1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý nghĩa thực tiễn khi nghiên cứu lý thuyết thuần hoàn và chu chuyển của tư bản đối với việc quản lý các doanh nghiệp ở nước ta khi bước vào nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

16 1,5K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý nghĩa thực tiễn khi nghiên cứu lý thuyết thuần hoàn và chu chuyển của tư bản đối với việc quản lý các doanh nghiệp ở nước ta khi bước vào nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa thực tiễn khi nghiên cứu lý thuyết thuần hoàn và chu chuyển của tư bản đối với việc quản lý các doanh nghiệp ở nước ta khi bước vào nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Trang 1

M C L CỤC LỤC ỤC LỤC

Trang

1.1 Ba giai đoạn vận động của tư bản và sự biến hoá hình

thái của tư bả

3

1.2 Các hình thái tuần hoàn của tư bản công nghiệp 5

2.1 Chu chuyển tư bản, thời gian chu chuyển và tốc độ

chuyển của tư bản

7

2.3 Chu chuyển chung và chu chuyển thực tế của tư bản

ứng trước

9

2.4 Tác dụng và biện pháp nâng cao tốc độ chu chuyển tư

bản

9

Phần hai: Ý nghĩa thực tiễn khi nghiên cứu lý thuyết

thuần hoàn và chu chuyển của tư bản đối với việc quản lý các

doanh nghiệp ở nước ta khi bước vào nền kinh tế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước.

10

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay việc sử dụng vốn là hết sức quan trọng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của một công ty, một nền kinh tế Do đó em quyết định chọn đề tài tuần hoàn và chu chuyển tư bản và ý nghĩa của nó trong việc quản lý vốn Vập sự tuần hoàn của tư bản

ở đây là gì?

Nó được hiểu như một chu kỳ hay một vòng quay của tiền tệ, sự tuần hoàn đó nó sẽ không mất đi mà chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác,

nó được hiểu qua công thức sau:

T - H - T'

T - là số tiền tệ (tư bản), bỏ ra ban đầu để mua tư liệu sản xuất, sức lao động, sau đó biến thành "H" đem bán để thu về một lượng giá trị là T' T' ở đây là số tiền hay giá trị kết tinh của sản xuất hàng hoá mà chúng ta nói một cách chính xác hơn là lợi nhuận mà nhà tư bản thu được qua quá trình đầu tư sản xuất Mỗi quá trình của tư bản, tiền tệ càng lớn thì lợi nhuận thu được càng cao tức "T' " và để minh chứng cho những khái niệm trên đây, chúng ta sẽ xem kỹ hơn các qúa trình chu chuyển của tư bản trong bài dưới đây để từ đó có thể hiểu rõ hơn về quá trình tuần hoàn và chu chuyển của

tư bản!

Trang 3

PHẦN MỘT: LÝ LUẬN CHUNG

I TUẦN HOÀN CỦA TƯ BẢN

1.1 Ba giai đoạn vận động của tư bản và sự biến hoá hình thái của tư bản.

Mọi tư bản sản xuất trong qúa trình vận động đều trải qua 3 giai đoạn, tồn tại dưới ba hình thức và thực hiện ba chức năng

Giai đoạn thứ nhất: Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường với tư cách người mua, thực hiện hành vi T - H, tức là mua

Giai đoạn thứ hai: Nhà tư bản tiêu dùng sản xuất các hàng hoá đã mua, tức tiến hành sản xuất, kết quả là nhà tư bản có được một hàng hoá có giá trị lớn hơn giá trị các yếu tố sản xuất ra hàng hoá đó

Giai đoạn thứ ba: Nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán, thực hiện hành vi H' - T', tức là bán

a, Giai đoạn thứ nhất – giai đoạn lưa thông:

T- H TLSX

SLĐ

Tư bản xuất hiện dưới hình thái tiền là tư bản tiền tệ (T) Tiền được sử dụng để mua tư liệu sản xuất (TLSX) và sức lao động(SLĐ) Hàng hoá tư liệu sản xuất và hàng hoá sức lao động phải phù hợp với nhau về số lượng

và chất lượng Trong giai đoạn này, tư bản tồn tại dưới hình thái tiền tệ thực hiện chức năng là phương tiện mau hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động và sau khi mua song tư bản tiền tệ biến thành tư bản sản xuất

b, Giai đoạn thứ hai – giai đoạn sản xuất

TLSX

H … SX… H’

SLĐ

Trang 4

Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố TLSX và SLĐ để sản xuất ra hàng hoá mà trong giá trị của nó có giá trị thặng dư Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn liền trực tiếp với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

c, Giai đoạn thứ ba – giai đoạn lưu thông: H’- T’

Hàng hoá trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra mang hình thái tư bản hàng hoá (H), trong đó chứa đựng không chỉ giá trị tư bản ứng trứơc

mà còn có giá trị thặng dư Trong giai đoạn này, tư bản hàng hoá có chức năng thực hiện giá trị hàng hóa trong đó có giá trị thặng dư hay chức năng chuyển hoá tư bản hàng hoá thành tư bản tiền tệ

Sự vận động qua 3 giai đoạn nói trên là sự vận động có tính tuần hoàn:

Từ hình thái tiền tệ ban đầu của vòng tuần hoàn rồi quay về dưới hình thái tiền tệ cuối cùng của vòng tuần hoàn; qua trình đó tiếp tục và lặp lại không ngừng

Nghiên cứu sự biến hoá tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất rồi đến tư bản hàng hoá, mà sự vận động của chúng như một chuỗi những biến hoá hình thái của tư bản cho thấy tư bản không phải là vật ở trạng thái tĩnh, mà

nó lấy vật làm hình thái tồn tại trong quá trình vận động

Thực tiễn sản xuất và lưu thông cho thấy không phải lúc nào các giai đoạn và các hình thái tư bản trong quá trình tuần hoàn đều ăn khớp với nhau mà không có sự ách tắc và gián đoạn Mỗi sự ách tắc, gián đoạn ở một giai đoạn nào đó đều gây rối loạn hay đình trệ cho sự tuần hoàn của tư bản

Có nhiều các nguyên nhân ảnh hưởng tới thời gian tư bản nằm lại ở mỗi giai đoạn Do vậy thu hẹp hay kéo dài các thời gian đó đều ảnh hưởng tới hiệu quả của tư bản

Tuần hoàn của tư bản chỉ tiến hành một cách bình thường khi hai điều

Trang 5

kiện sau đây được thoả mãn Đó là: các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục; các hình thái tư bản cùng tồn tại và được chuyển hoá một cách đều đặn

Trong các loại tư bản, chỉ có tư bản công nghiệp( với nghĩa là các ngành sản xuất vật chất) mới có hình thái tuần hoàn đầy đủ gồm ba giai đoạn và mới lần lượt mang vào và trút bỏ ba hình thái tư bản

1.2 Các hình thái tuần hoàn của tư bản công nghiệp

Trong sự vận động liên tục của tư bản công nghiệp, mỗi hình thái của tư bản đều có thể làm điểm mở đầu và làm điểm kết thúc của tuần hoàn, tạo nên ba hình thái tuần hoàn khác nhau của tư bản công nghiệp: Tuần hoàn của tư bản tiền tệ, tuần hoàn của tư bản sản xuất và tuần hoàn của tư bản hàng hoá

a, Tuần hoàn của tư bản tiền tệ:

TLSX

T- H …SX … H’- T’ ( viết gọn lại là T- T’)

SLĐ

Mở đầu và kết thúc đều là tiền, ở đây sự vận động của tư bản biểu hiện ralà sự vận động của tiền, còn hàng hoá hay sản xuất chỉ là những yếu

tố trung gian để tiền đẻ ra tiền Hình thái tuần hoàn này phản ánh rõ rệt nhất mục đích , động cơ vận động của tư bản là làm tăng giá trị haygiá trị thặng dư, mà giá trị thặng dư như C.Mác nói hình thức biểu hiện chói lọi nhất của nó là hình thái tiền Bởi vậy T- T’ là hình thái biểu hiện phiến diện nhất, che giấu quan hệ bóc lột nhất, nhưng cũng đặc trăng nhất cho sự vận động của tư bản

b, Tuần hoàn của tư bản sản xuất:

Trang 6

TLSX SX- H’ – T’ - H …SX SLĐ Trong hình thái này, mở đầu và kết thúc là sản xuất, còn hàng hoá và tiền tệ chỉ là những yếu tố trung gian, toàn bộ quá trình lưu thông H’- T’- H chỉ là điều kiện cho sản xuất

Tuần hoàn của tư bản sản xuất không chỉ mở ra được mục đích và động cơ của tư bản, nhưng lại phản ánh rõ nét nguồn gốc của tư bản và nguồn gốc của tích luỹ tư bản, vì giá trị thặng dư được sinh ra và lớn lên trong quá trình tuần hoàn này

c, Tuần hoàn của tư bản hàng hoá:

TLSX H’ – T’ - H …SX… H’

SLĐ Trong hình thái tuần hoàn này, điểm mở đầu và kết thúc đều là hàng hoá và sự vận động của nó biểu hiện ra là sự vận động của hàng hoá Còn sản xuất và tiền chỉ lànhững hình thức trung gian, chỉ là điều kiệncho sự vận động của hàng hoá Hình thái tuần hoàn này phản ánh rõ vai trò của lưu thông hàng hoá và tính liên tục của lưu thông hàng hoá

Mở đầu tuần hoàn là tư bản hàng hoá (H’), sự chuyển hoá H’- T’ bao gồm cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân Do đó, hình thái tuần hoàn này không chỉ là hình thái vận động của tư bản công nghiệp cá biệt,

mà còn là hình thái thích hợp để phân tích sự vận động cảu tư bản xã hội

Tóm lại, tuần hoàn của tư bản công nghiệp là sự thống nhất của ba hình thái tuần hoàn của tư bản tiền tệ, tư bản công nghiệp và tư bản hàng hoá Tính thống nhất này phục thuộc vào những điều kiện đảm bảo cho tính liên tục không gián đoạn của các giai đoạn các hình thái và tỷ lệ phân

Trang 7

chia tư bản thành ba hình thái tuần hoàn nói trên Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều hoàn cảnh khác nhau ở từng ngành khác nhau Trong những thập niên gần đây ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa xuất hiện những yếu tố làm quy mô tư bản ứng trước ngày càng tăng như: do cạnh tranh, do công nghệ hiện đại, do khó khăn về tiêu thụ và việc vươn tới những thị trường ngày càng xa và với yêu cầu chất lượng cao Nhưng cũng

có những yếu tố làm giảm quy mô tư bản ứng trước như công nghệ mới, tổ chức quản lý khoa học, quan hệ tín dụng, tốc độ chu chuyển tư bản

II Chu chuyển của tư bản:

2.1 Chu chuyển te bản, thời gian chu chuyển và tốc độ chuyển của

tư bản

Nghiên cứu tuần hoàn tư bản là nghiên cứu mặt chất của sự vận động

tư bản, còn nghiên cứu chu chuyển tư bản là nghiên cứu mặt lượnghay tốc

độ vận động của tư bản

a, Chu chuyển tư bản

Chu chuyển tư bản là sự tuần hoàn tư bản nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới, diễn ra liên tục và lặp đi lặp lại không ngừng Chu chuyển tư bản phản ánh tốc độ vận động nhanh hay chậm của tư bản

b, Thời gian chu chuyển tư bản

Thời gian chu chuyển của tư bản là thời gian tính từ khi tư bản ứng

ra dưới một hình thái nhất định cho đến khi thu về dưới dạng ban đầu, có kèm theo giá trị thặng dư Thời gian chu chuyển tư bản cũng là thời gian tư bản thực hiện được một vòng tuần hoàn

Thời gian chu chuyển= Thời gian sản xuất + thời gian lưu thông Trong đó, thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất

Trang 8

Thời gian sản xuất = Thời gian lao động + Thời gian gián đoạn lao động + Thời gian dự trữ sản xuất

Thời gian lao động là thời gian người lao động tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra sản phẩm Thời gian gián đoạn lao động là thời gian đối tượng lao động tồn tại dưới dạng bán thành phẩm nằm trong lĩnh vực sản xuất Thời gian dự trữ sản xuất là thời gian các yếu tố sản xuất được mua về, sẵn sàng tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng chưa thực sự được sử dụng vào quá trình sản xuất

Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông Thời gian lưu thông = Thời gian mua + Thời gian bán

c Tốc độ chu chuyển tư bản

Tốc độ chu chuyển của tư bản là khái niệm dùng để chỉ sự vận động nhanh hay chậm của tư bản ứng trước Nừu gọi (N) là tốc độ chu chuyển tư bản, gọi (ch) là thời gian của một vòng chu chuyển tư bản, gọi tắt là thời gian chu chuyển tư bản và gọi (CH) là thời gian tư bản vận động trong vòng một năm Ta có công thức:

N=

2.2 Tư bản cố định và tư bản lưu động

a, Tư bản cố định

Tư bản cố định là bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thái giá trị của những máy móc, thiết bị, nhà xưởng…, tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị cuả nó không chuyển hết một lần mà chuyển từng phần vào sản phẩm trong quá trình sản xuất Đặc điểm của tư bản cố định là về hiện vật, nó luôn luôn cố định trong quá trình sản xuất, chỉ có giá trị của nó

là tham gia vào quá trình lưu thông cùng sản phẩm Hơn nữa nó cũng chỉ lưu thông từng phần còn một phần vẫn bị cố định trong tư liệu lao động

Trang 9

b, Tư bản lưu động

Tư bản lưu động là bộ phận tư bản được hoàn lại cho nhà tư bản sau khi hàng hoá sản xuất ra được bán xong Trong đó, bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thái nguyên vật liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ…, giá trị của

nó được chuyển toàn bộ vào giá trị hàng hoá trong quá trình sản xuất Còn

bộ phận tư bản dưới hình thái tiền công, đã bị người công nhân tiêu dùng

và được tái tạo trong quá trình sản xuất hàng hoá

2.3 Chu chuyển chung và chu chuyển thực tế của tư bản ứng trước

a Chu chuyển chung

Chu chuyển chung có liên quan đến chu chuyển của tổng tư bản ứng trước Nó là tốc độ chu chuyển trung bình của giá trị tư bản cố định và tư bản lưu động Chu chuyển chung nhanh hay chậm phụ thuộc vào tốc độ chu chuyển của hai bộ phận nói trên Tốc độ chu chuyển của tổng tư bản ứng trước được tính bằng giá trị chu chuyển trung bình của tư bản cố định

vá giá trị chu chuyển trung bình của tư bản lưu động trong năm chia cho giá trị của tổng tư bản ứng trước Nừu gọi T là tốc độ chu chuyển chung của tổng tư bản ứng trước; gọi GCĐ là giá trị chu chuyển trung bình của tư bản cố định trong năm; gọi GLĐ là giá trị chu chuyển trung bình của tư bản

cố định trong năm và gọi K là tổng tư bản ứng trước ta có công thức tính sau đây:

T = ( GCĐ + GLĐ )/ K

b Chu chuyển thực tế

Chu chuyển thực tế nhanh hay chậm phụ thuộc vào thời gian để giá trị tư bản cố định được khôi phục hoàn toàn , hay được chuyển kết hết vào giá trị của sản phẩm mới

2.4 Tác dụng và biện pháp nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản

Trang 10

a, Tác dụng nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản.

Trước hết nâng cao tốc độ chu chuyển của tư bản cố định sẽ tiết kiệm được chi phí bảo quản, sửa chữa tài sản cố định; giảm được hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình

Thứ hai, nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản lưu động sẽ cho phép tiết kiệm tư bản ứng trước khi quy mô sản xuất như cũ hay có thể mở rộng sản xuất mà không cần có thêm tư bản mới

Thứ ba, đối với tư bản khả biến, việc nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản có ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm tăng thêm tỷ suất giá trị thặng dưvà khồi lượng giá trị thặng dư hàng năm

b Biện pháp nâng cao tốc độ chu chuyên tư bản

Do chụi nhiều ảnh hưởng của nhiều nhân tố, nên thời gian chu chuyển của tư bản diễn ra khác nhau Để nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản , các nhà tư bản thường tìm mọi biện pháp khai thác mặt thuận lợi và hạn chế những mặt không thuận lợicủa những nhân tố để nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản nhằm tăng cường bóc lột ngày càng nhiều giá trị thặng

dư đối với giai cấp công nhân

PHẦN HAI: Ý NGHĨA THỰC TIỄN KHI NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT THUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN CỦA TƯ BẢN ĐỐI VỚI VIỆC QUẢN LÝ CÁC DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA KHI BƯỚC VÀO NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC Tại Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng cho nền kinh tế nước ta, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trước năm

1986 quan hệ ngoại giao của nước ta với các nước trên thế giới rất mờ nhạt, chủ yếu quan hệ với một số nước anh em như: Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Bungari với mục đích tiếp tục nhận viện trợ Nền kinh tế trong nước còn đang yếu, các doanh nghiệp sản xuất theo lệnh từ cấp trên đưa xuống và cũng chính Nhà nước tìm cách tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp bên

Trang 11

cạnh đó lạm phát luôn là mức phi mã Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước các doanh nghiệp có trách nhiệm duy trì, bảo tồn và phát triền nguồn vốn hiện có nghĩa là doanh nghiệp tự mình sản xuất kinh doanh tìm "đầu vào" và "đầu ra" cho doanh nghiệp Về phía Nhà nước lúc này chỉ quản lý các doanh nghiệp ở tầm vĩ mô Do đó nghiên cứu lý thuyết thuần hoàn của tư bản rất có ý nghĩa đối với việc quản lý các doanh nghiệp ở nước ta trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Thứ nhất: xác định đường lối sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.

Hiện nay nước ta đang tồn tại song song 5 phần kinh tế Cùng với sự xuất hiện của những doanh nghiệp mới thành lập đã có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả dẫn đến phá sản Ngay từ khi có quyết định bỏ vốn thành lập doanh nghiệp nhà quản trị phải trả lời được 3 câu hỏi: doanh nghiệp sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? chỉ khi trả lời ba câu hỏi này một cách đầy đủ và chính xác nhất thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới được tiến hành bình thường và liên tục hay nói cách khác doanh nghiệp góp phần thực hiện quá trình tuần hoàn tư bản

Để trả lời được câu hỏi doanh nghiệp sản xuất cái gì? doanh nghiệp cần phân tích nhu cầu của thị trường xem thị trường đang thiếu cái gì mà nhu cầu về mặt hàng ngày đang tăng và nó sẽ mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho doanh nghiệp trong khả năng vốn hiện có Sau đó nhà quản trị sẽ bỏ vốn để mua tư liệu sản xuất như nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, thiết bị sản xuất, nhiên liệu, nhà xưởng, kho tàng và mua sức lao động (trả lương cho công nhân) Đây là giai đoạn vốn của doanh nghiệp từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hiện vật ở giai đoạn này nhà quản trị phải cân đối vốn để mua tư liệu sản xuất và trả lương cho công nhân theo tỉ lệ thích hợp Nếu thiếu một trong hai nhân tố đó thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn làm ảnh hưởng tới sự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản Dựa vào phân tích tốc độ chu chuyển của vốn các doanh nghiệp không chỉ lên

kế hoạch sản xuất kinh doanh mà còn phải xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn bằng cách hình thành các quĩ như quĩ đầu tư, phát triển, quĩ khấu hao, quĩ phúc lợi Sau một thời gian sản xuất những quĩ này được đưa ra sử dụng mở rộng sản xuất (theo chiều rộng) hoặc cải tiến máy móc, nhập thêm dây chuyền hiện đại để tăng năng suất lao động (mở rộng theo chiều sâu)

Ngày đăng: 24/07/2013, 08:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w