Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, chúng ta không thể thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nếu không huy động được nhiều nguồn vốn và sử dụng chúng một cách có hiệu quả. Vấn đề hình thành thị trường vốn ngày càng trở nên bức xúc đối với nền kinh tế, nòng cốt của thị trường này phải là các ngân hàng thương mại. Vì thế, ngành Ngân hàng đảm đương nhiệm vụ nặng nề là tiếp tục đổi mới, tuân thủ những nguyên tắc của cơ chế thị trường và các thông lệ quốc tế nhằm huy động và cho vay có hiệu quả đáp ứng vốn cho nhu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế quốc dân. Vốn là điều kiện tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung. Ở việt nam hiện nay, vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên để huy động được khối lượng vốn lớn từ nền kinh tế trong nước là một thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt nam nói chung và đối với hệ thống Ngân hàng thương mại nói riêng. Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác huy động vốn trong hoạt động của Ngân hàng. Với những kiến thức đã học và qua thực tế tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Hà Nội, em xin mạnh dạn chọn đề tài “Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư & phát triển chi nhánh Hà Nội”
Trang 1Lời mở đầu
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, chúng ta không thể thực hiện thànhcông công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nếu không huy động đượcnhiều nguồn vốn và sử dụng chúng một cách có hiệu quả Vấn đề hìnhthành thị trường vốn ngày càng trở nên bức xúc đối với nền kinh tế, nòngcốt của thị trường này phải là các ngân hàng thương mại Vì thế, ngànhNgân hàng đảm đương nhiệm vụ nặng nề là tiếp tục đổi mới, tuân thủnhững nguyên tắc của cơ chế thị trường và các thông lệ quốc tế nhằm huyđộng và cho vay có hiệu quả đáp ứng vốn cho nhu cầu tăng trưởng cao củanền kinh tế quốc dân
Vốn là điều kiện tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nóichung Ở việt nam hiện nay, vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết choquá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước Tuy nhiên để huyđộng được khối lượng vốn lớn từ nền kinh tế trong nước là một thách thứclớn đối với nền kinh tế Việt nam nói chung và đối với hệ thống Ngân hàngthương mại nói riêng
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác huy động vốn trong hoạtđộng của Ngân hàng Với những kiến thức đã học và qua thực tế tại Ngânhàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Hà Nội, em xin mạnh dạn chọn đề tài
“Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư & phát
triển chi nhánh Hà Nội”
Ngoài phàn mở đâu, kết thúc, chuyên đè trình bày theo 3 chương
Chương I: Những vấn đề cơ bản về công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Trang 2Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn của Ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Hà Nội.
Chương III: Những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác huy động vốn tại Ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Hà Nội.
Do thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức thực tế không nhiều, bàichuyên đề của em còn nhiều điểm chưa đề cập đến và còn có những thiếusót nhất định Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo cùng các
ạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ hướng dẫnkhóa luạn cùng toàn thể các anh chị trong Ngân hàng ĐT&PT Hà Nội đãtạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực tập và nghiên cứu viết chuyên
đề Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Thu Hà có hướng
dẫn và giúp đỡ em viết chuyên đề này
Trang 3CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm vốn huy động
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tề do ngân hàngthương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thựchiện các dịch vụ kinh doanh khác Nó chi phối toàn bộ hoạt động của ngânhàng thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng baogồm:
*Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lậpđược, thuộc sở hữu của ngân hàng Nó mang tính ổn định và căn cứ đểquyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của ngân hàng
* Vốn huy động là những giá trị tiền tề mà ngân hàng huy động được
từ các tổ chứ kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinhdoanh Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng
cỉ có quyền sử dụng và phải hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn Nguồnvốn này luôn biến động, tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng đối vớimọi hoạt động của ngân hàng
*Vốn đi vay là phần vốn các Ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốnhoạt động của mình trong trường hợp tạm thiếu vốn khả dụng Nó có chiphí tương đối cao cho nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn củangân hàng
*Vốn khác là phần vốn phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp
vụ thanh toán…
Trang 41.2 Vai trò của vốn huy động
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh đượcthì phải có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năngkinh doanh Riêng đối với Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh mộtloại hàng hóa đặc biệt là “tiền tề” với đặc thù hoạt động kinh doanh là “ đivay để cho vay” nên nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của Ngânhàng lại càng có vai trò hết sức quan trọng Vốn là điểm đầu tiên trong chu
kỳ kinh doanh của ngân hàng Ngoài vốn ban đầu cần thiết tức là đủ vốnđiều lệ theo luật định thì để bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình, việcđầu tiên mà ngân hàng phải làm là huy động vốn Vốn huy động sẽ chophép ngân hàng cho vay, đầu tư… để thu lợi nhuận Nói cách khác, nguồnvốn mà ngân hàng huy động được nhiều hay ít quyết định đến khả năng mởrộng hay thu hẹp tín dụng Nguồn vốn huy động được nhiều thi cho vayđược nhiều và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
Với chức năng tập trung và phân phối cho các nhu cầu của nền kinh
tế, một nguồn vốn huy động dồi dào sẽ tạo cho ngân hàng điều kiện để mởrộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, không bỏ lỡ
cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ro, tạo dựng được uy tín cho ngân hàng
Với chức năng tập trung và phân phối cho các nhu cầu của nền kinh
tế, một nguồn vốn huy động dồi dào sẽ tạo cho ngân hàng để mở rộng hoạtđộng kinh doanh, đa dạng hóa dịch vụ, không bỏ lỡ cơ hội
Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động của ngân hàng quyết định đến khảnăng cạnh tranh Nếu nguồn vốn huy động lớn sẽ chứng minh rằng quy mô,trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của ngân hàng hiện đại
Các ngân hàng thực hiện cho vay và nhiều hoạt động khác đều chủyếu dựa vào vốn huy động Còn vốn tự có chỉ sử dụng trong những trườnghợp cần thiết Vì vậy, khả năng huy động vốn tốt sẽ là điều kiện thuận lợi
Trang 5đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phầnkinh tế cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạncho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng Điều
đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngânhàng sẽ tăng nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều lợi nhuận hơn tronghoạt động kinh doanh, đảm bảo uy tín và năng lực trên thị trường
Với những vai trò hết sức quan trọng đó, các ngân hàng luôn tìm cáchđưa ra những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn từ nhữngngười gửi tiền và những người cho vay khác nhau đến việc sử dụng nguồnvốn một cách hiệu quả Bên cạnh đó, các nhà quản trị ngân hàng cũng luôntìm cách để đổi mới, hoàn thiện chúng cho phù hợp với tình hình chung củanền kinh tế Đó là một trong những điều kiện tiên quyết đưa ngân hàng đếnthành công
1.3 Phân loại nguồn vốn huy dộng của NHTM
Nguồn vốn huy động của các Ngân hàng thương mại thường chiếm tỷtrọng lớn trong tổng nguồn vốn (thường hơn 90%), vì vậy các hoạt động sửdụng vốn của Ngân hàng tồn tại và phát triển tốt là nhờ nguồn vốn huyđộng này Các hình thức huy động của Ngân hàng là rất đa dạng, tùy thuộcvào các tiêu thức khách nhau mà phân chia thành nhiều loại khác nhau.Chính vì vậy, có rất nhiều cách phân chia cơ cấu vốn huy động của Ngânhàng thương mại, để thuận tiện cho việc phân tích thực trạng nguồn vốnhuy động có thể phân chia nguồn vốn huy động theo ba tiêu chí:
+ Cơ cấu vốn huy động theo thời gian.
+ Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng huy động,hình thức huy động + Cơ cấu huy động theo loại tiền huy động.
Trang 61.3.1 Cơ cấu vốn huy động theo thời gian
a) Vốn huy động ngắn hạn: bao gồm những khoản vốn huy động có kỳ
hạn gửi dưới 12 tháng, tiền gửi thanh toán của khách hàng, các khoản tiềngửi không kỳ hạn Có thể thấy vốn huy động ngắn hạn ngoài các khoản huyđộng có kỳ hạn dưới 12 tháng thì còn lại là những khoản mà ngân hàngkhông xác định trước được thời gian rút vốn của khách hàng, với các khoảnvốn này Ngân hàng phải thực hiện yêu cầu của khách hàng bất cứ khi nàokhách hàng có nhu cầu rút vốn
Trong đó cần quan tâm tới loại tiền gửi thanh toán (hay tiền gửi giaodịch): Đây là tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân gửi vào Ngân hàng giữ
và thanh toán hộ Hoạt động thanh toán của khách hàng đáp ứng nhu cầuchi trả của khách hàng thực hiện trong phạm vi số dư cho phép Theo yêucầu của khách hàng thì các khoản thu của khách hàng đều có thể nhập vàotài khoản tiền gửi thanh toán Đối với loại tiền gửi này, khách hàng có thểrút tiền bất cứ khi nào có nhu cầu mà không cần báo trước với Ngân hàng,
vì vậy với loại tiền gửi này Ngân hàng thường không tính lãi hoặc trả vớimức lãi suất rất thấp mang tính khuyến khích khách hàng mở tài khoản tiềngửi giao dịch tại Ngân hàng Mục đích khi mở tài khoản này của kháchhàng là thanh toán qua hệ thống Ngân hàng, tuy nhiên trên thực tế khôngphải lúc nào khách hàng cũng sử dụng hết số dư trên tài khoản của họ, khi
số dư tạm thời nhàn rỗi nó có thể trở thành nguồn vốn của Ngân hàng vàNgân hàng sử dụng nguồn vốn này cho các hoạt động của mình Số lượngtài khoản tiền gửi thanh toán càng nhiều thì khả năng huy động vốn củaNgân hàng càng lớn Một ưu điểm có thể thấy với loại tiền gửi này là chiphí thấp, khả năng tạo lợi nhuận với nguồn vốn này là rất lớn Tuy nhiên,
do tính chất không kỳ hạn mà nguồn vốn này biến động rất lớn và Ngânhàng mang tính bị động và khó có khả năng dự báo về quy mô huy động Vì
Trang 7vậy, các Ngân hàng thương mại thường chỉ sử dụng một tỷ lệ phần trămnhất định trong hoạt động tín dụng của mình, tỷ lệ này phụ thuộc vào từngNgân hàng trong từng thời kỳ của nền kinh tế với yêu cầu đảm bảo sự ổnđịnh tương đối lượng tiền huy động và hệ số an toàn của Ngân hàng Cũngtheo quy định của Ngân hàng Nhà nước, hiện nay thì tỷ lệ sử dụng vốn ngắnhạn tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn không quá 40% tổng nguồnvốn ngắn hạn của Ngân hàng Có thể thấy công tác quản lý tiền gửi ngắnhạn là một phần quan trọng của quản lý dự trữ của Ngân hàng.
b) Vốn huy động trung và dài hạn: bao gồm những khoản vốn huy
động có kỳ hạn gửi trên 12 tháng Những nguồn vốn này có tính ổn địnhkhá cao do tính xác định về kỳ hạn của nguồn vốn, thời điểm đáo hạn haythời gian khách hàng sẽ rút tiền, vì vậy với các khoản huy động này ngânhàng sẽ có kế hoạch sử dụng hợp lý Tuy nhiên, nhược điểm của nguồn vốnnày chính là chi phí huy động của nó cao hơn nhiều so với vốn ngắn hạn.Nguồn vốn trung và dài hạn có thể kể đến như: các nguồn tiền gửi, tiếtkiệm có kỳ hạn trên 12 tháng hay các trái phiếu 2, 3, 5 năm…
- Tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn: Đây là sản phẩm tiền gửi được
áp dụng với những khách hàng có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinhlợi và có kế hoạch sử dụng trong tương lai, khách hàng chủ yếu là cá nhân
có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng chi tiêu định kỳ Điều quantrọng nhất mà khách hàng lựa chọn hình thức này đó là lợi tức của họ theođịnh kỳ Lãi suất có vai trò rất lớn trong việc thu hút nguồn vốn này Cónhiều hình thức tiền gửi tiết kiệm như: tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm dựthưởng, tiết kiệm an khang, tiết kiệm có đảm bảo bằng vàng, tiết kiệm theoniên kim… với những đặc thù riêng của từng Ngân hàng, cần tạo ra choNgân hàng của mình sản phẩm mang tính đặc thù tận dụng thế mạnh đáp
Trang 8ứng nhu cầu khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các Ngânhàng khác.
- Tiền gửi trung dài hạn: là loại tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng, hìnhthức này áp dụng với đối tượng khách hàng xác định được thời gian thờiđiểm sử dụng tiền của mình và mong muốn gia tăng thu nhập trong tươnglai Loại tiền này có lãi suất cao hơn tiền gửi thanh toán, người gửi khôngđược phép sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán.Khách hàng chỉ được rút tiền khi đến thời gian đáo hạn Nếu khách hàngmuốn rút tiền trước hạn thì khách hàng không được hưởng lãi hoặc chỉ mộtphần mức lãi suất mang tính khuyến khích Đây là nguồn vốn mọi Ngânhàng đều muốn hướng đến do tính ổn định từ đó Ngân hàng có thể chủđộng sử dụng trong hoạt động của mình Nhằm thu hút nguồn vốn này,Ngân hàng thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau phù hợp với từng đốitượng khách hàng, theo nguyên tắc: những khoản tiền gửi có thời hạn càngdài thì lãi suất càng cao
1.3.2 Cơ cấu theo đối tượng huy động
a) Tổ chức kinh tế:
- Thứ nhất: đó là các khoản tiền gửi giao dịch của khách hàng trongquá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là nguồn tiền mà các doanhnghiệp gửi vào Ngân hàng nhằm sử dụng trong quá trình thanh toán tiện íchqua hệ thống Ngân hàng, thực hiện các nghiệp vụ như: chi hộ, thu hộ, là thủquỹ cho doanh nghiệp mình
- Thứ hai: trong quá trình hoạt động sản xuất các doanh nghiệpthường có một bộ phận vốn nhàn rỗi tạm thời như: khấu hao đã trích nhưngchưa đến kỳ sử dụng, trả lương, các khoản thu tạm thời chưa sử dụng, cácquỹ đầu tư phát triển, khen thưởng, phúc lợi đã trích nhưng chưa sử dụng…
Trang 9Ngân hàng có thể huy động nguồn vốn này dưới hình thức tiền gửi có kỳhạn nhằm đảm bảo mục đích an toàn cho Ngân hàng và đồng thời sinh lợicho doanh nghiệp với những khoản vốn nhàn rỗi.
- Thứ ba: Ngân hàng có thể thu hút vốn của các doanh nghiệp Các tổchức kinh tế thông qua phát hành các giấy tờ có giá như: các kỳ phiếu, tráiphiếu, chứng chỉ tiền gửi… Các doanh nghiệp thường tiến hành hoạt độngđầu tư, trong đó có việc đầu tư vào các giấy tờ, tài sản tài chính có khả năngthanh khoản cao, một trong số đó là các giấy tờ có giá do các Ngân hàngphát hành
b) Huy động vốn từ dân cư:
Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống người dân ngày càng nângcao thì nhu cầu cho tích lũy ngày càng lớn Hiện nay, tại Việt Nam nguồnvốn nhàn rỗi trong dân cư là rất lớn, tuy nhiên trên thực tế phần lớn bộ phậndân cư không có điều kiện cũng như khả năng để trực tiếp đầu tư, do vậymột cách khá an toàn đó là gửi những khoản tiết kiệm này vào hệ thốngNgân hàng và hưởng lợi ích từ lãi suất tiền gửi và sự tiện ích từ các dịch vụcủa Ngân hàng nhất là trong hoạt động tiêu dùng cá nhân
Với đối tượng này, Ngân hàng thường sử dụng các hình thức huy độngchủ yếu như gửi tiết kiệm với kỳ hạn khác nhau, tiền gửi giao dịch… Có thểthấy, hiện nay tại Việt Nam lượng tiền mà người dân đang nắm giữ là rất lớn
vì vậy việc huy động vốn từ dân cư là hết sức tiềm năng, chính vì vậy nguồnvốn này chính là mục tiêu hướng đến của mọi Ngân hàng, việc huy độngnguồn vốn này phải mang tính thường xuyên và liên tục
c) Vốn huy động từ các định chế tài chính: các tổ chức tài chính, kho
bạc nhà nước và các tổ chức xã hội khác
Với các tổ chức này mục đích gửi tiền vào Ngân hàng chủ yếu phục
vụ để thanh toán, chính vì vậy vấn đề quan tâm của họ chính là tính thuận
Trang 10lợi trong việc rút tiền, gửi tiền và các nghiệp vụ thanh toán khác Lãi suấtnguồn vốn huy động này thường thấp vì vậy chi phí thấp hơn so với các đốitượng khác Tuy nhiên, để tiếp cận với nguồn vốn này là rất khó, chỉ cónhững Ngân hàng có uy tín mới có khả năng tiếp cận với nguồn vốn này.
1.3.3 Cơ cấu theo đơn vị tiền tệ:
a) Vốn huy động bằng nội tệ – VNĐ:
Với các ngân hàng thương mại trong nước thì nguồn vốn huy độngbằng VNĐ luôn chiếm một tỷ lệ cao, vốn huy động bằng VNĐ có vai tròquan trọng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại Ngân hàng huyđộng nguồn vốn nhàn rỗi từ các thành phần trong nền kinh tế để đáp ứngnhu cầu tài trợ vốn cho nền kinh tế cho các hoạt động kinh doanh, đầu tưhay tiêu dùng nội địa Nguồn vốn huy động bằng tiền nội tệ phụ thuộc chủyếu vào thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ
b) Vốn huy động là ngoại tệ:
Ngoài việc huy động vốn bằng đồng nội tệ phục vụ nhu cầu trong nềnkinh tế trong nước, Ngân hàng thương mại còn tiến hành huy động vốn bằngđồng ngoại tệ Nguồn vốn này tài trợ cho cho các hoạt động thương mại vàthực hiện các nghiệp vụ thanh toán của các doanh nghiệp trên phạm vi quốc
tế cũng như hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Những loại tệ được Ngân hàng quan tâm huy động đó là những ngoại
tệ mạnh trên thị trường hiện nay như: USD, EURO, GBP, FRF… Ngoài ra,ngân hàng cũng dự trữ một số ngoại tệ khác nhưng tỷ trọng thường rất nhỏ
Do tính chất cũng như quy định thì tỷ lệ ngoại tệ huy động thườngchiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn huy động của Ngân hàng thương mại Tuynhiên, với từng Ngân hàng khác nhau do đặc thù kinh doanh của mình thì tỷ
lệ này có sự khác biệt, với những Ngân hàng có xu hướng mở rộng kinh
Trang 11doanh đối ngoại thì nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ thường khá lớn, ví
dụ như: EXIMBANK, VIETCOMBANK…
1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn.
1.4.1 Các nhân tó khách quan
a Môi trường pháp lý.
Nghiệp vụ huy động vốn của các NHTM chịu sự điều chỉnh rất lớncủa môi trường pháp lý Có những Bộ Luật tác động trực tiếp mà chúng tathường thấy như: Luật các TCTD, Luật NHNN… Những Luật này quy định
tỷ lệ huy động vốn của ngân hàng so với vốn tự có, quy định về việc gửi và
sử dụng tài khoản tiền gửi… Có những Bộ Luật tác động gián tiếp đến hoạtđộng ngân hàng như Luật đầu tư nước ngoài hoặc các NHTM không đượcnhận tiền gửi hoặc cho vay bằng cách tăng giảm lãi suất, mà phải dựa vàolãi suất do NHNN đưa ra và chỉ được xê dịch trong biên độ nhất định màNHNN cho phép… Bên cạnh những bộ luật đjó thì chính sách tài chính tiền
tệ của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn tới nghiệp vụ tạo vốn củaNHTM Nó được thể hiện ở mục tiêu của chính sách tiền tệ, chẳng hạn khinền kinh tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền tề bằngcách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc đó NHTM huyđộng vốn dễ dàng hơn Như vậy, môi trường pháp lý là nhân tố khách quan
có tác động rất lớn tới qua trình huy động vốn của NHTM Mục tiêu hoạtđộng của NHTM được xây dựng vào các quy định, quy chế của Nhà nước
để đảm bảo an toàn và nâng cao niềm tin từ khách hàng
b Môi trường kinh tế xã hội:
Tình hình kinh tế - xẫ hội trong và ngoài nước cũng có tác độngkhông nhỏ đến quá trình huy động vốn của ngân hàng Khi nền kinh tế tăng
Trang 12trưởng hay suy thoái thì nó đều ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn củaNHTM Mọi biến động của nền kinh tế bao giờ cũng được biểu hiện rõtrong việc tăng, giảm nguồn vốn huy động từ bên ngoài của ngân hàng Nềnkinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển, từ đó tạo điều kiện tích lũy nhiềuhơn, do đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn của NHTM thuận lợi.Ngược lại, khi nên kinh tế suy thoái, lạm phát tăng, người dân không gửitiền vào ngân hàng mà giữ tiền để mua hàng hóa, việc thu hút vốn gặp khókhăn.
c Tâm lý, thói quen khách hàng
Khách hàng của ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại ngânhàng và những đối tượng sử dụng vốn đó Về môi trường xã hội ở các nướcphát triển, khách hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập được chuyểnvào tài khoản của họ Nhưng ở các nước kém phát triển, nhu cầu dùng tiềnmặt thường lớn hơn Ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quantrọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền Thu nhập ảnhhưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà Ngân hàng có thể huy động trong tươnglai Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồntiền
Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổnđịnh lượng tiền gửi vào, rút ra và ngược lại nếu nềm tin của khách hàng vềđồng tiền trong tương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn
là mối lo ngại lớn của mọi ngân hàng Một đặc điểm quan trọng của đốitượng khách hàng là mức độ thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụngân hàng Mức độ sử dụng càng cao, ngân hàng càng càng có điều kiện
mở rộng việc huy động vốn
1.4.2 Các nhân tố chủ quan
a Các hình thức huy động vốn
Trang 13Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trước hết phải đadạng hình thức huy động vốn Hình thức huy động vốn của ngân hàng ngàycàng phong phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tếcàng lớn bấy nhiêu Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu cầu vàtâm lý của các tầng lớp dân cư Mức độ đa dạng các hình thức huy độngcàng cao thì dễ dàng đáp ứng một cách tối đa nhu cầu của dân cư, vì họ đềutìm thấy cho mình một hình thức gửi tiền phù hợp mà lại an toàn Do vậycác NHTM thường cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi đưa vào áp dụng mộthình thức mới.
b Chính sách lãi suất cạnh tranh:
Việc duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau
đã trở nên cực kỳ quan trọng trong việc thu hút các khoản tiền gửi mới vàduy trì tiền gửi hiện có Điều này đặc biệt đúng khi lãi suất thị trường đã ởvào mức tương đối cao Các ngân hàng cạnh tranh giành vốn không chỉ vớicác ngân hàng khác mà còn với các tổ chức tiết kiệm khác, các thị trườngtiền tệ và với những người phát hành các công cụ tài chính khác nhau trongthị trường tiền tệ Khi lãi suất tối đa bị loại bỏ trong quá trình nới lỏng cácquy định, việc duy trì mức lãi suất cạnh tranh càng trở nên gay gắt Đặc biệttrong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, đủ cho những khác biệt tương đối nhỏ vềlãi suất cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiền tiết kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn
từ ngân hàng này sang ngân hàng khác hay từ công cụ này sang công cụkhác
c Năng lực và trình độ cán bộ ngân hàng.
* Về phương diện quản lý, nếu ngân hàng có trình đọ quản lý tốt sẽ cókhả năng tư vấn phù hợp cho khách hàng đem lại hiệu quả cao thì sẽ thu hútđược khách hàng đến với mình Mặt khác, quản lý tốt sẽ đảm bảo được an
Trang 14toàn vốn, tăng uy tín, tạo điều kiện tốt cho công tác huy động vốn của ngânhàng.
* Về trình độ nghiệp vụ: trình độ của cán bộ ngân hàng ảnh hưởng lớntới chất lượng phục vụ, chi phí dịch vụ làm ảnh hưởng tới việc thu hút vốncủa ngân hàng
Hiện nay, ở nhiều Ngân hàng Việ Nsm, trình độ nghiệp vụ của cán bộ
có nhiều bất cập Vì vậy, cần phải chú trọng vào việc nâng cao trình độ chocán bộ sao cho phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của kinh tế thị trường
d Công nghệ ngân hàng.
Trình độ công nghệ ngân hàng được thể hiện theo các yếu tố sau:
Thứ nhất: Các loại dịch vụ mà ngân hàng cung ứng
Thứ hai: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên ngân hàngThứ ba: Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng
Trình độ công nghệ ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ càngcảm thấy hài lòng về dịch vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khigửi tiền tại các ngân hàng Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàngcạnh tranh phi lãi suất vì khách hàng mà ngân hàng phục vụ, không quantâm đến lãi suất mà quan tâm đến chất lượng và loại hình dịch vụ mà ngânhàng cung ứng Với cùng một lãi suất huy động như nhau, ngân hàng nàocải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận lợi hơn cho khách hàng thìsức cạnh tranh sẽ cao hơn
e Các dịch vụ ngân hàng cung ứng
Một ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên có lợi thế hơn socác ngân hàng có các dịch vụ hạn chế Trong điều kện thành phố thiếu bãi
Trang 15đậu xe, ngân hàng có bãi đậu xe rộng rã cũng là một lợi thế hoặc ngân hàng
có giao dịch mặt đường trên các phố chính, có hệ thống rút tiền tự động làmviệc ngày và dêm, có cán bộ giao dịch niềm nở, có trách nhiệm, tạo đượcniềm tin cho khách hàng cũng là lợi thế đáng quan tâm của các NHTM.Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ ngân hàng không cógiới hạn do vậy đây chính là điểm mạnh để các ngân hàng giành thắng lợitrong cạnh tranh
f Mức độ thâm niên của một Ngân hàng:
Đối với các khách hàng khi cần giao dịch với một ngân hàng thì baogiờ họ cũng dành phần ưu ái đối với một ngân hàng có thâm niên hơn làmột ngân hàng mới thành lập Bởi vì, theo họ thì một ngân hàng thâm niên
là một ngân hàng có uy tín, vững vàng trong nghiệp vụ, có nguồn vốn và cókhả năng thanh toán cao Do vậy, mức độ thâm niên về một khía cạnh nào
đó cũng tạo ra được lòng tin đối với khách hàng
g Chính sách quảng cáo:
Không một ai có thể phủ nhận được vai trò to lớn của chính sáchquảng cáo trong thời đại ngày nay Trong hoạt động ngân hàng hiện đại,quảng cáo luôn được đề cao và cần phải có một chi phi phí nhất định chocông tác này Đồng thời ngân hàng cũng phải có chiến lược quảng cáo đặcbiệt không chỉ trên truyền hình mà nên dùng cả Pano, áp phích, tớ rơi nhằmđẩy mạnh công tác huy động vốn
h Mạng lưới phục vụ cho việc huy động vốn:
Mạng lưới huy động vốn của các ngân hàng thường biểu hiện qua việc
tổ chức các quỹ tiết kiệm Mạng lưới huy động không chỉ được mở rộng tạođiều kiện thuận lợi cho người gửi tiền, mà cần được mở ra ở cả những nơicách xa trung tâm kinh tế như nông thôn, vùng sâu, vùng xa để từ đó nângcao được hiệu quả huy động vốn
Trang 16Trên đây là các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn củacác hệ thống NHTM Với mỗi ngân hàng trong những giai đoạn kháchnhau, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên đến hoạt động huy động vốncũng khác nhau Tùy thuộc vào tình hình cụ thể mà các ngân hàng có thểxây dựng cho mình một chiến lược huy động thích hợp.
Trang 17CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH HÀ NỘI
2.1 Khái quát về ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Hà Nội.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng ĐT&PT Hà Nội.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội là mộttrong những chi nhánh lớn nằm trong hệ thống của Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội gắn liền với từng bước pháttriển của hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (tiền thân làNgân hàng Kiến thiết Việt Nam)
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh HàNội được thành lập vào ngày 27/05/1957 theo nghị định số 233/NĐ-TC-TCCB của Bộ Tài Chính với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng kiến thiết thànhphố Hà Nội, nằm trong hệ thống Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam Vớinhiệm vụ chính là nhận vốn từ Ngân sách Nhà nước để tiến hành cấp phát,cho vay trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng cơ bản
Năm 1982, Ngân hàng kiến thiết thành phố Hà Nội đổi tên thành Ngânhàng Đầu tư và Xây dựng Hà Nội thuộc hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Xâydựng Việt Nam
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành 2 Pháp lệnh về Ngân hàng:
- Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính
Trang 18Việc ban hành này nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống Ngân hàng chophù hợp với cơ chế thị trường Hai pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày1/10/1990, theo đó Việt Nam chỉ được thành lập Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển quốc doanh, hệ thống Ngân hàng bao gồm:
- Ngân hàng Trung ương là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Các NHTM, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Công ty Tài chính, Hợptác xã Tín dụng
Ngày 26/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đổi tênthành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo quyết định số 401 củaChủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, có trụ sở đóng tại 194 Trần Quang Khải - HàNội với số vốn điều lệ 1.100 tỷ đồng và có các Chi nhánh trực thuộc tạitỉnh, Thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương Theo đó, Ngân hàng Đầu
tư và Xây dựng Hà Nội đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam – Chi nhánh Hà Nội
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh ngân hàng ĐT&PT Hà Nội
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội là mộtđơn vị thành viên trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam(BIDV), được phân cấp hoạt động theo mô hình chi nhánh cấp I, xếp hạngdoanh nghiệp hàng I (theo quyết định của thống đốc Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam)
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội đượcxây dựng hoạt động theo mô hình hiện đại hóa Ngân hàng, theo hướng đổimới và tiên tiến , phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của Chinhánh Từ tháng 9/2008, Chi nhánh đã tổ chức thực hiện chuyển đổi thànhcông, đồng bộ mô hình tổ chức kinh doanh mới hướng đến khách hàng, mô
Trang 19hình này cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu hiện đại hóa Ngân hàng thương
mại Mô hình hoạt động của chi nhánh được tổ như sau:
Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi
Quỹ Tiết kiệm
Phòng Giao dịch
Phòng Tổng hợp - Nguồn vốn
Phòng Tài chính - KT
Phòng TCHC
Các Phòng
QHKH 1,2,3
Phòng GDKHDN, GDKHCNN
Phòng Tiền tệ-Kho quỹ
Phòng Quản trị tín dụng Phòng
QHKHCN
Trang 20Ban giám đốc là lãnh đạo cấp cao nhất của Chi nhánh, điều hành hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội là Giám đốc chi nhánh ông: Ngô Văn Dũng Giúp việc Giám đốc chi nhánh có
5 phó giám đốc theo sự phân công, ủy quyền của giám đốc
Dưới ban giám đốc có các phòng ban liên quan thực hiện những
nhiệm vụ và chức năng khác nhau bao gồm: Khối quan hệ khách hàng, Khối quản lý rủi ro, Khối tác nghiệp, Khối quản lý nội bộ, Khối trực thuộc
+ Khối quan hệ khách hàng:
Đối với phòng Quan hệ khách hàng, do tích chất công việc nên tại Chinhánh Hà nội, phòng quan hệ khách hàng được chia thành 2 loại: phòngquan hệ khách hàng doanh nghiệp (bao gồm phòng quan hệ 1,2,3) và phòngquan hệ khách hàng cá nhân
Nhiệm vụ của tất cả các phòng quan hệ khách hàng nói chung đó làthiết lập, duy trì các mối quan hệ với khách hàng, trực tiếp tiếp nhận, phântích đánh giá hồ sơ vay vốn tại chi nhánh, ngoài ra còn thực hiện nhiệm vụhuy động vốn, tiếp thị sản phẩm, chăm sóc mạng lưới khách hàng của chinhánh
+ Khối quản lý rủi ro:
Trang 21Có chức năng chủ yếu là thực hiện rà soát, đánh giá, thẩm định rủi rotín dụng đối với khách hàng Tham mưu, đề xuất với giám đốc chi nhánhnhững văn bản hướng dẫn, quy trình công tác đánh giá rủi ro, xây dựng cácchương trình, giải pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng công tác quản
lý rủi ro theo quy định của nhà nước và Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam về quản lý rủi ro
+ Khối tác nghiệp:
- Phòng quản trị tín dụng: trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ về quản trịtín dụng của chi nhánh theo quy trình, quy đinh của chi nhánh và của Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Trực tiếp nhận hồ sơ từ phòng quan hệkhách hàng và nhập dữ liệu vào hệ thống quản lý, chịu trách nhiệm lưu giữ
hồ sơ theo quy định
- Phòng tiền tệ kho quỹ: thực hiện các nghiệp vụ về quản lý kho tiền vàquỹ nghiệp vụ
- Phòng thanh toán quốc tế: trực thiếp thực hiện các giao dịch liênquan đến ngoại tệ, tham mưu cho giám đốc chỉ đạo, điều hành hoạt độngquản lý ngoại hối, các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại
- Phòng giao dịch khách hàng doanh nghiệp, Phòng giao dịch kháchhàng cá nhân: thực hiện các nghiệp vụ giao dịch với khách hàng, tiếp thịgiới thiệu sản phẩm – dịch vụ của Ngân hàng, đồng thời thu nhận thông tin,
ý kiến phản hồi từ khách hàng, đề xuất các giải pháp nhằm mang lại sự hàilòng của khách hàng về sản phẩm – dịch vụ của ngân hàng cung cấp
+ Khối trực thuộc: bao gồm các phòng giao dịch, các điểm giao dịch,quỹ tiết kiệm tại địa bàn và được coi như chi nhánh nhỏ của Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội với đầy đủ các nghiệp vụnhư: cho vay, giao dịch, huy động vốn…
Trang 22+ Khối quản lý nội bộ: Bao gồm các Phòng tổ chức hành chính, Phòngtài chính kế toán, Phòng điện toán và Phòng kế hoạch tổng hợp tập trungxây dựng kế hoạch chung của toàn chi nhánh, tham mưu cho giám đốc vềchính sách lãi suất, công tác tiếp thị, công tác huy động vốn…
2.1.3 Kết quả một số hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHĐT & PT
Hà Nội giai đoạn 2009-2011
Phát huy bề dày truyền thống và những thành tích đã đạt được trong trongquá trình hình thành và phát triển, trong giai đoạn 2007 - Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội liên tục có những bước pháttriển về mọi mặt cả về chất lượng và quy mô hoạt động, đáp ứng nhu cầuphát triển đổi mới Thủ đô cũng như đất nước trên các lĩnh vực: kinh tế,chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng… Chi nhánh liên tục được Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt Nam bầu là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
và là đơn vị dẫn đầu khu vực phía Bắc.Trong nhiều năm hoạt động, Chinhánh đã đạt được những kết quả nổi bật như sau:
a Hoạt động đầu tư tín dụng.
Thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Tổng giám đốc về côngtác tín dụng năm 2011, Chi nhánh Hà nội đã thực hiện triệt để, đồng bộ cácbiện pháp kiểm soát tăng trưởng tín dụng trên cơ sở xác định rõ mục tiêu,lĩnh vực kinh doanh cần mở rộng tín dụng và tiếp tục thực hiện cơ cấu lại
dư nợ, cơ cấu lại khách hàng Tiếp tục định hướng xây dựng danh mục tíndụng và thường xuyên theo dõi, điều chỉnh đảm bảo cả qui mô và cơ cấuphù hợp với định hướng của hệ thống và Chi nhánh
Về quy mô tín dụng: tổng dư nợ đến 31/12/2011 là 4.537 tỷ, đảm bảotuân thủ giới hạn Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam giao với mứchoàn thành KH là 97,8%
- Trong đó: tính đến ngày 31/12/2011
Trang 23+ Tổng số dư nợ cho vay ngắn hạn là 3.739,5 tỷ, tăng 612,6 tỷ so vớiđầu năm, chiếm 82,4% trên tổng dư nợ tín dụng.
+ Tổng số dư nợ cho vay trung và dài hạn là 797 tỷ, giảm 31 tỷ, chiếm17,6% trên tổng dư nợ tín dụng
+ Tổng dư nợ nhóm 2 là 195,3 tỷ, giảm 164,6 so với đầu năm, chiếm4.3%
+ Dư nợ xấu là 29,1 tỷ, giảm 14,8 tỷ, chiếm 0,64%
+ Dư nợ TD bán lẻ là 249,4 tỷ, tăng 182,4 tỷ, chiếm 5,5%
+ Dư nợ ngoài quốc doanh là 2.678,2 tỷ, tăng 559.1 tỷ, chiếm 59%+ Dư nợ VNĐ là 4.003 tỷ, tăng 662 tỷ, chiếm 88%
Trong hoạt động tín dụng, một số cơ cấu tiếp tục được kiểm soát tronggiới hạn và có sự chuyển dịch tích cực phù hợp với định hướng của Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt nam và hoạt động của Chi nhánh như dư nợxấu, nợ nhóm 2 và dư nợ trung dài hạn Tuy nhiên, còn một số cơ cấu về tíndụng thấp hơn so với thực hiện của toàn hệ thống như: Dư nợ ngoài quốcdoanh, dư nợ TD bán lẻ
- Về chất lượng tín dụng: Giai đoạn 2009- 2011 chất lượng tín dụngcủa Chi nhánh tiếp tục được cải thiện do Chi nhánh tiếp tục tập trung chútrọng công tác kiểm tra, kiểm soát rủi ro tín dụng, thực hiện cho vay cóchọn lọc và áp dụng các biện pháp, giải pháp quyết liệt, triệt để trong côngtác xử lý nợ xấu và kiên quyết hạn chế nợ xấu phát sinh
+ Dư nợ xấu giảm từ 43,9 tỷ (thời điểm 31/12/2011) xuống 29,1 tỷ,thấp hơn (3,6%) so với chỉ tiêu kế hoạch Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam giao;
+ Dư nợ nhóm II giảm từ 360 tỷ (thời điểm 31/12/2011) xuống còn195,3 tỷ và thấp hơn (3,4%) so với chỉ tiêu Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam giao;
Trang 24+ Dư nợ trung dài hạn giảm 31 tỷ so đầu năm, thấp hơn 4,2% kế hoạchđược giao.
Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng đã thực hiện tốt công tác phân loạikhách hàng, phân loại nợ làm cơ sở để áp dụng chính sách khách hàng hợp
lý, xác định và thực hiện trích dự phòng rủi ro theo qui định
b Hoạt động huy động vốn.
Trong quá trình hoạt động và phát triển của Ngân hàng, việc tạonguồn vốn là hoạt động đầu tiên và quan trọng, quy mô vốn lớn, có tính ổnđịnh là cơ sở đảm bảo quá trình cho vay cũng như hoạt động mở rộng củaNgân hàng
Mặc dù nền kinh tế nói chung trong những năm vừa qua gặp khánhiều khó khăn, tính cạnh tranh Qua bảng số liệu trên, ta thấy tình hình huyđộng vốn của BIDV Hà Nội liên tục tăng trưởng qua các năm từ năm 2009đến 2011 Tốc độ tăng trưởng của số dư huy động vốn cuối kỳ tăng nhanhhơn tốc độ tăng trưởng của số dư huy động vốn bình quân Tốc độ tăngtrưởng vốn huy động vốn cuối kỳ bình quân giai đoạn này đạt trên 14%,đây là tỷ lệ khá cao so với các Chi nhánh trong cùng hệ thống cũng như cácNgân hàng thương mại bạn trong bối cảnh thực tế Tính đến 31/12/2011nguồn vốn huy động của Chi nhánh đạt 11.121 tỷ, tăng 1.525 tỷ (+15,6%)
so với đầu năm Nguồn vốn huy động bình quân đạt 9.707 tỷ đồng, tăng1.302 tỷ (+15,5%) so năm 2010 Không những tăng trưởng về quy mô vốn,chất lượng vốn huy động cũng liên tục được cải thiện, điều này thể hiện qua
cơ cấu vốn huy động theo các tiêu chí khác nhau luôn biến đổi theo chiềuhướng có lợi cho Ngân hàng
Trang 25c Kết quả kinh doanh
Bảng 1: Báo cáo hoạt động kinh doanh
ĐVT: tỷ đồng
Số tiền Tỷ lệ (%)
Số tiền Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp BIDV Hà Nội)
Qua bảng trên ta thấy: LNST của Nh như sau
Năm 2011 tăng 126,53 tỷ đồng so với năm 2010 và tương ứng với tỷ
lệ tăng là 26,57 % Năm 2010 so với năm 2009 tăng 120,20 tỷ đồng, tỷ lệ
tăng là 33,76 % Điều đó chứng tỏ những nỗ lực trong việc tìm kiếm lợi
nhuận của ngân hàng
LNST tăng là do LNTT tăng LNST tăng chủ yếu là do doanh thu của
ngân hàng tăng
Doanh thu của ngân hàng: Năm 2011 so với năm 2010 tăng 280,74 tỷ
đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 16,24 % Năm 2010 so với năm 2009 tăng
690,16 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 51,56 %
Chi phí của ngân hàng: Năm 2011 so với năm 2010 chi phí tăng
112,04 tỷ đồng tỷ lệ tăng là 10,24 % Việc doanh thu tăng nên chi phí tăng
là hết sức bình thường tuy nhiên ngân hàng cũng tăng cường công tác quản
lý vốn để tránh những chi phí không cần thiết Năm 2010 chi phí tăng
Trang 26229,89 tỷ đồng tỷ lệ tăng tương ứng là 26,61 % Chi phí tăng ít trong khidoanh thu và LNTT đều tăng mạnh chứng tỏ ngân hàng đã thực hiện tốtcông tác quản lý vốn để nâng cao lợi nhận.
Thu nhập bình quân đầu người cũng tăng qua các năm chứng tỏ ngânhàng hoạt động có hiệu quả
2.2 Thực trạng hoạt động huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng
ĐT&PT Hà Nội.
Trước bối cảnh cạnh tranh trong công tác huy động vốn giữa các Ngânhàng diễn ra hết sức gay gắt nhằm đảm bảo yêu cầu hoạt động kinh doanh,BIDV Hà Nội đã xác định huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốtquá trình hoạt động Bên cạnh việc thường xuyên bám sát và thực hiệnnghiêm túc chỉ đạo của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tình hìnhbiến động của lãi suất thị trường, kết hợp nhiều giải pháp, biện pháp linhhoạt, phù hợp như phát huy các mối quan hệ, áp dụng tốt chính sách kháchhàng, Chi nhánh đã quan tâm chú trọng thực hiện cơ cấu lại nguồn vốn, cânđối giữa các kỳ hạn, loại tiền, giữa huy động và sử dụng vốn để đảm bảotăng trưởng gắn với nâng cao hiệu quả trong công tác nguồn vốn Trên cơ
sở chọn lọc khách hàng, giảm dần dư nợ đối với những doanh nghiệp cótình hình tài chính yếu kém, vốn chủ sở hữu nhỏ, nâng cao chất lượng thẩmđịnh dự án, coi trọng hiệu quả kinh tế và thực hiện nghiêm túc các quy chế
về tín dụng hiện hành Trong những năm vừa qua, Chi nhánh luôn tập trungnâng cao chất lượng tín dụng đi đôi với việc tăng trưởng dư nợ lành mạnh nhằm đảm bảo an toàn vốn cho vay và hiệu quả vốn tín dụng Vìvậy, nguồn vốn huy động của Chi nhánh đã có sự tăng trưởng khá ổn định,góp phần đảm bảo thanh khoản cho toàn hệ thống
Trang 272.2.1 Tình hình huy động vốn theo phương thức huy động tại chi nhánh ngân hàng ĐT&PT Hà Nội.
Thực trạng công tác huy động vốn của BIDV Hà Nội thể hiện qua số
dư huy động vốn cuối kỳ và số dư huy động vốn bình quân các năm nhưsau :
Bảng 2: Quy mô nguồn vốn huy động của BIDV Hà Nội qua các năm.
Đơn vị : Tỷ đồng
2009
Năm 2010
Năm 2011
KH 2012
(Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp BIDV Hà Nội)
Mặc dù nền kinh tế nói chung trong những năm vừa qua gặp khá
nhiều khó khăn, tính cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng trở lên gay gắt, nhưng nguồn vốn huy động của BIDV Hà Nội bắt đầu có dấu hiệu
chững lại qua các năm) Tính đến 31/12/2011, số dư huy động vốn cuối kỳ
Trang 28đạt 6684 tỷ đồng, giảm 3027 tỷ đồng (tương ứng với giảm 40%) so với năm2010; số dư huy động vốn bình quân đạt 8197 tỷ đồng, giảm 1368 tỷ đồng (tương ứng với giảm 20%) so với năm 2010 Trong các năm từ năm 2008 đến năm 2011, năm 2010 có tốc độ tăng trưởng cả về số dư huy động cuối
kỳ và số dư huy động vốn bình quân cao nhất (số dư huy động vốn cuối kỳ tăng 18% tương đương với tăng 1.475 tỷ đồng Nguyên nhân là do: năm
2010 thị trường vốn của nền kinh tế sau khi phát triển quá nóng đã dừng lại,các nhà đầu tư đã rút tiền dần ra khỏi thị trường chứng khoán để bảo toàn vốn, gửi tiền nhàn rỗi tạm thời vào ngân hàng luôn là giải pháp được ưu tiên lựa chọn Do vậy, mà nguồn vốn của BIDV Hà Nội năm 2010 tăng trưởng khá cao so với năm 2009 Sang năm 2011, nền kinh tế thế giới nói chung, nền kinh tế Việt Nam nói riêng thực sự khó khăn, hoạt động của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng rất nhiều, Chính phủ đã phải sử dụng các gói kích cầu để khôi phục nền kinh tế Tuy vậy, mà tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của BIDV Hà Nội năm 2011 không được cao như năm 2010 Sang năm 2011, nền kinh tế Việt Nam đã dần vượt qua được khó khăn, hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã tăng trưởng trở lại, do vậy mà tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của BIDV Hà Nội năm
2011 cũng tăng cao so với năm 2010 Đây là kết quả chứng tỏ Chi nhánh
đã sử dụng các biện pháp nhằm huy động nguồn vốn này một cách đúng đắn, linh hoạt tạo được mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng và nâng cao uy tín trong hoạt động và phản ánh nỗ lực cố gắng phấn đấu của tập thể lãnh đạo Chi nhánh nói chung và những người làm công tác huy động vốn nói riêng trong việc khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ
Quy mô vốn huy động của Chi nhánh liên tục tăng qua các năm tuynhiên có thể thấy tốc độ tăng có xu hướng giảm Có thể giải thích hiệntượng này do một số nguyên nhân như sau:
Trang 29+ Thứ nhất: Trong giai đoạn này nền kinh tế nói chung gặp nhiều khókhăn, hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng, điều này tác
động trực tiếp đến hoạt động của khối Ngân hàng thương mại nói chung
+ Thứ 2: Mức độ cạnh tranh giữa các Ngân hàng trên địa bàn diễn ramạnh mẽ hơn, có thể thấy đây là giai đoạn mà số lượng các Ngân hàng xây
dựng chi nhánh trên địa bàn khá lớn, đặc biệt là khối Ngân hàng bán lẻ,
thêm vào đó cũng có sự góp mặt của những Ngân hàng nước ngoài trên thị
trường Mặt khác trên thực tế chất lượng các sản phẩm dịch vụ của các đối
thủ cũng khá tốt, các Ngân hàng bạn đang đẩy mạnh quá trình xây dựng,
định vị thương hiệu trên thị trường
Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của các ngân hàng trên địa bàn thìBIDV Hà Nội luôn là Ngân hàng có quy mô huy động vốn lớn và chắc chắn
Tốc độ tăng trưởng ở mức độ trung bình nhưng ổn định và giá trị gia tăng
tuyệt đối về sản lượng vốn qua các năm là rất cao Điều này làm tăng quy
mô vốn cho Chi nhánh một cách nhanh chóng
2.2.1.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động theo phương thức huy động
Bảng 3: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo phương thức huy động
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ trọng (%) Số tiền
Tỷ lệ (%) Số tiền
Tỷ lệ (%)
Trang 30dân cư
2.PH
GTCG 485 5,15 3 0,03 2 0,03 -482 -99,38 -1 -33,33 Kỳ
phiếu,
trái
phiếu 485 5,15 3 0,03 2 0,03 -482 -99,38 -1 -33,33
Tổng 9420 100,00 9711 100,03 6684 100,00 291 3,09 -3027 -31,17
(Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp BIDV Hà Nội)
Qua bảng trên ta thấy tổng nguồn vốn huy động qua các năm của ngânhàng có xu hướng giảm đi Cụ thể là năm 2010 tổng nguồn vốn huy động
được tăng 773 tỷ đồng (8,65%) so với năm 2009, nhưng đến năm 2011 tổng
nguồn vốn huy động lại giảm 3026 tỷ đồng (-31,17%) so với năm 2010
Tổng nguồn vốn huy động giảm chủ yếu là do nguồn tiền gửi của khách
hàng giảm và nguồn tiền này cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn
huy động được của ngân hàng Cụ thể:
Tỷ trọng nguồn tiền gửi của khách hàng năm 2009 là 94,85%
Tỷ trọng nguồn tiền gửi của khách hàng năm 2010 là 99,97%
Tỷ trọng nguồn tiền gửi của khách hàng năm 2011 là 99,97%
Nguồn tiền gửi của khách hàng năm 2010 tăng 773 tỷ đồng ( tỷ lệtăng 8,65%), năm 2011 giảm 3026 tỷ đồng (tỷ lệ giảm là 8,65%) Nguyên
nhân chủ là do cả hai nguồn tiền gửi của các tổ kinh tế và của dân cư đều
giảm Trong đó:
Tiền gửi của các tổ chức kinh tế năm 2010 giảm 49 tỷ đồng (tỷ lệgiảm là 0,67%) so với năm 2009, năm 2011 giảm 3378 tỷ đồng (tỷ lệ giảm
46,42%) Đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng không ổn định, nếu ngân
hàng có kế hoạch sử dụng chính xác sẽ giúp ngân hàng cắt giảm chi phí,
tăng lợi nhuận Trong những năm qua số vốn của tổ chức kinh tế có xu