm

đỏ của Nghệ Hoàng và giấc mơ về bài thơ “dựng bia” của Sử Văn Hoa)

Trang 26

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Hai mươi giấc mơ trên có thể chia làm bốn loại chính: giấc mơ điềm báo trước sự việc xảy ra được các vị thần, các linh hồn của người thân báo mộng cho người sống hay dân gian vẫn quen gọi là thần giao cách cảm (hai giấc mơ gặp thần Đồng Cổ của Lý Thái Tông, giấc mơ báo thái tử Ngạc chết của Thuận Tông, giấc mơ báo Thuận Tông chết cho hoàng hậu Thánh Ngẫu, giấc mộng gặp thần biển đòi cung phi, giấc mộng hiện thân của thần Đồng

Cổ về báo cho Nghệ Hoàng việc hầu mõm đỏ cướp ngôi, giấc mộng sinh thái tử An, giấc mộng về hồn ma Nguyên Trừng gặp hàng đêm và sau này trở thành hình dáng của Thanh Mai) Loại thứ hai là giấc mơ ảo ảnh từ những áp lực của cuộc sống đeo bám ám ảnh, hành hạ ta khi ngủ trở thành những ác mộng (giấc mơ về lửa cháy đất lở nhà sập của Quỳnh Hoa, giấc

mơ người cầm dao đuổi theo của Thuận Tông, giấc mơ giữa ban ngày của

Hồ Quý Ly nói chuyện với bà Huy Ninh và giấc mơ Hồ đối thoại với Nghệ Hoàng) Loại thứ ba là giấc mơ giả thành thật: giả mộng của Duệ Tông trước khi đi đánh Chiêm Thành vô tình dự báo kết cục thảm hại của ông Loại thứ

tư là giấc mơ nói về cái chí và hoài bão: giấc mơ bay của Nguyên Trừng, giấc mơ về tiếng nói trong đầu của Cẩn và giấc mơ về bài thơ “Dựng bia” của Sử Văn Hoa

Chúng ta sẽ đi vào phân tích từng loại giấc mơ và ý nghĩa cuả nó để thấy được giá trị của motif giấc mơ trong việc xây dựng nhân vật, khắc họa bối cảnh xã hội cũng như giá trị liên kết của motif:

Loại giấc mơ điềm báo là giấc mơ phổ biến trên thế giới thể hiện một liên kết vô hình giữa người đã khuất với người còn sống và sự chính xác của các giấc mơ này là điều không thể phủ nhận Mở đầu tiểu thuyết để giải thích về hội thề Đồng Cổ tác giả đã dẫn ra hai giấc mơ trong lịch sử của vua

Lý Thái Tông được thần Đồng cổ về báo mộng giúp dẹp được giặc Chiêm Thành “trong cõi mông lung, nhà vua chợt thấy một dị nhân, mình cao tám

Trang 27

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

thước xưng là thần Đồng Cổ xin theo giúp phá giặc để lập chút công nhỏ”[8;11] và giấc mơ báo trước âm mưu làm phản “đêm nằm mộng thấy thần Đồng Cổ đến báo rằng: “Ba vị em vua là Vũ Đức Vương, Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương âm mưu làm phản” để vua kịp sai quân bố trí phòng bị “sự việc xảy ra quả đúng như giấc mộng Loạn ba vương được dẹp tan”[8;12] cho thấy sự linh ứng của vị thần hộ quốc Thần Đồng Cổ lần thứ

ba xuất hiện trong giấc mơ của các vua chúa, lần này ông hóa thân vào Duệ Tông em trai Nghệ Hoàng báo trước cho ông về mối họa mất nước đang rình rập qua bài thơ: “Quãng này chỉ có hầu mõm đỏ/ lăm le trèo lên lầu gà trắng/ Khẩu vương đã định việc còn mất/ Chẳng ở trước mà ở về sau”, hầu mõm đỏ

ám chỉ Hồ Quý Ly đang nhăm nhe cướp ngôi lầu gà trắng (Nghệ Hoàng) sau này giấc mơ cũng linh ứng đúng như vậy Thần Đồng Cổ vị thần hộ quốc người đã hai lần báo mộng cho Lý Thái Tông tránh được họa lớn, nhưng ở lần thứ ba này dường như mệnh của nhà Trần đã hết dù có biết trước hiểm họa mất nước vẫn không tránh khỏi

Giấc mơ là một phần của cuộc sống, những giấc mơ vu vơ chẳng có nghĩa gì, nhưng cũng có những giấc mơ báo trước sự việc sắp xảy ra mà ta

vẫn không tránh được trong Mẫu thượng ngàn cả ông hộ Hiếu và bà Mùi

đều được báo mộng “Đừng… đừng… xem hội…” Ông hộ Hiếu kịp nói với Hoa, còn bà Mùi không kịp nói với Nhụ vì không biết giấc mộng ấy có nghĩa gì, việc Nhụ đi xem hội khởi đầu cho cuộc ly tán của gia đình ông đồ

Tiết Ở tiểu thuyết Đội gạo lên chùa vãi Thầm người thường xuyên nói

chuyện với các hồn ma cũng có những giấc mơ rất gần với sự thật, bà mơ thấy trước sự việc thầy giáo Hải đến chùa hỏi cô Nguyệt làm vợ, rồi sau khi

bà mất trước ngày giỗ của thiền sư Vô Úy bà về báo mộng cho hai người thân thiết nhất là cô Thì con gái bà và cô Nguyệt người sớm hôm chăm sóc

bà khi bà nương nhờ nhà chùa

Trang 28

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Trong dân gian vẫn quan niệm những người thân thiết hoặc có quan

hệ huyết thống với nhau giữa họ có những liên hệ vô hình cho dù đã chết hay còn sống, khi có những việc lớn dù vui hay buồn sắp xảy ra họ thường

về báo mộng cho người thân Người chết về báo mộng là hiện tượng phổ biến trong dân gian, thái tử Ngạc và Thuận Tông hai người anh em thân thiết, quý mến nhau, khi Ngạc bị đồ đệ của Hồ Quý Ly truy đuổi và giết chết

ở châu Vạn Ninh thì Thuận Tông ở trong cung “Chính lúc ấy, ở trong cung, vua Thuận Tông cũng gào to ôm lấy đầu, ngã lăn ra đất Ông vua con lăn lộn

và hét lên: - Đau quá! Đau quá! Như có kẻ nào cầm dao đâm vào óc ta”, sau cơn đau đầu kì lạ Thuận Tông nằm mộng và nhìn thấy cái chết của anh mình

“con vừa gặp anh Ngạc trong cơn mê Người anh con đầm đìa những máu Anh giang tay ra lảo đảo đi về phía con như muốn cầu cứu, đằng sau có một bóng mờ mờ đuổi theo… chẳng biết đã xảy ra chuyện gì với anh ấy”[8;379];

sự linh cảm và giấc mơ về cái chết của Ngạc mang đến một sự ly kỳ, nhưng hơn thế nữa Thuận còn nhận ra cả thủ phạm giết hại anh mình từ giấc mơ

“Chính ngươi đã giết anh ta Đúng là ta đã trông thấy ngươi cầm gậy đuổi theo đại vương Đúng! Bóng ngươi mờ mờ, nhưng ta đã nhận ra ngươi” một

sự thực khó lý giải nhận ra thủ phạm giết người trong một cơn mê sảng, chứng kiến cái chết đau đớn của anh trai tâm hồn nhạy cảm yếu đuối của thái tử bị ám ảnh Ông trở nên điên dại Khi Thuận Tông mất ở núi Đạm Thủy linh hồn của ông trở vào Tây Đô thăm vợ con, hoàng hậu Thánh Ngẫu nằm mộng “cách đây mười ngày, đang đêm, bỗng nghe thấy một tiếng động Mở mắt ra, bỗng thấy một bóng trắng Đúng là hồn ma Hồn ma đứng cúi đầu trước giường, ròng ròng nước mắt… rồi giơ tay ra như muốn xoa mớ tóc của thằng An Môi cái bóng trắng mấp máy muốn nói mà chẳng nói thành lời Em đã nhận ra đó là hồn ma Thuận Tông”.[8;747, 748]

Trang 29

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Giấc mộng của Duệ Tông trên đường đi đánh Chiêm Thành men theo

bờ biển Thanh Hóa, Nghệ An sóng to gió lớn đánh chìm nhiều thuyền “đêm hôm ấy, trong cơn giông bão, vua nửa mê nửa tỉnh, thấy thần biển hiện lên, đòi nhà vua gả cho một cung phi làm vợ, sẽ làm yên biển” [8;141] bà quý phi Bích Châu đã gieo thân mình xuống biển đổi lấy bình yên cho đội quân

“biển yên sóng lặng” Giấc mơ báo tin vui cho Thuận Tông sau khi ông khỏi điên dại “đêm hôm đó Thuận Tông đọc sách khuya lắm, sau đó chàng mơ một giấc mơ rất đẹp Và dĩ nhiên chàng dậy muộn vì chân cứ còn muốn nấn

ná trong giấc mơ huyền ảo” Thuận Tông “mơ thấy đến một ngôi nhà nhỏ xinh xắn trồng toàn những liễu” [8;403] dân gian đúc kết thấy liễu là thấy hỷ

sự sau đó không bao lâu Thánh Ngẫu mang thai và hạ sinh thái tử An

Loại giấc mơ điềm báo hay là tiếng nói từ tiềm thức trên cho thấy sự kết nối giữa giấc mơ với thế giới tâm linh siêu nhiên: giắc mơ giống như những lời nhắn nhủ của thần linh, là điềm báo gửi tới vũ trụ hoặc những chuyến viếng thăm của người đã mất Những giấc mơ như vậy có thể tiên đoán được lành dữ, những điều trọng đại liên quan đến con người

Sang loại giấc mơ thứ hai loại giấc mơ ảo ảnh những ảo tưởng trong trí óc khi ngủ, phát sinh từ những vùng sâu kín của bản ngã, buộc ta phải nhìn thẳng vào chính mình Chúng không khác gì tấm gương soi nội tâm phản chiếu bản thân ta, tiếng nói từ vô thức ấy thoát ra rất nhiều những xung động bị dồn nén ban ngày, qua giấc mơ ảo ảnh ác mộng ấy giải phóng những

ưu tư, thù hận, khổ tâm thèm muốn và trường hợp này rất đúng với giấc mơ của công chúa Quỳnh Hoa, giấc mơ gặp Nghệ Hoàng và bà Huy Ninh của

Hồ Quý Ly, cùng giấc mơ bị người cầm dao đuổi của Thuận Tông

Quỳnh Hoa là nạn nhân của của hôn nhân quyền lực mang mục đích chính trị Nàng đứng giữa hai phe một bên là cha mình người đứng đầu phe

Trang 30

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

phục Trần một bên là nhà chồng phe canh tân, hai phe đối lập trong triều đình và cả hai phe đều lấy cuộc hôn nhân ra để lôi kéo nhau sống trong những toan tính trách nhiệm ngột ngạt “có lẽ nàng sợ những cơn giông bão

mà con người ốm yếu như nàng dễ cảm ứng Có lẽ lúc đầu khi mới lấy tôi, Quỳnh Hoa chỉ cảm thấy tủi phận, ngang trái và sợ sệt… người ta muốn cuộc hôn nhân của chúng tôi là những toan tính cung đình”[8;71] khiến Quỳnh Hoa “nhiều đêm, chỉ toàn gặp những ác mộng, lúc thì lửa cháy, lúc thì đất nở, lúc thì nhà sập…” cơn ác mộng với những dự cảm chẳng lành ngày đêm đeo bám Quỳnh Hoa khiến cô công chúa mảnh mai yếu đuối ấy ngột ngạt trong lửa hận thù “nàng không muốn làm kẻ bất hiếu, cũng không muốn làm phường bất nghĩa” [8;72] Thuận Tông trong cơn mê man điên dại sau những ảm ảnh về cái chết của anh Ngạc mơ thấy “ta vừa nằm mơ thấy

có kẻ cầm dao đuổi theo ta”, tiếng hét thất thanh “Đừng bỏ ta! Các ngươi đừng bỏ ta! ” và van xin “Đừng giết ta! Ta van đấy! Các người đừng giết ta” cuộc sống cung đình vốn là “làn sóng ngầm dữ dội chảy dưới cái bề mặt

có vẻ như lặng tờ của trốn triều môn”[8;55] khiến những nạn nhân sống trong đó luôn bất an, hoang mang sống trong sợ hãi ngờ vực Hồ Quý Ly vốn nổi tiếng là con người máu lạnh hung dữ nhưng giấc mơ ảo ảnh cho thấy đằng sau cái vẻ bề ngoài tưởng như lạnh lùng ấy vẫn phảng phất một thế giới nội tâm với những trăn trở của mặc cảm tội lỗi, giấc mơ gặp Nghệ Hoàng và nói chuyện với bà Huy Ninh ở cuối tiểu thuyết chính là cuộc độc thoại nội tâm của nhân vật với chính mình tự đưa ra những lý lẽ để biện minh cho hành động của mình: “trong giấc mơ, thái sư đã gặp Nghệ hoàng Ông vua già đang nằm võng đọc sách” phần đầu chương “phòng bị bên trong” của Hàn Phi Tử cuốn sách dạy làm vua, dạy giữ quyền hành, dạy cách điều khiển trăm quan… Nghệ Hoàng và Hồ Quý Ly đối thoại xoay quanh câu chuyện thời thiên túy Hồ Quý Ly “Đệ quý trọng và biết ơn huynh

Trang 31

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

lắm chứ Nhờ có sự tri âm của huynh nên đệ mới được như ngày nay” việc làm của ông cũng là vạn bất đắc dĩ nhưng Nghệ Tông vẫn một mực lên án, trách móc Quý Ly “Hỡi thiên hạ! hãy đến mà xem một sự trơ trẽn! Hãy đến

mà xem một loài rắn độc… ngươi đã tráo trở… ngươi đã phản bội”, mọi lý

lẽ không còn tác dụng sự cuồng lộ được đẩy lên đỉnh điểm dẫn đến cuộc vật lộn giữa Quý Ly và Nghệ hoàng “ Hồ Quý Ly hét lên cố thoát khỏi hai cánh tay gầy guộc, khỏi những nanh vuốt thù hận, độc địa, nhưng không tài nào thoát nổi… máu của hai bên ồ ồ chảy ra, nhấn chìm cả Quý Ly và Nghệ Tông xuống cái ao màu đỏ” Hai bên tranh luận kiên quyết bảo vệ lý lẽ riêng không bên nào chịu khoan nhượng, sự cố chấp dẫn đến kết cục đổ máu là tất yếu Sau cuộc mưu sát trượt Quý Ly “suốt ngày giam mình trong nhà hậu điện” trong cuộc đối thoại giữa Trừng với Quý Ly hay giữa Quý Ly với Huy Ninh những lời biện minh những lý lẽ bảo vệ cho việc làm của mình được Quý Ly dãi bày “Có khi phải mất chục vạn người phơi thây, nhà Trần mới dựng xong cơ nghiệp … Thế mà, nay tôi chỉ giết có vài trăm người… Tôi đã đến đây ở với bà mấy chục ngày… Nỡ nào đêm qua bà còn về trong mộng

để trách cứ tôi” mặc cảm tội lỗi giày vò lương tâm Hồ Quý Ly trong lúc vô thức khi mà lý trí của một kẻ lạnh lùng không bảo vệ được ông Giấc mơ giúp con người sống đúng là mình, ảo ảnh phản ánh hiện thực tinh thần đang

đè nén nên các nhân vật, mà giấc mơ giúp họ giải tỏa mặc cảm, lo lắng sợ hãi hiện hữu hàng ngày, nó thực sự là biện pháp hữu hiệu giúp vơi đi những

áp lực trong chốn cung đình đầy rẫy những thù hận

Chú tiểu An trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa với tâm hồn mong

manh yếu ớt tận mắt chứng kiến cái chết dã man của cha và dân làng, ám ảnh đó cứ đeo bám cậu bé khiến cậu dù đã ở chùa nhưng nhiều đêm vẫn mơ

về cái kỉ niệm đầy hãi hùng ấy “tôi theo hầu sư phụ đã mấy năm rồi, thế mà vẫn có nhiều đêm, tôi vẫn mơ thấy cái cảnh hãi hùng trong ngôi miếu hoang

Trang 32

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Mơ thấy cái xác thầy tôi nằm trên vũng máu, đôi mắt trắng toát mở trừng trừng, cái cổ bị cắt mở ra toang hoác” kỉ niệm ấyhằn sâu vào tâm trí đứa trẻ ngây thơ là một vết thương không bao giờ lành.[9;373]

Loại giấc mơ thứ ba là loại giả giấc mơ Trần Duệ Tông mượn giấc

mơ điển hình trong sử sách của Tấn Vương “một cơn giông bão rất to Lúc

đó, bầu trời sầm xịt u tối Có một người đầu đội mũ kim khôi, mình mặc áo giáp trụ xăm xăm đi đến trước mặt ta Nhìn kỹ hóa ra là Chế Bồng Nga Ta

và Chế liền xông vào nhau vật lộn dữ dội Vừa vật nhau, vừa hò hét, quyết một phen còn mất Rồi cuối cùng, ta bị ngã, Chế Bồng Nga cũng ngã theo Chế Bồng Nga nằm đè lên ta, hắn cắn vào vai ta Còn ta thì ngẩng mặt lên trời, và nghiến răng dùng hết sức hai tay bóp cổ nó Vừa đến lúc đó, ta bỗng choàng tỉnh giấc.” [8;137]“Có lẽ ông ta muốn dùng uy tín của Sử Văn Hoa

để tuyên truyền cho sự tất thắng Chế Bồng Nga của ông, buộc triều đình phải tin tưởng vào sự thân chinh tiễu phạt Chiêm Thành của ông”[8;137] Với giả mộng của mình Duệ Tông ung dung tưởng là cát mộng nhưng Sử Văn Hoa lại nói đây là hung mộng bởi “lúc bệ hạ ngẩng mặt lên trời, thì bầu trời tối tăm, u ám Mầu đen thuộc về âm Âm thuộc về đất Vậy, nhìn lên trời khác gì nhìn xuống đất Điều đó chỉ ra rằng cả ai bên đều tan nát đau khổ…” Sau khi nghe giải mộng, Duệ Tông đã thú nhận “ta mượn giấc mơ xưa, nói thác là mơ” Nhưng đúng theo lời giải mộng của Sử Văn Hoa, Duệ Tông đã chịu thất bại nặng nề trước đội quân Chiêm Thành bởi tính chủ quan, coi thường địch của ông ta

Loại thứ tư là loại giấc mơ nói lên hoài bão, cũng như chí hướng của chủ nhân như giấc mơ bay của Nguyên Trừng, tiếng nói trong đầu Nguyễn Cẩn, Sử Văn Hoa mơ đọc bài thơ “Dựng bia” của Bạch Cư Dị Giấc mơ bay của Nguyên Trừng “Vãn sinh thấy mình mọc cánh tự mình vẫy cánh và thân xác cất lên khỏi mặt đất Thú thực là ý muốn bay rất cao Nhưng không

Trang 33

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

hiểu sao chỉ bay được là là trên đầu những ngọn tre, trên đầu những ngôi nhà Cảm giác như mình là một cánh diều” [8;35,36] Giấc mơ bay được Sử Văn Hoa giải là “cái chí của công tử đấy thôi Tức là lũy tre, nếp nhà, mặt đất còn níu kéo cậu lại, vì cậu gắn bó với chúng Nếu không cậu sẽ bay vút lên trời cao, và biết đâu đấy bầu trời thì to rộng, ai mà lường hết được cái

kết cục”.Trong Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới viết: “Trong truyền

thuyết (Icare) và trong mộng mị, sự bay thể hiện nguyện vọng siêu thăng, nguyện vọng tìm kiếm một sự hài hòa nội tâm, một sự vượt qua những xung đột Giấc mơ này đặc biệt thấy ở những người thần kinh, những người ít có khả năng thực hiện những hoài bão thăng tiến của mình Ý nghĩa biểu trưng của nó là không thể bay được Tham vọng ấy càng phấn khích thì sự bất khả thi càng trở thành nỗi lo sợ, và lòng hiếu danh cổ vũ ước vọng thoái hóa dần dần thành cảm giác tội lỗi… Hình ảnh cuộc bay là sự thế vị phi hiện thực cho caí hành động lẽ ra phải diễn ra trong hiện thực Không biết, hoặc không thể, hoặc không muốn làm, người ta cầu viện mộng mị thực hiện cái đó bằng cách vượt qua nó ”[2;69] Cái chí bay bổng hướng thượng của Nguyên Trừng được gửi gắm qua giấc mộng bay ngay trong câu đối với cha mình, nếu Hồ Quý Ly một hòn đá nhỏ lại muốn làm mây, làm mưa để tưới cho khắp muôn nhà “thử nhất quyền kỳ thạch, hữu thì vi vân vi vũ, dĩ nhuận sinh dân”, (Hòn đá bằng nắm tay này có lúc làm mây làm mưa để thấm nhuần cho dân) còn Nguyên Trừng “Giá tam tốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc” (Cây thông nhỏ ba tấc ấy, ngày sau làm rường làm cột

để chống đỡ xã tắc) Nguyên Trừng không có tham vọng trở thành bá vương ông chỉ muốn dùng hết tâm huyết và tài năng để cống hiến,nhưng nó cũng phản ánh cái hiện thực mà Nguyên Trừng không thể vượt qua ở thực tại dù tâm huyết đến đâu trong buổi loạn lạc này mọi nỗ lực của cha con ông đi ngược lại với hồn nước nên không được ghi nhận Giấc mơ có tiếng nói

Trang 34

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

trong đầu của Cẩn “Cẩn luôn nghe thấy một tiếng nói trong đầu” và Cẩn tin rằng “đó là những lời nói của đức Phật”[8;631] “nó báo về một thời đã hết

và một thời đang tới” và Sử Văn Hoa cắt nghĩa giấc mơ “Tiếng nói trong đầu ư? Lời của Phật ư? Chẳng qua cũng vẫn chỉ là giấc mơ cuồng Nó không phát ra thành hình, thành tướng, trong phút mơ màng thì phải biến thành lời nói vang vang, nhỏ to trong đầu óc”[8;633], Thuận Tông đã chỉ ra cho Cẩn bản chất thật sự của giấc mơ “Ông là kẻ mê cuồng quá đỗi Người ta vẫn bảo đó là tiếng nói Phật Nhưng ta nghĩ đó chính là tiếng nói của ông Ông

tự phân thân ra làm hai: một là tiếng nói hư ảo, một là tiếng nói trần thế Hai nhưng một Ông tự nói với mình đó thôi Phật nào nói Phải phân thân ra làm hai bởi vì lòng ông còn giằng xé Phải đối thoại với chính mình để tự trấn

an, để vững lòng tin, bởi vì con đường ông đang đi thật là khốc liệt” [8;689] Sống trong biển thù hận con người trở nên hoang tưởng, mối thù cá nhân đối với nhà Trần đã thôi thúc Nguyên Cẩn tận tâm phò tá Hồ Quý Ly bất chấp những việc tàn ác và vô đạo Sử Văn Hoa cũng có giấc mơ trong ngục

để thức tỉnh và nhắc nhở về cái trí cương nghị của người cầm bút “Đêm qua, tôi mơ thấy Bạch Cư Dị đến trong mộng, đọc cho tôi nghe bài “Dựng bia” Quái lạ! Nghe xong tôi giật mình tỉnh dậy và toát mồ hôi lạnh”,“tôi sợ mình yếu lòng Mà lòng ai chẳng yếu Biết đâu đấy sẽ đến lúc tôi cũng chỉ là một

kẻ viết văn bia “tài đến như Bạch Cư Dị vẫn phải viết văn bia để kiếm sống Nhà quyền quý giàu có thuê ông viết kể lể công đức rồi đục đá thành bia để khoe với ngàn đời sau”[8;492] : “Công đức đã sút kém/ Văn chương cũng dần suy/ Vẫn lấy đá trong núi/ Bên đường dựng thành bia…/ Khoe tài là Khoái Công/ Khoe đức là Khổng Ni/ Càng nói nhiều càng đắt/ Nghìn chữ vạn đồng thuê” Một người ngay thẳng không biết khen chê được cả giặc thầy chùa Phạm Sư Ôn khen ngợi “Hay! Ông đích thực là nhà chép sử Hãy nghe đây, ta quyết án: vì Sử Văn Hoa không biết nịnh nọt, cũng không quá

Trang 35

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

kích đại ngôn Ta tha cho Để ông ta sống, là nhà chép sử cho non sông” [8;251] Sử ý thức rất rõ về công việc của mình “ta là kẻ dùng cây bút, dùng

ba tấc lưỡi để hé nhìn tương lai, để sống ở đời, để làm bạn với vua chúa Chỉ một chữ thôi, chỉ một câu nói thôi ta có thể làm xổng xích một bạo chúa, hoặc có khi ngăn chặn một cuộc chém giết”[8;42] vậy mà cũng có những phút yếu lòng sợ không giữ được bản tính sợ bị hoàn cảnh chi phối, bài thơ

“Dựng bia” chính là lời nói thức tỉnh tiếp thêm quyết tâm cho Sử giữ vững ngòi bút và làm tròn trọng trách của kẻ chép sử với non sông

Việc giải mã các giấc mơ không chỉ đáp ứng sự tò mò của con người

mà đã nâng lên thành một ngành khoa học hết sức ý nghĩa giúp giải mã đời sống vô thức của con người Tuy nhiên giải mộng không phải là điều đơn giản nó không phụ thuộc vào những quy tắc, những thủ pháp hay những ý nghĩa đã được mã hóa để áp dụng một cách máy móc, mà hơn hết nó cần một sự hiểu biết uyên bác biết tổng hợp phân tích từng yếu tố nhỏ nhất để nắm bắt và cắt nghĩa được điểm mẫu chốt của giấc mộng

Sử Văn Hoa ngoài công việc chép sử còn đảm nhiệm giải mộng “cứ mỗi lần có những biến động lịch sử, cứ mỗi khi bi kịch như sấm sét được tích tụ trong cơn bão sắp nổ xuống đầu con người thì con người lại cầu đến ông nhất là các bậc vua chúa”[8;41], Sử Văn Hoa giải thích cho Duệ Tông

về giả giấc mơ giao chiến với Chế Bồng Nga của ông“một giấc mộng giả cũng có thể ẩn chứa trong nó nhiều sự thật” [8;524] con người ta có thể mộng cả khi tỉnh, “mộng là một phần của đời người Đêm nào ta chẳng mộng Ta thường sống với mộng, nên nó là phần thâm sâu của đời ta Chỉ có điều, mộng bao giờ cũng khó hiểu, nó giúp ta che kín một sự thật nào đó mà

ta chẳng muốn nói ra” sự thật trong mộng là điều người ta muốn che dấu” Cái tài của người giải mộng không chỉ ở chỗ biết đó là mộng thật hay giả mộng, mà còn phải giải được cả những giấc mộng mà chủ nhân của nó cố

Trang 36

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

tình muốn che giấu, giấc mộng kẻ học trò mặt trắng là một điển hình trong trường hợp này Giấc mơ gặp Nghệ Hoàng đã được Hồ Quý Ly cắt xén thêm bớt để từ một giấc mơ rõ ràng chi tiết thành giấc mơ mờ ảo về kẻ bôi vôi mặt trắng gặp ở điện Đại Minh “Cái bộ mặt quét vôi trắng xóa, với đôi môi

đỏ chót, trông thật khiếp hãi! Bộ mặt bôi vôi ấy nhe răng ra để dọa Trông hắn như yêu ma”[8;525] Cũng như những lần giải mộng cho các bậc vua khác, Sử Văn Hoa lăn tăn “một cái bẫy hay lòng thành thật? Nỗi lo lắng của một con người đầy tham vọng cảm thấy mình cô độc, hay đơn thuần chỉ là một cuộc thăm dò?” nắm bắt được hai điều then chốt trong giấc mộng của

Hồ Quý Ly là khuân mặt bôi vôi chính là chỉ kẻ sĩ (bạch diện thư sinh) khuân mặt của người đứng trên cao ở điện Đại Minh trong khi thái sư đứng

ở dưới “giấc mộng có nhiều chi tiết nhưng chỉ là đồ gia vị thêm thắt Giải được hai điểm chính ấy, ta sẽ biết được cái sự thật mà lương tâm ngài muốn che giấu với mọi người, và muốn che giấu với cả bản thân mình nữa” Giấc

mơ khuyên Hồ Quý Ly khuyến người hiền trong thực tế người hiền hầu hết đang quay lưng chống đối ông

Người giải mộng cần có kiến thức sâu rộng về nho, y, lý, số… , có đủ

sự nhạy cảm tinh tế để nắm bắt thần thái cũng như từng chi tiết mấu chốt dù

là rất nhỏ trong giấc mộng và hơn hết phải giữ được sự thẳng thắn, bản lĩnh không vì lợi ích riêng mà làm méo mó giấc mộng để nịnh bợ hay hãm hại người khác; giải mộng không ngoài mục đích giúp người ta biết được điều lành tránh điều dữ Trong tiểu thuyết Sử Văn Hoa và Thuận Tông là hai người có khả năng giải mộng Sử Văn Hoa “kẻ mà người đời cho là người chép sử quân tử, kẻ âu lo cho hồn nước suy vong” con người tài năng được nuôi dưỡng và dạy dỗ từ môi trường Phật giáo thông thạo cả tam giáo, từng trải qua bao biến cố của các triều đại vẫn đứng vững giữ trọng trách thiêng liêng giữ hồn sông núi đã giải mộng cho các bậc vua chúa Còn Thuận Tông

Trang 37

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

khi lánh đời đi ở ẩn tu tiên che mắt thái sư và các triều thần “Ta đã đọc qua nhiều kinh sách, lẽ nào đến lỗi ngu đần cả tin vào câu chuyện trường sinh bất lão Chúng ta làm sao có thể cướp được mệnh trời” [8;431] Về với thiên nhiên tâm hồn ông được xoa dịu, ông đã thấu hiểu được đạo lý ở đời

đủ thông sáng nhìn thấu căn nguyên tiếng nói cất lên trong đầu Nguyên Cẩn

mà trước giờ ông ta vẫn ngộ nhận là tiếng nói của Phật

Giấc mơ và motif cũng là thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong sáng tác văn học có thế mạnh trong việc thể hiện trạng thái bất an của con người Từ trong văn học dân gian giấc mơ đã trở lên rất quen thuộc, đến văn học trung đại và hiện đại giấc mơ lại được sử dụng như một thủ pháp chính trong sáng tạo nghệ thuật tác phẩm của Nguyễn Du (giấc mơ của Thúy Kiều

được Đạm Tiên báo mộng về số kiếp của nàng), Nguyễn Dữ (Truyền Kỳ mạn lục xuất hiện mật độ dày đặc các giấc mơ cùng thế giới yêu ma)… Đến những tiểu thuyết hiện đại của Thuận ( Chinatown, Paris 11 tháng 8) của Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh) giấc mơ có vai trò rất quan trọng trong

việc chuyển tải thế giới vô thức đầy u uẩn, trắc trở trong tâm hồn nhân vật

Giấc mơ là tấm gương phản chiếu đời sống tinh thần của các nhân vật qua đó gián tiếp khắc họa bối cảnh xã hội Motif giấc mơ là một thủ pháp nghệ thuật tinh tế khéo léo trong việc dẫn dắt cốt truyện, giúp việc tiếp cận nhân vật từ các chiều kích tinh tế khác nhau

2.2 Motif hồng nhan bạc mệnh

Hồng nhan bạc mệnh dùng để chỉ những người con gái tài sắc nhưng

số phận lại bất hạnh Câu này đặc biệt đúng với người phụ nữ trong xã hội

phong kiến trọng nam khinh nữ Motif hồng nhan bạc mệnh cũng là một

trong những motif chính được Nguyễn Xuân Khánh sử dụng trong bộ tác

phẩm của mình từ những người phụ nữ cung đình ( Hồ Quý Ly ) sang người

Trang 38

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

phụ nữ nơi thôn dã (Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa) cũng không thoát

khỏi số kiếp đó Motif này là sự kéo dài đeo bám của lịch sử để một lần nữa

là tiếng nói cảm thông đối với những thân phận đáng thương, nạn nhân của

xã hội

Trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, người phụ nữ bị phân biệt đối xử, bị trói buộc bởi tam tòng, tứ đức, tam cương, ngũ thường, người phụ nữ đẹp đứng trước mối đe dọa bị cướp đoạt, bị tuyển làm cung nữ chôn vùi tuổi xuân nơi cung cấm, làm tặng phẩm cống nạp trong quan hệ ngoại giao… Chịu bao cay đắng tủi nhục mà vẫn là mối họa của gia đình của đất nước, mang tiếng xấu muôn đời không rửa sạch

Thân phận người phụ nữ là vấn đề được đặt ra từ trong ca dao tục ngữ, đến các tác phẩm văn học trung đại và ngay cả văn học hiện đại vẫn là một vấn đề lớn Trong ca dao than thân thân phận người phụ nữ bị rẻ rúng, mong

manh vô định hoàn toàn là nạn nhân của xã hội: Đàn ông năm thê bảy thiếp/ Đàn bà chính chuyên một chồng; Thân em như hạt mưa sa/ Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày, Thân em như giếng giữa đàng/ Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân, Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?… Cùng với sự thay đổi của nhận thức trong xã hội, một bộ phận lớn các

tác giả văn học trung đại như: Nguyên Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du… đã lên tiếng phê phán, vạch mặt những bất công trong xã hội bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với thân phận hồng nhan bạc

mệnhthông qua hàng loạt các tác phẩm lớn như: Cung oán ngâm, Chinh phụ ngâm, Độc Tiểu Thanh ký, Truyền kỳ mạn lục, Truyện Kiều… Người phụ nữ

trong xã hội phong kiến là hiện thân của cái đẹp, đức hy sinh, họ loay hoay với số phận bất hạnh trong vô vọng không lối thoát Trong xã hội hiện đại, khi nhận thức của con người được thay đổi thì vai trò vị trí của người phụ nữ

Trang 39

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

trở nên vô cùng quan trọng trong gia đình và cả ngoài xã hội, quan điểm hồng nhan bạc mệnh dần trở nên mờ nhạt

Dân gian vẫn quan niệm sắc đẹp người phụ nữ có thể làm nghiêng nước, nghiêng thành, những mỹ nhân chiếm vị trí rất lớn đối với sự tồn vong của các triều đại Người phụ nữ bị coi là khởi nguồn của chiến tranh: trong

xã hội cổ trước khi diễn ra những cuộc chiến lãnh thổ, quyền lực đã diễn ra những cuộc chiến tranh giành người đẹp mà lịch sử từ đông sang tây còn lưu lại: nàng Helen trong thần thoại Hy lạp với sắc đẹp nghiêng nước, nghiêng thành là khởi nguồn cuộc chiến giữa quân Hy Lạp và quân T’roa kéo dài

suốt 10 năm Ở sử thi Ramayana, chàng Rama đã phải chiến đấu dũng cảm

để cứu nàng Sita từ tay quỷ vương Ravana Hay nàng Mỵ Nương con gái vua Hùng thứ 18 khiến Thủy Tinh phải hô mưa gọi gió, dâng nước lớn hòng cướp nàng từ Sơn Tinh

Với nhận thức của thời đại họ quy mọi trách nhiệm về phía người phụ

nữ làm cho đế vương, vua chúa, bậc anh hùng phải điêu đứng: nàng Đát Kỷ xinh đẹp mà độc ác khiến Trụ Vương từ một vị vua cuối cùng của triều đại nhà Thương văn võ song toàn trở nên rượu chè, sa đọa, đẩy nhà Thương đến diệt vong sau hơn 600 năm tồn tại Tây Thi đại mỹ nhân thời Xuân Thu, đứng đầu trong tứ đại mỹ nhân Trung Quốc, Việt Vương Câu Tiễn đã dùng làm công cụ trả thù nước Ngô, nhưng sau khi thực hiện được mưu kế, Tây

Thi đã bị bỏ vào túi da dìm chết dưới hồ Chàng Từ Hải trong Truyện Kiều

“đội trời, đạp đất ở đời”, “giang hồ quen thói vẫy vùng/gươm đàn một gánh, non sông một chèo” nghe theo lời Kiều ra hàng Hồ Tôn Hiến phải chịu cái

chết oan ức Nguyễn Trãi đã phải viết bài thơ Răn sắc:

Sắc là giặc đam làm chi Thủa trọng còn phòng có thủa suy

Trang 40

Motif và biểu tượng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

Trụ mất quốc gia vì Đát Kỷ Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi

Mà họ không hay biết phụ nữ cũng chỉ là những nạn nhân của cuộc chiến quyền lực là quân bài để các phe phái lợi dụng đối phó với nhau

Trong Hồ Quý Ly giữa một bối cảnh xã hội đầy rối ren, thân phận

người phụ nữ không thoát khỏi những bất công, những âm mưu toan tính, bất kể họ là ai ở địa vị nào: từ bà hoàng Thánh Ngẫu, công chúa Huy Ninh, cùng những cung nữ xung quanh họ (Ngọc Kiểm, Ngọc Kỵ, bà cung nữ già), đến kiếp kỹ nữ như Thanh Mai hay những người phụ nữ bình dân như Thị Hạnh, cô nô tì bên bờ đầm Thiên Nhiên, đã sinh ra làm kiếp hồng nhan trong

xã hội phong kiến thì không thoát khỏi số kiếp bạc phận

Đầu tiên là những người phụ nữ cung đình, những bà hoàng, công chúa cành vàng lá ngọc sống trong nhung lụa giữa chốn phồn hoa quyền lực được nâng niu, trân trọng nhưng đời sống tinh thần lại thực bi thảm, chồng chất nỗi đau không nói thành lời chỉ biết lặng lẽ cam chịu hy sinh vì lợi ích dân tộc Cuộc hôn nhân của công chúa thường là những cuộc trao đổi theo quan hệ bang giao giữa các quốc gia, cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa với vua Chiêm do Trần Nhân Tông sắp đặt thực chất là một cuộc ngọai giao “sự kết giao bằng hôn phối mang tinh thần từ bi Phật giáo, muốn qua đó hóa giải thù oán giữa hai dân tộc”

Dù phải chịu những bất công, sự đối sử nghiệt ngã cuả xã hội nhưng người phụ nữ vốn bản tính cao thượng sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn vì người mình yêu không oán trách, hay toan tính đến tính mạng bản thân Huy Ninh công chúa “vừa đẹp người vừa đẹp nết, lại có học vấn Chỉ khổ nỗi đào hoa bạc mệnh” [8;117]; bà là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho Hồ Quý Ly

“ở bên bà ông thấy sự an lành xoa dịu”, sự hiền dịu của bà tỏa ra giúp dung

Ngày đăng: 28/11/2017, 21:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
2. Chevalier, Jean & Gheebrant, Alain (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, (Phạm Vĩnh Cư chủ biên dịch), Nxb Đà Nẵng –Trường viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Chevalier, Jean & Gheebrant, Alain
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng –Trường viết văn Nguyễn Du
Năm: 2002
3. Huyền Cơ (2007), 10 Đại mỹ nhân Trung Quốc, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 Đại mỹ nhân Trung Quốc
Tác giả: Huyền Cơ
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
4. Hà Minh Đức (2007), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Hoàng Quốc Hải (2010), “Bão táp triều Trần” và “Tám triều vua Lý”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Quốc Hải (2010), “Bão táp triều Trần” và “Tám triều vua Lý
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2010
6. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
7. IU.M. Lotman (2015), Kí hiệu học văn hóa, (Lã Nguyên - Đỗ Hải Phong - Trần Đình Sử dịch), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kí hiệu học văn hóa, (
Tác giả: IU.M. Lotman
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
8. Nguyễn Xuân Khánh (2007), Hồ Quý Ly, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quý Ly
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2007
9. Nguyễn Xuân Khánh ( 2014), Đội gạo lên chùa, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội gạo lên chùa
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
10. Nguyễn Xuân Khánh (2007), Mẫu thượng ngàn, Nxb Phụ nữ, Hà Nội 11. Phương Lựu (2012), Lý thuyết văn học hậu hiện đại, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu thượng ngàn," Nxb Phụ nữ, Hà Nội 11. Phương Lựu (2012), "Lý thuyết văn học hậu hiện đại
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh (2007), Mẫu thượng ngàn, Nxb Phụ nữ, Hà Nội 11. Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2012
12. Vũ Dương Ninh (2006), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Dương Ninh (2006), "Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Vũ Dương Ninh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
13. Vanessa Diffenbaugh (2014), Mật ngữ của hoa, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vanessa Diffenbaugh (2014)," Mật ngữ của hoa
Tác giả: Vanessa Diffenbaugh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2014
21. Bài học canh tân trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” của Nguyễn Xuân Khánh http://www.chungta.com/tracuu/bai_hoc_canh_tan_trong_tieu_thuyet_ho_ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quý Ly

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm