Trong những năm thực hiện Luật về người khuyết tật cũng như Hiến pháp, Bộ luật, luật, thông tư, các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ,các bộ ngành, UBND Thành phố Hà Nội luôn đi đ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HẬU PHƯỢNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Văn Nghĩa
hồi giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia thành viên tích cực của các công ước quốc tế về quyền con người, , bao gồm hai Công ước quan trọng được Liên hợp quốc (LHQ) thông qua vào năm 1966 và Việt Nam phê chuẩn năm 1982, đó là: Công ước quốc
tế về quyền dân sự, chính trị (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (năm 2007) Nhà nước Việt Nam luôn chăm lo, quan tâm đặc biệt đến quyền của các nhóm DBTT, trong đó có NKT, thông qua việc ghi nhận, tôn trọng và thực hiện tận tâm, hiệu quả và có trách nhiệm đối với các nghĩa vụ quốc tế và các quy định vêc quyền con người Sự thay đổi nhận thức từ NKT chỉ được coi là những đối tượng chính sách, những người bệnh, hay nhóm xã hội, sang là chủ thể thụ hưởng đầy đủ của các quyền con người, trong hệ thống luật, chính sách và thực tiễn, đã và đang mang lại những chuyển biến lớn trong luật pháp quốc gia và quốc tế và việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện các quyền con người của NKT
Ở Việt Nam, người khuyết tật là một trong những nhóm đối tượng xã hội được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển.Hỗ trợ người khuyết tật khắc phục khó khăn, hòa nhập xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước là trách nhiệm pháp lý của nhà nước, xã hội Tinh thần đó thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng; Sác lệnh; Nghị định; Hiến pháp các năm 1946,
1959, 1980, 1992, hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001), Luật Người khuyết tật năm 2010 Sự hiện diện của vấn đề người khuyết tật trong nội dung các Hiến pháp Việt Nam đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này đối với xã hội Việt Nam
Hiến pháp đã khẳng định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ
hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” [19], “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề.” [19]
Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp, Luật người khuyết tật năm 2010 cùng với hệ thống các Bộ luật cũng như luật chuyên ngành quy định chứ những quy phạm liên quan tới người khuyết tật như: Luật người khuyết tật, Bộ Luật lao động, Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Giáo dục, Luật Bình đẳng giới, Luật Bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em, Luật công nghệ thông tin và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành luật các quy định liên quan tới người khuyết tật của các Luật chuyên ngành của Chính phủ, các Bộ, ngành và các
Trang 4khuyết tật thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa
Việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật diễn ra ở tất cả các tỉnh thành trên phạm vi toàn quốc Tại Hà Nội Thủ đô của nước Việt Nam có nền chính trị - kinh tế - văn hóa phát triển.Vì vậy, Thành phố Hà Nội luôn dành những quan tâm nhất định tới người khuyết tật cũng như chủ trương chính sách pháp luật về người khuyết tật ngày được quan tâm cũng như ưu tiên phát triển Trong những năm thực hiện Luật về người khuyết tật cũng như Hiến pháp, Bộ luật, luật, thông tư, các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ,các bộ ngành, UBND Thành phố
Hà Nội luôn đi đầu trong việc triển khai và thực hiện chính sách pháp luật về người khuyết tật luật định cũng như đề ra nhiều hoạt động, chính sách phù hợp với người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội
Việc làm này giúp cho Pháp luật về người khuyết tật ngày càng đi vào thực tiễn đời sống và các chính sách cho người khuyết tật được thực hiện hiệu quả giúp cho người khuyết tật có được điều kiện tốt nhất để thể hòa nhập với cộng đồng Tuy nhiên việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật trên Thành phố Hà Nội còn nhiều khó khăn nhất là trong vấn đề huy động các nguồn lực từ xã hội trợ giúp họ hoà nhập cộng đồng cũng như phát huy tiềm năng của chính người khuyết tật đo là những khó khăn về: Nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyết tật còn hạn chế; Sự thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách khiến nhiều người khuyết tật gặp trở ngại hoà nhập; các cơ chế để thực hiện pháp luật còn nhiều bất cập chưa có sự đồng bộ và thiếu hiệu quả cao; huy động sự ủng hộ từ bản thân nội lực các
cơ quan tổ chức trong nước chưa nhiều; chưa biết sử dụng có hiệu quả nguồn ủng
hộ từ các tổ chức quốc tế mà nguyên nhân chính là do năng lực quản lý; điều kiện giao thông chưa tiếp cận; các chính sách an sinh xã hội như giáo dục, y tế, việc làm còn chưa đi vào chiều sâu và hiệu quả; bản thân nhiều người khuyết tật còn chưa khẳng định được tiếng nói của chính mình trong xã hội do mặc cảm, tự ti…
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu: “Thực hiện pháp luật về người khuyết tật từ thực tiễn Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ của mình góp
phần làm rõ cả về lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp đảm bảo việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật diễn ra ở rất nhiều lĩnh vực liên quan tới nhiều Bộ, ngành, các cấp chính quyền vì vậy có rất nhiều những nghiên cứu, đánh giá trong quá trình tổ chức và hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật
Trang 5Quyền con người của các nhóm dễ bị tổn thương nói chung và quyền của người khuyết tật nói riêng luôn là một đề tài được nghiên cứu, tiếp cận và phân tích từ nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt từ phương diện cách tiếp cận dựa trên quyền con người, pháp luật và chính sách nói chung cũng như pháp luật về quyền con người nói riêng Hàng loạt các công trình nghiên cứu đã đề cập khái quát, tổng thể và nhiều chiều về quyền con người nói chung và quyền của người khuyết tật nói riêng Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của các chuyên gia luật và quyền con người, đó là:
- GS Võ Khánh Vinh, chủ biên, Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên
ngành luật học , Nxb KHXH H., 2010 Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả
đã phân tích và làm rõ đặc trưng và nội dung cơ bản của khoa học về quyền con người
từ cách tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học.Công trình đã làm nổi bật được khái niệm, nội hàm và đặc điểm của các quyền con người, trong đó có các quyền của các nhóm dễ bị tổn thương bao gồm quyền của người khuyết tật
- GS.TS Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao – Lã Thanh Tùng (Đồng
chủ biên) (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, tái bản lần
thứ nhất có sửa đổi, bổ sung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Các tác giả đã làm rõ những khía cạnh về lý luận và pháp luật, nhất là pháp luật quốc tế và quốc gia về quyền con người, bao gồm một số chương, phần và nội dung trực tiếp đề cập đến quyền của người khuyết tật như là nhóm DBTT
- GS.TS Tạ Ngọc Tấn, PGS.TS Đặng Dũng Chí và PGS.TS Hoàng Văn
Nghĩa (đồng chủ biên), Sách Thành tựu quyền con người ở Việt Nam 70 năm qua,
Nxb Lý luận chính trị, H., 2016 Với hơn 500 trang được tiếp cận từ góc độ lý luận và thực tiễn, đây là công trình nghiên cứu công phu và tương đối toàn diện sự phát triển của các quyền con người, bao gồm các quyền về dân sự chính trị, kinh
tế, xã hội, văn hóa, quyền của các nhóm DBTT, bao gồm NKT, trong suốt 70 năm qua kể từ khi lập hiến và lập pháp
- Viện nghiên cứu quyền con người, H., 2000 Hiến pháp, pháp luật về
quyền con người: kinh nghiệm Việt Nam và Thụy Điển.Các tác giả đã phân tích và
so sánh những điểm tương đồng và khác biệt trong những hệ thống luật và thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và Thụy Điển
- Công trình nghiên cứu “Cơ chế bảo hiến và quyền con người: kinh
nghiệm CHLB Đức và Việt Nam” do các nhà khoa học của Việt Nam và CHLB
Đức phối hợp nghiên cứu (Hoàng Văn Nghĩa và Đặng Dũng Chí đồng chủ biên, Nxb Lý luận Chính trị, H., 2014) đã cung cấp cơ sở lý luận từ khía cạnh luật học
và quyền con người về vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết phải xây dựng các thiết chế bảo hiến và quyền con người
- Tác phẩm “Chủ nghĩa xã hội và Quyền con người” (Đặng Dũng Chí và
Hoàng Văn Nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2014) đã khái quát sự phát
Trang 6triển lý luận và thực tiễn, bao gồm hệ thống pháp luật và việc thực hiện pháp luật
về quyền con người nói chung và quyền của các nhóm DBTT (trong đó có NKT) nói riêng, đồng thời chỉ ra những rào cản, thách thức và hạn chế của việc bảo đảm trong bối cảnh hiện nay
- Nguyễn Thị Báo (2008) “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người
khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Tiến sĩ (Học viện Chính trị hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh).Tác giả đã phân tích và làm rõ khái niệm, bản chất và nội dung cơ bản của quyền NKT và hệ thống pháp luật về NKT ở Việt Nam hiện nay
- Các công trình nghiên cứu khác có liên quan từ góc độ phân tích thành tựu và thực trạng của hệ thống pháp luật về NKT, bao gồm: Phạm Thị Trang
(2016), “Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật – từ thực tiễn tại
Thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ (Đại học Quốc gia Hà Nội); Hồ Thị Trâm
(2013), “Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật”, Luận văn Thạc sĩ (Trường Đại học Luật Hà Nội); và Trần Thị Thúy (2012), “Chế độ giáo dục đối với người
khuyết tật ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ (Trường Đại học Luật Hà Nội), …đã
tiếp cận từ nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau liên quan đến NKT ở Việt Nam hiện nay
- An sinh xã hội đối với lao động là người khuyết tật “Dự án” nâng cao năng lực của các cơ quan và tổ chức chính quyền Việt Nam trong việc triển khai Nghị quyết 15/NQTW về một số chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020;
Một số công trình nghiên cứu khác có liên quan tiếp cận NKT từ thực tiễn bảo đảm, chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách, pháp luật
về NKT Cụ thể: “Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Luật người khuyết tật và Đề
án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012- 2020 trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Sở Thương binh lao động và xã hội thành phố Hà Nội; “Kế hoạch Thực hiện trợ giúp người khuyết tật thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2020”, Sở
Thương binh lao động và xã hội thành phố Hà Nội;Tạo việc làm cho Người
khuyết tật-kinh nghiệm từ một dự án quốc tế;Thái Ninh Thắng , “Sự cần thiết đưa
chuyên đề của Người khuyết tật ở Việt Nam vào giảng dạy trong chương trình các chuyên đề tự chọn thuộc môn Luật Hiến pháp”, bài trích số 5 tạp chí Luật học,
2008;- Th.S Đỗ Thị Dung, “ Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật và
phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học số 10/2013; và Th.S Đinh Thị Cẩm
Hà, “Hoàn thiện các quy định của Hiến pháp bảo đảm quyền của người khuyết
tật”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9(217) 5/2012
Một số công trình nghiên cứu cũng đã tiếp cận NKT từ phương diện quyền con người, đồng thời phân tích và so sánh các quy định của pháp luật quốc gia và
quốc tế về quyền của NKT Đó là: Đinh Thị Cẩm Hà (2012), “Bảo vệ một số
quyền cơ bản của người khuyết tật So sánh pháp luật Việt Nam với công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật” Sách tham khảo, Thành phố Hồ Chí
Trang 7Minh, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Th.S Nguyễn Thị Báo, “Quyền
của người khuyết tật trong các văn kiện quốc tế về quyền con người”, Tạp chí
Luật học số 10/2007,TS Trần Thái Dương (Đại học Luật Hà Nội), “Phê chuẩn
Công ước về quyền của Người khuyết tật và việc thực thi nghĩa vụ thành viên công ước”, tạp chí Cộng sản ngày 30/6/2015; - Eric Rosenthal và Viện Quốc tế
bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần thực hiện theo yêu cầu của UNICEF Việt
Nam (tháng 12 năm 2009), “Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt - Đưa Luật pháp
của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên Hiệp quốc về Quyền của Người khuyết tật”,… - Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, Văn phòng điều phối
các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD), 2008; Bộ lao động thương
binh và xã hội, (2013), “Chiến lược INCHOEN nhằm “thực hiện hóa” cho người
khuyết tật khu vực Châu Á - Thái Bình Dương”, Nxb Lao động xã hội;
Tuy nhiên, cho tới nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một các
hệ thống và đi sâu về việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật, đặc biệt trên phạm vi cụ thể: Thành phố Hà Nội
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Người khuyết tật, thực hiện pháp luật về người khuyết tật hay việc bảo đảm quyền của người khuyết tật, luôn là một trong những chủ đề thời sự của các nhà lập pháp, học giả và hoạt động thực tiễn trên toàn thế giới, đặc biệt là từ sau khi hệ thống luật nhân quyền liên hợp quốc ra đời (đánh dấu bằng Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền năm 1948, 2 Công ước 1966 và 2 Nghị định thư của Công ước ICCPR) Đã có hàng chục ngàn các công trình nghiên cứu về người khuyết tật, quyền của người khuyết tật và việc thực thi pháp luật quốc tế, khu vực
và quốc gia về NKT Điển hình là công trình nghiên cứu “the UN Convention on
the Rights of Persons with Disabilities: European and Scanadivian Perspectives”
do tác giả Gerard Quinn (chủ biên, 2009) đã cung cấp cách tiếp cận của các quốc gia phát triển ở châu Âu và Bắc Âu về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và thực tiễn bảo đảm các quyền của NKT :
Tác phẩm, “The development of disability rights under international law:
from charity to human rights”, của tác giả Arlene S Kanter, Abingdon, Rougtlege
Publishers, 2015, đã phân tích và làm rõ những khía cạnh luật pháp quốc tế, nhất
là luật nhân quyền quốc tế, quy định về NKT và quyền của NKT
Giáo trình nhân quyền quốc tế (Textbook on international human rights),
Rohna K.M Smith, Nxb Đại học Oxford, phân tích và làm rõ nội hàm, khái niệm
và đặc trưng của các quyền của DBTT trong đó có NKT,…
Công trình nghiên cứu “ASEAN and the convention on the rights of
persons with disabilities: using international law to promote social and economic development” của tác giả Carole J Petersen đã phân tích những quy định của luật
Trang 8quốc tế cũng như các cơ chế, thiết chế của ASEAN trong việc bảo đảm quyền của những người khuyết tật
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu về cơ sở lý luận chung về nhà nước cũng như pháp luật người khuyết tật dựa trên những hiểu biết và thực trạng của việc thi hành pháp luật người khuyết tật ở nước ta hiện nay cũng như trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Từ đó đưa ra những cái nhìn khái quát từ những hạn chế trên cơ sở đó đưa ra những cơ sở pháp lí cũng như những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống cơ
sở pháp luật về người khuyết tật và nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật
về người khuyết tật.Từ đó góp phần bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật trên mọi phương diện kinh tế, chính trị và xã hội giúp họ hòa nhập với
xã hội trong và ngoài nước
Để đạt được mục đích trên cần thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn liên quan tới người khuyết tật,
cũng như hệ thống pháp luật về người khuyết tật.Trên cơ sở đặc điểm đặc thù của người khuyết tật với những người không khuyết tật đó tác động tới việc hình thành cũng như thực thi pháp luật như thế nào về hình thức, vai trò thực hiện pháp luật về người khuyết tật.Bên cạnh đó cần liên hệ về người khuyết tật cũng như pháp luật về người khuyết tật với các quốc gia trên thế giới
Thứ hai, từ những thực trạng thực tế đánh giá phân tích hoạt động thực
hiện pháp luật về người khuyết tật ở Thành phố Hà nội hiện nay kể từ khi ban hành Luật người khuyết tật 2010 tại những phạm vi cụ thể Qua những phân tích, đánh giá cần đánh giá thực trạng pháp luật về người khuyết tật đã thể hiện hạn chế cũng như nguyên nhân thực trạng của việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật
ở Thành phố Hà Nội
Thứ ba, từ những nhìn nhận hạn chế để đưa ra những giải pháp cụ thể để
hoàn thiện pháp luật về người khuyết tật và đảm bảo cũng như nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật tại Thành phố Hà Nội.Những giải pháp cần được xây dựng thống nhất, chặt chẽ và phù hợp với các pháp luật hiện hành và với hoạt động quản lý nhà nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu Luận văn là pháp luật về người khuyết tật và việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật trên địa bàn Thành phố Hà Nội, đồng thời giới hạn ở một địa bàn cụ thể (quận/huyện) của thành phố Hà Nội để phân tích, đánh giá và so sánh
Trang 9Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Pháp luật về người khuyết tật rất rộng lớn từ Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Thông tư, Nghị định và rất nhiều văn bản dưới luật Tuy nhiên trong luận văn sẽ chú trọng đánh giá về Hiến pháp, các Bộ luật và các luật chuyên ngành quy định về người khuyết tật (như: Bộ Luật lao động, Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Giáo dục, Luật Bình đẳng giới, Luật Bảo vệ
và chăm sóc, giáo dục trẻ em, Luật công nghệ thông tin ) Đồng thời, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về NKT trên một số lĩnh vực chủ yếu, bao gồm: lao động-việc làm, giáo dục, sức khỏe và văn hóa-xã hội (hay việc thực hiện pháp luật về một số quyền cụ thể của NKT, đó là quyền có việc làm, quyền được giáo dục, quyền về sức khỏe…)
Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích và làm rõ việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật từ năm 2010 trở lại đây (kể từ khi có luật người khuyết tật 2010)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Việt Nam về người khuyết tật cũng như các bộ luật khác được sử dụng cho việc nghiên cứu
5.2 Phương pháp và cách tiếp cận
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là là: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo cứu tài liệu, thống kê, Luận văn cũng sử dụng các cách tiếp cận dựa trên bằng chứng (evidence-based) và cách tiếp cận dựa trên quyền con người (a human rights-based approach),…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiện của luận văn
Luận văn hệ thống hóa các cơ sở lý luận về người khuyết tật, pháp luật về người khuyết tật Qua đó nhận biết chung nhất về chủ trương chính sách của nhà nước trong việc bảo đảm quyền của người khuyết tật thông qua pháp luật So sánh pháp luật về người khuyết tật của Việt Nam với các nước khác trên thế giới Đánh giá được thực trạng của hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật từ đó nhận thức được những hạn chế và nguyên nhân của nó
Ý nghĩa thực tiễn luận văn đó là từ những thực tiễn hoạt động đề ra hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về người khuyết tật và giúp hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật diễn ra hiệu quả
Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu
về pháp luật về người khuyết tật
7 Cơ cấu của luận văn
Chương 1: Một số lý luận về người khuyết tật và thực hiện pháp luật về người khuyết tật;
Trang 10Chương 2: Thực trạng người khuyết tật và thực hiện pháp luật về người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Hà Nội;
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao thực hiện pháp luật về người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay
Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1.1 Khái luận chung về người khuyết tật
1.1.1 Khái niệm người khuyết tật
1.1.1.1 Quan niệm về người khuyết tật trên thế giới hiện nay
Thứ nhất, tại Tuyên ngôn của LHQ về quyền của NKT,“người khuyết tật”
là “bất cứ người nào mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ
hay từng phần, những sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do dự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng
về thể chất hay tâm thần của họ”.[38]
Thứ hai, Công ước quốc tế về các quyền của người khuyết tật (CRPD) đã
nhận định: “khuyết tật là một khái niệm mới và rằng khuyết tật là kết quả của sự
tương tác giữa những người có khiếm khuyết và những rào cản về thái độ và môi trường mà ở đó hạn chế sự tham gia một cách đầy đủ, và có hiệu quả vào các hoạt động trên cơ sở bình đẳng với các thành viên khác trong xã hội,”
Thứ ba, thuật ngữ khuyết tật còn được tiếp cận dưới góc độ quyền lao động
việc làm trong một số văn kiện của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) Theo các văn
kiện này, thuật ngữ “người khuyết tật”: “dùng để chỉ người mà triển vọng tìm
được một việc làm thích hợp, cũng như triển vọng tiến bộ về mặt nghề nghiệp, đều
bị giảm sút một cách rõ rệt, do một sự khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần được Công nhận rõ ràng.”[27]
Tại Trung Quốc quy định: “Người khuyết tật là một trong những người bị
bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh
lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động bình thường”[35]
Luật bình đẳng về việc làm của Nam phi định nghĩa NKT là “người bị suy
giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển sự nghiệp.”
Có thể thấy rằng, mỗi quốc gia đều có cách quan niệm, quy định khác nhau tuy nhiên đều có điểm chung đó là đều dựa trên sự suy giảm chức năng làm căn
cứ định nghĩa NKT
Trang 111.1.1.2 Các cách tiếp cận khái niệm người khuyết tật
Thứ nhất, cách tiếp cận từ góc độ từ thiện: Cách nhìn nhận của xã hội đối
với NKT chỉ là những người đáng thương, những bi kịch đau khổ mà họ phải chịu đựng chứ họ chưa được nhìn nhận thấy giá trị của con người họ làm cho họ mặc cảm về bản thân và xa kánh xã hội hơn
Thứ hai, cách nhìn nhận dưới góc độ sinh học, y tế hay mô hình cá nhân
cho rằng NKT là do hạn chế của cá nhân của chính con người đó Điều này dẫn tới trong thực tế khi họ muốn hòa nhập vào xã hội, họ lại phải đối mặt với những hình thức phân biệt đối xử khác và họ lại rơi vào vai trò là thụ động
Thứ ba, cách nhìn nhận dưới góc độ xã hội: đây là mô hình được cho là nền
tảng của những chuyển biến của vấn đề của NKT Cách tiếp cận này cho thấy chính xã hội mới biến họ thành khuyết tật, tuy nhiên cách tiếp cận xã hội không phủ nhận những giá trị của NKT, mô hình này thừa nhận NKT theo cách tích cực hơn và khiến NKT được hưởng quyền công dân
Thứ tư, cách nhìn nhận dưới góc độ quyền hay cách tiếp cận dựa trên
quyền (a human rights-based approach Mô hình này phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người cũng như thể hiện việc tôn trọng của quốc gia đối với các quyền cơ bản của con người
1.1.1.3 Quan niệm về người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm tổng thể về NKT như sau:
“Người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận
cơ thể hoặc có những rối loạn về sinh lý, tâm lý hay một chức năng nào đó của con người,không phân biệt nguồn gốc gây ra, dấn đến hạn chế một phần hoặc mất khả năng lao động và gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, học tập và hòa nhấp cộng đồng”
1.1.2 Đặc điểm của người khuyết tật
1.1.2.1 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ sinh học
Đó là nguyên nhân dẫn tới việc NKT bị hạn chế về sức khỏe, việc vận động, giao tiếp hay tự mình có khả năng thực hiện các công việc cá nhân hàng ngày, tiếp cận giáo dục, y tế, các dịch vụ an sinh xã hội NKT thường sống dựa vào gia đình, cộng đồng vì vậy bản thân họ hay những người khác luôn bi coi là ghánh nặng
1.1.2.2 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội
Có thể nói NKT là nhóm cư dân đặc biệt thiệt thòi về mặt kinh tế và xã hội Những gia đình có NKT thường phải đối mặt với việc thiếu nhân lực lao động trong khi đó lại phải giúp đỡ NKT trong mọi sinh hoạt đời thường
1.1.3 Người khuyết tật và quyền của người khuyết tật
Thứ nhất, các quyền dân sự, chính trị bao gồm: Quyền tự do các nhân;
Quyền sống; Quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo tín ngưỡng, tự do biểu đạt,
Trang 12quyền được bầu cử, ứng cử; Quyền được xét xử công bằng, các quyền này chủ yếu gắn liền với tự do cá nhân [1]
Thứ hai, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa bao gồm: Quyền được hưởng và
duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng; Quyền lao động; Quyền giáo dục; Quyền được hưởng an sinh xã hội; Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học
Thứ ba, các quyền thuộc thế hệ thứ ba, bao gồm: quyền kết đoàn, quyền
phát triển, quyền hòa bình
NKT có những quyền đặc thù đặc trưng riêng đó là: Quyền được hòa nhập
và hỗ trợ để hòa nhập vào cộng đồng; Quyền được hỗ trợ trong việc đi lại; Quyền được hỗ trợ để phục hồi chức năng
1.2 Pháp luật quốc tế về người khuyết tật
1.2.1 Pháp luật quốc tế về người khuyết tật
1.2.1.1 Các điều ước quốc tế về quyền con người
Thứ nhất, ngay ở lời mở đầu Hiến chương đã khẳng định: “Tuyên bố một
lần nữa lòng tin tưởng ở những quyền cơ vản của con người, ở phẩm giá và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng nam, nữ và ở quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ”[33]
Thứ hai, tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, mặc dù không phải
là văn kiện pháp lý ràng buộc nhưng Tuyên ngôn đã được toàn thế giới công nhận
là nền tảng pháp lý cho việc xây dựng công ước về quyền con người
Thứ ba, ICCPR và ICESCR hai công ước này cùng với Tuyên ngôn thế
giới về nhân quyền có thể coi là một bộ luật hoàn chỉnh về quyền con người mang tính quốc tế
Thứ tư, ngoài những văn bản chính bên cạnh đó còn rất nhiều công ước về
quyền con người như: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979; Công ước về quyền của người tàn tật năm 2006; Công ước quốc tế về trấn áp việc buôn người và bóc lột mại dâm người khác 1946,…
1.2.1.2 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật
CRPD là văn bản mang tính pháp lý có hiệu lực pháp lý cao, đưa ra khung pháp lý , ghi nhận các chuẩn mực quốc tế về quyền của NKT Công ước được coi
là công cụ thúc đẩy hành động đầy đủ, toàn diện và hiệu quả về quyền của NKT trên thế giới Công ước ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền tự do cơ bản của NKT như những người khác được hưởng thụ quyền và bình đẳng với nhau trên mọi lĩnh vực đời sống
1.2.1.3 Pháp luật khu vực về người khuyết tật và quyền người khuyết tật
Việt Nam không chỉ là thành viên CRPD mà còn tham gia các tổ chức khu vực liên quan tới vấn đề NKT ví dụ như việc Việt Nam là thành viên của ESCAP
Trang 13Ngoài ESCAP Việt Nam tham gia tích cực vào các tổ chức trong khu vực khác như ASEAN với Tuyên bố Bali nhằm tăng cường vai trò và sự tham gia của NKT trong cộng đồng ASEAN
1.2.1.4 Một số nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về người khuyết tật
* Các quyền cơ bản của người khuyết tật
- Quyền được sống và đối xử bình đẳng: đây là quyền cơ bản nhất, hiển
nhiên nhất của tất cả mọi người đều được hưởng thụ và ghi nhận trong rất nhiều văn kiện quốc tế cũng như quốc gia NKT không được coi trọng cho xã hội hội và
bị xã hội kì thị khi coi họ là ghánh nặng, gây cản trở cho sự phát triển của xã hội,
vì vậy, Công ước đã ghi nhận quyền được sống và đối xử bình đẳng (Điều 10)[28]
- Quyền được đảm bảo tự do cơ bản bao gồm các quyền sau: Quyền đảm
bảo tự do và an toàn cá nhân, Quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư, Quyền sống độc lập và hòa nhập cộng đồng, Quyền được tôn trọng gia đình và tổ ấm, Quyền tự do đi lại, cư trú và tự do quốc tịch, Quyền tự do biểu đạt, chính kiến, và tiếp cận thông tin
- Quyền được bảo vệ: Quyền không bị tra tấn, bị đối xử, áp dụng các hình
phạt tàn nhẫn, Quyền không bị bóc lột, bạo hành và lạm dụng
- Quyền được tham gia: Quyền được tham gia đời sống chính trị và cộng
đồng: NKT được tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội không vì yếu tố khuyết tật của bản thân mà bị hạn chế Bao gồm: quyền về kinh tế chính trị được bình đẳng Quyền tham gia các hoạt động văn hóa, nghỉ ngơi, gải trí và thể thao.Đây là những quyền của NKT trong việc hưởng thụ và phát triển đời sống tinh thần
- Quyền được hỗ trợ đặc biệt, có cơ hội và được phát triển bằng chính
công việc do bản thân tự do lựa chọn: Quyền được hỗ trợ đặc biệt, có cơ hội và
được phát triển bằng chính công việc do bản thân tự do lựa chọn bao gồm các quyền như; quyền được hưởng các dịch vụ y tế, các dịch vụ đạt tiêu chuẩn cao nhất mà không bị phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật
- Quyền được phát triển: NKT cần được tiếp cận và thụ hưởng quyền phát
triển, bao gồm quyền được trao các cơ hôi bình đẳng về tiếp cận giáo dục, thông tin, phúc lợi xã hội, … được trao cho mọi cơ hội bình đẳng như những người khác nhằm phát huy mọi năng lực vốn có của bản thân mình,…
* Nghĩa vụ quốc gia trong việc thực hiện pháp luật quốc tế về NKT
- Tôn trọng (respect): Việc tôn trọng việc thực hiện pháp luật về NKT đòi
hỏi nhà nước pháp kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp vào việc hưởng thụ các quyền của NKT
- Bảo đảm (protect): Bảo đảm thực hiện pháp luật về NKT đòi hỏi nhà
nước phải ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba