Là một nước có nền kinh tế mới nổi, nhu cầu đầu tư sản xuất ở Việt Nam hiện nay ngày càng cao và số doanh nghiệp đã có sự gia tăng vượt bậc, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N). Cũng như các quốc gia đang phát triển khác, lực lượng DNV&N Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế thị trường, góp phần đắc lực thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên vấn đề về vốn luôn là một trong những trở ngại lớn đối với các DNV&N, khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này còn nhiều khó khăn. Hiện nay, phần lớn NHTM đã xác định bộ phận DNV&N là nhóm khách hàng mục tiêu, trong đó có ngân hàng phát triển nhà thành phố Hồ Chí Minh – HDBank phòng giao dịch Nam Đô Hà Nội. Trong năm vừa qua, hoạt động cho vay DNV&N của PGD HDBank Nam Đô đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của địa phương cũng như của đơn vị.
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Là một nước có nền kinh tế mới nổi, nhu cầu đầu tư sản xuất ở Việt Nam hiện nayngày càng cao và số doanh nghiệp đã có sự gia tăng vượt bậc, đặc biệt là các doanhnghiệp vừa và nhỏ (DNV&N)
Cũng như các quốc gia đang phát triển khác, lực lượng DNV&N Việt Nam ngàycàng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế thị trường, góp phần đắclực thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên vấn đề về vốn luôn
là một trong những trở ngại lớn đối với các DNV&N, khiến cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp này còn nhiều khó khăn
Hiện nay, phần lớn NHTM đã xác định bộ phận DNV&N là nhóm khách hàngmục tiêu, trong đó có ngân hàng phát triển nhà thành phố Hồ Chí Minh – HDBankphòng giao dịch Nam Đô Hà Nội Trong năm vừa qua, hoạt động cho vay DNV&Ncủa PGD HDBank Nam Đô đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn chưakhai thác hết tiềm năng, thế mạnh của địa phương cũng như của đơn vị
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cho vay DNV&N của NHTM
Chương 2: Thực trạng cho vay đối với DNV&N tại PGD Nam Đô
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay DNV&N tại PGD Nam Đô
Chuyên đề “Giải pháp mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại phòng giao dịch HDBank Nam Đô” đã được lựa chọn nhằm mục đích nghiên cứu, tìm hiểu hoạt
động cho vay DNV&N tại phòng giao dịch, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị
để mở rộng hoạt động này
Trang 3Do kiến thức còn hạn chế nên chuyên đề không tránh khỏi những sai sót, em rấtmong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo để em có thể hoàn thiện bài viếtnày tốt hơn.
Trong thời gian qua, nhờ có sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo
Ths Lê Phong Châu cùng các anh chị cán bộ nhân viên ở PGD Nam Đô đã giúp emhoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ
HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ:
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Doanh nghiệp nói chung, DNV&N nói riêng là một lực lượng không thể thiếutrong nền kinh tế của tất cả các quốc gia
Ở Việt Nam theo Luật doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tênriêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của phápluật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh”
Hiện nay các nền kinh tế trên thế giới có rất nhiều loại hình doanh nghiệp hoạtđộng với nhiều lĩnh vực khác nhau, phong phú và đa dạng Nếu chúng ta căn cứ vàoquy mô hoạt động để phân loại thì doanh nghiệp được chia làm hai loại: doanhnghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đối với mỗi quốc gia việc xác định quy mô DNV&N chỉ mang tính chất tươngđối, vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của mỗi nước, tính chấtngành nghề, điều kiện phát triển hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từngthời kỳ, nhìn chung trên thế giới một doanh nghiệp được xếp vào loại DNV&N chủyếu dựa vào hai tiêu chí:
Tiêu chí định tính:
Được xây dựng dựa trên các đặc điểm cơ bản của DNV&N như trình độ vềchuyên môn hoá còn thấp, mức độ phức tạp trong quản lý ít…Nhưng trên thực tế cáctiêu chí này thường rất khó xác định, do vậy chúng chỉ dùng để tham khảo, kiểmchứng mà ít được sử dụng để xác định quy mô DNV&N
Tiêu chí định lượng:
Được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu về số lượng như: số lượng lao động, tổng giátrị tài sản, doanh thu hay lợi nhuận của doanh nghiệp, các tiêu chí định lượng có vaitrò quan trọng trong việc xác định quy mô doanh nghiệp, vào các thời kỳ khác nhaucác tiêu chí này rất khác nhau giữa các ngành nghề, mặc dù giữa chúng vẫn có nhữngyếu tố chung nhất định
Các nước trên thế giới có các tiêu chí khác nhau để xác định DNV&N, các tiêuchí thường không cố định mà thay đổi theo từng ngành nghề và trình độ phát triểncủa nền kinh tế trong từng thời kỳ
Trang 4Theo tiêu chuẩn của ngân hàng thế giới hiện nay các DNV&N phân theo quy mônhư sau:
Bảng1 : Tiêu chí xác định DNV&N của ngân hàng thế giới
Loại hình
doanh nghiệp
Số lao động ( Người)
Doanh thuhàng năm(triệu USD)
Tổng tài sản( triệuUSD)
Doanh nghiệp siêu nhỏ 1- 9 < 0,1 < 0,1
Doanh nghiệp nhỏ 10- 49 < 3,0 < 3,0
Doanh nghiệp vừa 50- 300 < 15,0 < 15,0
“Nguồn: http:// World bank Org”
Đây là cách phân loại chung đáng tin cậy được ngân hàng thế giới đưa ra sau khi
đã thu thập số liệu về các DNV&N của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên
do có sự chênh lệch về tiềm năng và trình độ phát triển giữa các nền kinh tế trên thếgiới, nên cách phân loại này chỉ mang tính chất tham khảo đối với các quốc gia
Ở nước ta từ trước năm 1998 chưa có một văn bản pháp luật chính thức nào quyđịnh tiêu chí cụ thể của DNV&N, do đó mỗi tổ chức đưa ra một quan niệm vềDNV&N, nhằm định hướng mục tiêu phát triển và chính sách hỗ trợ của tổ chứcmình
Tổ chức UNDIO (Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc tại ViệtNam) đưa ra tiêu thức xác định doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 laođộng, tổng vốn và doanh thu dưới 1 tỷ đồng, doanh nghiệp vừa là các doanh nghiệp
có số lao động từ 50 đến 200 người, có tổng vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến dưới 5 tỷđồng
Thời kỳ 1998 - 2001 tại công văn số 681/CV- CP ngày 20/06/1998 của Thủ tướngChính Phủ, quy định tạm thời về tiêu chí xác định DNV&N như sau: các doanhnghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ và có số lao động bình quân dưới 200 người đượcxếp vào loại DNV&N
Từ năm 2001 đến nay để khuyến khích và tạo thuận lợi cho các DNV&N pháttriển, ngày 23/11/2001 Chính Phủ đã có Nghị định số 90/NĐ-CP của Chính phủ vềtrợ giúp phát triển DNV&N: theo đó “DNV&N là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độclập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10
tỷ đồng hoặc có số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người”
Theo Nghị định này tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất thuộc mọithành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh, thoả mãn một trong hai tiêu chí về vốnhoặc lao động đều được coi là DNV&N
Các tiêu chí này tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam,nhưng vẫn chưa được cụ thể và sát thực tế, như chỉ tiêu về vốn đăng ký ban đầu khiđăng ký kinh doanh thường khác xa so với vốn thực tế đưa vào kinh doanh vì hàngnăm doanh nghiệp thường bổ xung thêm vốn nhưng rất ít doanh nghiệp đăng ký bổxung tại cơ quan đăng ký kinh doanh Còn chỉ tiêu lao động bình quân cũng chưa có
sự thống nhất, là số lao động thường xuyên, lao động thời vụ hay lao động có đóngbảo hiểm xã hội
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Trang 5DNV&N chiếm đại đa số trong tổng số doanh nghiệp tại các quốc gia, có tốc độgia tăng cao và đóng góp lớn vào việc thực hiện các chính sách về kinh tế-xã hội.Hoạt động của DNV&N luôn gắn liền với thể chế chính sách và trình độ phát triểncủa quốc gia đó Nhìn chung, các DNV&N ở Việt Nam cũng mang những đặc điểmtương đồng với DNV&N ở các nước đang phát triển Những đặc điểm đó là:
DNV&N năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường Đây là một trong những đặc điểm ưu việt của DNV&N DNV&N chủ yếu hoạtđộng trong các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội Với mặthàng phong phú đa dạng, thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp lớn đã giúp cho các DNV&N dễ dàng chiếm được thịtrường DNV&N luôn phải hướng đến thị hiếu của người tiêu dùng, vì vậy có thể nóiđây là lực lượng phản ánh tín hiệu của thị trường chính xác nhất Mặt khác, với sốvốn ít, vòng quay vốn của các DNV&N thường là ngắn, các phương án sản xuất kinhdoanh không lâu dài như các doanh nghiệp lớn Với lợi thế đó, DNV&N dễ dàng thayđổi quy mô, thay đổi sản phẩm khi có sự thay đổi của thị trường So với các doanhnghiệp lớn, DNV&N không gặp nhiều tổn thất khi thị trường biến động, có thể nóiDNV&N là những “thanh giảm xóc” đắc lực cho nền kinh tế
Các DNV&N hiện nay đã chú trọng đổi mới công nghệ nhưng còn tương đối lạchậu, không đồng bộ và trình độ quản lý còn yếu kém
Công nghệ tốt giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, sản xuất ra được cácsản phẩm với mức chất lượng phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng vàgiảm bớt chi phí sản xuất, nhờ đó tăng năng lực cạnh tranh Ngược lại, công nghệ lạchậu và chậm đổi mới làm hạn chế khả năng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, hạn chếnăng suất và sản lượng, chất lượng sản phẩm, làm tăng chi phí sản xuất, thậm chí ảnhhưởng tiêu cực đến môi trường, đồng thời làm hạn chế năng lực cạnh tranh của DN.Đây không chỉ là hạn chế của các DNV&N Việt Nam, mà còn là tình trạng chungtại các nước đang phát triển Bản thân doanh nghiệp và Nhà nước đã nhận thức đượctầm quan trọng của việc cải tiến và đổi mới công nghệ, tuy nhiên chưa đạt hiệu quảcao Trong những năm gần đây, các DNV&N của Việt Nam đã tiến hành nhập ngoạinhiều công nghệ hiện đại, nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc mua vàchuyển giao công nghệ, nên hầu như các máy móc thiết bị không sử dụng được hoặc
sử dụng không đúng năng suất Thậm chí một số chủ doanh nghiệp do không có kinhnghiệm nên trở thành nạn nhân của những thương vụ chuyển giao công nghệ, gâythiệt hài nặng nề cho bản thân doanh nghiệp
Mặt khác, do chi phí nhập ngoại công nghệ tương đối lớn so với quy mô vốn nêncác DNV&N thường không đủ khả năng để đổi mới một cách đồng bộ NhiềuDNV&N đã chọn phương án mỗi kì mua một ít, rồi sau đó mới cải tiến dần dần Điềunày đã gây ra việc dây chuyền sản xuất không thể khai thác hết công suất, sản phẩmsản xuất ra không đảm bảo chất lượng, không có sức cạnh tranh trên thị trường… Trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý doanh nghiệp là một trong nhữngnguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên Nhiều chủ doanh nghiệp không nhận thứcđược tầm quan trọng của công cuộc đổi mới công nghệ, hoặc nhận thức được nhưngkhông đủ nỗ lực và nhạy bén để thực hiện Qua khảo sát, phần lớn chủ các DNV&Nkhông được qua các trường lớp đào tạo chính quy, điều này phần nào hạn chế tầmnhìn chiến lược phát triển lâu dài cho doanh nghiệp Trình độ và năng lực của đội ngũ
Trang 6quản lý DNV&N hiện đang là một vấn đề được các nước rất quan tâm và chú trọngcải thiện.
DNV&N góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề lao động và việc làm, nhưng phầnlớn đội ngũ lao động còn yếu kém
Khác với các doanh nghiệp và các tập đoàn kinh tế lớn, đội ngũ lao động củaDNV&N có trình độ khá đa dạng Từ lao động thủ công, lao động có tay nghề đếnlao động có trình độ cao đều có cơ hội làm việc tại các DNV&N, trong đó phần lớn làlao động với trình độ thấp Chính vì vậy việc quản lý và sử dụng lao động tại cácdoanh nghiệp này thường không hiệu quả
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc chất lượng lao động tại các DNV&N còn thấp
là do đặc thù ngành nghề của DN Như đã nói ở trên, các DNV&N chủ yếu cung cấpcác mặt hàng và dịch vụ thiết yếu cho xã hội, trong đó chủ yếu là các sản phầm tiêudùng và các sản phẩm truyền thống
Ngoài các ngành mới nổi như điện tử, viễn thông…thì các DNV&N chủ yếu hoạtđộng trọng các ngành nghề quen thuộc như dệt may, thủy sản, chế biến lương thựcthực phẩm…Trong khâu sản xuất của những ngành này thường không yêu cầu cao vềtrình độ lao động, chủ yếu sử dụng lao động tay chân hoặc lao động truyền thống,không qua đào tạo chính quy Ngoài ra DNV&N chủ yếu được hình thành từ hộ kinhdoanh cá thể, Hợp tác xã, hoặc một nhóm người có quan hệ gia đình, bạn bè lập nên,
do đó tính chọn lọc không cao Với đội ngũ lao động không qua trường lớp, hoạtđộng của các DNV&N càng trở nên trì trệ và lỗi thời so với các doanh nghiệp lớn.Bên cạnh đó, khả năng thu hút lao động có trình độ cao cũng là một nguyên nhânchính dẫn đến việc chất lượng lao động DNV&N còn yếu Với quy mô vốn nhỏ vàtrình độ quản lý hạn chế của chủ DN, các DNV&N thường không tạo ra được môitrường làm việc hấp dẫn đối với đội ngũ lao động chuyên nghiệp Những DN, tậpđoàn kinh tế lớn mạnh với môi trường làm việc giàu kinh nghiệm và đem lại nhiềugiá trị gia tăng mới là điểm đến hàng đầu của lao động trình độ cao Tình trạng trêncũng là biểu hiện tất yếu của quá trình phân công lao động xã hội
Mặt khác, bản thân các DNV&N cũng chưa biết cách khai thác nguồn lực sẵn có
Do bộ máy quản lý thiếu kinh nghiệm nên vấn đề tổ chức hoạt động còn yếu kém,phân công nghĩa vụ và xác định quyền lợi cho nhân viên chưa rõ ràng, chưa tạo rađược môi trường cạnh tranh thúc đẩy nhân viên phát huy năng lực Vì vậy môi trườnglàm việc của các DNV&N thường trì trệ, duy ý chí, sử dụng lao động không hiệu quả,gây lãng phí nguồn lực sẵn có và không thu hút được các lao động mới có trình độcao
DNV&N có quy mô vốn nhỏ, năng lực tài chính thấp nên khả năng cạnh tranh cònyếu
Quy mô vốn là tiêu chí chủ yếu để phân biệt DNV&N với doanh nghiệp lớn Đâycũng chính là nguyên nhân dẫn đến các đặc điểm chính của DNV&N Có thể nói, vìthiếu vốn nên doanh nghiệp gặp khó khăn trong đổi mới công nghệ, đào tạo đội ngũquản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Việt Nam đang trên lộ trình thực hiện các cam kết với tổ chức thương mại thế giớiWTO, hàng rào thuế quan từng bước được dỡ bỏ đồng nghĩa với việc hàng hóa củaViệt Nam bình đẳng với hàng hóa của các nước khác trên thị trường thế giới Nóicách khác, các doanh nghiệp Việt Nam không còn được bảo hộ thương mại như trước
Trang 7đây, đặc biệt là DNV&N Các DNV&N Việt Nam với quy mô vốn thấp và còn nhiềuhạn chế về công nghệ, lao động, trình độ của đội ngũ quản lý…nên phải đứng trướcrất nhiều khó khăn
Vấn đề đặt ra đối với các DNV&N lúc này là phải mở rộng quy mô vốn nhằm đápứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh và mở rộng tái sản xuất Mặt khác,DNV&N hầu như không đáp ứng đủ yêu cầu để tham gia vào thị trường chứngkhoán, nên không thể trực tiếp huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh Vì vậyDNV&N chủ yếu huy động vốn từ gia đình, bạn bè, và một số là từ vay các cá nhânkhác với lãi suất cao Vì vậy DNV&N rất khó mở rộng quy mô vốn
Bên cạnh đó, việc tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNV&N còn gặp nhiềukhó khăn Chính tình trạng này đã khiến cho các DNV&N thiếu các dịch vụ kinhdoanh tiên tiến nhằm đáp ứng thị trường, và không theo kịp tốc độ cạnh tranh của nềnkinh tế quốc tế
1.1.3 Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế quốc dân
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNV&N có thể giữ những vai tròvới mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như: giữ vai tròquan trọng trong nền kinh tế, giữ vai trò ổn định nền kinh tế, làm cho nền kinh tếnăng động, tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng, là trụ cột củakinh tế địa phương… Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay để góp phầnthúc
Để tăng trưởng kinh tế thì yêu cầu các nước, đặc biệt là các nước đang phát triểncần có các chính sách hỗ trợ phát triển DNV&N Có như vậy mới huy động được tối
đa nguồn lực xã hội, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp lớn phát triển, nâng cao nănglực cạnh tranh trên thị trường Điều đó được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, về số lượng: các DNV&N là bộ phận kinh tế chiếm ưu thế tuyệt đối, cómặt ở hầu hết mọi thành phần kinh tế với đủ các loại hình kinh doanh đa dạng Ở nước
ta các DNV&N chiếm tỷ trọng trên 90% tổng số các doanh nghiệp trong nền kinh tế,con số này còn ở mức cao hơn ở một số nước phát triển như Đức, Nhật Đối với một sốnước Châu Á như Singapo, Malaixia, Hàn Quốc… các DNV&N chiếm từ 81- 98%tổng số doanh nghiệp (Nguồn: Thông tin DNV&N - www.smenet.com.vn) Như vậy,mới chỉ nhìn vào những con số này chúng ta đã thấy được vai trò của các DNV&Ntrong nền kinh tế quan trọng như thế nào Các DNV&N hiện nay có tỷ lệ tăng trưởnghàng năm lên tới 22% và đóng góp hơn một nửa GDP, giải quyết việc làm cho hàngvạn lao động Nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng như hiện nay thì có thể thấy rằng tiềmnăng phát triển để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra trong giai đoạn tớiphụ thuộc nhiều vào sự phát triển của các DNV&N chứ không chỉ phụ thuộc vào cácchương trình dự án lớn
Thứ hai, DNV&N đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút lao động, tạo công
ăn việc làm với chi phí đầu tư thấp, giảm thất nghiệp góp phần ổn định và phát triển
xã hội
Ở nước ta theo ước tính hàng năm các DNV&N thu hút khoảng 7,8 triệu lao độngtương đương với 26% lao động của cả nước; trong đó số lao động được thu hút vàocác ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (35,7%), sau đó đến các ngànhthương mại - dịch vụ (19,5%), xây dựng (15,6%)… Con số này cho thấy vai trò của
Trang 8DNV&N lớn hơn rất nhiều so với DNNN trong việc thu hút lao động, tạo công ănviệc làm góp phần giải quyết tốt sức ép thất nghiệp đang ngày càng gia tăng.
Thứ ba, Nhờ việc thu hút hàng triệu lao động mỗi năm các DNV&N đã tạo ranguồn thu nhập ổn định thường xuyên cho dân cư, góp phần quan trọng trong việc tạolập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ
Phần lớn các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn thường chỉ tập trung đáp ứngnhu cầu của một nhóm khách hàng nhất định có mức thu nhập cao ở các vùng đô thị,nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, dân cư đông đúc, thị trường tiêu thụ rộng Vì thế họ đã
bỏ qua đoạn thị trường rất quan trọng đó là bộ phận khách hàng có mức thu nhập thấphơn nhưng lại chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế Đây là đoạn thị trường có tiềmnăng rất lớn để cho các DNV&N xâm nhập, tạo chỗ đứng cho riêng mình nhưng đồngthời nó cũng giúp cân đối được khả năng cung cầu trong xã hội, đáp ứng được cho nhucầu phần lớn cho bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp, nâng cao mức sống cho họ.Hơn nữa các doanh nghiệp lớn không đáp ứng được tất cả các yêu cầu của nền kinh tếnhư lưu thông hàng hoá, phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp…Trong khi đó các DNV&N với quy mô nhỏ; cấu tổ chức đơn giản, linh hoạt; mặt khácvốn của hầu hết các doanh nghiệp này là do những chủ thể kinh doanh tự nguyện bỏ ra,hoặc do các cổ đông đóng góp hoặc do liên doanh liên kết… vì thế họ có quyền tự chủtrong sản xuất kinh doanh, có quyền quyết định ngành nghề kinh doanh phù hợp vớikhả năng, trình độ cũng như nhu cầu thị trường Đây là những điều kiện quan trọnggiúp các DNV&N từng bước khai thác những tiềm năng của các vùng miền mà cácdoanh nghiệp lớn không thể tiếp cận được; góp phần làm giảm bớt chênh lệch về thunhập giữa các bộ phận dân cư, tạo ra sự phát triển tương đối đồng đều giữa các vùngcủa đất nước, cải thiện mối quan hệ kinh tế giữa các khu vực khác nhau
Thứ tư, DNV&N có vai trò quan trọng trong việc khai thác nguồn tài chính của dân
cư trong vùng và sử dụng tối ưu nguồn lực tại chỗ của các địa phương Để thành lậpdoanh nghiệp thuộc loại này thì chỉ cần một số vốn nhỏ do đó đã tạo điều kiện cho dân
cư tham gia đầu tư góp vốn Như vậy thông qua DNV&N những nguồn vốn nhỏ, tạmthời nhàn rỗi đã có khả năng được sinh lời Hơn nữa việc tiếp cận nguồn vốn tín dụngNgân hàng của DNV&N rất hạn chế, nguồn vốn hoạt động chủ yếu được huy động từnhững nguồn thân quen Vì thế DNV&N được tiếp xúc với người cho vay, người chovay có khi là chủ sở hữu doanh nghiệp, trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệpnên việc sử dụng vốn sẽ hiệu quả hơn Bên cạnh đó các DNV&N có thể tận dụng đượcnguồn lao động và nguyên liệu với giá rẻ, do đó làm giảm chi phí sản xuất, hạ giáthành sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sảnphẩm Như vậy, sự phát triển của các DNV&N đã tận dụng được tối đa các nguồn lựccủa xã hội, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động có trình độ tay nghề thấp, gópphần làm ổn định và phát triển xã hội
Thứ năm, DNV&N có mặt trong rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau và tồntại như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế Nó có tác dụng hỗ trợ, bổ sung,thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển DNV&N là một bộ phận hữu cơ gắn bóchặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, là cơ sở để hình thành nên các tập đoàn kinh tếlớn trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường Ngoài ra, các DNV&N cũng làđầu mối cung cấp đầu vào hay tham gia vào một khâu nào đó trong quá trình sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp lớn Chính điều này đã làm tăng khả năng hoạt
Trang 9động cho các doanh nghiệp trên thị trường, tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các loạihình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế góp phần nâng cao năng lực cạnh tranhcho các doanh nghiệp.
Thứ sáu, DNV&N góp phần hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanhnăng động, sáng tạo Cùng với việc phát triển các DNV&N là sự xuất hiện của nhiềunhà kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, đây là lực lượng rất cần thiết góp phần thúc đẩysản xuất kinh doanh ở nước ta phát triển Đội ngũ các nhà kinh doanh hiện nay ở ViệtNam còn rất khiêm tốn cả về số lượng và chất lượng do chế độ cũ để lại Trong nhiềunăm đổi mới đã xuất hiện nhiều gương mặt trẻ điển hình, năng động và sáng tạotrong quá trình điều hành, quản lý DNV&N Với chính sách hỗ trợ các DNV&N sẽtạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ các nhà kinh doanh trẻ phát huy năng lực củamình đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội
Thứ bảy, sự phát triển của các DNV&N tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sảnxuất kinh doanh phát triển có hiệu quả hơn Sự tham gia của rất nhiều các DNV&Nvào quá trình sản xuất kinh doanh làm cho số lượng và chủng loại sản phẩm tăng lênrất nhanh Kết quả làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo ra sức ép lớn buộc cácdoanh nghiệp thường xuyên đổi mới mặt hàng, giảm chi phí, tăng chất lượng để thíchứng với môi trường cạnh tranh Những yếu tố đó tác động lớn làm cho nền kinh tếphát triển năng động và hiệu quả hơn
Với vai trò to lớn của các DNV&N trong nền kinh tế quốc dân thì việc khuyếnkhích, hỗ trợ các doanh nghiệp này là một giải pháp quan trọng để thực hiện chiếnlược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010, đặc biệt là thực hiện chương trình côngnghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Đây cũng là một trong các giảipháp đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta Vì vậy, Chính phủcần đưa ra các chính sách phát triển hợp lý tạo điều kiện tốt nhất để các DNV&Nphát huy được tối đa vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế đất nước
1.2 Hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM 1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM
Hoạt động cho vay là cơ bản và quan trọng nhất trong các hoạt động của nghiệp
vụ tín dụng, là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn cho mỗi ngân hàng Cho vay có thểhiểu đơn giản là ngân hàng cấp một khoản tiền nhất định cho khách hàng sử dụngtrong một thời gian xác định với cam kết sẽ hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn Hay
có thể nói cách khác khi cho vay nghĩa là ngân hàng đã chuyển quyền sử dụng khoảntiền đó cho khách hàng Đây là chức năng chính của ngân hàng để tài trợ cho chi tiêucủa các doanh nghiệp,cá nhân và các cơ quan chính phủ Đối với hầu hết khách hàng,
cả doanh nghiệp lẫn cá nhân , vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn
có rẻ nhất và linh hoạt nhất Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngânhàng thường là nguồn duy nhất cung cấp dịch vụ tư vấn và nguồn vốn bổ sung Chovay là chức năng kinh tế lâu đời nhất của ngân hàng, là hoạt động mang lại lợi nhuậncho ngân hàng song cũng mang lại nhiều rủi ro nhất
Như vậy, hoạt động cho vay đối với DNV&N của NHTM là việc NHTM cấp mộtkhoản tín dụng cho DNV&N trong một thời hạn nhất định với hạn mức nhất định.Nhìn chung cách thức cho vay đối với DNV&N cũng tương tự như với các khách
Trang 10hàng doanh nghiệp khác, tuỳ thuộc vào thời hạn và hạn mức doanh nghiệp xin vay đểđưa ra hình thức và quy trình hợp lí.
1.2.2 Phân loại cho vay
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại cho vay sao cho phù hợp với phươngthức quản lí của NHTM Thông thường có những cách phân loại như sau:
Sơ đồ 1.1: Phân loại hoạt động cho vay của NHTM
(Nguồn: Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê, 2006)
Trong các cách phân loại nêu trên, phân loại theo đối tượng khách hàng tương đốiphổ biến tại các NHTM Đặc biệt hiện nay, với sự gia tăng số lượng và nhu cầu vayvốn của bộ phận DNV&N, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp, đặc biệt làDNV&N ngày càng được các NHTM đẩy mạnh và xác định là đối tượng khách hàngtiềm năng
chấp, bảo lãnh của bên thứ 3…
Theo phương pháp cấp tiền vay: Cho vay từng lần, theo
hạn mức, luân chuyển, thấu chi…
Theo cách thức trả nợ: Trả một lần cả gốc lẫn lãi, trả lãi
và gốc đều nhiều lần trong kỳ, trả lãi đều, gốc theo thời hạn
Theo tính chất lãi suất: Cho vay lãi suất cố định, lãi suất
khả biến, lãi suất linh hoạt…
Theo loại tiền vay: Cho vay bằng nội tệ, ngoại tệ, vàng… Theo mục đích sử dụng: Cho vay tiêu dùng, cho vay
kinh doanh…
Theo số bên tham gia: Cho vay trực tiếp, cho vay gián
tiếp thông qua tổ nhóm, thông qua nhà cung ứng…
Trang 11Theo đó, đối với khách hàng là DNV&N, các ngân hàng hiện nay thường áp dụngcác phương thức cho vay sau:
Cho vay thấu chi: cho vay thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho
phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giớihạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mứcthấu chi
Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thờigian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng) Trong quá trình hoạt động,khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt số dư tiền gửi để chi trả(song trong hạn mức thấu chi) Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi,ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi Số lãi mà khách hàng phải trả là:
Số lãi phải trả= Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi.
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụnghình thức này Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp vềthời gian và quy mô Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoánngân quỹ song không chính xác Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuậnlợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán, chủ động, kịp thời
Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn làkhông có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng,vài tháng trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… Hìnhthức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đềuđặn và kỳ thu nhập ngắn
Cho vay trực tiếp từng lần: cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương
đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thườngxuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi Một số khách hàng sửdụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ,hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ thamgia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh
Mỗi lần vay, khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốnvay Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác định quy môcho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần Mỗimón vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trong quá trìnhkhách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng,nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển
nợ quá hạn Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản Ngân hàng có thể kiểm soát từngmón vay tách biệt Tiền cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo
Cho vay theo hạn mức: đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận
cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặccuối kỳ Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính
Trang 12Mỗi lần vay, khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp cácchứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khi kiểm tratính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng.Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thườngxuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Trongnghiệp vụ này, ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ Khách hàng có thu nhập,ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng Tuynhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khókiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khikhách hàng nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
Cho vay luân chuyển: cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân
chuyển của hàng hoá Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn Ngân hàng có thểcho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc đầuquý, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển Ngân hàng và khách hàng thoảthuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá
và khả năng tiêu thụ Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1năm hoặc vàinăm Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn ngân hàng xem xét lại mốiquan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính của khách hàng.Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá nên cả ngân hàng và doanh nghiệpđều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trongthời gian tới
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn nhập hàng
và số tiền cần vay Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán Theo hình thức này,giá trị hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đốitượng được ngân hàng cho vay; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho ngânhàng Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượngquan hệ nợ nần của người vay Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho trởthành vật đảm bảo cho khoản cho vay Cho vay luân chuyển thường được áp dụngđối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêuthụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho khách hàng Thủ tục cho vay chỉ cần thựchiện 1 lần cho nhiều lần vay Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời , vì vậyviệc thanh toán cho người cung ứng sẽ nhanh gọn
Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ thì ngân hàng sẽ gặp khó khăntrong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng
Cho vay trả góp: cho vay trả góp là hình thức cho vay, theo đó ngân hàng cho
phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã theo thoả thuận.Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợcho tài sản cố định và tài sản lâu bền Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phùhợp với khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế cuả dự án, hoặc
từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng)
Trang 13Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mứcnhất định Ngân hàng sẽ thanh toán cho ngưòi bán lẻ về số hàng hoá mà khách hàng
đã mua trả góp Các cửa hàng bán lẻ nhận tiền ngay sau khi bán hàng từ phía ngânhàng và làm đại lý thu tiền cho ngân hàng, hoặc khách hàng trả trực tiếp cho ngânhàng Đây là hình thức cho vay tài trợ người mua (qua đó đến người bán) nhằmkhuyến khích tiêu thụ hàng hoá
Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hoá mua trảgóp Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay Nếu người vaymất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của ngân hàng cũng bị ảnhhưởng Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhấttrong khung lãi suất cho vay của ngân hàng
Cho vay gián tiếp: phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp Bên cạnh
đó ngân hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp Đây là hình thức chovay thông qua các tổ chức trung gian
Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội Nông dân,Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ…Các tổ chức này thường liên kết các thành viêntheo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗithành viên Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói giảm nghèo luôn đượccác tổ chức này rất quan tâm
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chứctrung gian, như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra bảođảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho một thànhviên vay Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủ tài sản thếchấp
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào củaquá trình sản xuất Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền saimục đích
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ,người vay phân tán, cách xa ngân hàng Trong trường hợp như vậy, cho vay qua trunggian có thể tiết kiệm chi phí cho vay
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân hàng Tuynhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế củamình, để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác choriêng mình Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giáđắt cho người vay vốn
1.2.3 Vai trò của hoạt động cho vay DNV&N
Cho vay DNV&N làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng.
DNV&N là bộ phận khách hàng lớn, chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp trong
cả nước, DNV&N trở thành một bộ phận khách hàng mang lại nguồn thu nhập tiềmnăng lớn cho NHTM Đồng thời hoạt động cho vay DNV&N giúp ngân hàng nâng
Trang 14cao hiệu quả hoạt động cho vay của mình Thông qua việc xác định được nhữngnguyên nhân chủ yếu tác động đến hiệu quả cho vay DNV&N, ngân hàng sẽ hoànthiện hơn trong công tác cho vay Từ đó giúp ngân hàng rút ra những kinh nghiệmtrong phân tích đánh giá khách hàng, trong quá trình thực hiện nghiệp vụ như đưa racác cơ cấu nợ hợp lý, đưa ra mức lãi suất và thời hạn nợ phù hợp với từng đối tượngkhách hàng… đồng thời cũng giúp các ngân hàng thu thập được nhiều thông tin hơn
về khách hàng, giúp cho việc kinh doanh có hiệu quả hơn Ngoài ra, để hoạt động chovay thực sự mang lại hiệu quả hơn nữa thì bên cạnh các sản phẩm tín dụng truyềnthống các NHTM còn phát triển các dịch vụ đi kèm Như vậy có nghĩa không những
số lượng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng gia tăng phong phú hơn mà năng lực cạnhtranh và hiệu quả hoạt động của ngân hàng còn được nâng cao hơn trên thị trường tàichính
Hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đầu tư mở rộng sản xuất theo chiều rộng và sâu là yêu cầu khách quan đối với sựphát triển của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp nói chung và các DNV&N nóiriêng nếu chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu và sự tích luỹ trong nội bộ từng doanhnghiệp thì sẽ tốn nhiều thời gian, không thể đáp ứng được nhu cần sản xuất kinhdoanh Vì vậy các doanh nghiệp đều phải tìm kiếm nguồn tài trợ khác
Trên lý thuyết có 3 phương pháp chủ yếu để tìm nguồn tài trợ cho doanh nghiệp
đó là: tăng nguồn vốn chủ sở hữu, vay có kỳ hạn và thuê (thuê mua) Sau đây sẽ phântích kĩ điểm mạnh và điểm yếu của ba phương thức tài trợ này, từ đó có thể thấy vaitrò quan trọng của ngân hàng trong hỗ trợ vốn cho DNV&N
Tăng vốn chủ sở hữu là biện pháp an toàn nhất và ít tốn kém chi phí vốn nhất bởi
có thể huy động từ các cổ đông hiện hữu, hoặc huy động trên thị trường chứngkhoán, số vốn này không gây ra chi phí vốn cho doanh nghiệp (trừ chi phí để huyđộng ban đầu) Tuy nhiên, biện pháp này thường không áp dụng được với cácDNV&N vì thực tế người chủ doanh nghiệp hoặc các cổ đông chỉ có lượng tài chínhhạn chế, họ không có khả năng bỏ ra nhiều vốn hơn số vốn họ đã đóng góp vàodoanh nghiệp Tìm kiếm vốn trên thị trường chứng khoán với các DNV&N lại càng
là điều không tưởng bởi quy mô hạn hẹp, uy tín chưa có và trình độ hạn chế Vì vậyDNV&N vốn không có nhiều lựa chọn, thường tìm đến ngân hàng, trung gian tàichính này có thể cung cấp vốn nhanh nhất (sau khi doanh nghiệp đã thoả mãn mộtđiều kiện)
Ở các nước công nghiệp phát triển, thuê mua là một biện pháp đơn giản và thuậnlợi, thay thế cho tín dụng trung và dài hạn, đặc biệt là cho các DNV&N thường gặpnhiều khó khăn khi vay vốn trung và dài hạn của ngân hàng Nó có tác dụng thay thếcác khoản vay có bảo đảm và giảm rủi ro cho các khoản tài trợ trung hạn đối với cácdoanh nghiệp nhỏ không có báo cáo hoạt đông kinh doanh và báo cáo kiểm toán.Song ở Việt Nam hiện nay, đây là hình thức tài trợ vốn mới mẻ, chưa phát triển CácDNV&N Việt Nam còn chưa quen với hình thức này, vì vậy chủ yếu họ vẫn cần đếnngân hàng để vay vốn trung và dài hạn
Trang 15Ngoài ra các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mạihay còn gọi là tín dụng người cung cấp Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiêntrong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp Tuy nhiên, cần nhận thấyrằng khi quy mô tài trợ quá lớn thì rủi ro của quan hệ tín dụng này sẽ rất lớn Mặtkhác tín dụng thương mại còn mang tính dây chuyền, nên khi một doanh nghiệpkhông có khả năng thanh toán sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của hàng loạtcác doanh nghiệp khác và tác động xấu đến kinh tế xã hội Về lý thuyết có thể thấy,tín dụng thương mại bị hạn chế bởi phương hướng, quy mô và thời hạn Về phươnghướng, tín dụng thương mại chỉ có thể thực hiện được khi có sự phù hợp về nhu cầuhàng hoá Các doanh nghiệp chỉ có thể cung cấp giới hạn trong phạm vi khả năng củamình Và cuối cùng, vốn vay là một bộ phận nằm trong chu kỳ sản xuất kinh doanhcủa người cho vay nên không thể kéo dài thời hạn
Vốn ngân hàng, ngược lại có thể giải quyết những hạn chế trên, nguồn vốn ngânhàng huy động là nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư nên có đủ khả năng tài trợ cả vốnngắn hạn và vốn trung dài hạn, đảm bảo cho doanh nghiệp không chỉ đủ duy trì sảnxuất mà còn tái sản xuất mở rộng, đồng thời không bị giới hạn bởi phương hướng vàquy mô
Thực tế cho thấy, ngay cả ở những nước công nghiệp phát triển, thì tín dụng ngânhàng đối với các doanh nghiệp vẫn quan trọng hơn nhiều so với thị trường chứngkhoán Ví dụ như ở Mỹ, vốn mà các công ty vay từ những trung gian tài chính gầngấp hai lần so với vốn nhận từ thị trường chứng khoán Những nước ít sử dụng thịtrường chứng khoán nhất là Đức và Nhật, ở hai nước này, vốn vay từ những trunggian tài chính hầu như gấp mười lần so với nhận từ thị trường chứng khoán (TheoF.S Mishkin- Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính)
Giúp các DNV&N tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng là nguyên tắc hoàn trả đủ gốc và lãi theo thờigian quy định; do đó thúc đẩy các doanh nghiệp tìm kiếm biện pháp sử dụng vốn cóhiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay vốn, đảm bảo lợi nhuận trả được nợ ngânhàng và có tích luỹ, đảm bảo tiến trình hoạt động và có điều kiện mở rộng sản xuấtkinh doanh Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho những doanh nghiệp có phương án sảnxuất kinh doanh hiệu quả Vì vậy, để được vay vốn ngân hàng, trước hết doanhnghiệp phải khẳng định được kết quả sản xuất kinh doanh của mình
Hơn nữa, tín dụng ngân hàng với quy trình kiểm tra trước, trong và sau khi chovay, đã giám sát chặt chẽ tiến độ và việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đúng mụcđích nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận cao nhất Tín dụng ngân hàng cũng góp phần buộcdoanh nghiệp làm ăn đúng đắn thông qua việc kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra qua cácbáo cáo tài chính của doanh nghiệp Đồng thời ngân hàng cũng giúp doanh nghiệptháo gỡ khó khăn, tư vấn cho doanh nghiệp hoạt đông hiệu quả hơn, đảm bảo khảnăng thu hồi vốn của mình Ngoài ra, hoạt động cho vay DNV&N còn thúc đẩy côngtác hạch toán kế toán của các doanh nghiệp phải rõ ràng minh bạch hơn thông qua cácyêu cầu của ngân hàng về các báo cáo tài chính trong hồ sơ vay vốn cũng như công
Trang 16tác kiểm tra định kì qua các báo cáo tài chính trong quá trình vay vốn của doanhnghiệp
Có thể nói: nguồn vốn tín dụng ngân hàng mang lại rất nhiều lợi ích cho cácdoanh nghiệp nói chung và các DNV&N nói riêng Nó không những đáp ứng kịp thờinhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh giúp doanh nghiệp tồn tại, phát triển
và nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường mà nó còn làm cho các doanh nghiệp cótrách nhiệm hơn với nguồn vốn vay, từ đó có ý thức sử dụng vốn một cách hiệu quả,tích cực, tiết kiệm và đúng mục đích Hoạt động cấp tín dụng cho các doanh nghiệp làhoạt động mang lại lợi ích tích cực hai chiều, một mặt thúc đẩy các doanh nghiệpphát triển, mặt khác giúp cho ngân hàng thu được nguồn lợi đáng kể từ các khoản chovay Do dó có thể nói rằng, tín dụng ngân hàng không những có vai trò tích cực đốivới các doanh nghiệp mà còn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triểncủa kinh tế quốc gia
1.3 Mở rộng cho vay đối với DNV&N của NHTM
1.3.1 Khái niệm mở rộng cho vay đối với DNV&N của NHTM
Mở rộng cho vay DNV&N của NHTM là tất cả mọi hoạt động của ngân hàngnhằm tăng số lượng và quy mô cho vay đối với DNV&N
Để thực hiện mở rộng cho vay DNV&N, NHTM phải thực hiện kết hợp nhiềuhoạt động khác nhau, được vạch ra cụ thể bằng chính sách tín dụng và phương hướng
cụ thể cho mỗi thời kì Các biện pháp đó nhằm kích thích gia tăng nhu cầu của đốitượng khách hàng là DNV&N đối với tín dụng ngân hàng, đồng thời tăng cường khảnăng cung ứng của ngân hàng đối với các doanh nghiệp đó Mở rộng cho vayDNV&N dựa trên tiêu chí số lượng, quy mô, đồng thời đặt trong mối liên hệ với thunhập từ việc mở rộng cho vay và chất lượng tín dụng, tăng trưởng dư nợ phải gắnliền nâng cao chất lượng tín dụng và phải đặt trong mối quan hệ với các chỉ tiêu kinh
tế, tài chính khác Đó là định hướng mở rộng cho vay DNV&N bền vững, hiệu quả
và an toàn nhất
1.3.2 Các chỉ tiêu đo lường mở rộng cho vay DNV&N
Dư nợ cho vay và doanh số cho vay
Cho vay thường được định lượng theo hai chỉ tiêu: doanh số cho vay trong kỳ và dư
nợ cuối kỳ
Dư nợ kỳ trước + Doanh số cho vay trong kỳ - Doanh số thu nợ trong kỳ = Dư nợ
kỳ này
Dư nợ cho vay là số tiền mà ngân hàng hiện đang cho vay tính đến một thời điểm
cụ thể Đây là chỉ tiêu tích lũy qua các thời kỳ, ngân hàng tính lãi cho vay dựa trên dư
nợ cho vay đến thời điểm tính lãi, tức là lợi nhuận của ngân hàng có được từ hoạt động cho vay trong kỳ phụ thuộc vào dư nợ chứ không phải là doanh số cho vay trong kì đó Vì vậy số dư nợ càng lớn và dư nợ kỳ sau tăng hơn so với kỳ trước là chỉ tiêu đúng nhất phản ánh mức độ mở rộng cho vay càng cao
Trang 17Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay thực tế trong kỳ.
Doanh số thu nợ trong kỳ là tổng các khoản thu nợ phát sinh trong kỳ Nếu doanh
số cho vay trong kỳ này tăng lên so với kỳ trước và lớn hơn doanh số thu nợ trong kỳ thì ta có được sự mở rộng cho vay cả dư nợ và doanh số
Nếu doanh số cho vay trong kỳ này không tăng thậm chí còn nhỏ hơn doanh số cho vay trong kỳ trước, nhưng trong kỳ này doanh số thu nợ giảm do có nhiều món
nợ không thu hồi được hoặc chưa đến hạn thu hồi nợ, thì kết quả là dư nợ kỳ này vẫn
có thể lớn hơn dư nợ kỳ trước Nghĩa là trong khi doanh số cho vay trong kỳ giảm thì
dư nợ cho vay kỳ này vẫn tăng so với kỳ trước, trường hợp này vẫn là mở rộng cho vay
Một chỉ tiêu không thể bao quát được toàn bộ, vì thế cần xem xét kết hợp nhiều chỉ tiêu nhằm bổ sung cho chỉ tiêu dư nợ để đánh giá được đúng nhất việc mở rộng cho vay của ngân hàng
Số lượng khách hàng
Dư nợ kỳ này tăng lên so với kỳ trước là do: Số lượng khách hàng kỳ này cao hơn
số lượng khách hàng kỳ trước hoặc dư nợ của từng khách hàng tăng lên
Số lượng khách hàng là chỉ tiêu đánh giá mở rộng cho vay về qui mô, số lượngkhách hàng càng nhiều nghĩa là ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn của nhiềungười hơn; Dư nợ từng khách hàng vay tăng lên nghĩa là số lượng khách hàng cónhững món vay giá trị lớn ngày càng nhiều
Nếu số lượng khách hàng và dư nợ từng khách hàng cùng tăng, dư nợ tăng thì ta
có được sự mở rộng cho vay cả về số lượng khách và số tiền của mỗi món vay
Tốc độ tăng trưởng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ mở rộng cho vay nhanh hay chậm
Nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ < 0: Dư nợ kỳ sau < Dư nợ kỳ trước ngân hàng đã thu hẹp cho vay
Nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ > 0: Dư nợ kỳ sau > Dư nợ kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kỳ sau lớn hơn tốc độ tăng trưởng kỳ trước phản ánh việc mở rộng cho vay ngày càng nhanh
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn: Toàn bộ số dư nợ cả gốc và lãi của khách hàng vay vốn đã đến hạn thanh toán với ngân hàng nhưng các khách hàng này không thanh toán được mà vẫn chưa được ngân hàng xử lý cho điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ, xóa nợ sẽ bị chuyển thành nợ quá hạn
Trang 18Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng Nợ quá hạn là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động của ngân hàng, song nếu một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao
sẽ gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh vì nguy cơ mất khả năng thanh toán, do vậy ngân hàng nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là chất lượng tín dụng thấp Hoạt động cho vay của ngân hàng phải đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả (Tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng được coi là bình thường nếu nằm trong phạm vi từ 1 – 3% hoặc cao hơn một chút)
Lợi nhuận
Mở rộng cho vay không phải là chỉ cần gia tăng dư nợ, gia tăng số lượng kháchhàng vay vốn Mà quan trọng là phải đảm bảo khoản cho vay mang lại lợi nhuận chongân hàng Thu nhập từ hoạt động cho vay DNV&N chủ yếu là thu lãi cho vay saukhi đã trừ đi chi phí về vốn và các chi phí khác cho hoạt động cho vay đối vớiDNV&N Tăng trưởng thu nhập từ hoạt động tín dụng DNV&N là thu nhập từ hoạtđộng tín dụng đối với DNV&N năm sau cao hơn năm trước
TN1 - TN0
Tăng trưởng thu nhập từ cho vay DNV&N = x 100%
TN0
Trong đó : TN1: là thu nhập từ cho vay DNV&N kỳ này
TN0: là thu nhập từ cho vay DNV&N kỳ trước
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hoạt động cho vay của NHTM đối với các DNV&N là mối quan hệ tín dụng giữangân hàng với doanh nghiệp, trước hết phụ thuộc vào thiện chí của ngân hàng và sự
nỗ lực của doanh nghiệp Tuy nhiên ngân hàng và doanh nghiệp đều là các thành viêncủa nền kinh tế, được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, do đó mọiquan hệ đều chịu sự điều chỉnh của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Vì vậy cónhiều nhân tố khác nhau tác động tới hoạt động cho vay của NHTM đối vớiDNV&N, bao gồm các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng và các nhân tố kháchquan khác
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Chính sách tín dụng của ngân hàng đối với DNV&N
Chính sách tín dụng của NHTM là hệ thống các chủ trương, định hướng, quy địnhchi phối hoạt động tín dụng do ngân hàng đưa ra nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn
để tài trợ cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân, từ đó đạt được những mụctiêu mà ngân hàng đã hoạch định Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợcủa ngân hàng, cung cấp cho nhà quản lý ngân hàng cũng như các cán bộ tín dụngđường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay và xây dựng danh mục chovay, tạo nên sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Chính sáchtín dụng bao gồm các chính sách về quy mô và giới hạn tín dụng, chính sách lãi suất
và phí suất tín dụng, chính sách về thời hạn nợ, và chính sách về tài sản đảm bảo…Trước mỗi kì kinh doanh, các NHTM thường đưa ra phương hướng đối với mọihoạt động, trong đó có hoạt động tín dụng, xác định rõ chỉ tiêu đối với từng đối tượng
Trang 19khách hàng, như khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân… Nếu ngân hàng xácđịnh mở rộng cho vay với đối tượng DNV&N thì các chính sách thuộc chính sách tíndụng đối với DNV&N cũng linh hoạt hơn, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của đốitượng khách hàng này Ngược lại, nếu chính sách tín dụng xác định một nhóm kháchhàng mục tiêu khác, thì sẽ không theo đuổi mở rộng cho vay đối với DNV&N, doanh
số và dư nợ cho vay đối với DNV&N từ đó cũng giảm đi.Vậy nhân tố tiên quyết vàquan trọng nhất tác động đến hoạt động cho vay đối với DNV&N là phương hướng,thiện chí cho vay của NHTM
1.4.1.2 Khả năng thu thập, xử lí và phân loại thông tin về các vấn đề liên quan tới DNV&N.
Cũng như mọi ngành nghề kinh doanh khác, ngân hàng phải tích cực nghiên cứunhu cầu của khách hàng dựa trên các thông tin thu thập được Đó là các thông tin vềbản thân khách hàng, về ngành nghề kinh doanh, thị trường và sự ảnh hưởng của cácyếu tố vĩ mô Bằng nhiều nguồn khác nhau như các phương tiện truyền thông, các cơquan chức năng và nhiều mối quan hệ xung quanh ngân hàng và doanh nghiệp màngân hàng thực hiện thu thập, xử lí, phân loại những thông tin đó Kết quả thu đượcsau quá trình này sẽ cho ngân hàng biết được năng lực của doanh nghiệp, khả năngthành công của dự án và những khó khăn, lợi thế mà doanh nghiệp gặp phải Từ đóngân hàng mới xây dựng được các dịch vụ phù hợp với nhu cầu đa dạng của doanhnghiệp
Công tác thông tin vô cùng quan trọng đối với hoạt động tín dụng của các NHTMhiện nay Sự thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch về khách hàng là một trong nhữnghạn chế mà một số ngân hàng thường gặp phải Điều đó dẫn đến việc ngân hàng đãbắt tín hiệu về thị trường không chính xác, khiến cho các dịch vụ đưa ra thiếu thực tế
và không thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng, kìm hãm việc mở rộng cho vay củaNHTM
1.4.1.3 Quy trình và thủ tục cho vay của ngân hàng đối với DNV&N
Quy trình tín dụng là toàn bộ quá trình từ lúc khách hàng lập hồ sơ vay vốn đếnlúc hoàn thành công tác thu hồi và xử lí nợ Quy trình tín dụng của các NHTMthường được xây dựng chặt chẽ gồm nhiều bước khác nhau với quy định rõ ràng vềthủ tục, giấy tờ cần thiết Mục đích của quy trình tín dụng là tạo ra tính nhất quán chohoạt động tín dụng, phòng ngừa rủi ro tín dụng Quy trình tín dụng của NHTM cầngọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo an toàn và tạo ra cơ sở chắc chắn để lựa chọn nhữngphương án đầu tư hiệu quả
Tâm lí của KH là ưa thích những ngân hàng có quy trình, thủ tục vay vốn đơngiản và linh hoạt, vừa đẩy nhanh quá trình hợp tác vừa kịp thời đáp ứng nhu cầu củakhách hàng Vì vậy quy trình tín dụng nhanh gọn, thủ tục đơn giản là một trongnhững yếu tố thu hút các khách hàng có nhu cầu vốn thường xuyên, nhằm tiết kiệmthời gian và chi phí cho cả ngân hàng lẫn khách hàng, thuận lợi cho việc mở rộnghoạt động cho vay của NHTM
Tuy nhiên, quy trình tín dụng lỏng lẻo và không tuân thủ các nguyên tắc phòngngừa rủi ro sẽ gây mất an toàn cho hoạt động tín dụng Trước hết, các thủ tục phứctạp không cần thiết sẽ làm giảm tính chuyên nghiệp của ngân hàng và làm cho sự ưathích của khách hàng đối với các dịch vụ của ngân hàng ngày càng giảm, hạn chế
Trang 20việc mở rộng cho vay Bên cạnh đó, quy trình tín dụng sơ sài là kẽ hở để các doanhnghiệp lách luật và các cán bộ suy thoái đạo đức nghề nghiệp lợi dụng để làm trái vớiquy định, ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng của ngân hàng Vì vậy xây dựng quytrình và thủ tục tín dụng cần gọn nhẹ nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc phòng ngừarủi ro tín dụng.
1.4.1.4 Năng lực thẩm định tín dụng của đội ngũ cán bộ ngân hàng
Các doanh nghiệp khi vay vốn trước hết phải lập hồ sơ gửi đến ngân hàng, baogồm các giấy tờ thể hiện năng lực của doanh nghiệp, các giấy tờ liên quan đếnTSĐB, lập dự án đầu tư và một số giấy tờ khác Khi đó cán bộ tín dụng sẽ kiểm tratính hợp lệ hợp pháp của các loại giấy tờ, xem xét khả năng tài chính của doanhnghiệp và tính khả thi của dự án Việc này đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có trình độ về
kế toán, kiểm toán, nắm chắc các quy định của pháp luật và quy chế cho vay của ngânhàng Bên cạnh đó cán bộ tín dụng phải có khả năng xử lý tổng hợp thông tin về cácvấn đề kinh tế xã hội có liên quan tới lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, như nhucầu của thị trường, khả năng xâm nhập thị trường, khả năng cung ứng nguyên vật liệucho dự án Nếu cán bộ ngân hàng có hiểu biết rộng các lĩnh vực kinh tế xã hội vàđáp ứng các yêu cầu về chuyên môn thì mới đưa ra được đánh giá chính xác nhấtnăng lực tài chính của doanh nghiệp, đưa ra hạn mức tín dụng đáp ứng được nhu cầu
về vốn vay của doanh nghiệp và phù hợp với khuôn khổ cho vay của ngân hàng Điềunày không chỉ hữu ích đối với doanh nghiệp mà còn giúp ngân hàng tăng thêm mốiquan hệ với đối tượng khách hàng tiềm năng là DNV&N, hạn chế rủi ro đối vớikhoản vay Ngược lại, nếu cán bộ tín dụng không có đầy đủ kiến thức, năng lực vàkhông nắm chắc quy định cho vay của ngân hàng sẽ dẫn đến việc không xác địnhđúng năng lực của doanh nghiệp và tính khả thi của dự án đầu tư, khiến cho doanhnghiệp không được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời Mặt khác, nếu đánh giá tính khả thicủa dự án cao hơn thực tế sẽ tăng thêm nhiều rủi ro trong cho vay của NHTM
1.4.1.5 Vấn đề đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ ngân hàng
Trong xã hội ngày nay, dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng đòi hỏi con ngườiphải tuân thủ những chuẩn mực cơ bản về đạo đức nghề nghiệp Người hành nghềcần dựa trên nền tảng về đạo đức nghề nghiệp nhằm đàm bảo cho nghề nghiệp và sảnphẩm của ngành nghề được xã hội trọng dụng, tôn vinh Đối với lĩnh vực ngân hàng-tài chính, là những nghề liên quan mật thiết đến hoạt động kinh tế, đạo đức nghềnghiệp là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tới hiệu quả hoạt động củangân hàng Hiện nay chưa có một văn bản pháp quy nào quy định các chuẩn mực vềđạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng, tuy nhiên bản thân mỗi ngân hàng nóiriêng và toàn hệ thống ngân hàng nói chung đều đã xây dựng được những chuẩn mực
cơ bản Nhìn chung, xã hội đánh giá đạo đức của cán bộ ngân hàng dựa trên nhữngtiêu chuẩn “khách quan và trung thực, bảo mật và thận trọng, năng lực chuyên môn
và tuân thủ chuẩn mực chuyên môn” Trong quá trình hành nghề, cán bộ ngân hàng,đặc biệt là cán bộ tín dụng, phải thực sự không bị chi phối và không bị tác động bởibất kì lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng tới sự trung thực, khách quan
và độc lập nghề nghiệp của mình Bản thân cán bộ tín dụng phải minh bạch trong quátrình thẩm định những doanh nghiệp có quan hệ mật thiết, hoặc được hưởng các
Trang 21quyền lợi kinh tế khác Việc cán bộ tín dụng hành xử trái với đạo đức nghề nghiệp sẽgia tăng rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
DNV&N là đối tượng khách hàng thường không đáp ứng được yêu cầu về tínhminh bạch của vấn đề tài chính và tài sản đảm bảo, do đó cần thẩm định kĩ lưỡngtrước khi quyết định cho vay Vì vậy một số doanh nghiệp đã tìm cách cung cấpnhững quyền lợi cá nhân cho cán bộ tín dụng, nhằm thuyết phục cán bộ làm sai quyđịnh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng Nếu cán bộ tín dụng làngười hành nghề không tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sẽ gây ra nhiều rủi
ro cho khoản vay, giảm hiệu quả hoạt động cho vay DNV&N, gây thiệt hại tới toàn
bộ kết quả kinh doanh của ngân hàng
Bên cạnh đó, khi nói đến rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng ngân hàng,chúng ta thường đề cập đến rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng mà ít nói đến rủi rođạo đức của người quản lý Một nhà quản lý làm đúng chức năng, nhiệm vụ thì sẽphòng ngừa được sự phát sinh của loại rủi ro đạo đức nghề nghiệp Nhưng trên thực
tế, vì lợi ích cá nhân hay một nhóm tập thể cán bộ quản lý đã vô tình hoặc cố ý tạođiều kiện, kẽ hở cho loại rủi ro này phát triển Chẳng hạn khi nhà quản lý hay bộphận nhóm cán bộ quản lý đã có quan hệ lợi ích với khách hàng, mặc dù điều kiệnkhách hàng vay vốn có thể chưa hội tụ đủ, thậm chí không đủ điều kiện và đã đượccán bộ tín dụng, thẩm định ghi rõ nguyên nhân trong báo cáo thẩm định là khôngduyệt cho vay Thông thường thì những khoản vay đó sẽ không được phê duyệt,nhưng vì một lý do tế nhị nào đó, nhà quản lý hay nhóm cán bộ quản lý đã bằng cáchnày hay cách khác, hướng dẫn khách hàng hợp thức hoá hồ sơ, thậm chí còn yêu cầucán bộ tín dụng, thẩm định phải thực hiện theo ý kiến chỉ đạo
Thực tế cho thấy, ngân hàng nào chú trọng đến công tác tín dụng, luôn tuân thủcác quy trình từ xét duyệt cho vay, kiểm tra giám sát việc sử dụng tiền vay, thu hồi
nợ, xử lý nợ nghi ngờ, nợ xấu luôn nêu cao phẩm chất đạo đức, tinh thần tráchnhiệm của cán bộ thì ở đó, chất lượng tín dụng cao và kiểm soát tốt, giảm thiểu rủi ro.Ngược lại, ở đâu sự quan tâm chú trọng không đầy đủ đúng mức thì ở đó, chất lượngtín dụng thấp, rủi ro cao và thậm chí mất cả cán bộ
1.4.2 Các nhân tố khách quan
Việc mở rộng cho vay đối với các DNV&N mang lại lợi ích to lớn đối với doanhnghiệp, NHTM và cả nền kinh tế - xã hội nói chung Tuy nhiên liên quan tới vấn đềnày còn phụ thuộc nhiều nhân tố ngoài bản thân NHTM
1.4.2.1 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Thứ nhất, tính minh bạch về tài chính và trình độ quản lý của doanh nghiệp Khitiến hành xem xét hồ sơ xin vay của daonh nghiệp, việc ngân hàng quan tâm nhất làthẩm định tài chính doanh nghiệp và tính khả thi của dự án đầu tư Với việc sử dụngcác hệ thống kế toán chuẩn, lập báo cáo tài chính minh bạch rõ ràng sẽ tạo điều kiệnthuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn của NHTM Ngược lại, nếu doanhnghiệp không chứng minh được tính minh bạch về tài chính cũng như đáp ứng đượccác yêu cầu về hệ thống sổ sách kế toán, thì ngân hàng sẽ nghi ngờ khả năng trả nợcủa doanh nghiệp Bên cạnh đó, trình độ của đội ngũ quản lí doanh nghiệp cũng rấtquan trọng, cho biết doanh nghiệp đó có đang được dẫn dắt bởi một bộ máy quản lí