Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Do đặc thủ đó nên phẩn lớn tài sản của ngân hàng là các tài sản tái chính, gồm các hợp đồng cho vay, hợp đồng thuê - mua, các chứng khoán, các khoản tiền gửi,... Một phần nhỏ trong khối tài sản của ngân hảng là tài sản cố định như nhà cửa, trang thiết bi, ... Mỗi loại tài sản được hình thành theo các cách thức khác nhau và vì những mục tiêu khác nhau song đều tập trung đảm bảo an toàn và sinh lợi cho ngân hàng.
Trang 1BÀI THẢO LUẬN
CHỦ ĐỂ: TÀI SẢN VÀ QUẢN LÝ TÀI SẢN TRONG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 3Mục Lụ c
Phần 1: Vấn đề đang trao đổi hiện nay về tài sản của các NHTM 4
I Tài sản của NHTM 4
1 Ngân quỹ 4
2 Chứng khoán 5
3 Tín dụng 6
4 Các tài sản nội bảng 8
II Quản lý tài sản 9
1 Khái niệm 9
2 Mục tiêu 9
3 Nội dung quản lý 10
4 Quản lý tài sản ngoại bảng 16
5 Bàn về quản trị rủi ro đối với nghiệp vụ quản lý tài sản đảm bảo tại ngân hàng thương mại 17 III Mối liên hệ giữa nguồn vốn và tài sản 19
1 Mối liên hệ sinh lời 19
6 Mối liên hệ an toàn 20
Phần 2: Trình bày về cơ cấu và đặc điểm của tài sản tại 1 NHTM 21
I Tiền mặt, vàng bạc, đá quý 22
II Tiền gửi tại ngân hàng nhà nước 22
III Tiền gửi tại và cho vay các tổ chức tín dụng khác 23
IV Chứng khoán kinh doanh 23
V Chứng khoán đầu tư 23
VI Cho vay khách hàng 24
VII Góp vốn đầu tư dài hạn 25
1 Vốn góp liên doanh 25
2 Đầu tư vào các công ty liên kết 26
VIII Tài sản cố định 27
1 Tài sản cố định hữu hình 27
2 Tài sản cố định vô hình 28
Trang 4IX Các khoản mục ngoại bảng 28
1 Các hợp đồng ngoại hối 28
3 Các cam kết và nợ tiềm ẩn 29
Phần 3: Các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại VN 30
I Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 30
II Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ của tổ chức tín dụng 30
1 Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ được xác định như sau: 30
2 Các khoản phải trừ khi tính vốn tự có: 30
3 Tổng tài sản “Có” rủi ro là tổng giá trị tài sản “Có” xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản “Có” tương ứng của cam kết ngoại bảng xác định theo mức độ rủi ro 30
4 Tài sản “Có” tương ứng của cam kết ngoại bảng tính theo mức độ rủi ro được xác định theo nguyên tắc và thứ tự như sau: 38
III Tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất 39
1 Tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất được xác định như sau: 39
2 Vốn tự có hợp nhất được xác định như sau: 39
IV GIỚI HẠN TÍN DỤNG 39
V TỶ LỆ CẤP TÍN DỤNG SO VỚI NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG 41
VI Dự trữ bắt buộc 41
VII Qui định về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay: 42
1 Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: 43
2 Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: 43
Tài Liệu Tham Khảo 44
Trang 5Phần 1: Vấn đề đang trao đổi hiện nay về tài sản của các
NHTM.
I Tài sản của NHTM
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ Do đặc thủ đó nên phẩn lớntài sản của ngân hàng là các tài sản tái chính, gồm các hợp đồng cho vay, hợp đồng thuê - mua,các chứng khoán, các khoản tiền gửi, Một phần nhỏ trong khối tài sản của ngân hảng là tài sản
cố định như nhà cửa, trang thiết bi, Mỗi loại tài sản được hình thành theo các cách thức khácnhau và vì những mục tiêu khác nhau song đều tập trung đảm bảo an toàn và sinh lợi cho ngânhàng
b Tiền gủi tại ngân hàng khác
Gồm tiền gửi tại ngân hàng Nhà nựớc, tại các ngân hàng và tổ chức tín đụng khác Ngânhàng thượng mại phải thực hiện đự trữ bắt buộc Hình thức dự trữ bắt buộc có thể khác nhau ởcác nước Nhiều ngân hàng Trung ương yêu cầu ngân hàng thương mại phải duy trì dự trữ bắtbuộc dưới hình thức tiền gửi tại ngân hàng Trung ương Bên cạnh đó Ngân hàng thương mại nắmgiữ loại tiền gửi này còn vì mục tiêu thanh toán tiện lợi: rất nhiều các khoản thanh toán giữa cácngân hàng được thực hiện qua ngân hàng Nhà nước (ngân hàng Trung ương), hoặc qua ngânhàng đại lý (thanh toán qua các nước khác nhau) Khoản tiền gửi này có thể sinh lời song rấtthấp
Ngân hàng với vai trò thủ quỹ cho nền kinh tế, có trách nhiệm chi trả kịp thời mọi nhucầu của người gửi tiền dưới hình thức chuyển khoản và cả bằng tiền mặt Do vậy, ngân hàngluôn phải giữ một lượng tiền mặt trong két, và tiền gửi tại các ngân hàng và tổ chức tín dụngkhác Lượng tiền mặt trong két nhiều hay ít phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu và khả năng thu húttiền mặt mổi thời kỳ, khoảng cách giữa ngân hàng thương mại và kho tiền của ngân hàng Nhànước Các ngân hàng thương mại Việt nam thường phải giữ tỉ lệ tiền mật cao do tâm lý và thóiquen sử dụng tiền mặt trong thanh toán của đại đa số dân chúng và doanh nghiệp nhỏ Nhìnchung ngân quỹ của ngân hàng là tài sản không sinh lời (hoặc sinh lởi thấp trong trường hợp tiền
Trang 6gửi tại ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác được hưởng lãi) song lại là tài sản có tínhthanh khoản - tính lỏng - cao nhất, đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên Do vậy, mỗi ngânhàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mửc thấp nhất có thể được Tỷ trọng ngân quỹ trong tổng tàisản của ngân hàng thường thấp vả khác nhau tại các ngân hảng Thông thường, ngân hàng gầntrung tâm tiền tệ, tỷ lệ nảy thưởng thấp hơn so với ngân hàng ở xa Tỷ lệ này có xu hướng tãngtrong giai đoạn kinh tế suy thoái, khi ngân hàng khó t́m kiếm được nhiều cơ hội cho vay và đầutư.
Chứng khoán của các công ty khác
Ngân hàng giữ chứng khoán vì chúng mang lại thu nhập cho ngân hàng và có thể bán đi
dể gia tăng ngân quỹ khi cần thiết ngân hàng thường chia chứng khoán thành loại thanh khoản vàkém thanh khoản Thông thường các chứng khoán có tính thanh khoản cao (chứng khoán thanhkhoản) - chứng khoán an toàn, dễ bán, ít giảm giá - là những chứng khoán có tỷ tệ sinh lời thấp,
và ngược lại các chứng khoán kém thanh khoản (chứng khoán đầu tư) - rủi ro cao - thường có tỷ
lệ sinh lời cao
Các chứng khoán ngắn hạn của chính phủ thường được xếp hảng đầu trong số các chứngkhoán thanh khoản, được giữ như một tài sản đệm cho ngân quỷ: chúng sinh lời cao hơn ngânquỹ, và khi cần có thể bán để chi trả như ngân quỹ Độ an toàn của chứng khoán chính phủ phụthuộc nhiều vào khả năng trả nợ của Chính phủ nước phát hành Tính thanh khoản của chứngkhoán chính phủ phụ thuộc vào khả năng bán, mức độ giảm giá khi bán Một số loại chứngkhoán chính phủ có thể bán tại hầu hết các thị trưởng tài chính thế giới Nhiều ngân hàng nắmgiữ chứng khoán Chính phủ vì chúng có thể được miễn thuế, hoặc là do yêu cầu của chính quyềncác cấp. Sau chứng khoán ngắn hạn của chính phủ lá giấy nợ ngắn hạn do các ngân hàng, hoặccác công ty tải chính nổi tiếng phát hành hoặc chấp nhận thanh toán Một số giấy nợ của cáccông ty tài chính quốc tế nổi tiếng còn được các ngân hàng ưa chuộng hơn cả chứng khoán chínhphủ Chứng khoán chính phủ có thời gian đáo hạn dài, chứng khoán trung và dài hạn của cáccông ty khác có tỷ lệ sinh lời cao Ngân hàng thường nắm giữ những chứng khoán đến ngày đáohạn để thu lợi Ngân hàng cũng năm chứng khoán công ty để thực hiện quyền tham dự, kiểm soáthoạt động của công ty
Trang 73 Tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể dựa trên nguyên tắc hoàn trả và chữ tín.Khi gắn tín dụng với một chủ thể nhất định (TD ngân hàng), TD chi có một chiều là NHcấp TD cho khách hàng chứ không bao gồm việc NH huy động vốn cùa khách hàng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng thương mại,phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng Loại tài sản này được phân chia theo nhiều tiêuthức khác nhau
a Tính dụng chia theo thời gian
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng, vì thời gian liên quanmật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.Theo thời gian, tín dụng được phân thành:
Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống tài trợ cho tài sải lưu động
Tín dụng trung hạn:Từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho các tài sản cố định nhưphương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chóng hao mòn
Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm tài trợ cho công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu,đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thưởng có thời gian sử dụng lâu
Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiều khoản cho vay khôngxác định trước được chính xác thời hạn Phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọngđổi với ngân hảng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tài sản
Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại thường cao hơn tín dụng trung
và dài hạn: Các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu động của khách hàng Tín dụng trung
và dài hạn thường có tỷ trọng thấp hơn do rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn Cónhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này như kỳ hạn và tính ổn định của nguồn vốn, khả năng quản
lý thanh khoản của ngân hảng, khả năng dự báo vả dự phòng rủi ro trong trung và dài hạn…
b Tính dụng chia theo hình thức tài trợ
Tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê
Cho vay là việc ngân hảng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hảng phải hoàn
trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tíndụng Cho vay thưởng được định lượng theo 2 chi tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dư nợ cuối
kỷ Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay ra trong kỳ Dư nợ cuối
kỳ là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho vay vào thời điểm cuối kỳ Khi lập các báo cảo tảichính (thời điểm), cho vay được ghi dưới hình thức dư nợ Một số ngân hàng thường ghi giảm dư
nợ phần trích lập dự phòng tổn thất hoặc lãi được nhận trước
Trang 8Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng
với giá trị của thương phiếu, trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếuchưa đến hạn (hoặc một giấy nợ)
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa
thuận nhất định Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng Chothuê tài sản trung và dài hạn được ghi vào khoản mục tài sản theo giá trị tài sản cho thuê trừ điphần tiền thuê ngân hàng đã thu được (dư nợ cho thuê)
Bảo lảnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tải chính hộ khách hàng của
mình, Mặc dù không phải xuất tiền rasong ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình
để thu lợi Bảo lãnh được ghi vào tài sản ngoại bảng, đó là giá trị mà ngân hàng cam kết trả thaykhách hàng của mình Phần bảo lãnh ngân hàng phải thực hiện chi trả được ghi vào tải sản nộibảng (mục cho vay bắt buộc, tính vào nợ quá hạn)
c Tín dụng được chia theo hình thức đảm bảo
Không có đảm bảo, có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố Về nguyên tắc, mọi khoảntín dụng của ngân hành đều có đảm bảo Tuy nhiên, ngân hàng chỉ ghi vào hợp đồng tín dụngloại đảm bảo mà ngân háng có thể bán đi để thu nợ nếu khách hàng không trả nợ Cam kết đảmbảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng,hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba đế trả nợ cho ngân hàng
Tin dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín,thưởng là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tìnhtrạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay Các khoản cho vaytheo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu, không cần tải sản đảm bảo Các khoản chovay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc những khoản cho vay trong thời gianngắn mả ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng cũng có thể không cần tài sản đảm bảo
Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải ký hợp đồngđảm bảo Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng của tải sản đảm bảo (quyền sở hữu,giá trị, tính thị trường, khả năng bán, khả năng tài chính của người thứ ba ), có khả năng giámsát việc sử dụng hoặc có khả năng bảo quản tài sản đảm bảo
d Tín dụng phân loại theo rủi ro
Tín dụng bao gồm các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình, và thấp Để phân loạitheo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để chia loại rủi ro Một sốngân hàng lớn chia tới 10 thang bậc rủi ro tín dụng, tức là xếp loại tín dụng theo các dấu hiệu rủi
ro từ thấp đến cao Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại khoản mục tíndụng, dự trữ quỹ cho các khoán tín dụng rủi ro cao, đánh giá chất lượng tín dụng
Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao;
Trang 9Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như khách hàngchậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng gặp thiên tai, khách hàng trì hoãnnộp báo cáo tài chính
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn và kháchhảng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn
Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế chấp nhỏhoặc bị giảm giá, khách hàng chây ́
e Phân loại khác
Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp )
Theo đối tượng tín dụng (tải sản lưu động, tải sản cố định)
Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng )
Tại sao cần phân loại TD theo các tiêu thức khác nhau?
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong cấp tíndụng
Cho phép theo dỏi rủi ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để cóchính sách lải suất, bảo đảm, hạn mức và chính sách mở rộng phù hợp
4 Các tài sản nội bảng
a Tài sản ủy thác
Tài sản được hình thành theo sự ủy thác của khách hàng Ngân hàng làm dịch vụ ủy tháccho vay cho các ngân hàng khác, các tổ chức chính phủ hoặc phi chính phủ Ví dụ, Ngân hàngNông nghiệp và phát triển nông thốn Việt nam cho vay hộ WB theo chương trình xoá đói giảmnghèo tại một số tỉnh tại Việt nam Nguồn tiền, các yêu cầu cho vay cũng như toàn bộ tổn thấtthuộc về Ngân hàng Thế giới Ngân hàng Nông nghiệp chỉ thực hiện cho vay hộ và hưởng hoahồng (phí ủy thác) Tài sản ủy thác còn bao gồm chứng khoán ủy thác (đầu tư ủy thác) Tuychiếm tỷ trọng không lớn trong tổng tà sản, song tài sản ủy thác ít rủi ro và mang lại thu nhậpđáng kể cho ngân hàng Quy mô của tài sản ủy thác phụ thuộc vào khả nang cung cấp dịch vụ ủythác có chất lượng cao của ngân hàng
b Phần hùn vốn
Ngân hàng có thể tham gia góp vốn VỚI các tổ chức khác (không thể hịện dưới hình thứcnắm giữ chứng khoán), ví dụ như tham gia hùn vốn vào các ngân hàng liên doanh, các công ty
c Các tài sản khác
Nhà cửa và trang thiết bị của ngân hàng phục vụ chp quá trình kinh doanh của ngân hàng
và cho thuê Toà nhà ngân hàng là tài sản cố định lớn nhất củạ ngận hàng Tuy chiếm tỷ trọng
Trang 10nhỏ trong tổng tài sản song các tài sản này ảnh hưởng tới vị thế, nâng suất lao động của ngânhàng Ngoài ra còn có các khoản ứng trước để mua công cụ nhỏ chưa phân bổ hết trong kỷ, ứngtrướccho cán bộ ngân hàng Một số ngân hàng còn xếp cà nợ khoanh vào tài sản khác
d Các tài sản ngoại bảng.
Ngân hàng đưa ra những cam kết của mình đối với khách hàng, hình thành nên một loạitải sản lả hợp đồng cam kết, ví dụ như hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyềnchọn NH có thể quản lý hộ tài sản cho khách hàng, cất giữ hộ Những loại tài sản này khôngtrực tiếp hỉnh thành do sử dụng nguồn vốn mà ngân hàng huy động nên được xếp vào tài sảnngoại bảng Tài sản ngoại bảng phản ánh dung lượng công tác của ngân hàng, tạo nên thu nhập
và rủi ro cho ngân hàng
Tiền mặt gủi và tường đương tiền mặt 1250 1134
Trang 11Ngân hàng huy động hàng nghìn tỷ đồng của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và củahàng triệu cá nhân để cho vay và đầu tư trong khi vốn chủ sở hữu của ngân hàng chỉ chiếm 1phần nhỏ( khoảng dưới 10%)
=> Sự an toàn của hệ thống tài chính cũng như hệ thống ngân hàng là mối quan tâmthường xuyên của các tầng lớp dân cư, chính phủ, ngân hàng nhà nước và các nhà quản lý ngânhàng
Các ngân hàng phải tuân theo các bộ luật, các quy định, nghị định của nhà nước, của cơquan cấp trên Bên canh đó các ngân hàng đều có chính sách đảm bảo an toàn riêng, phù hợp vớitừng giai đoạn cụ thể
Điều đáng cân nhắc là nhiều yêu cầu của các loại khách lại mâu thuẫn với yêu cầu củangân hàng Ví dụ như khách hàng vay tiền thường không muốn phải thế chấp, thủ tục nhanh,gọn… Do vậy ngân hàng luôn phải tính toán nhu cầu của khách hàng và phải đáp ứng những nhucầu hợp pháp đó một cách tốt nhất Mỗi ngân hàng cũng phải xây dựng chính sách và quy chếkiểm soát để đảm bảo an toàn như an toàn kho quỹ, tìn dụng, các tài sản khác…
b Tăng khả năng sinh lời
Sự tồn tại và phát triển của ngân hàng chủ yếu dựa vào khả năng sinh lời (lợi nhuận thuđược) Ngân hàng phải tìm kiếm các khoản thu nhập để vừa bù đắp các khoản chi vừa có thunhập ròng, và nó được đo bằng LNST(lợi nhuận sau thuế), thu nhập ròng sau thuế trên tổng tài
sản ROA (Return on total assets), tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu ROE (Return on
common equyty), cổ tức …Các chủ sở hữu luôn mong đợi 1 mức lợi tức hấp dẫn tương ứng vớirủi ro mà họ chấp nhận Nếu lợi tức cổ phần giảm thì giá cổ phiếu của ngân hàng sẽ giảm => uytín của ngân hàng suy yếu dẫn đến suy giảm dòng tiền gửi vào ngân hàng
Tăng khả năng sinh lời cũng là cách tốt nhất để trả lương cao cho người lao động Tăngkhả năng sinh lời là biện pháp quan trọng để ngân hàng tăng quỹ tích lũy, thiết lập quỹ dự phònglớn để đủ sức chống lại rủi ro
3 Nội dung quản lý
Để thu được lợi nhuận cao, trước hết ngân hàng phải chú ý giải quyết tốt các vấn đề:
- Đảm bảo chắc chắn lúc nào ngân hàng cũng dự trữ đủ tiền mặt và vốn trên tài khoản để thanh toán kịp thời, nhanh chóng cho những người gửi tiền khi họ yêu cầu rút tiền
- Giành được những tài sản có làm ăn hiệu quả, ít có khả năng phá sản và đa dạng hoá việc nắm giữ những tài sản có
- Giành được những tài sản nợ có chi phí thấp
Quản lý tài sản có:
Quản lý tài sản có của ngân hàng là việc chuyển hoá nguồn vốn tín dụng thành tiền mặt và tài
Trang 12sản sinh lợi tức là việc phân chia vốn giữa tiền mặt, tín dụng, đầu tư, chứng khoán và các tài sảnkhác.
Để đảm bảo biện pháp này, ngân hàng tìm những những người vay vốn có uy tín, khônglừa đảo, trả lãi suất cao, bằng cách trực tiếp đến công ty để quảng cáo và chào mời các khoản tíndụng Sau đó, ngân hàng quyết định những ai có thể được ngân hàng cho vay tức là họ có thể trảvốn và lãi đúng hạn hay không? Cũng không nên quá thận trọng vì sẽ mất đi những cơ hội chovay hấp dẫn có thể cho vay với lãi suất cao.Tiếp theo, ngân hàng tìm mua những chứng khoán cólãi suất cao, rủi ro thấp, đồng thời cũng cố gắng để đa dạng hoá các loại chứng khoán.Cuối cùng,luôn chú ý quản lý tài sản theo trạng thái lỏng nghĩa là vừa thoả mãn được nhu cầu dự trữ vừakhông chịu phí tổn về dự trữ, nghĩa là íphải nắm giữ chứng khoán lỏng ngay cả trong trường hợpchúng có lãi suất thấp so với tài sản khác nhưng chúng có thể nhanh chóng chuyển hoá thành tiềnmặt Những chứng khoán của chnh phủ dùng làm khoản dự trữ cấp hai là loại chứng khoán lỏngtốt nhất
Các loại tài sản của ngân hàng thương mại bao gồm bốn loại: khoản mục ngân quỹ, đầu
tư chứng khoán, tín dụng và tài sản cố định
Hầu hết tích sản của các ngân hàng thương mại là các khoản nợ về tài chính do lợi tứccủa ngân hàng phần lớn thu được từ việc cho vay và đầu tư nên ngân hàng giữ kỳ phiếu, tráiphiếu và các công cụ tài chính khác đều có khả năng sinh lợi
Quản lý tài sản nợ:
Việc này đòi hỏi cân nhắc các rủi ro phụ cũng như khoản chênh lệch giữa chi phí vay vốn (chủ yếu là lãi suất vay của các ngân hàng khác) và mức lợi nhuận có thể thu được khi đầu tư vào tín dụng và chứng khoán Mục tiêu chính của phương thức quản lý này là bảo đảm thanh khoản của ngân hàng, bảo đảm đủ vốn cho nhu cầu tín dụng hợp lệ và duy trì lãi suất cơ bản ròng và doanh lợi
a Quản lý ngân quỹ
Ngân quỹ của ngân hàng là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất được thiết lậpnhằm duy trì khả năng chi trả và các yêu cầu khác của ngân hàng thương mại
1 Mỗi ngân hàng đều cần duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định của ngân hàng nhànước Dự trữ bắt buộc được tính dựa trên nguồn huy động trong kỳ tính ( thờigian tính dự trữ bắt buộc) và tỷ lệ dự trữ bắt buộc cụ thể
[ Mức dự trữ bắt buộc trong kì ] = [ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc ] * [ Số dư bình quân của cácnguồn bắt buộc phải dự trữ trong kì ]
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc thường do Quốc hội quy định
2 Ngân hàng phải duy trì khả năng chi trả bằng cách duy trě ngân quỹ một tỷ lệthích hợp với nhu cầu thanh toán của khách Đối với ngân hàng đáp ứng nhu cầuthanh khoản chủ yếu bằng các tài khoản thanh khoản thì ngân quỹ ngoài đảm bảo
Trang 13dự trữ bắt buộc còn phải đáp ứng nhu cầu chi trả Tính toán nhu cầu chi trả chủyếu dựa vào các nguồn tiền gửi ngắn hạn với các tỷ lệ chi trả dự tính và nhu cầucho vay mà ngân hàng đã cam kết, khả năng huy động các nguồn tiền rẻ đến chitrả…
Ngân quỹ của ngân hàng ngoài mục tiêu thực hiện chi trả thường xuyên còn phải đảm bảo yêu cầu quy định của pháp luật về dự trữ bắt buộc Ngân quỹ ngân hàng sinh lời rất thấp, vì vậy giữ quỹ nhiều là không kinh tế Quản lý ngân quỹ về thực tế là tính toán xem ngân quỹ tối thiểu cần giữ trong các thời kì là khác nhau Đồng thời cân đối giữa các bộ phận của ngân quỹ( tiền mặt, tiền gửi…) một cách phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Xem xét chỉ tiêu liên quan đến danh mục chứng khoán như rủi ro, lãi suất, xu hướng củagiá chứng khoán và các nhân tố ảnh hưởng khác Các tỷ lệ này phản ánh chiến lược quản lý củangân hàng
Quản lý chứng khoán được quản lý trên nguyên tắc quản lý danh mục đầu tư Các chứngkhoán thường xuyên được phân tích với giá trị thị trường và tuân thủ nguyên tắc đa dạng hóa “không bỏ chứng vào một giỏ”
c Quản lý tín dụng
Khái niệm: Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa một bên là: Ngân hàng (người cho vay)
và một bên là đối tượng đi vay (người dân, các thành phần trong nền kinh tế…) trên nguyên tắchoàn trả Khi đáo hạn, khách hàng thanh toán cho ngân hàng cả gốc và lãi thì quan hệ tín dụng làthành công Tuy nhiên, đối với một khoản vay, trong quá trình thực hiện, ngân hàng luôn phảitrích lập một khoản dự phòng rủi ro khi có tín hiệu rủi ro từ phía đối tượng đi vay
Khoản mục tín dụng chiếm 70% tổng tài sản ngân hàng
Ngân hàng cấp tín dụng nhằm mục tiêu thu lời => mục tiêu an toàn và sinh lời vẫn là mụctiêu chính trong quản lý tín dụng
Hoạt động tín dụng mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng
- Ngân hàng sử dụng mọi nỗ lực của mình để tăng quy mô tín dụng như mở rộng mạnglưới , đa dạng hóa các loại hình tín dụng, phát triển công nghệ mới nhằm gia tăng tiện ích chokhách hàng, giảm lãi suất hoặc cung cấp các điều kiện ưu đãi… các biện pháp này một mặt làmtăng quy mô, song mặt khác cũng làm tăng chi phí
Trang 14- Ngân hàng phải nghiên cứu và xác lập mối quan hệ giữa các biện pháp tăng quy mô vớithu nhập ròng từ hoạt động tín dụng thôn qua chênh lệch lãi suất biên.
Thu nhập dự tính từ tín dụng phụ thuộc vào quy mô, thời gian và lãi suất
Rủi ro từ hoạt động tín dụng là lớn nhất
Hiện nay, công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngânhàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung Việc đánh giá, thẩm định và quản lý tốt cáckhoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro tín dụng mà ngân hàng sẽgặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng
Rủi ro tín dụng được nhìn nhận dưới 2 góc độ: Rủi ro khách quan và Rủi ro chủ quan
1/ Rủi ro khách quan
Khi khách hàng nhận khoản giải ngân từ ngân hàng, họ sẽ dùng đồng vốn vào mục đíchkinh doanh như: Đầu tư vào dây chuyền sản xuất, đầu tư mua nguyên vật liệu… Trong quá trìnhsản xuất kinh doanh tất yếu sẽ phát sinh những rủi ro không mong muốn mà đôi khi các doanhnghiệp không lường trước được như:
- Rủi ro do nền kinh tế không ổn định
- Rủi ro do các thủ tục pháp lý ở các địa phương còn rườm rà
- Rủi ro do thị trường bị bóp méo bởi hàng hóa nhập lậu
a Rủi ro do nền kinh tế không ổn định
Khi tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, bao giờ doanh nghiệp cũng tiến hành đánhgiá tình hình thị trường cũng như đưa ra những dự báo phát triển thị trường, dự báo tăng trưởngdoanh số Nếu nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế quốc nội vận hành theo quỹ đạo đã dựbáo thì doanh nghiệp sẽ thực hiện tốt các kế hoach đề ra
Tuy nhiên, ta biết rằng: Nền kinh tế nước ta hiện giờ đang phụ thuộc nhiều vào các ngànhsản xuất nông nghiệp và các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp Mà những ngành này lạiphụ thuộc nhiều vào rủi ro thời tiết
Khi nền kinh tế thế giới bị khủng hoảng, tất yếu sẽ ảnh hưởng lớn đối với các doanhnghiệp xuất khẩu Những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như dệt may, xuất khẩu hàng nôngsản (xuất khẩu café, hạt điều, xuất khẩu cá basa, ) có nguy cơ không bán được khi nền kinh tếthế giới bị khủng hoảng Hoặc một sự thay đổi trong chính sách nhập khẩu (tăng thuế, giảm hạnngạch, thay đổi tiêu chuẩn nhập khẩu) tại các nước sở tại ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu
b Rủi ro do các thủ tục pháp lý
Sự chậm trễ, rườm rà trong các thủ tục cấp giấy phép, các thủ tục hải quan… nhiều lúcảnh hưởng lớn đến cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp Ta biết rằng, cơ hội kinh doanh củadoanh nghiệp có tính thời điểm, nhưng nó sẽ không thể thực hiện nhanh chóng nếu không được
“cởi trói” bởi các thủ tục pháp lý Việc chậm trễ sẽ dẫn đến hệ quả của hàng loạt các hợp đồng
Trang 15kinh tế bị đình trệ, các dự án đầu tư “buộc lòng” phải “treo” trên giấy Điều này gây tổn thất lớn
về mặt kinh tế đối với các doanh nghiệp vay vốn
Ta lấy một ví dụ đơn giản để minh họa cho rủi ro này:
Một doanh nghiệp X tiến hành thủ tục xuất khẩu một lô hàng hóa là hàng nông sản sangbên nước Y để thực hiện hợp đồng xuất khẩu đã ký với doanh nghiệp nước ngoài Theo hợpđồng thì ngày 20 - 10 - 2009, lô hàng sẽ phải được chuyển tới tay doanh nghiệp nước ngoài.Ngày 18 - 10 - 2009, lô hàng hóa được vận chuyển tới cảng biển Song do chậm trễ từ các thủ tụchải quan, lô hàng bị đình lại để tiến hành kiểm tra Sự chậm trễ này khiến doanh nghiệp X chậmtrễ trong việc thực hiện hợp đồng Và khi đó, đối tác của họ có thể từ chối việc thực hiện hợpđồng và tiến hành phạt bồi thường hợp đồng
c Rủi ro do hàng hóa nhập lậu tràn vào trong nước
Hàng hóa nhập lậu vào Việt Nam qua các con đường vùng biên từ lâu đã là nỗi “ám ảnh”của các doanh nghiệp nội địa Hàng hóa nhập lậu có ưu điểm rẻ hơn về giá, loại hình phong phúđánh mạnh vào nhu cầu của đại bộ phận người tiêu dùng có thu nhập thấp Các mặt hàng về đồđiện tử, kim khí, quần áo, mỹ phẩm là một minh chứng cho hiện tượng trên
Các rủi ro cơ bản trên đã ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp Một khi các đồng vốn mà doanh nghiệp đi vay đổ vào sản xuất kinh doanh mà không thulại được, tất yếu sẽ đẩy doanh nghiệp tới việc mất dần khả năng trả nợ Ngân hàng cũng đứngtrước nguy cơ khó thu hồi lại khoản cho vay này
2/ Rủi ro chủ quan
Rủi ro chủ quan đến từ cả hai phía là Ngân hàng và Doanh nghiệp đi vay:
a Đối với Ngân hàng
Ngân hàng thực hiện cho vay đối với các doanh nghiệp:
Các ngành nghề của các doanh nghiệp đi vay là rất đa dạng: Đa phần các cán bộ tín dụngNgân hàng không thể có đầy đủ thông tin cũng như hiểu biết về các ngành nghề lĩnh vực màdoanh nghiệp đang đầu tư kinh doanh Hơn nữa, các cán bộ ngân hàng cũng rất khó thẩm địnhđược số liệu tài chính do các Doanh nghiệp cung cấp có “đúng đắn” và chính xác tuyệt đối haykhông Hiện tại các doanh nghiệp, công tác kế toán chi phí chưa được thực hiện hóa chuyênnghiệp, ghi chép liên tục rõ ràng Vì thế, khi các cán bộ ngân hàng sử dụng các báo cáo tài chính
do doanh nghiệp cung cấp để phân tích trong công tác thẩm định sẽ đưa ra cái nhìn lệch lạc thiếuchuẩn xác
Chính vì rất khó khăn trong việc đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, nên Ngânhàng thường có xu hướng ưu tiên các hồ sơ vay vốn có tài sản thế chấp, đảm bảo Tuy nhiên khidẫn đến việc xử lý thu hồi nợ cũng rất khó khăn
Theo các văn bản hướng dẫn cưỡng chế thu hồi nợ đều ghi rõ: "Trong trường hợp doanhnghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán, Ngân hàng có quyền xử lý tài sản nợ vay" Trên
Trang 16thực tê, Ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là một cơ quan quyền lực Nhà nước,không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ Hơn nữa các thủ tụcpháp lý kiện ra tòa án để thực hiện xử lý tài sản thế chấp cũng rất rườm rà, gây mất chi phí đốivới Ngân hàng.
Trình độ của các cán bộ tín dụng đôi khi còn khá hạn chế Ngoài ra còn có nhiều cán bộtín dụng vì những lợi ích vật chất sẵn sàng tiếp tay cho các doanh nghiệp làm giả hồ sơ giấy tờ
để xin vay vốn Chính điều này đã dẫn đến những rủi ro rất lớn ngay từ khâu giải ngân Hơn nữacác doanh nghiệp này phần nhiều có tình hình tài chính không minh bạch, không đáp ứng đượcnhững điều kiện giải ngân từ phía ngân hàng đề ra
b Đối với doanh nghiệp
Nhiều doanh nghiệp không đánh giá hết được những rủi ro khi sử dụng đồng vốn, đánhgiá chi phí vốn cũng như khả năng sinh lợi của đồng vốn Đa phần các doanh nghiệp khi dùngvốn trong quá trình sản xuất kinh doanh thường đầu tư vào mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vào
cơ sở vật chất mà cái quan trọng nhất là đầu tư phát triển kỹ năng của lực lượng nhân lực củacông ty Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô mà tư duy quản lý không thay đổi, trình độ của độingũ quản lý không được đảm bảo thì doanh nghiệp tất yếu phải đối mặt với những rủi ro về khảnăng quản lý sản xuất, dẫn đến nhiều sai lầm trong quá trình ra quyết định quản lý kinh doanh
Nhiều doanh nghiệp sử dụng không đúng mục đích đăng ký ban đầu trong hồ sơ xin vayvốn Đồng vốn không sử dụng đúng mục đích tất yếu sẽ khó khăn trong việc kiểm soát dòng vốncũng như kiểm soát rủi ro của đồng vốn
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khi vay vốn về đã sử dụng một phần vốn đivay để đầu tư vào thị trường chứng khoán Khi thị trường chứng khoán tụt dốc, tất yếu sẽ làm
“thua lỗ” phần vốn đã rót vào Hệ quả là doanh nghiệp sẽ không thu được lãi từ sự đầu tư, lãi từlĩnh vực sản xuất không đủ bù
Công tác quản lý rủi ro tín dụng là rất quan trọng đối với ngân hàng Để đảm bảo chocông tác này được thực hiện tốt, ngân hàng cần có những bước thực hiện cụ thể:
Tính toán xác định rủi ro
+ Thẩm định đánh giá rủi ro đối với từng khoản giải ngân: Tình hình tài chính của đốitượng xin vay vốn, phân tích đặc trưng ngành của doanh nghiệp vay, phân tích khả năng cạnhtranh, khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp so với các đối thủ cùng loại trên thị trường.Phân tích các rủi ro hệ thống, rủi ro tình hình kinh tế
+ Đánh giá năng lực lãnh đạo của các cán bộ doanh nghiệp
Lượng hóa rủi ro
Sử dụng các công cụ phân tích, các chỉ báo phân tích để tính toán, đo lường những rủi rođược thể hiện qua các con số
Quản lý, giám sát
Trang 17+ Quản lý và giám sát việc doanh nghiệp sử dụng vốn Nếu có dấu hiệu doanh nghiệp sửdụng vốn sai mục đích: Ngưng việc giải ngân, đề nghị doanh nghiệp giải trình và yêu cầu thựchiện đúng cam kết trong hợp đồng giải ngân.
Đưa ra các phương pháp giải quyết rủi ro
+ Đánh giá phân tích cụ thể, chính xác tài sản, tiềm năng của khách hàng
+ Không giải ngân đối với các hợp đồng không tuân thủ các điều kiện tài chính
+ Không chấp nhận các hợp đồng có độ rủi ro cao (tài sản thế chấp không đảm bảo, lĩnhvực đầu tư không rõ ràng…)
Xây dựng quy trình phân tích tín dụng và phổ biến rộng rãi quy trình đó cho mọikhách hàng
Thiết lập các quỹ và các hợp đồng tài chính phát sinh nhằm bù đắp tổn thất xảy ra,thiết lập các ràng buộc pháp lý giữa ngân hàng với khách hàng, giữa ngân hàng vớinhân viên tín dụng
d Quản lý các tài sản nội bảng khác
Quản lý tài sản ủy thác
Tài sản ủy thác của khách hàng giao cho ngân hàng có rất nhiều loại Nhiệm vụ củangân hàng là phải bảo quản, theo dõi tăng thu nhập cho khách hàng
Mục tiêu quản lý là mở rộng thị trường ủy thác trên cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ
Quản lý trang thiết bị, nhà cửa của ngân hàng.
Tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng tài sản, song các trang thiết bị, nhà cửa củangân hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Đó là nơi thực hiện các giaodịch với khách hàng, lưu trữ và đảm bảo các hợp đồng, tiền, thực hiện các hoạt động thanh toán
Ngân hàng thường phân loại tài sản để dễ tính khấu hao phù hợp Ngân hàng đưa ra cácquy định về quản lý trang thiết bị để hạn chế trộm cắp, sử dụng lãng phí hoặc bừa bãi gây hỏnghóc; qui định về sửa chữa, bảo dưỡng hoặc mua bảo hiểm tài sản
4 Quản lý tài sản ngoại bảng
Tài sản ngoại bảng mang lại thu nhập cho ngân hàng đồng thời thường xuyên gắn vớirủi ro Quản lý tài sản ngoại bảng, về bản chất là quản lý các rủi ro
- Ngân hàng phải phân loại tài sản ngoại bảng theo thời gian, chủ thể, tính chất rủi ro.Các cam kết bảo lãnh không có tài sản đảm bảo hoặc cho những khách hàng có tình hình tàichính không thật vững chắc (chứa đựng rủi ro cao); các hợp đồng tài chính tương lai có thể bịrủi ro lãi suất, hối đoái…
Trang 18- Ngân hàng phải thực hiện nghiên cứu dự báo về các nhân tố ảnh hưởng đến tài sảnngoại bảng như thị trường nguồn vốn, tỷ giá, sự thành công của đối tác…Việc nghiên cứu nàycho phép ngân hàng xếp loại các tài sản ngoại bảng và hoạch định chính sách trong cung cấp cáchợp đồng tài chính tương lai.
- Ngân hàng cần dự phòng trước nguồn tài trợ cho tài sản ngoại bảng, như gia tăng ngânquỹ, các chứng khoán thanh khoản với lãi xuất sinh lời thấp hoặc dự trù vay mượn cấp bách vớilãi suất cao, hoặc trích quỹ dự phòng tổn thất
5 Bàn về quản trị rủi ro đối với nghiệp vụ quản lý tài sản đảm bảo tại ngân hàng thương
mại
Việc quản lý tài sản đảm bảo (TSBĐ) khi thực hiện cho vay là một yếu tố quan trọngtrong kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam Hiện nay để gia tăng tínhhiệu lực, hiệu quả của các NHTM cũng như đáp ứng nhu cầu khách hàng không thể không tínhtới những rủi ro luôn ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM Vì vậy hoạt động quản trị rủi rotrong kinh doanh ngân hàng là vô cùng quan trọng, trong đó việc quản lý rủi ro đối với TSBĐđược NHTM thiết lập ngay từ khi giải quyết cho vay
Để phòng tránh khỏi những rủi ro phát sinh từ hoạt động quản lý TSĐB, bài viết này sẽ
đề cập tới một số tình huống rủi ro thường gặp và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả củacông tác quản trị rủi ro trong nghiệp vụ quản lý TSBĐ
1 Rủi ro hoạt động quản lý TSBĐ
Rủi ro hoạt động quản lý TSBĐ do những nguyên nhân chủ quan và khách quan, đó cóthể là sự quản lý lơi lỏng của cán bộ Ngân hàng nhưng cũng có thể do sự gian lận từ phía kháchhàng
+ Rủi ro do kiểm soát thiếu chặt chẽ, sự lơi lỏng quản lý dẫn đến kết quả cán bộ khôngtrung thực, hoặc sai sót trong công việc của người quản lý theo dõi TSBĐ Trên thực tế đã cókhông ít trường hợp TSBĐ lưu tại kho không được quản lý sát sao dẫn đến sơ hở để cán bộ cóthể tráo đổi tài sản gây thiệt hại cho Ngân hàng
Trang 19+ Rủi ro từ việc duy trì số liệu khi xuất/nhập TSBĐ để theo dõi ngoại bảng Nhiều nơicán bộ tín dụng (CBTD), kế toán, thủ kho bỏ qua quy trình nghiệp vụ hàng tháng không đối soát,
“chấm” số liệu ngoại bảng giữa số liệu sổ sách và tài sản thực tế nên xẩy ra tình trạng khi thủkho đã xuất TSBĐ nhưng cán bộ tín dụng không theo dõi nhập/xuất nên trên cân đối ngoại bảngvẫn hiển thị số dư TSBĐ Nếu để tình trạng này thì sẽ gây ra thiệt hại rất lớn cho Ngân hàng,nhất là đối với các Ngân hàng triển khai dịch vụ mở một giao dịch ở nhiều nơi
+ Rủi ro do trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa chuyên sâu, các kiểm tra giám sát hoạtđộng này còn yếu, kiến thức pháp lý còn thiếu và chủ quan
+ Rủi ro do khách hàng gian lận trong việc quản lý TSBĐ của Ngân hàng cũng như cácdịch vụ Ngân hàng do cố ý hoặc vô tình đều là nguyên nhân gây rủi ro cao cho Ngân hàng Hiệncác NHTM thực hiện việc cho khách hàng mượn lại TSBĐ nhằm tạo điều kiện thuận lợi chokhách hàng trong một số trường hợp, cũng là một “lỗ hổng” để CBTD cấu kết với khách hànghoặc do quá tin khách hàng đã giao TSBĐ lại cho khách hàng mượn với một số lý do như: làmthủ tục nhà đất, … nhưng thực tế đã xảy ra nhiều Ngân hàng đã bị khách hàng tráo đổi tài sảnkhác bằng hình thức photocopy màu, dẫn đến thất thoát tài sản, bất lợi cho Ngân hàng
2 Quản trị rủi ro TSBĐ
Cũng như các nghiệp vụ khác các NHTM luôn phải đương đầu với rủi ro danh tiếng khinghiệp vụ quản lý TSBĐ phát sinh tình huống rủi ro Hậu quả sẽ lớn hơn khi rủi ro tạo thành dưluận bất lợi cho Ngân hàng Điều này có thể dẫn đến suy giảm nguồn vốn huy động, hoặc giảm
số lượng giao dịch của khách hàng với Ngân hàng, thậm chí có thể phá huỷ những nỗ lực, thànhquả của Ngân hàng, làm mất lòng tin của công chúng với các phương diện duy trì hoạt động củaNgân hàng đó Bởi vậy NHTM cần quan tâm và có biện pháp hữu hiệu quản trị rủi ro, trong đó
có quản trị rủi ro quản lý TSBĐ Tác giả xin đề xuất một số giải pháp chế ngự và kiểm soát rủi rotrong hoạt động Ngân hàng liên quan đến việc quản lý TSBĐ sau đây:
+ Phối kết hợp giữa các phòng nghiệp vụ có liên quan đến việc quản lý TSBĐ thực hiệncác quy trình nghiệp vụ một cách chặt chẽ và thống nhất Xác định rõ trách nhiệm của từng thànhviên quản lý và tham gia quản lý TSBĐ Đối với hồ sơ TSBĐ ban đầu khách hàng vay theo bảođảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay, cần chú ý khi tài sản hình thành, CBTD lưu hồ sơ gốc
bổ sung vào bì hồ sơ lưu tại kho, tránh tình trạng chỉ lưu tại hồ sơ tín dụng, gây thất lạc TSBĐ
Trang 20+ Xây dựng hệ thống quản lý và khai thác dữ liệu, phát triển một phần mềm chuyên dụng
để theo dõi việc xuất nhập TSBĐ một cách khoa học, bảo đảm số liệu nhập vào hệ thống máytính và hồ sơ giấy chính xác, đầy đủ
+ Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý TSBĐ thông qua việc kiểm kê cuốitháng, cuối quý, cuối năm; kiểm kê đột xuất đối những món vay có yếu tố nghi ngờ
+ Đào tạo cán bộ làm công tác này về kinh nghiệm quản lý, trình độ pháp lý về việc xuất/nhập hồ sơ TSBĐ và quản lý TSBĐ
+ Hạn chế cho mượn TSBĐ Trường hợp cho mượn TSBĐ cần yêu cầu CBTD phải theosát để kiểm tra, giám sát quá trình mượn của khách hàng; khi nhập kho cần kiểm tra kỹ đối vớiTSBĐ này
Để Ngân hàng hạn chế rủi ro, khắc phục một số tồn tại trong quá trình quản lý TSBĐ vànâng cao hiệu quả hoạt động Ngân hàng, việc tìm kiếm các giải pháp quản trị rủi ro nghiệp vụquản lý TSBĐ của NHTM là vô cùng hữu ích, góp phần ngăn ngừa hạn chế rủi ro, bảo đảm antoàn, hiệu quả kinh doanh Ngân hàng, từ đó góp phần vào thành công chung của Ngân hàng./
Ngoài việc coi các khoản tiền gửi có thể phát séc là nguồn vốn tín dụng hàng đầu, các ngân hàngcòn tìm cách thu hút thêm nguồn vốn đi vay mới bằng cách phát hành các loại phiếu ngân hàng,phát hành tài sản nợ, … để tăng thêm vốn vay
III Mối liên hệ giữa nguồn vốn và tài sản
1 Mối liên hệ sinh lời
Tài sản mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, còn nguồn vốn liên quan tới chi phíchủ yếu của ngân hàng, chi phí trả lãi
Qui mô hoạt động càng tăng => tài sản càng tăng => khả năng sinh lời ngày càng lớn vàngược lại
Trang 21Nếu dùng chỉ tiêu chênh lệch thu – chi từ lãi ( thu nhập từ lãi – chi phí trả lãi) để đo mốiliên hệ sinh lời giữa nguồn vốn và tài sản thì, thì sinh lời tăng khi lãi suất bình quân của tài sảnphải lớn hơn lãi suất bình quân của nguồn vốn, hoặc lãi suất biên của tài sản phải lớn hơn lãi suấtbiên của nguồn vốn Điều này có nghĩa là: Nguồn vốn và sự gia tăng nguồn vốn với quy mô vàcấu trúc nhất định, cần được phân bổ tài sản sinh lời thích hợp Việc gia tăng cho vay và đầu tưvới mức rủi ro thấp chính là điều kiện để gia tăng sinh lời.
Mối liên hệ sinh lời giữa nguồn vốn và tài sản được đo bằng Tỷ lệ tài sản sinh lãi vàChênh lệch lãi suất:
6 Mối liên hệ an toàn
Ngân hàng phải duy trì các mối liên hệ an toàn theo luật định
Quy mô và cấu trúc tiền gửi liên quan chặt chẽ đến ngân quỹ và chứng khoán thanhkhoản cũng như kì hạn nợ của các khoản tín dụng
Một danh mục tài sản bao gồm các khoản cho vay và đầu tư rủi ro cao, có thể bị tổnthương rất lớn, làm giảm uy tín của ngân hàng => phản ứng của dân chúng là rút tiền rakhỏi ngân hàng => nguồn tiền suy giảm nhanh và mạnh có thể sẽ đẩy ngân hàng đến phásản
Một danh mục tài sản bao gồm phần lớn các tài sản rủi ro thấp sẽ hạn chế thu nhập củangân hàng, hạn chế ngân hàng mở rộng quy mô trong moi trường kinh doanh đầy biếnđộng Khả năng mở rộng thị trường vốn của ngân hàng sẽ bị giảm sút
Trang 22Phần 2: Trình bày về cơ cấu và đặc điểm của tài sản tại 1
NHTM.
Cơ cấu và đặc điểm tài sản tại ngân hàng Vietcombank
Tiền gửi tại ngân hàng nhà nước(NHNN) 8,239,851 25,174,674
Tiền gửi tại và cho vay các TCTD khác 79,653,830 47,456,662
Tiền gửi tại các TCTD khác 79,499,786 46,480,842
Dự phòng rủi ro cho vay các TCTD khác -5,622 -6,398
Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng -5,689,082 -4,625,120
Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán 22,780,947 21,020,349 Chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn 10,329,560 12,040,643
Dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư -299,292 -426,105
Đầu tư góp vốn vào công ty liên doanh và
công ty liên kết
1,586,311 1,293,568
Đầu tư góp vốn dài hạn khác 2,524,588 2,447,542
Dự phòng giảm giá góp vốn đầu tư dài hạn -155,899 -103,380
Trang 23Bảng cơ cấu tài sản của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam(Vietcombank) năm 2009 và 2010.
I Tiền mặt, vàng bạc, đá quý
Bảng giá trị tài sản bằng tiền mặt đá quý năm 2010 và 2009 của ngân hàng Vietcombank
Năm 2010(tr.đ)
Năm 2009(tr.đ) Tiền mặt bằng VND 3,238,396 2,768,590
Tiền mặt bằng ngoại tệ 1,462,824 1,328,320
Chứng từ có giá bằng ngoại tệ
II Tiền gửi tại ngân hàng nhà nước
Bảng giá trị tiền gửi của ngân hàng Vietcombank tại ngân hàng nhà nước
Năm 2010 Năm 2009 Tiền gửi không kỳ hạn bằng VND 3,058,043 7,491,646
Tiền gửi không kỳ hạn bằng USD 5,181,808 17,683,028
Tiền gửi tại NHNN bao gồm quỹ dự trữ bắt buộc (“DTBB”) và tài khoản tiền gửi thanhtoán Theo quy định của NHNN về DTBB, các ngân hàng được phép duy trì một số dư thả nổi tạitài khoản DTBB Số dư bình quân tiền gửi thanh toán của Ngân hàng tại NHNN không thấp hơn
số tiền phải DTBB trong tháng Số tiền DTBB trong tháng được tính bằng số dư tiền gửi huyđộng bình quân của từng loại tiền gửi phải DTBB trong tháng trước nhân với tỷ lệ DTBB tươngứng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc thực tế tại thời điểm cuối năm 2010 đối với tiền gửi VND có thời hạndưới 12 tháng là 3%; tiền gửi VND có thời hạn từ 12 tháng trở lên là 1%; đối với tiền gửi ngoại