1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)

78 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN LINH GIANG

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, ví dụ trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thu Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC NHẬN LÀM CON NUÔI Ở VIỆT NAM 6

1.1 Khái niệm, nội dung quyền của người được nhận làm con nuôi 6

1.2 Các điều kiện bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi 24

1.3 Cơ chế bảo đảm thực thi quyền của người được nhận làm con nuôi 27

1.4 Các biện pháp bảo đảm thực thi quyền của người được nhận làm con nuôi 35 Tiểu kết Chương 1 40

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC NHẬN LÀM CON NUÔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 41

2.1 Tình hình nhận làm nuôi con nuôi ở Việt Nam hiện nay 41

2.2 Thực trạng bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay 46

2.3 Đánh giá tình hình thực hiện các quy định pháp luật về bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam 53

Tiểu kết Chương 2 58

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC NHẬN LÀM CON NUÔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 60

3.1 Quan điểm tăng cường bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay 60

3.2 Một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam 63

Tiểu kết chương 3 70

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 4

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nội dung

CRC Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em

Công ước La Hay Công ước La Hay số 33 ngày 29/5/1993 về Bảo vệ trẻ em và

hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế có hiệu lực thi hành tại Việt Nam từ ngày 01/02/2012

ICESCR Công ước về các quyền Kinh tế xã hội và văn hóa

ICCPR Công ước về các quyền Dân sự và chính trị

CEDAW Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ

nữ Nghị định số

19/2011/NĐ-CP

Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Nuôi có nuôi quy định

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội phổ biến ở các quốc gia và được pháp luật các nước điều chỉnh Ở Việt Nam, nuôi con nuôi là vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc, được Đảng và Nhà nước Việt Nam chú trọng, quan tâm, nhất

là trong hoàn cảnh đất nước phải chịu nhiều di chứng nặng nề của chiến tranh, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, mức thu nhập của nhân dân còn thấp Bên cạnh việc tạo dựng mái ấm gia đình thay thế cho trẻ em được nhận làm con nuôi (đa phần trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn), việc nuôi con nuôi còn đáp ứng nhu cầu chính đáng của người nhận con nuôi Chính vì vậy, vấn đề nuôi con nuôi ở Việt Nam đã được pháp luật điều chỉnh từ lâu và trong những năm qua, pháp luật về nuôi con nuôi đã luôn được quan tâm hoàn thiện nhằm góp phần quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình, khơi dậy tinh thần nhân đạo, nhân văn của con người Việt Nam; giữ gìn, phát huy truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách

Ngoài việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước về nuôi con nuôi, Việt Nam cũng đã tham gia, ký kết nhiều Công ước quốc tế quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền trẻ em nói chung và quyền của người được cho làm con nuôi nói riêng Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011, đã thống nhất và quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các việc nuôi con nuôi trong nước

và nuôi con nuôi nước ngoài trong một đạo luật, tạo ra một cơ chế liên thông trong việc giải quyết nuôi con nuôi, bảo đảm quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình, đặc biệt là môi trường gia đình gốc theo tinh thần của Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em (CRC) và Công ước La Hay số 33 ngày 29/5/1993

về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (Công ước La Hay) mà Việt Nam là thành viên, có hiệu lực thi hành tại Việt Nam từ ngày 01/02/2012

Trang 6

Trong suốt thời gian thực hiện Luật nuôi con nuôi cùng các văn bản hướng dẫn thi hành CRC và Công ước Lay Hay, công tác nuôi con nuôi đã đạt được những kết quả nhất định Việc bảo đảm các quyền và lợi ích của trẻ em được cho làm con nuôi cũng được thực hiện có hiệu quả; thể chế pháp luật về nuôi con nuôi cơ bản đã hoàn thiện và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã tìm được gia đình thay thế ở trong nước và nước ngoài nhận nuôi; quyết định cho nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài đương nhiên được công nhận tại 98 nước thành viên Công ước

La Hay Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác quốc tế với những nước nhận con nuôi nước ngoài như: Pháp, Italia, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Hoa Kỳ, Đức, Canada, Thụy Sỹ, Ai Len, Na Uy, Luxembourg…

Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi cũng chính là bảo đảm các quyền con người được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam năm

1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 Hiến pháp năm 2013 đã dành riêng Chương II

để quy định Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Cụ thể,

tại Khoản 1 Điều 14 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”

và Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định “1 Mọi người đều có quyền bình đẳng

trước pháp luật 2 Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”

Nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của Nhà nước, trách nhiệm của các cơ quan, bộ, ban, ngành, tổ chức xã hội trong việc phối hợp thực hiện tốt trách nhiệm của mình nhằm bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi được thực thi trên thực tế đúng quy định pháp luật, tạo cơ hội tốt nhất cho đối tượng này thực hiện tốt quyền của mình là có được một mái ấm gia đình thay thế, phù hợp, được sống trong một môi trường gia đình trong lành, hạnh phúc, được chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập và phát triển toàn diện về mọi mặt như bao trẻ em khác

Do đó, bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi được đặt ra như một vấn đề thiết yếu, cần được xem xét một cách thấu đáo về mặt lý luận và thực tiễn

Trang 7

để đưa ra những đánh giá toàn diện về việc bảo đảm quyền này ở Việt Nam hiện

nay Xuất phát từ yêu cầu đó, học viên lựa chọn đề tài “Bảo đảm quyền của

người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc

sỹ, chuyên ngành quyền con người, với mong muốn góp phần tăng cường bảo đảm một trong những quyền cơ bản của con người ở Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đây là một vấn đề tác động không nhỏ đến nhiều mặt của xã hội Lĩnh vực nuôi con nuôi luôn thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lý luận, các học viên, các nhà quản lý ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, cụ thể như:

Nguyễn Hoàng Yến (2012), luận văn thạc sỹ: “Quyền của trẻ em Việt

Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi”, Học viện Khoa học xã hội,

Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam;

Lê Thị Hiền (2012), luận văn thạc sỹ: “Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố

nước ngoài tại Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài”,

Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;

Vũ Kim Dung (2013), luận văn thạc sỹ “Pháp luật về nuôi con nuôi có

yếu tố nước ngoài của Việt Nam trong mối tương quan với Công ước Lahay”,

Khoa luật, Đại Học Quốc gia Hà Nội;

Vũ Thị Kiều Anh (2014), luận văn thạc sỹ: “So sánh pháp luật về nuôi

con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam”, Khoa luật, Đại học

Quốc gia Hà Nội;

Những đề tài này chủ yếu tiếp cận nghiên cứu ở góc độ tìm hiểu các quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam, có so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới, có liên hệ với quy định của Công ước La Hay và có tiếp cận đến góc độ quyền của trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi, nhưng chưa đề cập đến vấn đề bảo đảm quyền và cũng chưa tiếp cận một cách tổng quát về quyền của người được nhận làm con nuôi

mà mới chỉ dừng lại ở vấn đề quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi có yếu

Trang 8

tố nước ngoài Như vậy, cho đến nay chưa có một đề tài nào trực diện đề cập đến việc bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay từ góc độ quyền con người và trong quy mô một đề tài nghiên cứu có tính hệ thống

Do đó, việc lựa chọn đề tài này để nghiên cứu từ góc độ quyền con người có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu tổng quát của đề tài là xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất giải pháp tăng cường việc bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam về bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi

Phân tích, đánh giá các điều kiện (điều kiện về chính trị, pháp lý, kinh tế,

xã hội…) bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam

Nghiên cứu các mối quan hệ có liên quan đến bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam

Trang 9

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn lựa chọn cách tiếp dựa trên quyền, sử dụng phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành khoa học xã hội, lấy khoa học pháp lý là lát cắt chủ đạo

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu luận văn là quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về quyền con người nói chung và quyền được nhận làm con nuôi nói riêng

Các phương pháp cụ thể được áp dụng trong nghiên cứu luận văn bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp xã hội học pháp luật…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Làm sáng tỏ khái niệm, nội dung quyền được nhận làm con nuôi, xác định các yếu tố hợp thành cơ chế bảo đảm quyền được nhận làm con nuôi và các điều kiện bảo đảm quyền được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay

Luận chứng về một số giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường việc bảo đảm quyền được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay

Kết quả nghiên cứu luận văn góp phần nhận thức rõ hơn về quyền được nhận làm con nuôi và nhu cầu bảo đảm quyền được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay

Kết quả nghiên cứu luận văn có giá trị tham khảo trong việc xây dựng các phương án lập pháp áp dụng vào thực tiễn công tác quản lý của các cơ quan hữu quan, và các đơn vị trong ngành Tư pháp ở Việt Nam

7 Cơ cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam

Chương II Thực trạng bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi

ở Việt Nam hiện nay

Chương III Quan điểm và giải pháp tăng cường việc bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC NHẬN LÀM CON NUÔI Ở VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, nội dung quyền của người được nhận làm con nuôi

1.1.1 Khái niệm quyền của người được nhận làm con nuôi

1.1.1.1 Khái niệm con nuôi và nuôi con nuôi

Trong các văn kiện quốc tế về quyền con người không có định nghĩa cụ thể về con nuôi và nuôi con nuôi, tuy nhiên định nghĩa này được ghi nhận trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới như sau:

a- Pháp luật của Liên Bang Nga

Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật gia đình của Liên Bang Nga (trích) các quy định về nuôi con nuôi, thì nuôi con nuôi là hình thức ưu tiên trong việc thu xếp mái ấm cho những trẻ em không được cha mẹ đẻ chăm sóc[35, Tr 316]

b- Pháp luật của Guatemala

Theo quy định tại Điều 2 Luật Con nuôi của Guatemala thì việc nhận nuôi con nuôi được hiểu là việc trẻ em được nhận làm con nuôi để bảo vệ theo quy định của pháp luật và sắc lệnh được nhà nước giám sát theo đó một người nhận con ruột hoặc con của người khác làm con nuôi

Con nuôi quốc tế: là việc nhận con nuôi theo đó đứa trẻ thường trú hợp pháp tại Guatemala được đưa đến một nước khác làm con nuôi

Con nuôi trong nước: là cha mẹ nuôi và con nuôi là người thường trú hợp pháp tại Guatemala[35, Tr 345]

c- Pháp luật Việt Nam

- Con nuôi: là người được nhận làm con nuôi; có con nuôi trong nước và con nuôi có yếu tố nước ngoài

Con nuôi trong nước: là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thường trú ở Việt Nam

Con nuôi nước ngoài: là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài

Trang 11

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 3 Luật Nuôi con nuôi thì con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký

- Nuôi con nuôi: là việc một người độc thân hoặc một cặp vợ chồng (có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật) có đủ điều kiện về kinh tế, sức khỏe, chỗ ở…, xin nhận một hoặc nhiều trẻ em làm con nuôi, nhằm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi với mục đích xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi Và việc nuôi con nuôi này hoàn toàn không vi phạm các điều cấm, được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định[36, tr.7] Như vậy, việc nuôi con nuôi phải đáp ứng những đặc điểm, bản chất nói trên, nếu không hướng tới hoặc không phù hợp với mục đích xác lập quan hệ cha, mẹ và con trên thực tế thì quan hệ đó không được công nhận là quan hệ nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi có hai hình thức là nuôi con nuôi theo quy định pháp luật

và nuôi con nuôi theo phong tục tập quán Tuy nhiên, hình thức nuôi con nuôi theo phong tục tập quán, tuy pháp luật không nghiêm cấm, nhưng không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không được công nhận[36, tr.8]

Nuôi con nuôi theo quy định pháp luật là việc nuôi con nuôi đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định và được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đó là hình thức nuôi con nuôi duy nhất được Nhà nước công nhận

và bảo hộ

Nuôi con nuôi theo phong tục tập quán là những hiện tượng nuôi con nuôi

có tính tự phát trong nhân dân, xuất phát từ tình cảm, tình nghĩa, ân nghĩa hoặc tập quán khác mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Luật nuôi con nuôi thì nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi

1.1.1.2 Khái niệm quyền của người được nhận làm con nuôi

Về mặt lý luận, từ cách tiếp cận dựa trên quyền thì quyền của người được nhận làm con nuôi chính là quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi Các quyền này được quy định trực tiếp và gián tiếp trong pháp luật quốc tế và pháp

Trang 12

luật quốc gia Cụ thể, trong CRC có nói đến việc bảo vệ quyền và đảm bảo phúc lợi trẻ em trong đó có việc bảo trợ và nuôi con nuôi Trong Công ước này đã có những nguyên tắc nền tảng bảo vệ quyền trẻ em nói chung và cũng để áp dụng bảo vệ quyền của trẻ em làm con nuôi như các nguyên tắc: Không phân biệt đối

xử (đảm bảo quyền trẻ em được nhận làm con nuôi không bị phân biệt đối xử trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội); đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ

em (bao gồm cả lợi ích của trẻ em làm con nuôi); tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ em Đồng thời, Công ước này cũng có những quy định đặc biệt liên quan đến đối tượng trẻ em là con nuôi Điều 11 Công ước quy định về nghĩa vụ quốc gia phải có các biện pháp chống lại việc mang trẻ em ra nước ngoài bất hợp pháp và các quốc gia phải ký kết hiệp định song phương hoặc đa phương về vấn

đề này Điều 20, 21 Công ước quy định trực tiếp liên quan đến quyền trẻ em được nhận làm con nuôi Theo đó, các quốc gia thành viên của CRC thừa nhận hoặc cho phép việc nhận làm con nuôi phải đảm bảo rằng những lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm cao nhất trong vấn đề này

Hiến pháp Việt Nam năm 2013, đã kế thừa và thể hiện một bước chuyển mới rất quan trọng khi ghi nhận các quyền con người tại Chương 2, bổ sung thêm nhiều quyền mới, chuẩn hóa các hình thức ghi nhận và nội dung các quyền

cụ thể được quy định từ Điều 14 đến Điều 49 nhằm tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm các quyền con người ở Việt Nam Hiến pháp năm 2013

khẳng định: “…mọi công dân đều có quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử

trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; được nhà nước bảo hộ…” Khoản 1, Điều 37 Hiến pháp cũng ghi nhận: "Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em" Các quy định này là cơ

sở quan trọng để hình thành các quy định pháp luật bảo vệ quyền trẻ em nói chung và quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi nói riêng

Theo quy định của Luật nuôi con nuôi thì quyền của người được nhận làm con nuôi được hiểu là quyền của trẻ em dưới 16 tuổi, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được nhận làm con nuôi của cha dượng, mẹ kế hoặc làm con nuôi của cô, cậu, dì, chú, bác ruột Tuy nhiên, việc nuôi con nuôi sẽ được ưu tiên thực

Trang 13

hiện đối với trẻ em vì lý do nào đó không có mái ấm gia đình, ví dụ như: trẻ em

bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi Việc nuôi con nuôi cũng được thực hiện với trẻ em tuy

có gia đình gốc, nhưng việc tiếp tục để trẻ em tại gia đình gốc sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của trẻ em Ví dụ: trẻ em bị cha mẹ lạm dụng, ngược đãi, đánh

đập… vấn đề này cũng phù hợp với quy định tại Điều 9 của CRC “Các quốc gia

thành viên phải bảo đảm rằng trẻ em không bị cách ly cha mẹ trái với mong muốn của họ, trừ khi nhà chức trách có thẩm quyền chịu sự xem xét của tòa án quyết định theo luật pháp và các thủ tục áp dụng thì việc cách ly như thế là cần thiết vì lợi ích tốt nhất của trẻ em Quyết định như thế có thể là cần thiết trong trường hợp đặc biệt như trẻ em bị cha mẹ lạm dụng hay xao nhãng, hoặc khi cha mẹ sống cách ly và cần phải có một quyết định mới về nơi cư trú của trẻ ”

Cần phân biệt quyền của người được nhận làm con nuôi với quyền nuôi con nuôi Quyền nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi đều là quyền dân sự của cá nhân đã được nhà nước công nhận và được pháp luật bảo hộ Nhưng quyền nuôi con nuôi được hiểu là khi một người độc thân (không phân biệt nam/nữ) hoặc một cặp vợ chồng có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định pháp luật và có nguyện vọng nhận một hay nhiều trẻ em làm con nuôi, thì được xem xét giải quyết mà không phụ thuộc vào việc người đó đã có con đẻ hay chưa

Từ những phân tích trên, có thể hiểu quyền của người được nhận làm con nuôi là quyền con người, được Nhà nước công nhận và được pháp luật bảo vệ nhằm mục đích xác lập quan hệ gia đình bền vững, vì lợi ích tốt nhất cho người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho họ được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình

1.1.1.3 Đặc điểm quyền của người được nhận làm con nuôi

Thứ nhất, quyền được nhận làm con nuôi là một quyền con người

Tại Điều 1 Tuyên ngôn nhân quyền Quốc tế 1948 quy định: “Mọi người

sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền…” Đồng thời,

Tuyên ngôn cũng khẳng định trẻ em có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt Lời nói đầu của CRC cũng công nhận rằng, để phát triển đầy đủ và hài hòa

Trang 14

nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông

Từ cách tiếp cận dựa trên quyền, với sự ra đời của CRC, trẻ em đã trở thành một chủ thể của quyền con người, các quyền trẻ em đồng thời cũng là các quyền con người, đòi hỏi nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện và bảo vệ từ phía Nhà nước Quyền được nhận làm con nuôi thực chất là một quyền nhằm đảm bảo cho trẻ em trong một số hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn nhưng vẫn có cơ hội và điều kiện có một mái ấm gia đình, được yêu thương, dạy dỗ để phát triển toàn diện

mà không bị phân biệt đối xử

Điều 20 và Điều 21 của CRC cũng đã đề cập trực tiếp đến quyền của trẻ

em được nhận làm con nuôi và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc đảm bảo những lợi ích tốt nhất cho các em Như vậy, quyền được nhận làm con nuôi cũng

là một quyền trẻ em, hay một quyền con người

Thứ hai, quyền được nhận làm con nuôi liên quan mật thiết với việc hiện

thực hóa các quyền con người khác

Gia đình là môi trường xã hội tự nhiên và phù hợp nhất cho sự phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần của mỗi người Không ai có thể phủ nhận rằng, môi trường gia đình chính là nơi phù hợp nhất để nuôi dưỡng trẻ em Mỗi đứa trẻ cần được chuẩn bị đầy đủ về thể chất, tinh thần, cần được nuôi dưỡng, giáo dục để được trưởng thành trong môi trường yêu thương, tôn trọng, bình đẳng và nhân ái Gia đình là cái nôi đầu tiên và quan trọng nhất cho sự phát triển toàn diện của mỗi đứa trẻ Chính vì vậy, để cho mọi trẻ em đều được lớn lên trong một gia đình hạnh phúc, yêu thương và cảm thông là mục tiêu của mọi xã hội, mọi Nhà nước Mục tiêu này còn là nghĩa vụ phải thực hiện khi các quốc gia trở thành thành viên của các Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có CRC

Việc đảm bảo cho trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt được nhận làm con nuôi chính là đảm bảo quyền được nuôi dưỡng và trưởng thành trong môi trường gia đình của các em Do đó, quyền được nhận làm con nuôi có liên quan chặt chẽ đến các quyền khác của trẻ em bao gồm: quyền được sống, quyền được đăng ký khai sinh, quyền có họ tên, quyền có quốc tịch, quyền biết về cha mẹ mình và

Trang 15

được cha mẹ chăm sóc sau khi ra đời, quyền được bày tỏ ý kiến, quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo của trẻ em, quyền được luật pháp bảo vệ, quyền được hưởng sự bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt của Nhà nước, quyền được học tập, quyền có mức sống đủ để phát triển thể chất trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội… Quyền được nhận làm con nuôi đảm bảo cho trẻ em có đầy đủ các quyền trên, đảm bảo cho trẻ em được phát triển toàn diện trong môi trường hạnh phúc

Thứ ba, quyền được nhận làm con nuôi là một quyền quan trọng liên quan

1.1.2 Nội dung quyền của người được nhận làm con nuôi

1.1.2.1 Quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc

Gia đình gốc được hiểu là gia đình của những người có quan hệ huyết thống Thông thường gia đình gốc bao gồm cha, mẹ và con đẻ, ông/bà nội, ngoại

và cháu, anh chị em ruột, cô, cậu, dì, chú, bác ruột, do luật không quy định hạn chế, nên có thể hiểu gia đình gốc theo nghĩa rộng, gồm những người có quan hệ huyết thống không phân biệt cách nhau bao nhiêu đời, bao nhiêu thế hệ, có quan

hệ huyết thống xét cả về mặt trực hệ và bang hệ Như vậy, một trong những quyền cơ bản của trẻ em là được sống trong môi trường gia đình gốc với cha mẹ

đẻ, anh chị em ruột, ông/bà nội/ngoại, cô, cậu, dì, chú, bác ruột[36, tr.12]

Việc bảo đảm cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc tạo điều kiện quan trọng để trẻ em phát triển một cách toàn diện về tình cảm, trí tuệ

và thể chất bình thường Môi trường gia đình gốc là môi trường nuôi dưỡng, bao bọc, giữ gìn và bảo vệ cá nhân và cũng là môi trường sản sinh ra tình cảm yêu thương, gần gũi, gắn bó máu thịt giữa những người trong gia đình với nhau từ

Trang 16

khi sinh ra cho đến khi chết đi Do đó, mọi sự tước đoạt trẻ em ra khỏi môi trường gia đình gốc một cách bất hợp pháp đều bị lên án và phải kịp thời ngăn ngừa và xử

lý nghiêm minh Tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc đã được cộng đồng quốc tế tôn trọng và thừa nhận là một nguyên tắc, được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế liên quan đến trẻ em

Tại Điều 3, Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về các nguyên tắc pháp lý và xã

hội liên quan đến phúc lợi và bảo vệ trẻ em ghi nhận: “Ưu tiên hàng đầu đối với

trẻ em là phải được cha mẹ đẻ chăm sóc”

Trong Lời nói đầu của CRC cũng cho rằng: “Gia đình với tư cách là nhóm

xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của tất cả thành viên gia đình, đặc biệt là trẻ em cần có sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết có thể đảm đương được đầy đủ các trách nhiệm của mình trong cộng đồng Để được phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông”

Trong Lời nói đầu của Công ước La Hay cũng đề cập đến:“Mỗi nước cần

phải ưu tiên tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình”

Nội luật hóa các quy định trong CRC và Công ước La Hay, Điều 4 Luật

nuôi con nuôi quy định: “Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền

của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc”

Tiếp đến Điều 22 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em có quyền

sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em”

Việc trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc cùng với cha, mẹ đẻ

và những người thân thích khác là một trong những quyền quan trọng của trẻ em

Để bảo đảm quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc, thì trước tiên cha, mẹ đẻ cần nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng đối với con đẻ của mình phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, mức sống của

Trang 17

từng gia đình Trường hợp bất khả kháng cha mẹ không thể chăm sóc, nuôi dưỡng được con (bị chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, mất khả năng lao động, tàn tật, mắc bệnh hiểm nghèo, không có thu nhập…) thì anh chị ruột, ông/bà nội/ngoại, cô, dì, chú, bác ruột có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em

đó theo truyền thống đạo lý của dân tộc

Tôn trọng quyền trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc, tức là tôn trọng quy luật tự nhiên và xã hội, bảo đảm sự phát triển bình thường, hài hòa

và đầy đủ của trẻ em Trong khi xem xét giải quyết việc nuôi con nuôi, cần chú ý xem xét điều này Không đưa trẻ em rời khỏi môi trường gia đình gốc trái ý chí, nguyện vọng và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em Chừng nào gia đình vẫn còn khả năng và điều kiện thực tế để nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em, thì chừng đó cần tiếp tục duy trì trẻ em tại gia đình Trường hợp bất đắc dĩ phải cho trẻ em đi làm con nuôi, thì đây chỉ được coi là giải pháp cuối cùng, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

1.1.2.2 Quyền được tìm gia đình thay thế

Gia đình thay thế là gia đình nhận trẻ em làm con nuôi, tức là gia đình cha

mẹ nuôi Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, trẻ em làm con nuôi còn có quan hệ với các thành viên khác (những người thân thích) trong gia đình của cha

mẹ nuôi Do đó, có thể nói đầy đủ là gia đình thay thế bao gồm cha, mẹ nuôi và những thành viên trong gia đình cha mẹ nuôi như các con của cha mẹ nuôi, cha

mẹ của cha mẹ nuôi (ông/bà nội/ngoại), anh chị em của cha mẹ nuôi (cô, dì, chú, bác của cha mẹ nuôi) Sau khi nhận trẻ em làm con nuôi, trẻ em trở thành một thành viên mới của gia đình cha mẹ nuôi, vì thế trẻ em có quan hệ với tất cả các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi Giữa con nuôi với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi cũng phát sinh các quyền và nghĩa vụ liên quan đến nhân thân, tình cảm, trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đối với nhau, kể cả vấn đề đại diện, giám hộ, quyền thừa kế tài sản theo quy định pháp luật[36, tr.12-13]

Trẻ em cần có gia đình thay thế thường là trẻ em vì những lý do nào đó không được sống trong môi trường gia đình gốc của mình, đó là những trẻ em bị

mồ côi cha mẹ và không còn người thân thích để chăm sóc, nuôi dưỡng; trẻ em

Trang 18

bỏ rơi; trẻ em khác mà cha mẹ không thể nuôi dưỡng, chăm sóc (do mất năng lực hành vi dân sự, tàn tật, mất khả năng lao động và không có thu nhập…) Tuy nhiên, trong một số trường hợp cá biệt, trẻ em tuy vẫn có cha mẹ đẻ, nhưng vì mục đích bảo đảm an toàn tính mạng, nhân phẩm, danh dự, sức khỏe của trẻ em

và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em đòi hỏi phải đưa trẻ em ra khỏi môi trường gia đình gốc (do cha mẹ nghiện ngập bỏ bê việc nuôi dưỡng )

Trẻ em có quyền được tìm gia đình thay thế khi trẻ bị mất đi gia đình gốc một cách chủ quan (trẻ em bị bỏ rơi) hay khách quan (trẻ em bị mồ côi cả cha lẫn mẹ).Việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em là một trong những biện pháp tốt nhất được đặt ra nhằm đảm bảo quyền được chăm sóc thay thế của trẻ Quyền được tìm gia đình thay thế là để bảo đảm cho những trẻ em không may mắn có một gia đình có thể có cơ hội được nhận làm con nuôi trong nước hoặc nước ngoài

Tại Khoản 1, Điều 20 của CRC quy định: “Những trẻ em tạm thời hay

vĩnh viễn bị tước mất môi trường gia đình của mình, hoặc vì những lợi ích tốt nhất của chính bản thân các em mà không được phép tiếp tục ở trong môi trường ấy phải có quyền được hưởng sự bảo vệ, giúp đỡ đặc biệt của Nhà nước” Và tại Điều 21.b của CRC quy định: “Công nhận rằng việc trẻ em làm con nuôi nước ngoài có thể được coi như một biện pháp thay thế của việc chăm sóc trẻ em, nếu trẻ em đó không thể gửi được cho một gia đình bảo trợ hay nhận nuôi, hoặc không thể nào được chăm sóc một cách thích hợp ở ngay tại quốc gia gốc của trẻ em”

Trong Lời nói đầu của Công ước La Hay chỉ ra rằng: “Vấn đề nuôi con

nuôi quốc tế có thể có lợi thế đem lại một gia đình lâu dài cho trẻ em không tìm được một gia đình thích hợp tại nước gốc của mình và nuôi con nuôi quốc tế được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em, để ngăn chặn việc bắt cóc, bán hoặc buôn trẻ em” và “Thiết lập những bảo đảm về nuôi con nuôi quốc tế diễn ra là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em được công nhận trong luật pháp quốc tế”

(Điều 1.a Công ước La Hay)

Để đảm bảo quyền tìm gia đình thay thế cho trẻ em, Điều 22 Luật Trẻ em

quy định: “Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được

Trang 19

hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi”

Quy định này trong việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi, trước hết là căn cứ vào yếu tố gia đình, sau đó là yếu tố họ hàng, rồi đến yếu tố quốc tịch gắn liền với lãnh thổ, cuối cùng mới đến nước ngoài Để bảo đảm cho trẻ em thực hiện tốt quyền được tìm gia đình thay thế, Điều 15 Luật nuôi con nuôi quy định rất cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em trong trường hợp trẻ em không được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình gốc thì cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm tìm gia đình thay thế cho trẻ em đó

Về nguyên tắc, trẻ em phải được ưu tiên sống trong gia đình gốc, nếu không được mới giải quyết cho làm con nuôi trong nước và cuối cùng mới cho làm con nuôi nước ngoài Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều phải thực hiện lần lượt theo thứ tự ưu tiên tìm gia đình thay thế cho trẻ em làm con nuôi trong nước rồi mới đến làm con nuôi nước ngoài Trong những trường hợp nhất định, vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em chỉ có thể đạt được khi cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài Chẳng hạn, trong trường hợp đoàn tụ gia đình (làm con nuôi của người có quan hệ họ hàng hoặc cha dượng, mẹ kế); trường hợp trẻ mắc bệnh hiểm nghèo mà người trong nước không đủ điều kiện để nhận nuôi hoặc trẻ em

đã lớn tuổi mà cơ hội được nhận làm con nuôi bị hạn chế Đối với những trường hợp này, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi cho phép không cần phải tiến hành biện pháp tìm gia đình thay thế trong nước, không phải thông qua thủ tục giới thiệu trẻ em mà được giải quyết cho làm con nuôi người nước ngoài theo thủ tục nhận con nuôi đích danh

Như vậy, quyền được tìm gia đình thay thế là một quyền cơ bản quan trọng của trẻ em sống trong hoàn cảnh đặc biệt Quyền này tạo ra cho trẻ em một cơ hội có được một gia đình, được chăm sóc, nuôi dưỡng, thương yêu, chia sẻ và hưởng thụ những tình cảm hạnh phúc gia đình, được học tập, phát triển toàn diện về mọi mặt như bao trẻ em khác Gia đình sẽ là điểm tựa là cái nôi nuôi dưỡng ước mơ, là vườn ươm biến những ước mơ của trẻ em trở

Trang 20

thành hiện thực Việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em vừa mang tính nhân văn, vừa mang tính nhân đạo sâu sắc

1.1.2.3 Quyền được bày tỏ ý kiến đồng ý làm con nuôi

Trong hoạt động nuôi con nuôi, bảo đảm và tôn trọng lợi ích của trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia Tôn trọng quyền của trẻ em, quyền được bày tỏ ý kiến đồng ý làm con nuôi là rất quan trọng, quyết định đến tương

lai của trẻ em được cho làm con nuôi Điều 12 của CRC quy định: “Các quốc

gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành các quan điểm riêng của mình được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả các vấn đề có ảnh hưởng đến trẻ em và những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách phù hợp với tuổi và độ trưởng thành của trẻ em Vì mục đích

đó, trẻ em phải được đặc biệt tạo cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có ảnh hưởng đến trẻ em, hoặc trực tiếp thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy định mang tính thủ tục của luật pháp quốc gia” Công

ước La Hay quy định trẻ em đồng ý làm con nuôi, theo những hình thức do pháp luật đòi hỏi và sự đồng ý đó được thể hiện hoặc xác nhận bằng văn bản, nếu đòi hỏi phải có sự đồng ý này

Tương đồng với các quy định trong CRC và Công ước La Hay, Luật nuôi con nuôi quy định trường hợp nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên làm con nuôi thì phải có sự đồng ý của trẻ em đó Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác Sự đồng ý hoàn toàn tự nguyện, tức là đồng ý vô điều kiện, không kèm theo bất kỳ một khoản tiền hay bồi thường nào, không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ sự khiếm khuyết nào (có thể là sự lừa dối, xuyên tạc, cưỡng ép, gây ảnh hưởng thái quá hoặc do hiểu nhầm) Không chỉ trẻ em mà những chủ thể có liên quan đến việc cho nhận con nuôi phải đưa ra sự đồng ý một cách tự nguyện Tự nguyện cũng là một trong những nguyên tắc được thừa nhận tại Điều 4 Công ước La Hay

Trang 21

Bên cạnh việc quy định lấy ý kiến đồng ý làm con nuôi của trẻ em được nhận làm con nuôi, không chỉ trong pháp luật quốc tế mà pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam (Điều 21 Luật nuôi con nuôi) cũng quy định rất cụ thể về việc nuôi con nuôi phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha

mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ Những người đồng ý cho trẻ

em đi làm con nuôi phải được tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày…

Đối với trường hợp là trẻ em bị bỏ rơi đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng, do không xác định được cha, mẹ đẻ của trẻ em, nên đối với trường hợp này chỉ cần lấy ý kiến của Giám đốc cơ sở nuôi dưỡng nơi đang trực tiếp thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em bị bỏ rơi về việc cho trẻ em đi làm con nuôi

Tuy nhiên, một trong những yêu cầu lấy ý kiến của những người có liên quan đó là những người này phải được tư vấn đầy đủ về mục đích, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; cha mẹ đẻ và con sau khi trẻ em đó được nhận làm con nuôi để đảm bảo có thể trẻ em sẽ được tiếp tục nuôi dưỡng tại môi trường gia đình gốc Đồng thời, cũng cần đánh giá lại điều kiện, hoàn cảnh gia đình, khả năng nuôi dưỡng trẻ em trong môi trường gia đình gốc về mặt được và chưa được của việc trẻ em đi làm con nuôi trước khi những người có liên quan đưa ra ý kiến đồng ý về việc cho trẻ em làm con nuôi Việc lấy ý kiến đồng ý phải được lập thành văn bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người được lấy

ý kiến

1.1.2.4 Quyền được đối xử như con đẻ

Nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững,

vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình Việc nuôi con

Trang 22

nuôi xét về quyền và lợi ích hợp pháp thì con nuôi hay con đẻ đều có quyền ngang nhau Cha mẹ nuôi không được phân biệt giữa con đẻ của mình và con nuôi Phân biệt đối xử giữa con đẻ với con nuôi sẽ dẫn đến quyền và lợi ích của con nuôi không được bảo đảm, tổn thương và ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển bình thường của con nuôi Vì vậy, nếu trong môi trường gia đình nuôi mà

có sự phân biệt giữa con đẻ và con nuôi thì mục đích của việc nuôi con nuôi không đạt được và việc duy trì quan hệ nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt

Tại Khoản 2, Điều 2 của CRC quy định: “Các quốc gia thành viên phải

thi hành tất cả các biện pháp thích hợp để đảm bảo cho trẻ em được bảo vệ tránh khỏi tất cả các hình thức phân biệt đối xử hoặc trừng phạt trên cơ sở địa

vị, hoạt động, những ý kiến phát biểu hoặc tín ngưỡng của cha mẹ, người giám

hộ pháp lý hoặc những thành viên khác của trẻ em” Để bảo đảm quyền và lợi

ích hợp pháp của con nuôi, Điều 13 Luật nuôi con nuôi quy định các hành vi cấm phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong trường hợp cha mẹ nuôi có hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con

nuôi Điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2013 quy định: “Giữa con nuôi

và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con”

Vì lợi ích tốt nhất của trẻ em mà đưa đến quyết định cho trẻ em đi làm con nuôi Do đó, việc nuôi con nuôi phải xuất phát từ lợi ích tốt nhất của trẻ em và phải đảm bảo trẻ em được sinh sống bình thường Các quyền và lợi ích của trẻ

em được nhận làm con nuôi sẽ giống như con đẻ Pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đã quy định về việc bảo đảm cho trẻ em tránh khỏi tất cả các hình thức phân biệt đối xử và trong trường hợp có sự phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi thì việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt để kịp thời bảo vệ quyền được đối

xử như con đẻ của trẻ em được nhận làm con nuôi

1.1.2.5 Quyền được thay đổi họ, tên, quốc tịch

Quyền được thay đổi họ, tên, quốc tịch của con nuôi được đặt ra như một yêu cầu tất yếu trong quan hệ nuôi con nuôi Nuôi con nuôi là việc xác lập quan

hệ cha mẹ nuôi và con nuôi nên trong gia đình, cha mẹ nuôi và con nuôi cần có quan hệ chặt chẽ, gắn bó có các quyền và nghĩa vụ như cha mẹ đẻ và con đẻ Chỉ như vậy con nuôi mới hòa nhập vào gia đình của cha mẹ nuôi Do đó, nhằm bảo đảm sự hòa nhập một cách thực sự của con nuôi vào gia đình cha, mẹ nuôi, tại

Trang 23

Khoản 2, Điều 24 Luật nuôi con nuôi quy định con nuôi được thay đổi họ, tên theo họ của cha, mẹ nuôi Đối với trẻ em từ 9 tuổi trở lên, thì việc thay đổi họ, tên theo họ của cha mẹ nuôi cần có sự đồng ý của trẻ em đó

Vấn đề thay đổi họ, tên, quốc tịch của người được nhận làm con nuôi được rất nhiều người quan tâm vì khi con nuôi được thay đổi họ, tên, quốc tịch

sẽ tránh được sự mặc cảm khi thấy họ, tên, quốc tịch của mình khác với dân tộc của cha mẹ nuôi và các thành viên khác trong gia đình Tuy nhiên, quốc tịch của

cá nhân gắn liền với dân tộc, văn hóa thể hiện nguồn gốc huyết thống Điều 27

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước

có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ tên trong trường hợp thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi Việc thay đổi họ cho người từ đủ 9 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi … Trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, sự thay đổi quốc tịch của con nuôi từ

đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó (Khoản 4 Điều 37 Luật Quốc tịch năm 2008)

Để đảm bảo cho con nuôi được hòa nhập tốt vào môi trường gia đình cha

mẹ nuôi, pháp luật Việt Nam đã quy định rất cụ thể về quyền được thay đổi họ, tên, quốc tịch của người được nhận làm con nuôi Đây là quy định nhằm bảo đảm về mặt pháp lý khi trẻ em có nguyện vọng hoặc cha mẹ nuôi có yêu cầu thay đổi họ, tên, quốc tịch cho con nuôi được thuận lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ em sống hòa đồng vào môi trường gia đình, xã hôi, tự nhiên mới của mình để trẻ tự tin, không mặc cảm, sống vui vẻ, không thấy mình bị khác biệt hay tách rời với môi trường gia đình, cộng đồng xã hội, tự nhiên Đây là một trong những quyền dân sự gắn liền và ảnh hưởng trực tiếp đến nhân thân của người được nhận làm con nuôi, do đó quyền này phải được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện

Trang 24

1.1.2.6 Quyền được yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

Quan hệ cha mẹ con đã được xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo quy định của mỗi nước, thì quyền được yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi là khác nhau Để bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ

em được nhận làm con nuôi theo quy định pháp luật, hạn chế và ngăn ngừa các hành vi có thể xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em theo quy định

pháp luật, tại điểm b, c Điều 4 Công ước La Hay quy định: “Xác nhận việc nuôi

con nuôi quốc tế là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em sau khi xem xét kỹ lưỡng các khả năng chăm sóc tại nước gốc; đảm bảo rằng: Những cá nhân, tổ chức và các nhà chức trách mà việc nuôi con nuôi cần phải có sự đồng ý của họ đã được tham khảo ý kiến ở mức độ cần thiết và đã được thông báo kỹ lưỡng về những hệ quả mà sự đồng ý của họ có thể đem lại, đặc biệt là về việc vẫn giữ hay cắt đứt mối quan hệ pháp lý giữa trẻ em và gia đình gốc do việc nuôi con nuôi; những

cá nhân, tổ chức và các nhà chức trách nói trên đã đồng ý một cách tự nguyện theo những hình thức do pháp luật đòi hỏi và những sự đồng ý này được thể hiện hoặc xác nhận bằng văn bản” Khoản 2, Điều 26 Công ước La Hay quy định

rằng nếu việc nuôi con nuôi dẫn đến việc chấm dứt mối quan hệ pháp lý tồn tại trước đó giữa trẻ em và cha mẹ đẻ thì trẻ em phải được hưởng tại nước nhận và tại bất kỳ các nước ký kết nào khác mà công nhận việc nuôi con nuôi đó, những quyền tương tự phát sinh do việc nuôi con nuôi có hệ quả như vậy tại mỗi nước

Ở những nơi có việc nuôi con nuôi được nước gốc cấp phép không có hệ quả chấm dứt mối quan hệ pháp lý tồn tại trước đó giữa trẻ em và cha mẹ đẻ có thể chuyển thành việc nuôi con nuôi có hệ quả như vậy tại nước nhận, nơi công nhận việc nuôi con nuôi theo Công ước, nếu pháp luật của nước nhận cho phép và sự đồng ý này được thể hiện bằng văn bản (Điều 27 Công ước Lay Hay) Như vậy, trên tinh thần của Công ước La Hay thì quyền được yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật nước nhận

Theo quy định tại Điều 13 và Điều 25 Luật nuôi con nuôi, thì việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp: con nuôi đã thành niên và cha

mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi; cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi, ngược đãi, hành hạ con nuôi; vi phạm các hành vi như: Lợi dụng việc nuôi

Trang 25

con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, bắt cóc, mua bán trẻ em… Nếu có một trong những căn cứ trên thì cha mẹ nuôi; con nuôi đã thành niên; cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi; Cơ quan lao động thương binh xã hội và Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi (Điều 26 Luật nuôi con nuôi)

1.1.2.7 Quyền được biết về nguồn gốc

Quyền của người được biết về nguồn gốc thực của mình đã được pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện, không ai được ngăn cản, cản trở, cố tình dấu về nguồn gốc thực của con nuôi Có nhiều hình thức để bảo đảm thực hiện quyền được biết về nguồn gốc của con nuôi, ví dụ: cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp các thông tin xác thực về nguồn gốc của trẻ em được nhận làm con nuôi để cung cấp thông tin đó cho con nuôi khi người con người con nuôi đến tuổi trưởng thành Về nguyên tắc, khi con nuôi trưởng thành và có yêu cầu được biết về nguồn gốc thực của mình thì cha

mẹ nuôi và những cơ quan có liên quan có trách nhiệm phải cung cấp thông tin xác thực để con nuôi tìm về nguồn gốc của mình

Quyền được biết về nguồn gốc là một quyền quan trọng đối với trẻ em được nhận làm con nuôi Khi đến độ tuổi nhất định, trẻ em được nhận làm con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình, cội nguồn, đất nước, văn hóa, phong tục tập quán nơi mình sinh ra như thế nào Để đảm bảo cho con nuôi được thực hiện quyền này, cơ quan trung ương của hai nước (nước cho và nước nhận) phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền này của trẻ em

Theo quy định tại Điều 9.e Công ước La Hay quy định: “Các cơ quan

trung ương phải trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan công quyền hay các tổ chức khác được chỉ định ở Nước mình, áp dụng tất cả các biện pháp thích hợp, đặc biệt để: đáp ứng những đề nghị có tính chất thông tin của các Cơ quan trung ương hoặc cơ quan công quyền khác về một tình trạng con nuôi cụ thể, trong phạm vi mà pháp luật của nước mình cho phép” và Điều 30 Công ước La Hay

“Các cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết phải đảm bảo giữ kín những thông tin lưu giữ về nguồn gốc của trẻ em, đặc biệt là những thông tin liên quan đến

Trang 26

danh tính của cha mẹ của trẻ em cũng như lý lịch y tế của trẻ em Các cơ quan

có thẩm quyền của nước ký kết phải đảm bảo trẻ em hoặc người đại diện của trẻ

em được tiếp cận những thông tin này theo hướng dẫn thích hợp trong phạm vi được pháp luật nước đó cho phép” Như vậy, Công ước chỉ ra rằng việc thu

thập, lưu giữ và trao đổi thông tin liên quan đến những thông tin về cha mẹ đẻ của trẻ em, dù bất cứ nơi đâu thì trẻ em cũng có quyền tiếp cận các thông tin liên quan đến nguồn gốc của mình ở mức toàn diện nếu có thể

Theo quy định tại Điều 11 Luật nuôi con nuôi thì con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình Không ai được cản trở con nuôi được biết về nguồn gốc của mình Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, đất nước

Đối với trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi nước ngoài, thì cha mẹ nuôi có thể từng bước cho con nuôi biết về nguồn gốc của mình như thông qua

kỷ vật, thư từ, hình ảnh, sách báo hoặc những tài liệu, văn bản liên quan đến nguồn gốc của con nuôi Qua đó, giúp trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi nước ngoài ý thức hơn về bản sắc văn hóa của dân tộc mình trước kia, giúp cho cuộc sống của trẻ em này có ý nghĩa hơn và gắn bó tình cảm của trẻ em với quê hương, đất nước nơi mình sinh ra[37, Tr 8]

1.1.2.8 Quyền được Nhà nước bảo vệ

Trẻ em được coi như là hạt giống tương lai, thế hệ kế tiếp, lưu giữ và phát triển những tinh hoa, văn hóa của nhân loại, do đó, trẻ em được sinh ra ở bất cứ thời điểm nào của lịch sử phát triển của quốc gia, hay quốc tế thì cũng luôn được quan tâm bảo vệ dưới mọi hình thức Luật pháp quốc tế là nền tảng pháp lý căn bản và quan trọng ghi nhận và bảo vệ trẻ em mang tính toàn cầu Trẻ được sinh

ra ở bất kỳ quốc gia nào cũng là đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc tế về trẻ em Từ Bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, đến các Công ước quốc tế liên quan đến việc bảo vệ quyền của trẻ em, đều trực tiếp hay gián tiếp quy định các biện pháp bảo đảm cho trẻ em được thực hiện các quyền của mình một cách tốt nhất

Trang 27

Ngay trong Lời nói đầu của Bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người đã khẳng định Tuyên ngôn là thước đo chung cho tất cả các quốc gia và các dân tộc, và cho cả mọi cá nhân và tổ chức xã hội… Mọi người có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm Trong Lời nói đầu

của CRC có ghi nhận rằng: “Mọi người đều có quyền được hưởng tất cả các

quyền mà không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, xuất thân gia đình hoặc mối tương quan khác” Và trong

Lời nói đầu của Công ước La Hay cũng chỉ ra rằng để phát triển hài hòa và toàn diện nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông

Ở Việt Nam, xuất phát từ mục tiêu cao nhất trong đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước Việt Nam đối với trẻ em,vì lợi ích tối nhất của trẻ em, công tác bảo vệ, bảo đảm quyền của trẻ em làm con nuôi được thực hiện trên tinh thần nhân đạo, phòng chống hành vi mua bán trẻ em hoặc lợi dụng việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi để trục lợi dưới mọi hình thức Điều 37

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em…” Như vậy, ở Việt Nam quyền con người

nói chung và quyền của trẻ em nói riêng được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật

Lĩnh vực nuôi con nuôi là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến quyền con người, quyền trẻ em, ở các mức độ khác nhau, liên quan đến nhiều văn bản pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình… được ban hành ở các thời điểm khác nhau

Do đó, pháp luật nuôi con nuôi phải đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất cao giữa các văn bản pháp luật, các quy định pháp luật về nuôi con nuôi phải đảm bảo sự gắn kết trong cơ chế điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi quốc tế Vì lợi ích tốt nhất của trẻ em đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền

Trang 28

phải cân nhắc kỹ lưỡng mọi khả năng nuôi dưỡng trẻ em để có quyết đinh phù hợp

Quyền của người được nhận làm con nuôi được nhà nước Việt Nam bảo

vệ theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi và các quy định pháp luật khác

có liên quan Đối với trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài, Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài sẽ thực hiện biện pháp bảo vệ trẻ em trong trường hợp cần thiết

1.2 Các điều kiện bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi

1.2.1 Điều kiện chính trị

Chính trị là một khái niệm có nội hàm rất phong phú, chứa đựng trong đó những vấn đề liên quan đến quan hệ giữa các quốc gia, liên quan đến mục tiêu chính trị, các vấn đề tổ chức thực hiện quyền lực, tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước trong mỗi quốc gia

Trong mối quan hệ giữa chính trị và quyền con người thì chính trị đóng vai trò tiên quyết trong việc bảo đảm quyền con người Điều kiện chính trị trước hết thể hiện ở chế độ dân chủ, tiến bộ, coi trọng và đề cao quyền con người Một chế độ chính trị có xu hướng độc tài, chuyên chế thường xuất hiện hiện tượng xâm hại quyền con người mà trước hết đó là quyền dân sự - chính trị Chế độ chính trị dân chủ, tiến bộ có mục tiêu vì quyền con người, quan tâm tới việc xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách, pháp luật lấy con người làm trung tâm, hướng tới việc tạo mọi khả năng bảo đảm thực hiện tốt nhất quyền con người [35,tr.28] Do đó, có thể thấy rằng tình trạng vi phạm nhân quyền thường diễn ra phổ biến trong các chế độ chính trị có xu hướng độc tài, còn ở chế độ chính trị dân chủ thì mức độ tôn trọng, bảo đảm quyền con người được thể hiện trong trình độ văn minh, dân chủ cũng như tính pháp quyền của chế độ nhà nước đó

Trong việc bảo đảm quyền được nhận làm con nuôi thì những điều kiện chính trị có vai trò quan trọng Để đảm bảo cho trẻ em được thụ hưởng quyền được nhận làm con nuôi vì lợi ích tốt nhất của trẻ em cũng như tiếp cận một cách tốt nhất quyền được nhận làm con nuôi thì chính quyền phải thực thi trách nhiệm quan trọng để định ra những quy định bảo đảm cho việc nuôi con nuôi được giải

Trang 29

quyết một cách minh bạch Cơ quan quản lý chung cho hệ thống phải đóng vai trò quan trọng nhằm định ra các mục tiêu của hệ thống và bảo đảm mang lại lợi ích tốt nhất cho người được nhận làm con nuôi

Bảo đảm quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi vì lợi ích tốt nhất của trẻ em là chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

về công tác bảo vệ trẻ em và nó được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước từ đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến Pháp đến luật chuyên ngành và các văn bản pháp luật khác có liên quan

1.2.2 Điều kiện pháp lý

Điều kiện pháp lý đóng vai trò thu hẹp khoảng cách, tạo ra kênh dẫn cho các quyền pháp định của con người đi vào đời sống thông qua việc ghi nhận trong pháp luật và tạo ra cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi các quyền con người

Nhà nước quản lý xã hội bằng nhiều công cụ quản lý khác nhau nhưng công cụ chủ yếu vẫn là pháp luật Pháp luật là công cụ không thể thiếu được của nhà nước Từ xưa đến nay, nhà nước nào cũng thực hiện việc quản lý của mình trước hết bằng pháp luật, dùng pháp luật tác động vào ý chí của con người để điều chỉnh hành vi của con người[35,tr.29]

Pháp luật về nuôi con nuôi được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào việc giải quyết nuôi con nuôi và với các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Với tư cách là công cụ đắc lực trong quản lý nhà nước về lĩnh vực nuôi con nuôi, thông qua việc giải quyết nuôi con nuôi, Nhà nước xác định rõ mục đích và nội dung quản

lý nhà nước về lĩnh vực này, xác định địa vị pháp lý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào việc giải quyết nuôi con nuôi, quy định cụ thể quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể này Mặt khác, bằng pháp luật, Nhà nước thiết lập một hệ thống cơ quan quản lý về nuôi con nuôi từ trung ương đến địa phương, quy định

rõ cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác quản lý trong lĩnh vực nuôi con nuôi được bảo đảm một cách tốt nhất

1.2.3 Điều kiện kinh tế

Trang 30

Không thể biện hộ cho tình trạng vi phạm nhân quyền hoặc không thực hiện quyền con người bằng những lý do kinh tế Tuy nhiên, cũng hoàn toàn không thể phủ nhận vai trò quan trọng của trình độ phát triển kinh tế và khả năng cung cấp cơ sở vật chất của nền kinh tế cho việc bảo đảm thực thi quyền con người

Điều kiện kinh tế bảo đảm thực thi quyền con người gồm nhiều yêu cầu, trong đó biểu hiện rõ nhất là trình độ phát triển của nền kinh tế bộc lộ qua các chỉ số đánh giá mức độ tăng trưởng, mức độ thu hẹp sự chênh lệch giàu nghèo, mức độ ổn định của chu kỳ tăng trưởng, mức độ an toàn của môi trường kinh tế đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững, mức độ kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo an sinh xã hội…[35,tr.30]

Điều kiện kinh tế tác động rất lớn đến mọi lĩnh vực của đời sống, chính trị, xã hội trong đó có tác động không nhỏ đến quyền của trẻ em nói chung và quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi nói riêng Khi điều kiện kinh tế khó khăn thì các quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập… của trẻ em sẽ không được bảo đảm thực hiện một cách tốt nhất được

Như vậy, một nền kinh tế phát triển ổn định là điều kiện để đảm bảo cho các quyền của trẻ em nói chung và trẻ em được nhận làm con nuôi sẽ được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

1.2.4 Điều kiện văn hóa – xã hội

Điều kiện về văn hóa như tập quán, ngôn ngữ, thái độ giao tiếp… ảnh hưởng không nhỏ đến việc hòa nhập vào môi trường sống mới của người được nhận làm con nuôi Người được nhận làm con nuôi thường phải di chuyển từ nơi

ở của mình sang một nơi ở mới mà con người, ngôn ngữ, tập quán, văn hóa, thái

độ giao tiếp… hoàn toàn khác lạ so với môi trường sống trước đây, đo đó họ chưa có thời gian để thích nghi ngay được Người được nhận làm con nuôi phải dần dần học tập, tiếp thu và hòa mình dần vào môi trường mới, Chính vì vậy mà

họ gặp phải không ít khó khăn, họ cần được hỗ trợ và giúp đỡ từ chính cha mẹ nuôi của mình cùng những người thân thích khác trong gia đình của cha mẹ nuôi

Trình độ văn hóa cũng là một yếu tố tác động đến nhận thức của người được nhận làm con nuôi và cả gia đình nhận nuôi Những bất đồng về ngôn ngữ

Trang 31

và thái độ giao tiếp cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tâm lý của người được nhận làm con nuôi, khiến họ khó trong giao tiếp và bày tỏ những cảm xúc, mong muốn của mình Nếu không được gần gũi giúp đỡ thì dần cảm giác mặc cảm, ngại giao tiếp sẽ dễ mắc phải và điều này sẽ tạo ra một rào cản trong hòa nhập vào môi trường gia đình mới

Như vậy, có thể nói rằng điều kiện văn hóa - xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến người được nhận làm con nuôi cả về mặt khách quan và chủ quan Đây

là một yếu tố không thể can thiệp và thay đổi một cách nhanh chóng được, nó đòi hỏi về mặt thời gian và thái độ của tất cả của những người có liên quan

1.3 Cơ chế bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi

1.3.1 Khái niệm bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tạo ra các tiền đề, điều kiện

về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân thực hiện các quyền và lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận Nói cách khác, bảo đảm quyền con người là quá trình tạo lập các cơ chế và triển khai các hoạt động thực tiễn để hiện thực hóa các quyền pháp định [35, tr.20]

Từ khái niệm chung về bảo đảm quyền con người, quyền công dân có thể đưa ra khái niệm bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi như sau: Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi là bảo đảm quyền của trẻ

em dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm tạo ra các tiền

đề, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức, hiện thực hóa các tiền đề, điều kiện này trên thực tế để người được nhận làm con nuôi được thụ hưởng đầy đủ các quyền, lợi ích chính đáng của mình trong lĩnh vực con nuôi

Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi có vai trò hết sức quan trọng Vì vấn đề nuôi con nuôi bị phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức Bởi khi một nhà nước có sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội thì pháp luật của nước đó sẽ luôn được quan tâm hoàn thiện, các quyền của con người sẽ cụ thể hóa trong quan điểm, đường lối, chính sách pháp luật, do đó, quyền của con người sẽ được quy định một cách bao quát, toàn diện, bao trùm trong mọi hoạt động và lĩnh vực của đời sống xã hội Chính vì

Trang 32

thế, quyền con người sẽ được bảo đảm thực hiện một cách tốt hơn, trong đó có quyền của trẻ em nói chung cũng như quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi nói riêng sẽ luôn được chú trọng, quan tâm và thực hiện có hiệu quả trên thực tế Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi phù hợp với mục đích của việc nuôi con nuôi là xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa những người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi, nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững vì lợi ích tốt nhất của người được nhận nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình Bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi chính là mở ra cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ

em bị mồ côi, trẻ em tuy có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không ai có khả năng nuôi dưỡng có cơ hội được tìm gia đình thay thế ở trong nước và nước ngoài nhận nuôi để trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương của gia đình Mặt khác, cũng là một trong những biện pháp cần thiết và cơ bản quan trọng phản ánh mức độ bảo đảm quyền con người, tính nhân văn, nhân đạo của mỗi quốc gia

Bảo đảm tốt quyền được nhận làm con nuôi của trẻ em chính là đầu tư, phát triển cho thế hệ tương lai, nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ em khi có được gia đình thay thế phù hợp Giúp trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt trong môi trường gia đình, trẻ được phát triển toàn diện về thể lực, trí lực, môi trường sống của trẻ em được cải thiện sẽ tạo cho trẻ em phát triển thành người có ích cho xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển xã hội

1.3.2 Các yếu tố của cơ chế bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi

Việc Việt Nam tham gia Công ước La Hay đánh dấu một bước ngặt mới

về mặt thể chế, chính sách nhằm bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con

Trang 33

nuôi quốc tế, đồng thời là hành động mang tính hợp tác quốc tế hết sức quan trọng để ngăn ngừa việc bắt cóc, bán hoặc buôn bán trẻ em

Với chính sách vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, pháp luật điều chỉnh về nuôi con nuôi ở Việt Nam được hình thành từ rất sớm và trong những năm qua, đã góp phần quan trọng vảo việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình; động viên, khơi dậy tinh thần nhân đạo, nhân văn của con người Việt Nam; giữ gìn và phát huy truyền thống tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, pháp luật về nuôi con nuôi

đã bộc lộ nhiều hạn chế, các vấn đề liên quan đến nuôi con nuôi được quy định tản mạn trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch, các văn bản pháp luật về bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em, về phòng chống bán phụ nữ và trẻ em… Do chưa được quy định thống nhất trong một đạo luật cụ thể nên một số quy định về nuôi con nuôi còn chồng chéo, mâu thuẫn với nhau, làm giảm hiệu lực áp dụng thực tế Nhiều vấn đề về liên quan đến quyền nuôi con nuôi, quyền được nhận làm con nuôi của

cá nhân được khẳng định trong Bộ luật dân sự chưa được quy định đầy đủ, cụ thể trong các văn bản khác có giá trị pháp lý cao Mặt khác, sự tồn tại hai khung pháp lý gần như riêng biệt về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài đã làm cho cơ chế thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi thiếu đồng

bộ và thống nhất

Việc ban hành một đạo luật riêng về nuôi con nuôi nhằm tạo khung khổ pháp lý thống nhất, ổn định, có giá trị áp dụng lâu dài để thu hút sự quan tâm, ủng hộ và giúp đỡ của toàn xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em, nâng cao trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp, cơ quan, tổ chức và xã hội trong việc bảo đảm quyền của trẻ em là vấn đề quan trọng và cần thiết Điều này cũng thể hiện được sự quan tâm sâu sắc, thiết thực của Đảng và Nhà nước đối với công tác bảo vệ trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt,

Trang 34

tạo cơ sở để Chính phủ ban hành và thực hiện các chính sách, biện pháp nhằm khuyến khích, động viên và tăng cường trách nhiệm của toàn xã hội trong việc giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để các em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình, hòa nhập vào cộng đồng, có các điều kiện phát triển thành người có ích cho xã hội

Năm 2010, Việt Nam đã nhất thể hóa các quy định về nuôi con nuôi trong một văn bản pháp luật đó là Luật Nuôi con nuôi Luật Nuôi con nuôi ra đời có sự

kế thừa phát triển các quy định pháp luật trong nước và tiếp thu tinh thần của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, Công ước La Hay số 33 ngày 29/5/1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (có hiệu lực thi hành tại Việt Nam từ ngày 01/02/2012), cũng như các văn kiện quốc tế khác về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia và ủng hộ, cụ thể: Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người năm 1948; Công ước về các quyền Kinh tế xã hội

và văn hóa (ICESCR); Công ước về các quyền Dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW); Công ước về quyền của người khuyết tật…

Luật nuôi con nuôi được ban hành tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các cặp vợ chồng trong nước mong muốn nhận con nuôi; bảo vệ quyền và lợi ích của cha mẹ nuôi, giúp họ ổn định tư tưởng, yên tâm trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con nuôi như con đẻ Bên cạnh đó, việc ban hành Luật nuôi con nuôi còn thể hiện tôn trọng các cam kết quốc tế của Nhà nước Việt Nam đã đưa ra khi tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em, tôn trọng và bảo đảm các quyền của trẻ em, bảo đảm việc nuôi con nuôi được tiến hành trên nguyên tắc nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, hài hòa với tinh thần của Công ước La Hay

Bảo đảm các quyền của người được nhận làm con nuôi được quy định xuyên suốt trong Luật nuôi con nuôi, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi; Thông tư số 12/2011/TT-BTP

về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi; Thông tư số 21/2011/TT-BTP về việc quản lý văn phòng con nuôi

Trang 35

nước ngoài ở Việt Nam; Thông tư số 15/2014/TT-BTP hướng dẫn tìm gia đình thay thế ở nước ngoài cho trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, trẻ em trên 5 tuổi trở lên, hai trẻ em trở lên là anh chị em ruột cần tìm gia đình thay thế; Thông tư số 03/2016/TTLT-BTP-BNG-BCA-BLĐTBXH hướng dẫn việc theo dõi tình hình phát triển của trẻ em được cho làm con nuôi ở nước ngoài và bảo

vệ trẻ em trong trường hợp cần thiết…

Theo quy định của Luật nuôi con nuôi và các văn bản pháp luật nói trên thì quyền của người được nhận làm con nuôi được bảo đảm thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước ở cấp trung ương và cấp địa phương và phải tuân theo đúng các trình tự, thủ tục pháp lý rất chặt chẽ từ việc xem xét mục đích của việc nhận con nuôi, tuân thủ các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi, cân nhắc thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế, khuyến khích hỗ trợ nhân đạo cho việc chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước, theo dõi tình hình phát triển của con nuôi và theo dõi việc nuôi con nuôi Đối với trường hợp tìm gia đình thay thế ở nước ngoài nhận nuôi trẻ em thì, phải căn cứ vào khả năng hòa nhập và phát triển của trẻ em, điều kiện kinh tế, môi trường gia đình, xã hội và nguyện vọng của người nhận con nuôi… để giới thiệu

Luật nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định trẻ em được giới thiệu làm con nuôi nước ngoài là trẻ em có sức khỏe bình thường, được gọi

là trẻ em Danh sách 1; trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, trẻ em trên 5 tuổi trở lên, hai trẻ em trở lên là anh chị em ruột, được gọi là diện trẻ em Danh sách 2 Việc giới thiệu trẻ em Danh sách 1 và Danh sách 2 được thực hiện theo hai thủ tục khác nhau đó là thủ tục xin nhận con nuôi không đích danh áp dụng với trẻ em Danh sách 1, còn thủ tục xin nhận con nuôi đích danh áp dụng đối với trẻ em diện Danh sách 2 Các trẻ em được nhận làm con nuôi nước ngoài phải được cha mẹ nuôi báo cáo về tình hình phát triển theo quy định của Luật nuôi con nuôi và các văn bản có liên quan, đồng thời trẻ em được nhận nuôi được pháp luật nước cho và nước nhận bảo hộ thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật nước cho, theo quy định của pháp luật nước nhận và theo pháp luật quốc tế mà mình là thành viên

Trang 36

Cùng với Luật nuôi con nuôi, vấn đề bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi đã được quy định tại luật chuyên sâu như: Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Người khuyết tật, Luật Hộ tịch, Luật Giáo dục, Luật trẻ em… nhằm bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi, tạo điều kiện cho người được nhận làm con nuôi được thực hiện các quyền của mình theo quy định pháp luật

Luật Trẻ em được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11, thông qua ngày 05/04/2016 đánh dấu một bước ngoặt mới trong quá trình bảo đảm các quyền của trẻ em nói chung và quyền của người được nhận làm con nuôi nói riêng, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho trẻ em được bảo đảm thực hiện các quyền của mình, góp phần vào sự phát triển công tác bảo

vệ, chăm sóc trẻ em Luật trẻ em quy định cụ thể về việc chuyển đổi các hình thức chăm sóc thay thế Luật trẻ em là cơ sở pháp lý và cũng là việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo đảm thực hiện các quyền của trẻ em trong tình hình mới, đồng thời cũng quy định trách nhiệm thực hiện các cam kết theo CRC của Việt Nam

1.3.2.2 Về thiết chế

Việc hình thành các thiết chế bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi luôn được các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm, chú trọng Ở Việt Nam, thiết chế này được quy định khá chi tiết tại Điều 44 Luật nuôi con nuôi Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước về nuôi con nuôi gồm những

cơ quan sau đây: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nuôi con nuôi; Bộ

Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi; Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về nuôi con nuôi tại địa phương Như vậy, có thể chia các cơ quan quản lý nhà nước về nuôi con nuôi thành hai nhóm: Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về nuôi con nuôi ở trung ương và nhóm cơ quan quản lý nhà nước về nuôi con nuôi ở địa phương

Trang 37

Cơ quan quản lý nhà nước về nuôi con nuôi cấp trung ương, bao gồm:

- Chính phủ: thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc xây dựng và trình Quốc hội các dự án luật về nuôi con nuôi, ban hành theo thẩm quyền các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Nuôi con nuôi và các văn bản cụ thể hóa công tác quản lý nhà nước, phê duyệt quy hoạch hệ thống các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em

- Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước về nuôi con nuôi Đối với lĩnh vực nuôi con nuôi, Bộ Tư pháp

có chức năng quản lý nhà nước và chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong phạm

vi cả nước theo luật định, trách nhiệm của Bộ Tư pháp được quy định tại Điều

45 Luật nuôi con nuôi Bộ Tư pháp có trách nhiệm ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về nuôi con nuôi; ban hành và tổ chức thực hiện thống nhất biểu mẫu giấy tờ, sổ sách về nuôi con nuôi; cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử

lý vi phạm pháp luật về nuôi con nuôi theo thẩm quyền

- Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng và cho trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng làm con nuôi, bảo đảm đúng đối tượng theo quy định pháp luật; chỉ đạo, hướng dẫn ngành lao động, thương binh và xã hội trong việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em, có biện pháp phòng ngừa tình trạng trẻ em bị bỏ rơi; kiểm tra, theo dõi việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản hỗ trợ, tài trợ từ các tổ chức, cá nhân vì mục đích bảo vệ, chăm sóc trẻ em (Điều 46 Luật nuôi con nuôi)

- Bộ Công an có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi; hướng dẫn công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác minh nguồn gốc trẻ em bị

bỏ rơi được cho làm con nuôi (Điều 47 Luật nuôi con nuôi)

- Bộ Ngoại giao có trách nhiệm chỉ đạo Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ trẻ em Việt Nam được

Trang 38

cho làm con nuôi nước ngoài; hướng dẫn Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi (Điều

48 Luật nuôi con nuôi)

- Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc đăng ký nuôi con nuôi; ban hành, quản lý thống nhất các loại biểu mẫu, giấy tờ,

sổ sách về nuôi con nuôi; giải quyết các việc về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật; cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi Giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài và quản lý Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam; thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi quốc tế của Việt Nam

Cơ quan quản lý nhà nước về nuôi con nuôi ở cấp địa phương, bao gồm:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quyết định việc nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật Nuôi con nuôi; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về nuôi con nuôi ở địa phương; báo cáo Bộ Tư pháp về tình hình giải quyết việc nuôi con nuôi và thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại địa phương; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi theo thẩm quyền (Khoản 1, Điều 49 Luật nuôi con nuôi)

- Ủy ban nhân dan cấp huyện có trách nhiệm giải quyết các việc hộ tịch liên quan đến nuôi con nuôi; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về nuôi con nuôi ở địa phương; kiểm tra, theo dõi tình hình nuôi con nuôi ở địa phương; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi theo thẩm quyền; báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình giải quyết việc nuôi con nuôi và thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại địa phương (Khoản 2, Điều

49 Luật nuôi con nuôi)

- Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm đăng ký, theo dõi việc nuôi con nuôi trong nước, ghi chú việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về nuôi con nuôi ở địa phương; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi theo thẩm quyền; báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện về tình hình giải quyết việc

Trang 39

nuôi con nuôi và thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại địa phương (Khoản

3, Điều 49 Luật nuôi con nuôi)

1.4 Các biện pháp bảo đảm quyền của người được nhận làm con nuôi

1.4.1 Theo dõi tình hình phát triển của người được nhận làm con nuôi

Theo dõi tình hình phát triển của trẻ em là một trong những nguyên tắc cơ bản của việc nuôi con nuôi, đặc biệt là nuôi con nuôi quốc tế Theo dõi tình hình phát triển của trẻ em là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, bảo vệ trẻ em khỏi sự lạm dụng, bắt cóc và buôn bán trẻ em, điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận

Điều 1 Công ước La Hay cũng đặt ra các quy định cụ thể mà các quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ trẻ em trong quá trình cho nhận con nuôi và sau khi trẻ em đã xuất cảnh nước gốc và đến sống tại nước nhận trong gia đình nhận nuôi

Dựa trên các quy định của Công ước La Hay, hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước gốc (nước cho trẻ em) đều có quy định về việc cha mẹ nuôi phải báo cáo tình hình phát triển của trẻ em được cho làm con nuôi trong một khoảng thời gian nhất định Mục đích của việc báo cáo này là nhằm để các

cơ quan có thẩm quyền của nước gốc nắm được sự phát triển của trẻ em, đặc biệt

là sự hòa nhập của trẻ em với môi trường gia đình mới để kịp thời phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đưa ra các biện pháp bảo vệ trẻ em trong trường hợp trẻ em bị xâm hại quyền lợi khi sang sinh sống tại nước nhận Nằm trong xu hướng chung đó, pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam đã quy định cha mẹ nuôi phải thực hiện báo cáo định kỳ về tình hình phát triển của trẻ em được nhận làm con nuôi

Việc quy định cha mẹ nuôi phải thực hiện việc báo cáo định kỳ về tình hình phát triển của trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi là một quy định xuyên suốt của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Việc quy định báo cáo định kỳ nhằm tạo cơ sở pháp

lý để các cơ quan có thẩm quyền trong các trường hợp cần thiết, khi quyền lợi của trẻ em được cho làm con nuôi bị xâm hại có thể kịp thời can thiệp và bảo vệ trẻ em kể cả khi trẻ em đã xuất cảnh sang sống cùng cha mẹ nuôi Về cơ bản các

Ngày đăng: 28/11/2017, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Võ Khánh Vinh (2010), đề tài cấp Bộ, “Quyền con người ở Việt Nam từ nhận thức lý luận đến thực tiễn” cơ quan chỉ trì đề tài: Viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người ở Việt Nam từ nhận thức lý luận đến thực tiễn
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Năm: 2010
1. Bộ luật Dân sự nước CHXHCNVN; Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày 24/11/2015 Khác
2. Bộ Tư pháp (2013), Quyết định số 378/QĐ-BTP, ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án triển khai Công ước La Hay giai đoạn 2012-2015 trong Ngành Tư pháp Khác
3. Bộ Tư pháp (2014), Quyết định số 376/QĐ-BTP, ban hành Quy chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan ở địa phương về giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế Khác
4. Chính phủ (2011), Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Nuôi con nuôi Khác
5. Chính phủ (2012), Quyết định số 1233/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án triển khai Công ước La Hay giai đoạn 2012-2015 Khác
6. Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp (2007), Tìm hiểu Công ước La Hay về nuôi con nuôi, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Khác
7. Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp, Số liệu thống kê đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài năm 2016 Khác
8. Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1946; Quốc hội nước nước CHXHCNVN thông qua ngày 9/11/1946 Khác
9. Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1959 được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày 31/12/1959 Khác
10. Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1980 được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày 18/12/1980 Khác
11. Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày 15/4/1992 Khác
12. Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 2013 được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày 28/11/2013 Khác
13. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2015 Khác
14. Liên Hợp Quốc (1948), Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền Khác
15. Liên Hợp Quốc (1979)Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ Khác
16. Liên Hợp Quốc (1989), Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em Khác
17. Liên Hợp Quốc (1993), Công ước Quốc tế về Bảo vệ trẻ em và Hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế Khác
18. Liên Hợp Quốc (2006) Công ước Quốc tế về các quyền của người khuyết tật 19. Luật Quốc tịch của nước CHXHCNVN, Quốc hội của nước CHXHCNVNthông qua ngày 13/11/2008 Khác
20. Luật Nuôi con nuôi của nước CHXHCNVN, Quốc hội của nước CHXHCNVN thông qua ngày 17/6/2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w