1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện pháp luật về người khuyết tật từ thực tiễn Thành phố Hà Nội

83 211 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 681,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chức quốc tế mà nguyên nhân chính là do năng lực quản lý; điều kiện giao thông chưa tiếp cận; các chính sách an sinh xã hội như giáo dục, y tế, việc làm còn chưa đi vào chiều sâu và hiệu

Trang 1

k

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẬU PHƯỢNG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS Hoàng Văn Nghĩa

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

NGUYỄN THỊ HẬU PHƯỢNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT 10

1.1 Khái niệm chung về người khuyết tật 10

1.2 Pháp luật quốc tế về người khuyết tật 17

1.3 Pháp luật quốc gia về người khuyết tật 27 1.4 Thực hiện pháp luật về người khuyết tật 31

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 41

2.1 Thực trạng người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hà Nội 41

2.2 Nội dung thực hiện pháp luật về người khuyết tật trên địa bàn Thành phố Hà Nội 43

2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội 45 2.4 Kết quả của hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội 46

2.5 Những hạn chế và nguyên nhân của thực hiện pháp luật về người khuyết tật trên địa bàn Thành phố Hà Nội 56

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 60

3.1 Quan điểm tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật về người khuyết tật 60

3.2 Một số giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về người khuyết tật 61

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CRPD : Công ước quốc tế về các quyền của người khuyết tật

ESCAP : Ủy ban Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc Khu vực châu Á- Thái Bình

Dương

HRBA : Cách tiếp cận dựa trên quyền con người (a human rights based

approach)

ICCPR : Công ước quyền dân sự và chính trị

ICESCR : Công ước quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

ILO : Tổ chức Lao động Quốc tế

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Cơ cấu theo giới tính của NKT 41

Bảng 2.2 Các dạng khuyết tật 42

Bảng 2.3 Mức độ khuyết tật 42

Bảng 2.4 NKT còn khả năng lao động 48

Bảng 2.5 Trình độ học vấn của NKT 50

Bảng 2.6 NKT được cấp thẻ bảo hiểm 52

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia thành viên tích cực của các công ước quốc tế về quyền con người, bao gồm hai Công ước quan trọng được Liên hợp quốc (LHQ) thông qua vào năm 1966 và Việt Nam phê chuẩn năm 1982, đó là: Công ước quốc

tế về quyền dân sự, chính trị (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (năm 2007) Nhà nước Việt Nam luôn chăm lo, quan tâm đặc biệt đến quyền của các nhóm DBTT, trong đó có NKT, thông qua việc ghi nhận, tôn trọng

và thực hiện tận tâm, hiệu quả và có trách nhiệm đối với các nghĩa vụ quốc tế và các quy định về quyền con người Sự thay đổi nhận thức từ NKT chỉ được coi là những đối tượng chính sách, những người bệnh, hay nhóm xã hội, sang là chủ thể thụ hưởng đầy đủ của các quyền con người, trong hệ thống luật, chính sách và thực tiễn, đã và đang mang lại những chuyển biến lớn trong luật pháp quốc gia và quốc

tế và việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện các quyền con người của NKT

Ở Việt Nam, người khuyết tật là một trong những nhóm đối tượng xã hội được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển Hỗ trợ người khuyết tật khắc phục khó khăn, hòa nhập xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước là trách nhiệm pháp lý của nhà nước, xã hội Tinh thần đó thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng; Sác lệnh; Nghị định; Hiến pháp các năm 1946, 1959,1980,1992, Hiến pháp 1992(sửa đổi 2001), Luật Người khuyết tật năm 2010

Sự hiện diện của vấn đề người khuyết tật trong nội dung các Hiến pháp Việt Nam

đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này đối với xã hội Việt Nam Hiến pháp đã

khẳng định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” [24], “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa

và học nghề.” [24]

Trang 7

Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp, Luật người khuyết tật năm 2010 cùng với hệ thống các Bộ luật cũng như luật chuyên ngành quy định chứ những quy phạm liên quan tới người khuyết tật như: Luật người khuyết tật, Bộ Luật lao động, Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Giáo dục, Luật Bình đẳng giới, Luật Bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em, Luật công nghệ thông tin và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành luật các quy định liên quan tới người khuyết tật của các Luật chuyên ngành của Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương đã ban hành, tạo ra cơ sở pháp lý cũng như những điều kiện cho người khuyết tật thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa

Việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật diễn ra ở tất cả các tỉnh thành trên phạm vi toàn quốc Tại Hà Nội Thủ đô của nước Việt Nam có nền chính trị-kinh tế- văn hóa phát triển.Vì vậy, Thành phố Hà Nội luôn dành những quan tâm nhất định tới người khuyết tật cũng như chủ trương chính sách pháp luật về người khuyết tật ngày được quan tâm cũng như ưu tiên phát triển Trong những năm thực hiện Luật về người khuyết tật cũng như Hiến pháp, Bộ luật, luật, thông tư, các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ,các bộ ngành, UBND Thành phố Hà Nội luôn đi đầu trong việc triển khai và thực hiện chính sách pháp luật về người khuyết tật luật định cũng như đề ra nhiều hoạt động, chính sách phù hợp với người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội

Việc làm này giúp cho pháp luật về người khuyết tật ngày càng đi vào thực tiễn đời sống và các chính sách cho người khuyết tật được thực hiện hiệu quả giúp cho người khuyết tật có được điều kiện tốt nhất để thể hòa nhập với cộng đồng Tuy nhiên việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật trên Thành phố Hà Nội còn nhiều khó khăn nhất là trong vấn đề huy động các nguồn lực từ xã hội trợ giúp họ hoà nhập cộng đồng cũng như phát huy tiềm năng của chính người khuyết tật đo là những khó khăn về: Nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyết tật còn hạn chế;

Sự thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách khiến nhiều người khuyết tật gặp trở ngại hoà nhập; các cơ chế để thực hiện pháp luật còn nhiều bất cập chưa có sự đồng

bộ và thiếu hiệu quả cao; huy động sự ủng hộ từ bản thân nội lực các cơ quan tổ chức trong nước chưa nhiều; chưa biết sử dụng có hiệu quả nguồn ủng hộ từ các tổ

Trang 8

chức quốc tế mà nguyên nhân chính là do năng lực quản lý; điều kiện giao thông chưa tiếp cận; các chính sách an sinh xã hội như giáo dục, y tế, việc làm còn chưa

đi vào chiều sâu và hiệu quả; bản thân nhiều người khuyết tật còn chưa khẳng định được tiếng nói của chính mình trong xã hội do mặc cảm, tự ti…

Từ những lý do trên, việc nghiên cứu: “Thực hiện pháp luật về người khuyết tật từ thực tiễn Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ của mình góp phần làm

rõ cả về lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp đảm bảo việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật diễn ra ở rất nhiều lĩnh vực liên quan tới nhiều Bộ, ngành, các cấp chính quyền vì vậy có rất nhiều những nghiên cứu, đánh giá trong quá trình tổ chức và hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật

Quyền con người của các nhóm dễ bị tổn thương nói chung và quyền của người khuyết tật nói riêng luôn là một đề tài được nghiên cứu, tiếp cận và phân tích

từ nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt từ phương diện cách tiếp cận dựa trên quyền con người, pháp luật và chính sách nói chung cũng như pháp luật về quyền con người nói riêng Hàng loạt các công trình nghiên cứu đã đề cập khái quát, tổng thể

và nhiều chiều về quyền con người nói chung và quyền của người khuyết tật nói riêng Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của các chuyên gia luật và quyền con người, đó là:

- GS Võ Khánh Vinh (2010), chủ biên, Quyền con người tiếp cận đa ngành

và liên ngành luật học , Nxb KHXH H Trong công trình nghiên cứu này, các tác

giả đã phân tích và làm rõ đặc trưng và nội dung cơ bản của khoa học về quyền con người từ cách tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học Công trình đã làm nổi bật được khái niệm, nội hàm và đặc điểm của các quyền con người, trong đó có các quyền của các nhóm dễ bị tổn thương bao gồm quyền của người khuyết tật

- GS.TS Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao – Lã Thanh Tùng (Đồng chủ

biên) (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, tái bản lần thứ

Trang 9

nhất có sửa đổi, bổ sung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Các tác giả đã làm rõ những khía cạnh về lý luận và pháp luật, nhất là pháp luật quốc tế và quốc gia về quyền con người, bao gồm một số chương, phần và nội dung trực tiếp đề cập đến quyền của người khuyết tật như là nhóm DBTT

gia Hồ Chí Minh) Tác giả đã phân tích và làm rõ khái niệm, bản chất và nội dung

cơ bản của quyền NKT và hệ thống pháp luật về NKT ở Việt Nam hiện nay

- Các công trình nghiên cứu khác có liên quan từ góc độ phân tích thành tựu

và thực trạng của hệ thống pháp luật về NKT, bao gồm: Phạm Thị Trang (2016),

“Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật – từ thực tiễn tại Thành phố

Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ (Đại học Quốc gia Hà Nội); Hồ Thị Trâm (2013),

“Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật”, Luận văn Thạc sĩ (Trường Đại học Luật Hà Nội); và Trần Thị Thúy (2012), “Chế độ giáo dục đối với người khuyết tật

ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ (Trường Đại học Luật Hà Nội), …đã tiếp cận từ

nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau liên quan đến NKT ở Việt Nam hiện nay

- An sinh xã hội đối với lao động là người khuyết tật “Dự án” nâng cao năng lực của các cơ quan và tổ chức chính quyền Việt Nam trong việc triển khai Nghị quyết 15/NQTW về một số chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020;

Một số công trình nghiên cứu khác có liên quan tiếp cận NKT từ thực tiễn bảo đảm, chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về

NKT Cụ thể: “Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Luật người khuyết tật và Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012- 2020 trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Sở Thương binh lao động và xã hội thành phố Hà Nội; “Kế hoạch Thực hiện trợ giúp

Trang 10

người khuyết tật thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2020”, Sở Thương binh lao

động và xã hội thành phố Hà Nội; Tạo việc làm cho Người khuyết tật-kinh nghiệm

từ một dự án quốc tế;Thái Ninh Thắng , “Sự cần thiết đưa chuyên đề của Người khuyết tật ở Việt Nam vào giảng dạy trong chương trình các chuyên đề tự chọn thuộc môn Luật Hiến pháp”, bài trích số 5 tạp chí Luật học, 2008;- Th.S Đỗ Thị Dung, “ Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học số 10/2013; và Th.S Đinh Thị Cẩm Hà, “Hoàn thiện các quy định của Hiến pháp bảo đảm quyền của người khuyết tật”, Tạp chí Nghiên cứu Lập

pháp số 9(217) 5/2012

Một số công trình nghiên cứu cũng đã tiếp cận NKT từ phương diện quyền con người, đồng thời phân tích và so sánh các quy định của pháp luật quốc gia và

quốc tế về quyền của NKT Đó là: Đinh Thị Cẩm Hà (2012), “Bảo vệ một số quyền

cơ bản của người khuyết tật So sánh pháp luật Việt Nam với công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật” Sách tham khảo, Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Th.S Nguyễn Thị Báo, “Quyền của người khuyết tật trong các văn kiện quốc tế về quyền con người”, Tạp chí Luật học

số 10/2007,TS Trần Thái Dương (Đại học Luật Hà Nội), “Phê chuẩn Công ước về quyền của Người khuyết tật và việc thực thi nghĩa vụ thành viên công ước”, tạp chí

Cộng sản ngày 30/6/2015; - Eric Rosenthal và Viện Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần thực hiện theo yêu cầu của UNICEF Việt Nam (tháng 12 năm

2009), “Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt - Đưa Luật pháp của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên Hiệp quốc về Quyền của Người khuyết tật”,… - Công ước

quốc tế về quyền của người khuyết tật, Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD), 2008; Bộ lao động thương binh và xã hội, (2013),

“Chiến lược INCHOEN nhằm “thực hiện hóa” cho người khuyết tật khu vực Châu

Á - Thái Bình Dương”, Nxb Lao động xã hội;

Tuy nhiên, cho tới nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một các hệ thống và đi sâu về việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật, đặc biệt trên phạm

vi cụ thể: Thành phố Hà Nội

Trang 11

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Người khuyết tật, thực hiện pháp luật về người khuyết tật hay việc bảo đảm quyền của người khuyết tật, luôn là một trong những chủ đề thời sự của các nhà lập pháp, học giả và hoạt động thực tiễn trên toàn thế giới, đặc biệt là từ sau khi hệ thống luật nhân quyền liên hợp quốc ra đời (đánh dấu bằng Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền năm 1948, 2 Công ước 1966 và 2 Nghị định thư của Công ước ICCPR) Đã có hàng chục ngàn các công trình nghiên cứu về người khuyết tật, quyền của người khuyết tật và việc thực thi pháp luật quốc tế, khu vực và quốc gia

về NKT Điển hình là công trình nghiên cứu “the UN Convention on the Rights of Persons with Disabilities: European and Scanadivian Perspectives” do tác giả

Gerard Quinn (chủ biên, 2009) đã cung cấp cách tiếp cận của các quốc gia phát triển ở châu Âu và Bắc Âu về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và thực tiễn bảo đảm các quyền của NKT :

Tác phẩm, “The development of disability rights under international law: from charity to human rights”, của tác giả Arlene S Kanter, Abingdon, Rougtlege

Publishers, 2015, đã phân tích và làm rõ những khía cạnh luật pháp quốc tế, nhất là luật nhân quyền quốc tế, quy định về NKT và quyền của NKT

Giáo trình nhân quyền quốc tế (Textbook on international human rights),

Rohna K.M Smith, Nxb Đại học Oxford, phân tích và làm rõ nội hàm, khái niệm

và đặc trưng của các quyền của DBTT trong đó có NKT,…

Công trình nghiên cứu “ASEAN and the convention on the rights of persons with disabilities: using international law to promote social and economic development” của tác giả Carole J Petersen đã phân tích những quy định của luật

quốc tế cũng như các cơ chế, thiết chế của ASEAN trong việc bảo đảm quyền của những người khuyết tật

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu về cơ sở lý luận chung về nhà nước cũng như pháp luật người khuyết tật dựa trên những hiểu biết và thực trạng của việc thi hành pháp luật người khuyết tật ở nước ta hiện nay cũng như trên địa bàn Thành phố Hà Nội Từ

đó đưa ra những cái nhìn khái quát từ những hạn chế trên cơ sở đó đưa ra những cơ

sở pháp lí cũng như những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống cơ sở pháp luật

Trang 12

về người khuyết tật và nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật về người khuyết tật Từ đó góp phần bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật trên mọi phương diện kinh tế, chính trị và xã hội giúp họ hòa nhập với xã hội trong

và ngoài nước

Để đạt được mục đích trên cần thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn liên quan tới người khuyết tật,

cũng như hệ thống pháp luật về người khuyết tật Trên cơ sở đặc điểm đặc thù của người khuyết tật với những người không khuyết tật đó tác động tới việc hình thành cũng như thực thi pháp luật như thế nào về hình thức, vai trò thực hiện pháp luật về người khuyết tật.Bên cạnh đó cần liên hệ về người khuyết tật cũng như pháp luật về người khuyết tật với các quốc gia trên thế giới

Thứ hai,từ những thực trạng thực tế đánh giá phân tích hoạt động thực hiện

pháp luật về người khuyết tật ở Thành phố Hà nội hiện nay kể từ khi ban hành Luật người khuyết tật 2010 tại những phạm vi cụ thể Qua những phân tích, đánh giá cần đánh giá thực trạng pháp luật về người khuyết tật đã thể hiện hạn chế cũng như nguyên nhân thực trạng của việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật ở Thành phố Hà Nội

Thứ ba, từ những nhìn nhận hạn chế để đưa ra những giải pháp cụ thể để hoàn

thiện pháp luật về người khuyết tật và đảm bảo cũng như nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật tại Thành phố Hà Nội.Những giải pháp cần được xây dựng thống nhất, chặt chẽ và phù hợp với các pháp luật hiện hành và với hoạt động quản lý nhà nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu Luận văn là pháp luật về người khuyết tật và việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật trên địa bàn Thành phố Hà Nội, đồng thời giới hạn ở một địa bàn cụ thể (quận/huyện) của thành phố Hà Nội để phân tích, đánh giá và so sánh

Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Pháp luật về người khuyết tật rất rộng lớn từ Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Thông tư, Nghị định và rất nhiều văn bản dưới luật

Trang 13

Tuy nhiên trong luận văn sẽ chú trọng đánh giá về Hiến pháp, các Bộ luật và các luật chuyên ngành quy định về người khuyết tật (như: Bộ Luật lao động, Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Giáo dục, Luật Bình đẳng giới, Luật Bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em, Luật công nghệ thông tin ) Đồng thời, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về NKT trên một số lĩnh vực chủ yếu, bao gồm: lao động-việc làm, giáo dục, sức khỏe và văn hóa-xã hội (hay việc thực hiện pháp luật về một số quyền cụ thể của NKT, đó là quyền có việc làm, quyền được giáo dục, quyền về sức khỏe…)

Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích và làm rõ việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật bắt đầu từ năm 2010 cho tới nay (kể từ khi

có luật người khuyết tật 2010)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Việt Nam về người khuyết tật cũng như các bộ luật khác được sử dụng cho việc nghiên cứu

5.2 Phương pháp và cách tiếp cận

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là là: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo cứu tài liệu, thống kê, luận văn cũng sử dụng các cách tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học và cách tiếp cận dựa trên quyền con người,…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn hệ thống hóa các cơ sở lý luận về người khuyết tật, pháp luật về người khuyết tật Qua đó nhận biết chung nhất về chủ trương chính sách của nhà nước trong việc bảo đảm quyền của người khuyết tật thông qua pháp luật So sánh pháp luật về người khuyết tật của Việt Nam với các nước khác trên thế giới

Đánh giá được thực trạng của hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật từ đó nhận thức được những hạn chế và nguyên nhân của nó

Ý nghĩa thực tiễn luận văn đó là từ những thực tiễn hoạt động đề ra hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về người khuyết tật và giúp hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật diễn ra hiệu quả

Trang 14

Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu về pháp luật về người khuyết tật

7 Cơ cấu của luận văn

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người khuyết tật và thực hiện pháp luật

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1 Khái niệm chung về người khuyết tật

1.1.1 Khái niệm người khuyết tật

1.1.1.1 Quan niệm về người khuyết tật trên thế giới hiện nay

Người khuyết tật là bộ phận dân cư chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong cộng đồng dân cư trên thế giới Hiện nay, theo báo cáo đánh giá của Liên hợp quốc, ước tính có khoảng 10-15% dân số trên thế giới, tức là khoảng 700 triệu cho tới một tỷ người là người khuyết tật và khuynh hướng tăng thêm gần 10 triệu người mỗi năm theo số lượng báo cáo của UNDP

Theo cách phân chia của WHO năm 1978, thì NKT được chia thành 7 nhóm dạng NKT đó là khuyết tật: về vận động, khiếm thị, khiếm thính, chậm phát triển tính thần/ trí tuệ, tâm thần, động kinh, mất cảm giác[5] Tồn tại các quan niệm khác

nhau ở các quốc gia trên thế giới xung quanh thuật ngữ “khuyết tật”, “giảm khả năng”, “tàn tật” hay “mất khả năng” và “tàn phế” [35] Tuy nhiên tựu chung lại,

thuật ngữ NKT được tiếp cận và định nghĩa trong các văn kiện của LHQ như sau:

Thứ nhất, tại Tuyên ngôn của LHQ về quyền của NKT,“người khuyết tật” là

“bất cứ người nào mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần, những sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do dự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ”[33]

Thứ hai, Công ước quốc tế về các quyền của người khuyết tật (CRPD) được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 13-12-2006 đã nhận định: “khuyết tật là một khái niệm mới và rằng khuyết tật là kết quả của sự tương tác giữa những người có khiếm khuyết và những rào cản về thái độ và môi trường mà ở đó hạn chế sự tham gia một cách đầy đủ, và có hiệu quả vào các hoạt động trên cơ sở bình đẳng với các thành viên khác trong xã hội,” khái niệm này được đưa ra trên cơ sở tiếp cận

NKT một cách toàn diện dưới góc độ quyền con người từ việc nhận này cho rằng cần những khiếm khuyết tạo ra những rào cản, hạn chế khả năng tham gia đầy đủ

Trang 16

và hiệu quả vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [12] của “những người khuyết tật” Hơn vậy, Công ước khẳng định: “Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như là một bộ phận và sự đa dạng của con người và của nhân loại”(Điều 3)[12] và nhấn mạnh muốn phát triển bền vững nhân loại thì

các vấn đề liên quan tới NKT là một phần quan trọng của chiến lược phát triển Như vậy, đã có những thay đổi sâu sắc về NKT trong Công ước bởi tình trạng ảnh hưởng của khuyết tật không tập trung vào nguyên nhân mà là trách nhiệm của tất cả mọi người, khuyết tật là một vấn đề của xã hội vì vậy xã hội phải có trách nhiệm trong việc tháo gỡ những rào cản cho NKT, các quốc gia cần có những định hướng phát triển xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp tạo cơ sở bình đẳng cho NKT

Thứ ba, thuật ngữ khuyết tật còn được tiếp cận dưới góc độ quyền lao động

việc làm trong một số văn kiện của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) như: Công ước số 159 về Phục hồi chức năng nghề nghiệp cho người khuyết tật năm 1955 và Khuyến nghị của ILO số 99 của ILO về Phục hồi chức năng nghề nghiệp cho người khuyết tật năm 1955 và Khuyến nghị của ILO số 168 về Phục hồi chức năng nghề nghiệp và việc làm cho người khuyết tật năm 1983 Theo các văn kiện này, thuật

ngữ “người khuyết tật”: “dùng để chỉ người mà triển vọng tìm được một việc làm thích hợp, cũng như triển vọng tiến bộ về mặt nghề nghiệp, đều bị giảm sút một cách rõ rệt, do một sự khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần được Công nhận rõ ràng.”[11]

Mỗi quốc gia trên thế giới cũng có cách tiếp cận và các định nghĩa riêng về

khuyết tật và NKT Tại Hoa Kỳ định nghĩa “Người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”[18] Đạo luật sửa đổi đã mở rộng hơn về định nghĩa

“khuyết tật” qua đó mở rộng sự bảo vệ của ADA tới số lượng lớn người dân, ADA

cho rằng NKT là người bị khiếm khuyết hoặc thiếu hụt về thể chất hay tâm thần mà

từ đó dẫn tới sự hạn chế cho những hoạt động hàng ngày trong cuộc sống của cá nhân đó Và nó phải diễn ra trong thời gian dài và không áp dụng cho những hoạt động bị hạn chế ít hơn 6 tháng

Tại Trung Quốc quy định: “Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý,

Trang 17

hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động bình thường”[19]

Luật bình đẳng về việc làm của Nam phi định nghĩa NKT là “người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển sự nghiệp.”

Có thể thấy rằng, mỗi quốc gia đều có cách quan niệm, quy định khác nhau tuy nhiên đều có điểm chung đó là đều dựa trên sự suy giảm chức năng làm căn cứ định nghĩa NKT

1.1.1.2 Các cách tiếp cận khái niệm người khuyết tật

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm NKT nhưng có thể thấy nó

được nhìn nhận thông qua các quan điểm và cách tiếp cận chính đó là:

Thứ nhất, cách tiếp cận từ góc độ từ thiện: NKT là nạn nhân của những khiếm

khuyết của họ vì vậy họ bị hạn chế trong việc thực hiện những công việc sinh hoạt

cá nhân đó là họ không thể đi lại, ăn uống, nhìn, học tập, làm việc,… Họ dễ trở nên

tự ti và luôn bị coi là gánh nặng của gia đình và xã hội Việc tiếp cận NKT theo cách này diễn ra trong một thời gian dài, NKT lúc đó được coi là một góc của xã hội, liên quan tới những tổ chức đặc biệt nào đó liên quan tới NKT Cách nhìn nhận của xã hội đối với NKT chỉ là những người đáng thương, những bi kịch đau khổ mà

họ phải chịu đựng chứ họ chưa được nhìn nhận thấy giá trị của con người họ làm cho họ mặc cảm về bản thân và xa kánh xã hội hơn

Thứ hai, cách nhìn nhận dưới góc độ sinh học, y tế hay mô hình cá nhân cho

rằng NKT là do hạn chế của cá nhân của chính con người đó Theo cách tiếp cận này NKT trước hết là những người có khiếm khuyết về thể chất cần được chữa trị,

có chế dộ chăm sóc y tế đặc biệt, NKT được nhìn nhận là những người bệnh, hay bệnh nhân (patient) Họ chịu sự phân biệt về chế độ đãi ngộ, cư xử, về môi trường hay là về những thể chế của nhà nước đối với NKT và những người không khuyết tật khác nhau Điều này dẫn tới trong thực tế khi họ muốn hòa nhập vào xã hội, họ lại phải đối mặt với những hình thức phân biệt đối xử khác và họ lại rơi vào vai trò

là thụ động

Trang 18

Thứ ba, cách nhìn nhận dưới góc độ xã hội: đây là mô hình được cho là nền

tảng của những chuyển biến của vấn đề của NKT Từ việc NKT bị tách biệt khỏi với những người bình thường khác, đến cách nhìn nhận này khuyết tật được nhìn nhận là hệ quả của việc bị xã hội loại trừ và phân biệt Bởi những nhận thức chưa đúng của xã hội về NKT vì vậy dẫn tới NKT phải đối mặt với sự phân biệt đối xử

về vật chất (môi trường xây dựng), vấn đề thể chế (thể chế xã hội, luật pháp, giáo dục, tôn giáo và chính trị) và vấn đề nhận thức (những giá trị tiêu cực về NKT) Cách tiếp cận này cho thấy chính xã hội mới biến họ thành khuyết tật, tuy nhiên cách tiếp cận xã hội không phủ nhận những giá trị của NKT, mô hình này thừa nhận NKT theo cách tích cực hơn và khiến NKT được hưởng quyền công dân Từ

đó giúp họ đóng vai trò chủ động và nhận thức được đầy đủ các nghĩa vụ của mình với tư cách là một công dân trong mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội

Thứ tư, cách nhìn nhận dưới góc độ quyền hay cách tiếp cận dựa trên quyền (a human rights-based approach) Cách tiếp cận này là một xu hướng khá phổ biến

của LHQ, cộng đồng quốc tế và các quốc gia hiện nay trong việc hoạch định, thực hiện và giám sát quá trình chính sách, pháp luật nói chung và liên quan đến NKT

nói riêng-đặc điểm chính đó là tôn trọng quyền NKT như tất cả mọi người khác

trong xã hội, mọi người đều có quyền như nhau So với các mô hình khác có sự tách biệt giữa NKT và những người khác, mô hình này cho thấy, xã hội cần có những thay đổi, phải phá vỡ những rào cản mà xã hội lập nên để thích nghi với NKT chứ không phải do NKT cần phải thích nghi với điều kiện của xã hội Một trong những cách thức hiệu quả nhất đó là Luật pháp và chính sách cần được xây dựng và thực hiện có hiệu quả Mô hình này phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người cũng như thể hiện việc tôn trọng của quốc gia đối với các quyền

cơ bản của con người Trong mô hình này hai yếu tố quan trọng nhất đó là trao quyền-(Empowerment) sự tham gia chủ động của người khuyết tật và trách nhiệm giải trình-(Accountability) nghĩa là đòi hỏi vai trò, trách nhiệm, và nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước trong việc đáp ứng và thưc hiện Cách tiếp cận quyền giúp cho có cái nhìn tổng quát nhất về quyền của mỗi người được tiếp cận và hưởng thụ không phân biệt bất kì cá nhân nào

Trang 19

Những cách tiếp cận trên phản ánh quan niệm của xã hội về khuyết tật Mỗi cách tiếp cận ảnh hưởng tới suy nghĩ và tương tác với NKT và phải phù hợp với tình hình phát triển của mỗi quốc gia.Tuy nhiên, trên thực tế, các phong trào khuyết tật hiện nay trên thế giới đề hướng tới vận động xã hội và Chính phủ áp dụng cách tiếp cận dưới góc độ quyền con người

1.1.1.3 Quan niệm về người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Sự thay đổi trong hiểu biết về khuyết tật cũng như NKT giúp cho quan niệm

về người khuyết tật ngày càng được hoàn thiện hơn nữa Ở Việt Nam trước khi có Luật người khuyết tật năm 2010 chính thức ra đời thì hầu hết trong tất cả các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật và Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 đều

sử dụng thuật ngữ “Người tàn tật”

Thuật ngữ “tàn tật” theo Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa là “tình thế bất lợi xuất phát từ sự khiếm khuyết hoặc khuyết tật hạn chế thực hiện một vai trò được coi là bình thường đối với tuổi tác, giới tính và các yếu tố xã hội” còn “khuyết tật” thì được hiểu là “bất kỳ giới hạn hoặc mất chức năng bắt nguồn từ sự khiếm khuyết làm ngăn cản việc thực hiện một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình thường đối với một con người” Việc thay đổi việc dùng từ “tàn tật” hay “khuyết tật” Việt Nam đã tổ chức Hội thảo về “Khái niệm và từ ngữ về người tàn tật” do

Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật thuộc Bộ lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì ngày 14-7-2006[45] Sau đó đã đi tới thống nhất việc dùng từ

“khuyết tật” điều này nó thể hiện tính nhân văn cao hơn, không mang tính kì thị,

bắt kịp với xu hướng của xã hội Hội thảo thống nhất quan điểm là họ mong muốn

mọi người gọi họ là người “khuyết tật” thay cho “tàn tật” để mang tính nhân văn,

tính xã hội nhiều hơn và đáp ứng được nguyện vọng của cộng đồng NKT

Theo Luật người khuyết tật Việt Nam: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.( Điều 2)[25]

Có thể thấy so với định nghĩa NKT tại Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998

chỉ khác biệt ở việc thuật ngữ được sử dụng là “khuyết tật” và “tàn tật” Việc thay

thế này thể hiện sự thay đổi trong cách nhận thức của nhà làm luật Việt Nam, đồng

Trang 20

thời thay đổi quan niệm này cũng thể hiện nỗ lực đóng góp của bản thân NKT khi vận động cho sự thay đổi nhận thức này

Theo tinh thần của Luật Người khuyết tật 2010, NKT bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh Có thể thấy, Luật Người khuyết tật đã đưa ra khái niệm NKT dựa vào mô hình xã hội và phù hợp với CRPD Từ cách tiếp cận này, đã chia NKT ra thành 6 dạng khuyết tật: vận động; nghe, nói; nhìn; thần kinh, tâm thần; trí tuệ; các loại khác và các mức độ khuyết tật khác nhau: khuyết tật nhẹ, khuyết tật nặng, khuyết

tật đặc biệt nặng(Điều 3)[25]

Ngoài ra Nhà nước còn ban hành những nghị định hướng dẫn cách xác định

về các dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật một cách chi tiết và cụ thể [22] giúp cho việc thực hiện pháp luật về NKT được hiệu quả ứng với mỗi đối tượng NKT tương ứng Thực tế cho thấy, NKT bị hạn chế cơ hội tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội do những khiếm khuyết về cơ thể hay chức năng, song khó khăn

đó sẽ tăng thêm do ảnh hưởng bởi những rào cản khác trong xã hội Do đó, chính sách đối với những NKT không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng mà còn phải tiến tới giảm thiểu và xóa bỏ các rào cản đối với NKT nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của Nhà nước, xã hội, gia đình, cộng đồng và của mọi các nhân đối với các người khuyết tật từ đó giúp người khuyết tật có nhiều

cơ hội và chủ động tham gia một cách bình đẳng vào các hoạt động của xã hội Những thay đổi đó góp phần tạo nên những đổi mới trong cộng đồng NKT tuy nhiên vẫn còn bộ phận không nhỏ NKT luôn trong trạng thái tự ti, mặc cảm với số phận kém may nắm chỉ biết sống dựa vào gia đình và sự trợ giúp của Nhà nước

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm tổng thể về NKT như sau:

“Người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc có những rối loạn về sinh lý, tâm lý hay một chức năng nào đó của con người, không phân biệt nguồn gốc gây ra, dấn đến hạn chế một phần hoặc mất khả năng lao động và gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, học tập và hòa nhập cộng đồng”

Trang 21

1.1.2 Đặc điểm của người khuyết tật

1.1.2.1 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ sinh học

NKT là những người bị khiếm khuyết một hay toàn bộ cơ thể, hoặc có sự rối loạn về tâm sinh lý hay một chức năng nào đó của con người Đó là nguyên nhân dẫn tới việc NKT bị hạn chế về sức khỏe, việc vận động, giao tiếp hay tự mình có khả năng thực hiện các công việc cá nhân hàng ngày, tiếp cận giáo dục, y tế, các dịch vụ an sinh xã hội NKT thường sống dựa vào gia đình, cộng đồng vì vậy bản thân họ hay những người khác luôn bi coi là gánh nặng NKT mang trong mình những khiếm khuyết tuy nhiên lại không có khả năng tự bảo vệ bản thân vì vậy họ rất cần tới sự quan tâm chăm sóc, sự hỗ trợ của y tế giúp cho bệnh tật của họ được phục hồi và thuyên giảm để họ có thể tồn tại và hòa nhập với cộng đồng

1.1.2.2 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội

Có thể nói NKT là nhóm cư dân đặc biệt thiệt thòi về mặt kinh tế và xã hội Những gia đình có NKT thường phải đối mặt với việc thiếu nhân lực lao động trong khi đó lại phải giúp đỡ NKT trong mọi sinh hoạt đời thường Hơn thế nữa NKT đa phần có học vấn thấp, chất lượng lao động kém, không đảm bảo được điều kiện sức khỏe vì vậy việc tìm việc làm đối với họ là rất khó khăn, hầu hết NKT đều đối diện với tình trạng thất nghiệp trong đó khuyết tật chính là nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó Bên cạnh đó, NKT còn phải đối diện với sự kì thị của xã hội Do nhận thức của xã hội không đúng về NKT từ đó dẫn tới việc họ bị phân biệt đối xử

họ luôn là người “đáng thương” hay nặng nề hơn là “đồ bỏ đi” trong mắt mọi

người Trong số NKT đối tượng phải chịu hậu quả của sự phân biệt đối xử, bạo hành, lạm dụng tình dục cao hơn nhiều lần so với những NKT khác đó là những NKT là phụ nữ và trẻ em

1.1.3 Người khuyết tật và quyền của người khuyết tật

Người khuyết tật trước hết cũng là con người, hơn nữa họ còn là nhóm xã hội

dễ bị tổn thương, vì vậy họ là chủ thể đầy đủ của các quyền con người, được thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản như tất cả trước hết họ đều được hưởng các quyền tự nhiên cơ bản của con người như mọi người khác trong xã hội bao gồm các nhóm quyền đó là:

Trang 22

Thứ nhất, các quyền dân sự, chính trị bao gồm: Quyền tự do các nhân; Quyền

sống; Quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo tín ngưỡng, tự do biểu đạt, quyền được bầu cử, ứng cử; Quyền được xét xử công bằng, các quyền này chủ yếu gắn liền với

tự do cá nhân [4]

Thứ hai, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa bao gồm: Quyền được hưởng và

duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng; Quyền lao động; Quyền giáo dục; Quyền được hưởng an sinh xã hội; Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học

Thứ ba, các quyền thuộc thế hệ thứ ba, bao gồm: Quyền kết đoàn, Quyền phát

triển, Quyền hòa bình

NKT đều là chủ thể đầy đủ của các quyền con người này Tuy nhiên, sự khác biệt đó chính là trong khi người bình thường thụ hưởng các quyền này đôi khi không gặp trở ngại về khả năng và năng lực thực hiện thì việc thực hiện và thụ hưởng hai nhóm quyền này của NKT với những điều kiện đặc thù và đặc biệt Chẳng hạn, trong trường hợp khi những NKT không có năng lực hành vi dân sự hay mất, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được thực hiện thông qua người giám hộ của họ Hay khi họ được hưởng thụ các quyền cơ bản thì việc tự khả năng NKT thụ hưởng gặp nhiều khó khăn hơn nên cần được Nhà nước quan tâm đặc biệt

và tạo cơ tốt hội hơn trong việc để thụ hưởng được các quyền của mình

Tuy nhiên bên cạnh những quyền cơ bản đó, do những điểm khác biệt về cơ thể và thể chất nên NKT có những quyền đặc thù đặc trưng riêng đó là: Quyền được hòa nhập và hỗ trợ để hòa nhập vào cộng đồng; Quyền được hỗ trợ trong việc

đi lại; Quyền được hỗ trợ để phục hồi chức năng

1.2 Pháp luật quốc tế về người khuyết tật

1.2.1 Pháp luật quốc tế về người khuyết tật

1.2.1.1 Các điều ước quốc tế về quyền con người

Trước hết khi nghiên cứu về NKT ta cần có cái nhìn tổng quan về quyền con người vì xét cho cùng NKT trước hết là một con người, họ mang những quyền cơ bản nhất của con người Có những khái niệm khác nhau liên quan tới định nghĩa về

quyền con người tuy nhiên tựu chung lại có thể hiểu quyền con người là quyền của

Trang 23

tất cả mọi người, là những đòi hỏi xuất phát từ nhân phẩm được chế định trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

Quyền con người là giá trị chung của nhân loại, thành quả của cuộc đấu tranh của con người qua hàng nghìn năm lịch sử cho tới hiện tại, việc bảo đảm thúc đẩy quyền con người đã trở thành mục tiêu phấn đấu chung của cộng đồng quốc tế và được thể hiện trong chính sách pháp luật của các quốc gia trên thế giới

Khi hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hợp tác quốc tế giữa các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng và thắt chặt hơn nữa Pháp luật quốc tế rất quan tâm tới vấn đề quyền con người và được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế:

Thứ nhất, ngay ở lời mở đầu Hiến chương đã khẳng định: “Tuyên bố một lần nữa lòng tin tưởng ở những quyền cơ bản của con người, ở phẩm giá và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng nam, nữ và ở quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ”[17]- quyền con người được coi là một trong những nội dung quan trọng của

Hiến chương Liên hợp quốc Bên cạnh đó Hiến chương còn kêu gọi các quốc gia trên thế giới thực hiện các hợp tác quốc tế giải quyết các vấn đề về kinh tế, văn hóa,

xã hội và nhân đạo (Điều 3)[17],… Trong đó vấn đề bảo vệ quyền con người là một trong những mục đích chính của Liên hiệp quốc

Thứ hai, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, mặc dù không phải là

văn kiện pháp lý ràng buộc nhưng Tuyên ngôn đã được toàn thế giới công nhận là nền tảng pháp lý cho việc xây dựng công ước về quyền con người Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền chính là xuất phát từ sự khao khát muốn có một hệ thống chuẩn mực mới về nhân quyền trên toàn thế giới [31] và là kim chỉ nam cho các hành động và định hướng thực hiện quyền con người cho các quốc gia trên thế giới nó mang ý nghĩa đạo đức và chính trị mà ít có văn kiện nào có được

Thứ ba, ICCPR và ICESCR hai công ước này cùng với Tuyên ngôn thế giới

về nhân quyền có thể coi là một bộ luật hoàn chỉnh về quyền con người mang tính quốc tế Và được xem là những thỏa thuận về quyền con người có tính chất pháp lý ràng buộc chặt chẽ dưới hình thức Công ước đầu tiên của UN Công ước đều khẳng định: quyền tự quyết của dân tộc; nguyên tắc bình đẳng giới không phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo; sự liên kết giữa các nhóm quyền với

Trang 24

nhau mỗi nhóm quyền đều bổ sung cho nhau tạo điều kiện cho việc thực hiện được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn

Thứ tư, ngoài những văn bản chính bên cạnh đó còn rất nhiều công ước về

quyền con người như: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979; Công ước về quyền của người tàn tật năm 2006; Công ước quốc tế về trấn áp việc buôn người và bóc lột mại dâm người khác 1946,… Có thể nói có hàng trăm văn kiện pháp lý quốc tế được thông qua, bên cạnh đó còn có các văn kiện có tính pháp lý ở một số khu vực như: Công ước Châu Âu về quyền con người năm 1950, Công ước Châu Mỹ về quyền con người năm 1969; Hiến chương Châu Phi về quyền con người và của các dân tộc năm 1981 Hiến chương ASEAN…

1.2.1.2 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

Ngay từ những văn bản pháp lý đầu tiên của Liên hợp quốc (UN) đã đề cập tới

sự cần thiết của việc tôn trọng và thực hiện các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt thành phần, tôn giáo, giới tính,…Tuy nhiên những vấn

đề về NKT mới chỉ bắt đầu bằng việc thúc đẩy quyền của họ trong phương pháp tiếp cận an sinh xã hội (vào những năm 1940, 1950) và những bản công ước sau đó chưa có điều cụ thể nào về NKT Bản Tuyên bố của Liên hợp quốc về Quyền Người chậm phát triển và Tuyên bố về Quyền của Người khuyết tật được thông qua năm 1970 được coi là văn kiện đầu tiên của quốc tế quy định về các nguyên tắc nhân quyền liên quan tới NKT Từ đó những bản công ước và văn kiện pháp lý sau vấn đề nhân quyền của NKT được để và hoàn thiện hơn nữa Ngày 19 tháng 12 năm 2001, Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua Quyết định 56/168 từ đó đưa ra những đề xuất xem xét xây dựng một công ước quốc tế toàn diện và đầy đủ nhằm tăng cường và bảo vệ nhân quyền và nhân phẩm của NKT Sau sáu năm và tám phiên họp, tại kì họp lần thứ 61 Đại hội đồng UN và toàn thể đại biểu đã nhất trí thông qua CRPD Đây được coi là văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu một bước ngoặt về nhân quyền của NKT trên thế giới Điều này thể hiện sự quan tâm của thế giới đối với NKT và là việc làm đó là cần thiết vì muốn có xem xét xã hội đó có phát triển hay không là bằng cách đánh giá việc quốc gia ấy đối xử với những người yếu thế trong xã hội như thế nào

Trang 25

CRPD là văn bản mang tính pháp lý có hiệu lực pháp lý cao, đưa ra khung pháp lý, ghi nhận các chuẩn mực quốc tế về quyền của NKT Công ước được coi là công cụ thúc đẩy hành động đầy đủ, toàn diện và hiệu quả về quyền của NKT trên thế giới Công ước ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền tự do cơ bản của NKT như những người khác được hưởng thụ quyền và bình đẳng với nhau trên mọi lĩnh vực đời sống Công ước có những yêu cầu của quốc gia thành viên phải thực hiện đầy đủ những quy tắc khi tham gia công ước và có những chiến lược cụ thể để thực hiện công ước một cách hiệu quả nhất

Ngoài CRPD, quyền của NKT còn được cụ thể trong các văn kiện quốc tế khác như văn kiện của ILO về quyền lao động việc làm của NKT, Công ước về phục hồi hướng nghiệp và việc làm cho người tàn tật Bên cạnh đó còn có các văn kiện khác liên quan tới NKT như: Công ước chống phân biệt đối xử trong giáo dục của UNESCO, Tuyên bố về sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của người khuyết tật

ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương năm 1009,Chương trình hành động của thập

kỷ NKT khu vực châu Á- Thái Bình Dương lần thứ nhất từ 1993-2002, Thập kỷ người khuyết tật khu vực châu Á - Thái Bình Dương lần thứ hai , từ 2003-2012,…

1.2.1.3 Pháp luật khu vực về người khuyết tật và quyền người khuyết tật

Việt Nam không chỉ là thành viên CRPD mà còn tham gia các tổ chức khu vực liên quan tới vấn đề NKT ví dụ như việc Việt Nam là thành viên của ESCAP

Từ ngày 29/10 tới ngày 2/11/2012 các Chính phủ khu vực ESCAP nhóm họp tại Inchoen, Hàn Quốc bàn về tiến trình trong thập kỷ mới của NKT Châu Á và Thái Bình Dương giai đoạn 2013-2022 với dự tham gia của đại diện các tổ chức xã hội phi chính phủ, bao gồm cả các tổ chức của NKT và vì NKT Bên cạnh đó có các đại diện của các tổ chức liên chính phủ, cơ quan hợp tác phát triển và hệ thống Liên

hợp quốc Việc xây dựng bản thảo Chiến lược Incheon nhằm “Hiện thực hóa quyền” cho NKT tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương được dựa vào những kinh

nghiệm thực hiện liên tiếp hai Thập kỷ Người khuyết tật khu vực Châu Á- Thái Bình Dương giai đoạn 1993-2002 và 2003-2012 Các nguyên tắc của Chiến lược Inchoen đều dựa theo những nguyên tắc cơ bản của CRPD Từ đó đưa ra những mục tiêu, các định hướng chính sách cho các quốc gia thành viên thực hiện Các mục đích và mục tiêu của Incheon bao gồm ba mục đích chính:

Trang 26

Thứ nhất, Chiến lược Incheon bao gồm 10 mục đích có tương quan qua lại với

nhau, 26 mục tiêu và 62 chỉ số [10]

Thứ hai, khung thời gian để đạt được các mục đích và mục tiêu cho Thập kỷ

người khuyết tật khu vực Châu Á- Thái Bình Dương này là 2013 đến 2022

Thứ ba, các mục đích mô tả kết quả cuối cũng mong muốn đạt được các mục

đích và mục tiêu Incheon đã đề ra trong thời gian nhất định nhằm phát triển toàn diện của NKT khu vực Việc thực hiện tốt chiến lược Incheon sẽ giúp khu vực Châu Á và Thái Bình Dương theo dõi sự tiến bộ trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống, và thực hiện các quyền, của 650 triệu NKT trong khu vực, hầu hết sống trong nghèo đói

Ngoài ESCAP Việt Nam tham gia tích cực vào các tổ chức trong khu vực khác như ASEAN với Tuyên bố Bali nhằm tăng cường vai trò và sự tham gia của NKT trong cộng đồng ASEAN [46] được thông qua ngày 17/11/2011 tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 19 được tổ chức tại Bali, In-đô-nê-xi-a, trong đó ASEAN, ngoài các vấn đề khác tuyên bố giai đoạn 2011 đến 2020 là Thập kỷ ASEAN về NKT, hướng tới đảm bảo sự tham gia hiệu quả của NKT và lồng ghép vấn đề NKT vào các chính sách và chương trình của ASEAN qua các trị cột kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa và xã hội của cộng đồng ASEAN

1.2.1.4 Một số nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về người khuyết tật

* Các quyền cơ bản của người khuyết tật

Ngoài các văn kiện quốc tế, quyền của NKT được Công ước năm 2006 của

UN về quyền của NKT ghi nhận là một văn bản pháp lý riêng biệt đã thể hiện được

sự quan tâm lớn lao của quốc tế cho NKT, tầm quan trọng của NKT đối với xã hội

và được tiếp cận một cách khái quát và toàn diện Từ đó, có thể chia quyền của NKT thành những quyền và nhóm quyền như sau:

- Quyền được sống và đối xử bình đẳng: đây là quyền cơ bản nhất, hiển nhiên

nhất của tất cả mọi người đều được hưởng thụ và ghi nhận trong rất nhiều văn kiện quốc tế cũng như quốc gia NKT không được coi trọng cho xã hội hội và bị xã hội

kì thị khi coi họ là ghánh nặng, gây cản trở cho sự phát triển của xã hội, vì vậy, Công ước đã ghi nhận quyền được sống và đối xử bình đẳng (Điều 10)[12] để bảo

vệ quyền của NKT trước những sự xâm phạm của các chủ thể khác, và những

Trang 27

chính sách cần thiết để đảm bảo quyền sống cho NKT trong cuộc sống thường ngày cũng như bao gồm những tình huống khẩn cấp xảy ra như: xung đột vũ trang, các tình huống rủi ro, tình trạng khẩn cấp nhân đạo, sự xuất hiện của các thảm họa thiên nhiên (Điều 10,11)[32] Quyền bình đẳng của NKT thể hiện trong việc bình đẳng trong cơ hội, Nhà nước cần phát hiện những rào cản đó là những định kiến của xã hội là nguyên nhân, tác động tới NKT khi tham gia vào xã hội Vì vậy, cần phải thay đổi nhận thức, môi trường xã hội để tạo điều kiện cho NKT tiếp cận và hòa nhập cùng xã hội (Điều 12,13) [12]

- Quyền được đảm bảo tự do cơ bản bao gồm các quyền sau:

+ Quyền đảm bảo tự do và an toàn cá nhân là việc được tôn trọng, bảo vệ toàn vẹn về thể chất, tinh thần, không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, không bị bóc lột, lạm dụng và bạo lực (Điều 15,16,17) [12]

+ Quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư: NKT có quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư, bảo vệ trước sự can thiệp trái pháp luật vào cuộc sống riêng tư, gia đình, uy tín,… quyền này cần được nhấn mạnh và có sự lý giải hợp lý nhằm thể hiện sự tôn trọng cuộc sống riêng tư của NKT, đặc biệt là NKT có người giám hộ, chăm sóc (Điều 22) [12]

+ Quyền sống độc lập và hòa nhập cộng đồng: sự bình đẳng của NKT thể hiện

ở việc có cơ hội lựa chọn nơi sinh sống ở đâu với ai không bị bắt buộc phải sống ở nơi cụ thể như thế nào, được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tại nhà, tại nơi sinh sống và trong cộng đồng bao gồm cả sự cần thiết nhằm trợ giúp cho việc sống và hòa nhập cộng đồng, phải có các dịch vụ và hạ tầng cơ sở công cộng để NKT sử sụng bình đẳng với những người khác và phù hợp với nhu cầu của NKT

+ Quyền được tôn trọng gia đình và tổ ấm: NKT luôn có những rào cản lớn trong việc kết hôn, pháp luật quốc tế quy định các quốc gia thành viên thực thi các biện pháp hữu hiệu và phù hợp để xóa bỏ sự phân biệt của mọi người đối với NKT trong các vấn đề về hôn nhân, gia đình, quyền được làm cha mẹ và các mối quan hệ khác bình đẳng như những nguời khác trong xã hội

+ Quyền tự do đi lại, cư trú và tự do quốc tịch: được tạo điều kiện cho việc đi lại bằng phương tiện và thời gian mà người khuyết tật chọn lựa, được tiếp cận với

Trang 28

các phương tiện, thiết bị, công nghệ, quyền được có và chuyển đổi quốc tịch, không

bị tước quốc tịch, giấy tờ về quốc tịch hay những giấy tờ nhận dạng khác một cách tùy tiện hoặc với lý do học bị khuyết tật, họ được tự do rời khỏi bất cứ quốc gia nào, bao gồm đất nước của họ; không bị tước đi, một cách tuỳ tiện hay với lý do bị khuyết tật, quyền trở về đất nước của họ

+ Quyền tự do biểu đạt, chính kiến, và tiếp cận thông tin NKT có thể tự do tìm kiếm thông tin, thu thập và phổ biến thông tin và ý kiến trên cơ sở bình đẳng trên cơ sở bằng các hình thức giao tiếp mà họ lựa chọn

- Quyền được bảo vệ

+ Quyền không bị tra tấn, bị đối xử, áp dụng các hình phạt tàn nhẫn: quyền này được ghi nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền của UN năm 1945 và Công ước

về Quyền của Người khuyết tật khẳng định và nhấm mạnh quyền đó của người

khuyết tật

+ Quyền không bị bóc lột, bạo hành và lạm dụng: NKT luôn phải đối diện với nguy cơ bị bạo hành do khả năng tự vệ thấp đặc biêt đối với phụ nữ và trẻ em

khuyết tật

- Quyền được tham gia: Quyền được tham gia đời sống chính trị và cộng đồng:

NKT được tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội không vì yếu tố khuyết tật của bản thân mà bị hạn chế Bao gồm: quyền về kinh tế chính trị được bình đẳng Quyền tham gia các hoạt động văn hóa, nghỉ ngơi, gải trí và thể thao Đây là những quyền của

NKT trong việc hưởng thụ và phát triển đời sống tinh thần

- Quyền được hỗ trợ đặc biệt, có cơ hội và được phát triển bằng chính công việc do bản thân tự do lựa chọn

Quyền được hỗ trợ đặc biệt, có cơ hội và được phát triển bằng chính công

việc do bản thân tự do lựa chọn bao gồm các quyền như; quyền được hưởng các dịch vụ y tế, các dịch vụ đạt tiêu chuẩn cao nhất mà không bị phân biệt đối xử vì lý

do khuyết tật, đối với NKT việc hưởng những dịch vụ y tế đối với NKT là thiết yếu nhằm phục hồi chức năng và khả năng lao động; quyền được hỗ trợ và phục hồi chức năng giúp NKT tăng cường khả năng hòa nhập với đời sống xã hội; quyền có mức sống chính đáng và bảo trợ xã hội đầy đủ nhằm cải thiện cuộc sống của bản thân và gia đình khi học gặp khó khăn thì được hưởng quyền này mà không bị phân

Trang 29

biệt đối xử; quyền được tiếp cận giáo dục đây là quyền quan trọng được nhấn

mạnh, NKT cần được giáo dục theo hình thức phù hợp với đặc điểm của mình;

Quyền có cơ hội công việc và việc làm với việc NKT luôn bị từ chối khi xin việc là

nguyên nhân dẫn tới sự nghèo đói và tình trạng phân biệt đối xử, đây là việc không

chỉ quốc gia mà cả UN và ILO đặc biệt quan tâm

-Quyền được phát triển: NKT cần được tiếp cận và thụ hưởng quyền phát

triển, bao gồm quyền được trao các cơ hội bình đẳng về tiếp cận giáo dục, thông

tin, phúc lợi xã hội, … được trao cho mọi cơ hội bình đẳng như những người khác

nhằm phát huy mọi năng lực vốn có của bản thân mình,…

Với mỗi quyền cụ thể UN luôn quy định tương ứng là trách nhiệm của quốc

gia thành viên trong việc đảm bảo thực hiện và bảo vệ những quyền tương ứng

* Nghĩa vụ quốc gia trong việc thực hiện pháp luật quốc tế về NKT

Để thực hiện pháp luật về NKT một cách toàn diện và đầy đủ nhất đòi hỏi

các quốc gia thành viên phải có những biện pháp đảm bảo phù hợp:

- Tôn trọng (respect): Việc tôn trọng việc thực hiện pháp luật về NKT đòi hỏi

nhà nước phải kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp vào việc hưởng

thụ các quyền của NKT Đây được coi là một nghĩa vụ thụ động (negative obligation)

bởi lẽ nó không đòi hỏi các nhà nước phải chủ động đưa ra những sáng kiến, biện pháp

hay chương trình nhằm hỗ trợ NKT trong việc hưởng thụ quyền [13]

- Bảo đảm (protect): Bảo đảm thực hiện pháp luật về NKT đòi hỏi nhà nước

phải ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba Đây là sự chủ

động của nhà nước đưa ra những biện pháp và cơ chế phòng ngừa, xử lý những

hành vi vi phạm khi bên thứ ba có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp

của người khuyết tật

- Thực thi (fulfill): Thực thi pháp luật về NKT là nhà nước có những biện

pháp hỗ trợ NKT được hưởng thụ đầy đủ các quyền của mình Đây cũng được coi

là sự chủ động vì Nhà nước cần có những kế hoạch, chương trình cụ thể để đảm

bảo cho NKT được tiếp cận và hưởng thụ đến mức cao nhất các quyền của họ

Có thể nhận thấy ở mỗi Quốc gia khác nhau sẽ có sự khác nhau trong khả

năng thực thi quyền của NKT và sự tiến hành sẽ ở mức khác nhau ví dụ như có

Trang 30

Quốc gia sẽ chú trọng việc thực hiện và bảo vệ quyền của NKT trong khi có Quốc gia lại thực hiện hỗ trợ tốt cho họ, nó dựa vào phù hợp quốc gia tương ứng

* Các cơ chế quốc tế thực hiện pháp luật về người khuyết tật

Về cơ bản, cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện pháp luật về

NKT được thể hiện ở bộ máy các cơ quan và quy tắc, thủ tục thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong tổ chức Liên hợp quốc Cơ chế gồm nhiều chế độ, thủ tục với sự tham gia của nhiều cơ quan nhân quyền khác nhau trong hệ thống Liên Hợp Quốc và được thực hiện theo ba hướng: Thúc đẩy (promotion) qua việc xây dựng

và hình thành các chuẩn mực như công ước, tuyên ngôn…; Bảo vệ (protection) như

có những phái viên, thủ tục và cơ chế đặc biệt được thiết lập bởi các công ước, nghị quyết của các cơ quan có thẩm quyền của Liên Hợp Quốc; phòng ngừa (prevention) qua các hoạt động tư vấn, giáo dục và thông tin

Dựa vào địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức nhà máy thì cơ quan giám sát thực thi nhân quyền được chia ra làm hai hệ thống:

Thứ nhất, các cơ quan được thành lập dựa trên Hiến chương Liên Hợp Quốc:

Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người nói chung cũng như người khuyết tật nói riêng luôn được xác định là một trong những mục tiêu cơ bản của UN nên cả sáu cơ quan chính; Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế và xã hội, Hội đồng quản thác, Tòa án quốc tế đều có trách nhiệm trong việc bảo đảm thúc đẩy trong lĩnh vực này Trong lĩnh vực pháp luật về NKT, các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn liên quan gồm: Tổ chức Lao động quốc tế(ILO), Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Giáo dục, văn hóa và khoa học của Liên Hợp Quốc (UNESCO)…

Điều ước quốc tế có tính chất rằng buộc về mặt pháp lý được bảo đảm thực hiện bằng các hình thức giám sát nhất định, cơ chế giám sát thực hiện là một hệ thống phức tạp nhiều quy trình giám sát như: giám sát theo chế độ báo cáo việc thực hiện điều ước, giám sát theo các thủ tục trao đổi, tiếp nhận thông tin về các vi phạm quyền con người, giám sát theo các thủ tục điều tra bất thường các vi phạm quyền con người nghiêm trọng, giám sát theo thủ tục “hành động khẩn cấp” và

“trung gian hòa giải”

Trang 31

Ngoài UN tổ chức phi chính phủ đóng vai trò lớn thúc đẩy sự phát triển, và hoàn thiện quan niệm về quyền con người trong việc phối hợp cùng với UN thúc đẩy việc thực hiện quyền con người trên thế giới nói chung và quyền người khuyết tật nói riêng

Thứ hai, cơ chế giám sát chuyên biệt, so với các cơ quan trong cơ chế dựa trên

Hiến chương có những chức năng đa dạng, bao gồm cả việc nghiêm cứu, xây dựng các dự thảo văn kiện, thẩm định, theo dõi,giám sát các hoạt động , điều hành các chương trình về quyền con người… Việc thực hiện pháp luật của NKT có cơ chế giám sát được thực hiện bởi Uỷ ban về Quyền của Người khuyết tật, Ủy ban này được thành lập theo Công ước về Quyền của người khuyết tật năm 2007

Các ủy ban công ước bao gồm những chuyên gia được thừa nhận là có uy tín, đạo đức và năng lực trong các lĩnh vực của công ước liên quan Các chuyên gia đều được lựa chọn thông qua bỏ phiếu ở các ủy ban từ những người được các quốc gia thành viên bầu cử thường là công dân của quốc gia đó đại diện Các ủy ban công ước thực hiện giám sát theo chế độ báo cáo thực hiện của Quốc gia thành viên trong việc thực hiện nhằm đưa các điều ước của UN được cụ thể hóa trong thời gian 02 năm sau khi CRPD có hiệu lực tại quốc gia đó Sau đó quốc gia phải làm báo cáo định kì ít nhất 04 năm một lần

- Cơ chế khu vực

Bên cạnh cơ chế của UN, các tổ chức phi chính phủ còn có các cơ chế khu vực nhằm thực hiện các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền con người Các cơ chế này bao gồm: Hiến chương, Công ước Nhân quyền khu vực, Tòa án Nhân quyền khu vực, Sau khi Tuyên ngôn nhân quyền ra đời, các khu vực Châu Âu, Châu

Mỹ, Châu Phi lần lượt hình thành được các cơ chế nhân quyền khu vực như: Liên minh Châu Âu, Hội đồng Châu Âu và Tòa án vì Công lý Châu Âu, Tổ chức các nước Châu Mỹ, Ủy ban Nhân quyền Liên Mỹ, Tòa án Nhân quyền châu Mỹ, Tổ chức thống nhất Châu Phi, Ủy ban Châu Phi và Tòa án Nhân quyền Châu Phi Liên minh Châu Âu là tổ chức liên chính phủ đầu tiên phê chuẩn Công ước UN về Quyền người khuyết tật vào ngày 23 tháng 12 năm 2012, việc tham gia có ý nghĩa

vô cùng to lớn dẫn đến việc toàn bộ các quốc gia thành viên của Liên minh Châu

Âu đã trở thành thành viên của hiệp ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật Cơ

Trang 32

chế Châu Á hiện chưa xây dựng và đi tới thống nhất về các quan điểm và việc hình thành cơ chế khu vực Châu Á về quyền con người cũng như về Quyền của người khuyết tật, tuy nhiên các quốc gia Đông Nam Á đã và đang xây dựng, hoàn thiện một cơ chế đảm bảo và thúc đẩy quyền của NKT

- Cơ chế quốc gia

Khi một Quốc gia đã phê chuẩn và là thành viên của CRPD, Quốc gia đó phải thực hiện các điều ước và cụ thể hóa nó trong các hoạt động sau: chuyển hóa nội dung điều ước vào hệ thống pháp luật quốc gia (nội luật hóa); tuyên truyền phổ biến công ước trong công chúng một cách rộng rãi; xây dựng chương trình hành động thực hiện điều ước; lồng ghép những nội dung cần thực hiện của điều ước vào các chương trình, chính sách của nhà nươc; thành lập các cơ quan chuyên trách tổ chức, theo dõi thực hiện điều ước, báo cáo việc thực hiện điều ước [6]

Ví dụ nhiều quốc gia đưa ra cách tiếp cận người khuyết tật vào Hiến pháp đạo luật cao nhất như: Việt Nam, Trung Quốc, Canada, Đức, Nam phi, Braxin,…

Không chỉ đưa vào pháp luật các Quốc gia còn thành lập các cơ quan, tổ chức thuộc nhà nước đề thực hiện những vấn đề liên quan đến việc thực thi CRPD Tổ chức các hoạt động thực tiễn để đưa pháp luật về NKT đi vào cuộc sống thực tiễn

Có thể nói cơ chế quốc gia là cơ chế quan trọng cho việc thực hiện các điều ước Quốc tế về quyền của NKT được thực hiện một cách hiệu quả nhất, sát sao nhất và hoàn thiện nhất

1.3 Pháp luật quốc gia về người khuyết tật

1.3.1 Hiến pháp

Trách nhiệm và nghĩa vụ hàng đầu của các quốc gia thành viên khi tham gia các Công ước quốc tế đó là phải chuyển hóa vào trong hệ thống pháp luật, chính sách và thực tiễn của mình, Nhà nước không chỉ tích cực tham gia CRPD, mà sự quan tâm của Nhà nước ta đối với NKT còn được thể hiện cụ thể trong pháp luật trước tiên là trong các quy phạm của Hiến pháp – đạo luật cơ bản nhất của Nhà nước Từ những bản Hiến pháp đầu tiên Hiến pháp năm 1946 tuy với số điều luật ít

nhưng vẫn dành điều luật riêng quy định về người khuyết tật: “Những công dân già

cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ” (Điều 14) [23]

Trang 33

Các bản Hiến pháp tiếp sau Hiến pháp 1946, bao gồm: Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp năm 1992 đều tiếp tục nội luật hóa các công ước quốc

tế về quyền con người và quyền người khuyết tật bằng những quy định về người khuyết tật trong Hiến pháp ngày càng được quan tâm và hoàn thiện hơn nữa Hiến

pháp mới đây nhất quy định: “2 Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác.”(Điều 56)[24]Và “3 Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề.”(Điều 61)[24] Có thể nói Hiến

pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã thể hiện được ý Đảng và nhân dân một cách sâu sắc trong đó rất quan tâm tới NKT trong đó Nhà nước và các tổ chức phải tạo điều kiện tốt nhất cho họ hòa nhập vào cộng đồng và phát triển tài năng bản thân của NKT Qua đó ta thấy Nhà nước đã tiếp cận NKT dưới góc độ quyền, họ cần được tạo điều kiện phát triển bình đẳng và hòa nhập cộng đồng như bao người khác và Nhà nước là những người tháo dỡ những rào cản, khó khăn trong việc thực hiện quyền của mình So với những bản Hiến pháp trước Nhà nước quy định về NKT đây là điều thay đổi theo hướng tích cực và hoàn thiện hơn nữa

sự quan tâm của Nhà nước ta đối với việc phát triển cũng như bảo đảm quyền nghĩa

vụ và lợi ích hợp pháp của NKT Đảm bảo cho sự tham gia của NKT vào trong hoạt động pháp luật được công bằng với những công dân khác

Tại Mục 4, Chương XI của Bộ luật lao động năm 2012 quy định về lao động

là người khuyết tật như sau:

Trang 34

“Điều 176 Chính sách của Nhà nước đối với lao động là người khuyết tật

1.Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là người khuyết tật, có chính sách khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc, theo quy định của Luật người khuyết tật

2 Chính phủ quy định chính sách cho vay vốn ưu đãi từ Qũy quốc gia về việc làm đối với người sử dụng lao động là người khuyết tật

Điều 177 Sử dụng lao động là người khuyết tật

1.Người sử dụng lao động phải đảm bảo về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với lao động là người khuyết tật

và thường xuyên chăm sóc sức khỏe của họ

2.Người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến lao động là người khuyết tật khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền là lợi ích của họ

Điều 178 Các hành vi bị cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật

1.Sử dụng lao động là người khuyết tật suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm

2.Sử dụng lao động là người khuyết tật làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.”

1.3.3 Luật chuyên nghành

Luật Người khuyết tật được Quốc hội Khoá XII, Kỳ họp thứ 7 thông qua ngày

17 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá đầy đủ và toàn diện các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về NKT nhằm tạo môi trường pháp

lý, điều kiện, cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với NKT theo hướng xây dựng các chính sách đối với NKT trên cơ sở tiếp cận và bảo đảm quyền của NKT; quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc xóa bỏ rào cản và bảo đảm các điều kiện để NKT hòa nhập xã hội như những người bình thường khác

Luật gồm 10 chương và 53 điều trong đó quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể

của NKT Thứ nhất, thông qua cách thay đổi khái niệm “tàn tật” sang “khuyết tật”

cho thấy một sự thay đổi quan trọng trong nhận thức về việc xem NKT không còn

Trang 35

chỉ là những người bệnh, những người khiếm khuyết về cơ thể sinh học, mà là chủ thể của các quyền con người Đồng thời cũng phản ánh sự quan tâm đặc biệt tới các nhóm dễ bị tổn thương nói chung và NKT nói riêng của Đảng và nhà nước, không chỉ là chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng mà còn phải góp phần xoá bỏ các rào cản đối với NKT

Thứ hai, luật khẳng định quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, quy định

đầy đủ và chi tiết về vai trò, nghĩa vụ của gia đình, xã hội đối với NKT Cụ thể, quy định nghĩa vụ của NKT theo hướng tạo điều kiện để thực hiện bình đẳng quyền công dân và nhấn mạnh quyền, nghĩa vụ riêng biệt cũng như trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc bảo đảm để NKT thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ Đó là kết quả của việc thay đổi cách tiếp cận sang cách tiếp cận NKT dưới dạng quyền của NKT

Thứ ba, luật quy định 10 nhóm giải pháp chính sách của Nhà nước, trong đó

nhấn mạnh việc bảo đảm nguồn lực, các điều kiện thực thi, xã hội hóa, tuyên truyền, đào tạo cán bộ thể hiện được sự cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật về người khuyết tật Bên cạnh đó, cũng quy định các điều kiện đảm bảo để thực hiện các chính sách như cơ sở khám chữa bệnh, chỉnh hình, phục hồi chức năng… cho NKT Sự đổi mới làm thay đổi nhận thức xã hội về NKT; tạo môi trường pháp lý, môi trường xã hội thuận lợi để NKT hòa nhập cộng đồng; khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia trợ giúp NKT

Thứ tư, luật cũng quy định về chế độ bảo trợ xã hội, quy định cụ thể đối tượng

và chính sách bảo trợ xã hội và bổ sung chính sách đối với cá nhân và hộ gia đình chăm sóc NKT đặc biệt nặng, NKT nặng đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với người khuyết tật, có chính sách ưu tiên với trẻ em, người cao tuổi là người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng Điều này thể hiện tính nhân văn sâu sắc, sự quan tâm, giúp đỡ của toàn xã hội đối những người khuyết tật, vốn là những người gặp nhiều khó khăn trong xã hội

Bên cạnh đó, Luật Người khuyết tật đã quy định lộ trình cải tạo và nâng cấp tất cả các nhà chung cư, công trình công cộng để bảo đảm việc sử dụng thuận lợi

Trang 36

cho NKT Đối với những NKT nhất định, quyền bình đẳng có nghĩa là họ có thể tiếp cận môi trường của họ Quyền tiếp cận môi trường giúp cho NKT sống độc lập

và tham gia đầy đủ vào môi trường xung quanh Tính tiếp cận không chỉ là một vấn

đề đối với NKT khi họ gặp khó khăn trong sử dụng các công trình nhà ở, đường đi

và phương tiện giao thông mà còn là một vấn đề đối với những người khiếm khuyết thị lực và thính lực

Với cách tiếp cận dựa trên quyền, Luật Người khuyết tật khẳng định các quyền của người khuyết tật và quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện các quyền đó Luật NKT là một sự nội luật hóa đầy đủ và hiệu quả các công ước quốc tế về quyền con người liên quan đến NKT, đặc biệt Công ước Liên hợp quốc về quyền của NKT năm 2006 mà Việt Nam là quốc gia thành viên gia nhập và phê chuẩn Công ước này chưa đầy một năm sau đó (2007)

Ngoài Luật Người khuyết tật, hiện nay các văn bản pháp luật khác quy định

về người khuyết tật gồm: Luật Hôn nhân gia đình 2014, Luật Giáo dục 2005, Luật Bình đẳng giới 2006,

1.4 Thực hiện pháp luật về người khuyết tật

1.4.1 Khái niệm, đặc điểm, các hình thức, yếu tố, của thực hiện pháp luật về người khuyết tật

1.4.1.1 Khái niệm chung về thực hiện pháp luật người khuyết tật

Pháp luật là công cụ hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước, pháp luật là công cụ chuyên chính giai cấp, là phương tiện để bảo vệ lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thực hiện những mục đích mà Nhà nước và nhân dân đề ra Bên cạnh đó pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ mang tính quy phạm, quản lý

xã hội, bảo vệ và phát triển cho xã hội và các công dân Có thể nhận thấy có Nhà nước là phải có pháp luật vì nó đóng vai trò quan trọng cho việc tồn tại và phát triển đất nước Vì vậy, để pháp luật được phát huy vai trò và những giá trị đích thực của mình trong việc duy trì và phát triển xã hội và con người thì hoạt động thực hiện pháp luật rất được quan tâm

Thực hiện pháp luật mang tính pháp lý nó là giai đoạn thứ hai sau khi văn bản pháp luật được ban hành và là giai đoạn quan trọng, không thể thiếu để cụ thể hóa các quy phạm pháp luật trở thành quy tắc xử sự của các chủ thể pháp luật thực hiện

Trang 37

các quy định của văn bản pháp luật đi vào thực tiễn đời sống Thực hiện pháp luật

là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật Do vậy, đây

là quá trình có lý chí của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống nhằm đạt được những mục đích nhất định[8] Thực hiện pháp luật là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, các nhân của công dân nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 8) [24]

Theo tư tưởng về thực hiện pháp luật của môn học Lý luận chung về nhà nước

và pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm chom những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật”

Cùng định nghĩa về thực hiện pháp luật, môn Lý luận nhà nước và pháp luật

của Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật”[14.tr461]

Giáo trình Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội định nghĩa: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật

đi vào cuộc sống trở thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật”

[13.tr494]

Từ những nhận định trên, ta thấy rằng dù là những cách tiếp cận, quan niệm khác nhau nhưng chúng lại tương đối đồng nhất về những nội dung cơ bản và có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, các quan niệm đều cho rằng thực hiện pháp luật là hoạt động có

mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật

Thứ hai, thực hiện pháp luật là những hoạt động thực tế, hợp pháp để đưa những

quy định của pháp luật đi vào thực tiễn trong cộng đồng, cuộc sống con người

Thứ ba, chủ thể của thực hiện pháp luật là mọi tổ chức, các nhân, các công

dân sinh sống và làm việc tại Việt Nam và đây là quá trình của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật

Trang 38

Từ những nhận định đó có thể hiểu thực hiện pháp luật về NKT có thể được

nhận định như sau: Thực hiện pháp luật về người khuyết tật là quá trình có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về người khuyết tật được đi vào đời sống trở thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật là người khuyết tật với các chủ thể khác trong mối quan hệ giữa quyền của người khuyết tật với quyền của các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ pháp luật

1.4.1.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về người khuyết tật

Đặc điểm của thực hiện pháp luật về NKT vẫn mang những đặc điểm chung của việc thực hiện pháp luật nói chung Tuy nhiên với đặc điểm pháp lý riêng biệt của mình nên đặc điểm thực hiện pháp luật về NKT mang những nét riêng có tính đặc thù so với những hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể khác như sau:

Thứ nhất, thực hiện pháp luật bằng những hành vi của con người trong mối

quan hệ cụ thể, hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của NKT trong những hoàn cảnh ở mối quan hệ cụ thể Bằng hành vi cụ thể ta có thể nhận biết được đời sống xã hội, phương thức tồn tại của NKT đó là khi học thực hiện chọn hành vi và kết quả của nó không phải chỉ là những hành vi hợp pháp, có thể là hành vi không hợp pháp

Thứ hai, thực hiện pháp luật về NKT là những hành vi phù hợp với pháp luật về

NKT Những hành vi ấy xuất phát từ NKT nhưng Nhà nước tạo ra những khuôn khổ pháp luật bắt buộc những hành vi ấy phải làm theo và phù hợp với những quy định của pháp luật về NKT hiện hành Khi những hành vi ấy không ảnh hưởng tới quyền

và lợi ích hợp pháp của NKT thì pháp luật không cấm cho chủ thể làm, những quyền như tiếp cận đời sống, giáo dục, y tế, thì pháp luật khuyến khích NKT tham gia và những quyền lợi pháp luật cho phép NKT- chủ thể hành vi có thể lựa chọn làm hoặc không làm Việc thực hiện pháp luật về NKT phải đảm bảo cả mặt nội dung và hình thức khi đó nó mới làm cho các hành vi và quan hệ pháp luật NKT phát sinh diễn ra hợp pháp và tác động tích cực tới việc thực hiện pháp luật về NKT

Thứ ba, thực hiện pháp luật về NKT là quá trình có mục đích, mục tiêu cụ thể

Để thực hiện nó gồm những hoạt động nối tiếp nhau: chủ thể tìm hiểu những nội dung pháp luật quy định cụ thể như thế nào, xem xét vị trí, chức năng của bản thân

để đưa ra những quyết định về cách thức, thời gian hoạt động Kết quả của những

Trang 39

hoạt động này đều dẫn tới mục tiêu chung là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NKT cũng như đảm bảo cho nó được thực hiện thông qua các quy phạm cụ thể Mục đích của thực hiện pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi NKT là đối tượng yếu thế trong xã hội và chịu nhiều tổn thương so với các đối tượng khác vì vậy việc thiết lập và xây dựng quy phạm pháp luật là quan trọng nhưng việc đưa những quy phạm ấy hiện thực hóa vào đời sống đòi hỏi cao với các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật về người khuyết tật

Thứ tư, quá trình thực hiện pháp luật về NKT luôn được nhà nước đảm bảo

bằng các biện pháp Để thực hiện pháp luật về NKT đạt kết quả cao nhà nước áp dụng các biện pháp bảo đảm thể hiện ý chí nhà nước Đây cũng là đặc trưng của pháp luật khác với các phạm trù khác như đạo đức Khi tham gia quan hệ xã hội các chủ thể liên quan tới người khuyết tật không thực hiện, trốn tránh không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ thì nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp bắt buộc hoặc cưỡng chế đảm bảo chủ thể phải thực hiện theo đúng những quy phạm pháp luật đã đưa ra, thực hiện hành vi hợp pháp liên quan tới người khuyết tật Việc bảo đảm bằng cơ chế Nhà nước giúp cho những chính sách của Nhà nước được đi sâu vào thực tiễn đời sống, cộng đồng đồng thời bảo vệ sự bình đẳng của người khuyết tật khi tham gia vào quan hệ pháp luật với các chủ thể khác Thể hiện ý chí quan tâm, bảo vệ, bảo đảm cho người khuyết tật được tham gia vào đời sống xã hội của Nhà nước

Thứ năm, thực hiện pháp luật về NKT vừa mang tính giai cấp vừa mang tính

xã hội Tính giai cấp ở đây được hiểu là nó mang tính thực hiện quyền lực nhà nước, những quy phạm là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành

và đảm bảo thực hiện, điều chỉnh hành vi của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật Nhà nước đưa ra những khuôn khổ nhất định trong đó chủ thể có thể lựa chọn thực hiện hành vi cà các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật liên quan tới người khuyết tật bắt buộc phải thực hiện Việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật chính là đưa những quy định của Nhà nước về vấn đề này để đưa vào thực tiễn đời sống và được thực hiện một cách nghiêm chỉnh Bên cạnh tính quyền lực nhà nước những quy định của Nhà nước đều xuất phát từ việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật Họ là một nhóm công dân yếu thế vì vậy họ cần được quan tâm nhiều hơn trong việc giúp đỡ họ tiếp cận vào các hoạt động về chính

Trang 40

trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, an sinh xã hội,…để họ có thể bình đẳng với các công dân khác Vì vậy có thể nói việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật

có tính xã hội rất to lớn

1.4.1.3 Các hình thức thực hiện pháp luật về người khuyết tật

* Tuân thủ pháp luật về người khuyết tật

Tuân thủ pháp luật về NKT là hình thức thực hiện pháp luật về NKT, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm được ghi nhận trong văn bản pháp luật có chứa đựng những quy phạm điều chỉnh quan

hệ pháp lý liên quan tới NKT Hành vi tuân thủ pháp luật về NKT là hành vi không được thực hiện những hành vi gây nguy hiểm với xã hội và là hành vi bắt buộc hoặc làm việc bắt buộc nào để đảm bảo quyền và lợi ích đối với người khuyết tật mà pháp luật quy định trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định mà pháp luật đã dự liệu

Hiện nay để đảm bảo quyền của NKT được tiếp cận trên mọi lĩnh vực đời sống vì vậy có rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật về NKT Các văn bản quy định nghĩa vụ cụ thể để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp mà chủ thể phải làm khi tham gia vào quan hệ pháp luật với NKT

*Thi hành pháp luật về người khuyết tật

Thi hành pháp luật về NKT là một hình thưc thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Khi tham gia vào quan hệ pháp luật cụ thể các chủ thể được xác định rõ trách nhiệm của mình trong các quy phạm pháp luật mà Luật định Trong những trường hợp nhất định, khi các chủ thể không thực hiện hành vi phù hợp sẽ bị các cơ quan chức năng của nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật với NKT

*Sử dụng pháp luật về người khuyết tật

Sử dụng pháp luật về NKT là hành vi các chủ thể pháp luật thực hiện quyền

và tự do pháp lý của mình, những hành vi mà pháp luật về NKT cho phép chủ thể thực hiện Hình thức này thường được thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật quy định về quyền và tự do pháp lý của các chủ thể Chủ thể pháp luật có thể thực hiện hay không thực hiện các quyền và tự do đó chứ không bắt buộc phải thực hiện Tức là các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật về NKT thực hiện theo ý chí của

Ngày đăng: 28/11/2017, 16:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Báo (2008) “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ (Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”
2. Nguyễn Thị Báo (2011), “Pháp luật về quyền Người khuyết tât ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học (Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về quyền Người khuyết tât ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Năm: 2011
3. Nguyễn Thị Báo (2007), “Quyền của người khuyết tật trong các văn kiện quốc tế về quyền con người”, Tạp chí Luật học số 10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền của người khuyết tật trong các văn kiện quốc tế về quyền con người”
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Năm: 2007
4. Nguyễn Thị Bảy (2013) Quyền của Người khuyết tật trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam - Nghiên cứu so sánh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của Người khuyết tật trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam
5. Vũ Ngọc Bình (2001), Trẻ em tàn tật và quyền của trẻ em tàn tật, Nxb Lao Động và xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ em tàn tật và quyền của trẻ em tàn tật
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: Nxb Lao Động và xã hội
Năm: 2001
10. Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao – Lã Thanh Tùng (Đồng chủ biên) (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, tái bản lần thứ nhất có sửa đổi, bổ sung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao – Lã Thanh Tùng (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
11. Đại học luật Hà Nội (2014), Giáo trình lí luận nhà nước và pháp luật Nxb công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb công an nhân dân
Năm: 2014
17. Hoàng Văn Nghĩa, Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. Văn phòng Quốc hội, Số 15/2009, tr. 5 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công dân
26. GS.TS. Tạ Ngọc Tấn, PGS.TS. Đặng Dũng Chí, PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa (đồng chủ biên), Sách Thành tựu quyền con người ở Việt Nam 70 năm qua, Nxb Lý luận chính trị, H., 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Thành tựu quyền con người ở Việt Nam 70 năm qua
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
27. PTS.Chu Hồng Thanh (1997), “Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người”, NXB Chính trị quốc gia, tr68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người”
Tác giả: PTS.Chu Hồng Thanh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
31. Văn kiện A29/INF DOC.14 của WHO năm 1976 đã đưa ra thuật ngữ và định nghĩa về các thuật ngữ “Khuyết tật hay khiếm khuyết (Impairment)”, “Giảm khả năng”, “Tàn tật hay mất khả năng(Disability)”, “Tàn phế (Handicap)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyết tật hay khiếm khuyết (Impairment)”, “Giảm khả năng”, “Tàn tật hay mất khả năng(Disability)”, “Tàn phế (Handicap)
32. Viện nghiên cứu quyền con người, Hiến pháp, pháp luật về quyền con người: kinh nghiệm Việt Nam và Thụy Điển, H., 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp, pháp luật về quyền con người: kinh nghiệm Việt Nam và Thụy Điển
33. Viện Nghiên cứu Quyền con người (2014), Giáo trình Lý luận về quyền con người.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận về quyền con người
Tác giả: Viện Nghiên cứu Quyền con người
Năm: 2014
6. Vũ Ngọc Bình (2008) Liên hợp quốc pháp luật quốc tế về quyền con người; Bộ Lao động Thương binh và xã hội Khác
8. Công ước số 159 về Phục hồi chức năng nghề nghiệp cho người khuyết tật năm 1955 Khác
9. Công ước quốc tế về các quyền của người khuyết tật (Convention on the Rights of Persons with Disabilities) (13/12/2006) Khác
15. Luật về người khuyết tật tại Hoa Kỳ năm 1990 (ADA- Americans with Disabilities Act of 1990 được sửa đổi năm 2008) Khác
16. Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết tật năm 1990 Khác
18. Nghị định số 28/2012/NĐ-CP hướng dẫn về Luật Người khuyết tật Khác
19. Quốc hội (1946), Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w