1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình

81 409 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 590,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về đương sự trong THADS đã từng được ghi nhận tại Điều 3 Pháp lệnh THADS năm 2004 theo hướng: Bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật phải được người phải thi hành á

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ ĐỨC THUẬN

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ

TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Mai Thanh Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Người cam đoan

Đỗ Đức Thuận

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm và nội dung quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự 6

1.2 Khái niệm bảo đảm quyền của đương sự và các điều kiện bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự 12

1.3 Cơ chế bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự 18

Tiểu kết chương 1 21

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH HÒA BÌNH 22

2.1 Đặc thù của Hòa Bình tác động đến quyền của đương sự 22

2.2 Thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình 23

2.3 Thực trạng bảo đảm quyền tự do lựa chọn phương thức thi hành án của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình 28

2.4 Thực trạng bảo đảm một số quyền dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình 34

2.5 Thực trạng bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình 51

2.6 Thực trạng cơ chế bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình 55

Tiểu kết chương 2 59

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH HÒA BÌNH 60

3.1 Phương hướng bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình 60

3.2 Giải pháp bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình 62

Tiểu kết chương 3 70

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự TAND Tòa án nhân dân

THADS Thi hành án dân sự TTLT Thông tư liên tịch XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động thi hành án dân sự là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản

án, quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm

minh của pháp luật Những năm qua công tác THADS đã từng bước được đẩy

mạnh và đã thu được những kết quả to lớn Pháp luật về THADS đã và đang được củng cố và hoàn thiện ngày càng phù hợp với những yêu cầu mới đặt ra của sự phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, các giao lưu dân sự ngày một mở rộng thì số vụ việc tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng dẫn đến số lượng bản

án, quyết định phải thi hành ngày càng nhiều Các vụ việc thi hành án dân sự ngày một gia tăng, phức tạp, các đương sự trong THADS là những người được thi hành án và người phải thi hành án luôn ẩn chứa những nguy cơ bị vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp, đặc biệt là những người phải thi hành án, xã hội thường có tâm lý xa lánh, kỳ thị xem thường, họ không hiểu hết việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án của các đương sự trong THADS không mất đi các quyền cơ bản của con người Hơn nữa hoạt động THADS luôn động chạm trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và rất dễ bị cơ quan thi hành án dân sự và các chủ thể có quyền khác xâm hại Trong một số trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành triệt để đúng quy định thì người phải thi hành án và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan dễ

bị vi phạm đến các quyền cơ bản của con người như: quyền có chỗ ở, quyền được học tập, quyền được nuôi dưỡng chăm sóc, quyền được bảo vệ quyền tài sản…., còn nếu bản án, quyết định của tòa án không được thi hành triệt để thì quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án bị xâm hại Đã có nhiều đề tài luận văn nghiên cứu về hoạt động THADS, nhưng chưa có đề tài luận văn nào khai thác hoạt động THADS dưới góc độ là quyền con người tại

Trang 6

địa bàn tỉnh Hòa Bình là nơi có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống, trình

độ dân trí chưa cao, sự phát triển kinh tế còn rất thấp, vì vậy việc áp dụng các quy định của pháp luật trong tổ chức THADS nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vẫn gặp không ít những khó khăn vướng mắc, cần tháo gỡ

Trước tình hình đó việc nghiên cứu đề tài "Bảo đảm quyền của đương

sự trong hoạt động thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình" đáp ứng tính cấp thiết Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Quyền con người

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền của đương sự trong hoạt động THADS nói riêng, đã có nhiều tác giả, nhà nghiên cứu hết sức quan tâm nhất là trong thời kỳ đổi mới, hội nhập Đã có nhiều bài viết, công trình nổi bật được nghiên cứu từ các góc độ

và mức độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau:

Về sách, giáo trình: Giáo trình Pháp luật quốc tế về quyền con người của Học viện khoa học xã hội do GS TS Võ Khánh Vinh và TS Lê Mai Thanh chủ biên; Giáo trình cơ chế quốc tế và khu vực về quyền con người của Học viện khoa học xã hội do GS TS Võ Khánh Vinh và TS Lê Mai Thanh chủ biên; Giáo trình quyền con người của Học viện khoa học xã hội do GS

TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học tập II do GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội do GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người do GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Tư tưởng về quyền con người tuyển tập tư liệu thế giới và Việt Nam; Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người do tác giả Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng chủ biên; Quyền con người trong

Trang 7

Về bài viết, tạp chí và chuyên đề nghiên cứu: Quyền con người trong thế giới hiện đại do PGS Phạm Khiêm Ích và GS TS Hoàng Văn Hảo chủ biên; Bảo

vệ quyền con người trong thi hành án dân sự của tác giả Trương Thị Hồng Hà trong cuốn Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học tập II do

GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên; và gần đây có đề tài “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Lào Cai”, luận văn thạc sĩ luật học Học viện khoa học xã hội của tác giả Đào Anh Tuấn

Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác trong các luận án, luận văn tốt nghiệp, tập san, tạp chí chuyên ngành như tạp chí Nhà nước và pháp luật, tạp chí Dân chủ và pháp luật nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp và toàn diện cả về lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự Tuy vậy, các tài liệu trên là những tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình nhằm tăng cường hiệu quả bảo đảm quyền

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau đây: nghiên cứu cơ sở lý luận đảm bảo quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự, cụ thể là: Làm rõ khái niệm, đặc điểm quyền của đương sự; nội dung quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự; đánh giá được thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự trong thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự

Trang 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự bao gồm: Bảo đảm quyền của người được thi hành án, người phải thi hành án trong hoạt động thi hành án dân sự

- Địa bàn nghiên cứu: quyền của đương sự trong hoạt động THADS tại địa bàn tỉnh Hòa Bình

- Thời gian nghiên cứu: giai đoạn luật thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực ngày 01/7/2009 và được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đến tháng 7 năm 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và nhà nước về vấn đề bảo đảm và thực hiện quyền con người

ở nước ta

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra; trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

Việc nghiên cứu thực hiện đề tài được dựa trên cơ sở phương pháp phân tích và thống kê kết quả thi hành án, phương pháp đàm thoại với những người làm công tác lâu năm trong ngành thi hành án

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải, phương pháp lịch

Trang 9

sử; Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá; tổng hợp, thống kê, phương pháp khảo sát thực tiễn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đề tài này là đề tài mới nghiên cứu lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình

Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung, cho ngành thi hành án dân sự nói riêng nâng cao nhận thức

“Bảo vệ quyền con người” trong thực thi pháp luật Luận văn sẽ đóng góp một phần lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho việc thực hiện có hiệu quả đảm bảo trong thi hành án dân sự, bảo đảm quyền của đương sự khi các cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành pháp luật

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình

Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ

TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và nội dung quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

Trong tiếng việt “đương sự” được hiểu “là người, là đối tượng trong một sự việc nào đó được đưa ra giải quyết”[34, tr.159] Như vậy theo nghĩa chung nhất thì đương sự chỉ là người, là đối tượng trong một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết trong cuộc sống hàng ngày

Theo tác giả Bùi Thị Huyền thì: “Đương sự trong thi hành án dân sự là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thi hành án dân sự, tham gia vào quá trình thi hành án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình” [18,tr 98]

Như vậy, đương sự trong thi hành án dân sự chính là những người được hưởng quyền hoặc phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định Khái niệm về đương sự trong THADS đã từng được ghi nhận tại Điều 3 Pháp lệnh THADS năm 2004 theo hướng: Bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật phải được người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án (gọi chung là đương sự) nghiêm chỉnh thi hành và được các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân tôn trọng [40] Tuy nhiên, phạm vi chủ thể được coi là đương sự đã bị thu hẹp hơn trong Luật THADS năm 2008 Theo Khoản 1 Điều 3 Luật THADS thì các đương sự trong THADS chỉ bao gồm: Người được thi hành án và người phải thi hành án [22]

Đương sự trong THADS thông thường chính là đương sự trong vụ việc dân sự Theo quy định tại khoản 1, Điều 56 BLTTDS: “Đương sự trong vụ án

Trang 11

dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”[24]

Khái niệm quyền của đương sự xuất phát từ khái niệm quyền con

người Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách

quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế

Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm: “Quyền của đương sự

là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của đương sự được ghi nhận và bảo đảm bởi các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”

1.1.2 Đặc điểm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

Đương sự là con người nên trước hết quyền của đương sự mang các đặc điểm chung của quyền con người bao gồm:

- Tính phổ biến: Tính phổ biến của con người thể hiện ở chỗ quyền con người được thể hiện ở mọi quốc gia không phụ thuộc vào chế độ chính trị - kinh tế của họ Nếu như ở đâu đó quyền con người không được thể hiện ở các đặc điểm cơ bản như vậy thì điều đó có nghĩa là quyền con người chưa được đảm bảo theo tiêu chí chung

- Tính không thể tước đoạt: Thuộc tính này của quyền con người thể hiện ở chỗ đã là quyền con người, nó không thể bị tước đoạt một cách tùy tiện, trừ trường hợp được pháp luật quy định và lý do tước đoạt là hành vi vi phạm pháp luật của người bị tước đoạt

- Tính không thể phân chia: Quyền con người là phạm trù tổng hợp gồm các quyền và tự do của con người vốn quan trọng như nhau và gắn bó chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh xã hội khác nhau mà một số quyền được ưu tiên thực hiện hoặc được chú ý bảo vệ hơn

- Tính liên hệ và phục thuộc lẫn nhau của quyền con người: Các quyền con người cụ thể không thể tồn tại một cách biệt lập mà trong một tổng thể

Trang 12

Ngoài các thuộc tính kể trên, quyền của đương sự chỉ dưới góc độ trong quá trình thi hành án dân sự nên có những đặc điểm riêng sau:

- Nhóm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự chủ yếu khu trú ở nhóm quyền dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và dễ bị xâm hại Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động tác động trực tiếp đến tài sản của người phải thi hành án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án Do đó, quyền của người được thi hành án thường được tôn trọng

và bảo đảm nhiều hơn so với quyền của người phải thi hành án Để bảo đảm quyền lợi cho người được thi hành án thì cơ quan thi hành án phải thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để xử lý các tài sản, quyền tài sản của người phải thi hành án

- Nhóm người được thi hành án thường là người có quyền và lợi ích bị xâm phạm trong các giao dịch dân sự trước đó cho nên người được thi hành

án cần được bảo vệ về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm trong quá trình thi hành án Hoạt động này thực chất là để bù đắp những thiệt hại, tổn thất mà họ phải gánh chịu trong các giao dịch dân sự trước đó Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án họ dễ gặp phải rào cản từ phía cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan Tòa án và cá nhân, tổ chức khác nhằm hạn chế một

số quyền vốn có của họ như: không được nhận bản án, quyết định; không được nhận thông báo về thi hành án, không được nhận trở lại làm việc hay không được nhận tài sản do phía người phải thi hành án cố ý chây ỳ, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án

- Nhóm người phải thi hành án là những đối tượng phải thực hiện nghĩa

vụ trong bản án, quyết định Mặc dù họ có quyền nhưng thường không được trao quyền và quyền của họ không được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và bảo đảm thực hiện Do vậy, quyền của người phải thi hành án dễ bị xâm hại từ phía các cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình thi hành án để bảo vệ quyền của bên được thi hành án

Trang 13

1.1.3 Nội dung quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, Luật THADS có một giá trị vô cùng to lớn khi Điều 5 Luật THADS ghi nhận: “Trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”[22] Đây thực sự là một ghi nhận mang tính tuyên ngôn nhân quyền của một đạo luật của Việt Nam được ban hành ở những năm mà cả thế giới đang gặp nhiều biến động từ sự suy thoái kinh tế đến sự biến động xã hội và biến đổi khí hậu Trong điều kiện đó, quyền con người không hề bị giảm sút mà ngày càng được tôn vinh và bảo vệ bằng mọi biện pháp Luận văn nghiên cứu về các quyền con người được bảo đảm trong lĩnh vực thi hành án dân sự gồm:

Quyền tiếp cận thông tin của đương sự: Quyền tiếp cận thông tin là

quyền của công dân trong một xã hội dân chủ, pháp quyền, là chuẩn mực xác nhận của một xã hội trong đó người dân có tự do, có quyền lực thực sự Quyền này có ý nghĩa quan trọng trong cơ cấu các quyền con người, thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) Nhận thức được điều này, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã rất chú trọng đến quyền được tiếp cận thông tin của người dân, đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải công khai thông tin do mình nắm giữ và được ghi nhận trong Hiến pháp 2013

Trong hoạt động thi hành án dân sự, quyền tiếp cận thông tin của đương sự là quyền được tiếp cận hồ sơ, tài liệu của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Ngoài ra nó còn là quyền chủ động của đương sự được yêu cầu và nghĩa vụ của cơ quan thi hành án, các tổ chức,

cá nhân có liên quan phải công bố Quyền tiếp cận thông tin của đương sự thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:

Trang 14

- Tìm kiếm thông tin: Đương sự có quyền chủ động để có được thông tin cần thiết mà mình quan tâm Đương sự có quyền yêu cầu và đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị nắm giữ thông tin có nghĩa vụ cung cấp thông tin đó cho mình Quyền này được ghi nhận trong Luật THADS: Người được thi hành án

có quyền xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (điểm đ khoản 1 Điều 7) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin phải có trách nhiệm cung cấp đúng, đầy đủ và kịp thời các thông tin (Điều 176, Điều 177)

- Tiếp nhận thông tin: Đương sự được nhận thông tin qua các kênh khác nhau và trách nhiệm của cơ quan nắm giữ thông tin là phải cung cấp thông tin để đương sự biết, kể cả khi không có yêu cầu Vì vậy, Luật THADS

đã quy định cơ quan đã ra bản án, quyết định phải có trách nhiệm cấp bản án, quyết định cho đương sự (Điều 27) và cơ quan thi hành án phải thực hiện việc thông báo về thi hành án cho đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó

- Phổ biến thông tin: Sau khi nhận được thông tin từ các cơ quan có thẩm quyền, đương sự có quyền truyền thông tin Trong hoạt động thi hành án dân sự, khi nắm bắt được thông tin, đương sự có quyền bày tỏ quan điểm của mình về việc tiếp nhận thông tin hoặc truyền tin đến cơ quan thi hành án qua hình thức tự nguyện thi hành án hoặc không tự nguyện thi hành án và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự

Quyền tự do lựa chọn phương thức thi hành án của đương sự: Dưới

góc độ quyền con người thì quyền này là quyền tự do và thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự

và chính trị năm 1966 (ICCPR) Tự do là khả năng con người có thể làm bất

cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào

Trang 15

Trong hoạt động THADS đương sự có thể hành động theo ý chí, nguyện vọng của mình phù hợp với các quy phạm pháp luật và đạo đức xã hội

mà không bị cản trở bởi bất cứ chủ thể hay yếu tố nào, cụ thể: đương sự có quyền tự do lựa chọn thời điểm thích hợp để yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành án hay đương sự có quyền tự do thỏa thuận thời gian, địa điểm, phương thức, cách thức thi hành án cả trong giai đoạn trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án hoặc trong khi yêu cầu cơ quan thi hành án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng trong thi hành

án dân sự, đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận

đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án (khoản 1 Điều 6 Luật THADS) Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án dân sự quyền tự do của đương sự cũng có những hạn chế nếu như tự do thỏa thuận của đương sự ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thứ ba hay tự do lựa chọn thời điểm yêu cầu thi hành án bị giới hạn bởi thời hiệu yêu cầu thi hành án

Một số quyền dân sự của đương sự: Nhóm quyền này được ghi nhận

trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và Công ước quốc tế các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966

Hoạt động thi hành án là hoạt động liên quan đến các vấn đề về tài sản

và nhân thân trong các bản án dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình Các phán quyết của Tòa án trong nhóm quyền này thường là trả lại tài sản, quyền có việc làm, quyền có chỗ ở và quyền được chăm sóc, giáo dục Để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật quy định các chế tài đối với người phải thi hành án trong trường hợp không tự nguyện thi hành án như

áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế (khoản 1 Điều 46 Luật

Trang 16

THADS) Bên cạnh việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án thì cũng phải chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án như quy định về % khấu trừ vào thu nhập để bảo đảm cuộc sống tối thiểu của người phải thi hành án và người được nuôi dưỡng (Điều 78 Luật THADS) hay không được tiến hành kê biên tài sản của người phải thi hành án là những vật dụng thiết yếu phục vụ cho cuộc sống tối thiểu của người phải thi hành án và gia đình (Điều 87 Luật THADS)

Quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự: Khiếu nại, tố cáo là một trong

những quyền chính trị cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp

2013, Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011 và Luật THADS Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là hình thức dân chủ trực tiếp để đương sự giám sát hoạt động của cơ quan, công chức nhà nước; đồng thời là một biện pháp để công dân, tổ chức bảo vệ mình trước sự vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền Việc Luật THADS quy định khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự là một phương thức để đương sự thực hiện quyền kiểm tra, giám sát, hướng tới bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

1.2 Khái niệm bảo đảm quyền của đương sự và các điều kiện bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

1.2.1 Khái niệm bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

Các quyền của con người là những giá trị tự nhiên được con người nhận thức, thừa nhận và dần thể chế hóa trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và được các quốc gia thừa nhận, cam kết thực hiện Nhà nước là chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người Đối với các quyền con người về kinh tế, xã hội và văn hóa và quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương người ta còn đề cập đến nghĩa vụ tổ chức và nghĩa vụ

Trang 17

đạt được kết quả Nghĩa vụ tổ chức được hiểu là việc các quốc gia thực hiện trên thực tế các biện pháp cụ thể, tạo lập các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con người nhằm thực thi các quy định của các công ước quốc tế về quyền con người Nghĩa vụ đạt được kết quả là yêu cầu quốc gia phải bảo đảm rằng những biện pháp và hoạt động đề ra phải mang tính khả thi và hiệu quả [12, tr.71]

Như vậy, bảo đảm quyền con người là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện

về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý và tổ chức để các cá nhân, công dân, các

tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của

họ Nói cách khác, bảo đảm quyền con người là quá trình tạo lập các cơ chế

và triển khai các hoạt động thực tiễn để hiện thực hóa quyền pháp định

Thuật ngữ “bảo đảm” trong tiếng Việt được hiểu là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [42, tr.120]

Theo Từ điển tiếng việt của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh năm 2008 thì “bảo đảm” là : 1 Cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó; 2 Là cho có được điều gì [35, tr.52]

Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu khái niệm: “Bảo đảm quyền

của đương sự là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và các điều kiện bảo dảm từ phía Nhà nước nhằm hiện thực các quyền của đương sự trên thực tế”

Có tác giả cho rằng: “ việc thi hành án dân sự không những phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn phải bảo đảm cả quyền, lợi ích hợp pháp của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự, không được xâm phạm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ” [3]

Trong hoạt động thi hành án dân sự, bảo đảm quyền của đương sự phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Trang 18

- Trong THADS bên cạnh việc tôn trọng và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người được thi hành án còn phải tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Việc tổ chức THADS phải đúng pháp luật và đúng nội dung bản án, quyết định được thi hành để bảo đảm quyền, lợi ích của người được thi hành

án và không xâm phạm đến quyền, lợi ích của người phải thi hành án và những người liên quan đến việc THADS

- Phải bảo đảm cho người được thi hành án, người phải thi hành án và những người liên quan đến việc THADS được tham gia vào quá trình thi hành

án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ và bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của họ đối với các hành vi trái pháp luật trong thi hành án

Về quy định tại Điều 5 của Luật THADS năm 2008, thì bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nghĩa là trong quá trình THADS, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ

Như vậy, về mặt pháp luật thì nội dung của bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 5 của Luật THADS mới chỉ thể hiện được chủ thể có quyền lợi cần được tôn trọng và bảo vệ đồng thời việc tôn trọng, bảo vệ này là theo quy định của pháp luật mà chưa bao quát được các nội dung như việc tổ chức THADS phải đúng pháp luật và đúng nội dung bản án, quyết định được thi hành, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của những người liên quan đến việc THADS; bảo đảm cho chủ thể có quyền lợi được thực hiện quyền yêu cầu thi hành án, tham gia vào quá trình thi hành án và bảo đảm quyền khiếu nại của

họ đối với các hành vi trái pháp luật trong thi hành án; bảo đảm quyền ưu tiên mua của các đồng sở hữu chủ đối với tài sản bị kê biên Ngoài ra, theo nghiên cứu của chúng tôi thì theo pháp luật hiện hành cũng chưa thể hiện được nội dung về chủ thể có trách nhiệm phải bảo đảm quyền lợi như cơ quan thi hành

Trang 19

án, Thừa phát lại và các chủ thể có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp trong THADS

1.2.2 Các điều kiện bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

Trong THADS, các điều kiện bảo đảm quyền của đương sự bao gồm:

Điều kiện bảo đảm về mặt pháp lý

Bảo đảm quyền của đương sự trong thi hành án dân sự được xây dựng trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và các luật chuyên ngành Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS được quy định tại Điều 14 và Điều 106 Hiến pháp năm 2013 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định:

1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật

2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng [21]

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013 thì: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”[21]

Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS còn là sự cụ thể hóa các quy định về nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự được quy định tại Điều 2 Bộ luật Dân sự 2015 Cụ thể là theo quy định tại Khoản 1 Điều luật này thì tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận quyền dân sự của mình;

Trang 20

buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; thực hiện nghĩa

vụ dân sự hoặc bồi thường thiệt hại Khi Tòa án đã ra phán quyết thì quyền lợi hợp pháp của đương sự đã được ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ trong quá trình THADS

Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS được ghi nhận tại Điều 5 Luật THADS, cụ thể: trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Theo đó, cơ quan thi hành án, Thừa phát lại và các chủ thể

có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp trong thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành

án dân sự theo đúng pháp luật và đúng nội dung bản án, quyết định, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và bảo đảm cho họ thực hiện quyền

Nhằm tạo thêm công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào các giao dịch dân sự, kinh tế, Quốc hội

đã có Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định Thừa phát lại đã chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chính thức chế định Thừa phát lại từ 1/1/2016 Đây là một trong những đảm bảo về mặt pháp lý nhằm tăng cường hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự

Điều kiện bảo đảm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự trong THADS, cấp

ủy Đảng, chính quyền địa phương cần tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự các cấp; xác định công tác thi hành án dân sự là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, phải được cả xã hội quan tâm và ủng hộ; gắn công tác thi hành án dân sự với việc thực hiện nhiệm

vụ chính trị, kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh trật tự ở từng địa phương Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn về tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đoàn thể, tạo điều

Trang 21

kiện để cơ quan thi hành án dân sự hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Chỉ đạo các cấp cơ quan Công an, Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan liên quan phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án

có hiệu lực pháp luật Kiện toàn và hoạt động có hiệu quả Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự, ban hành quy chế hoạt động trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của các thành viên Tăng cường công tác giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với công tác thi hành án dân sự; chú trọng giám sát việc chấp hành pháp luật, đạo đức nghề nghiệp của chấp hành viên, công chức và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong công tác thi hành án dân sự, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong việc thực thi nhiệm vụ

Hàng năm có kế hoạch hỗ trợ kinh phí cho các cơ quan thi hành án dân sự trong việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị làm việc như: trụ sở, xe ô tô, xe máy, điện thoại, máy tính, máy photocoppy, máy in

Ngoài ra phong tục tập quán của mỗi dân tộc khác nhau tác động dến hiệu quả của việc bảo đảm quyền của đương sự Tuy các quyền con người có tính tự nhiên và phổ biến nhưng mỗi cá nhân con người lại sống trong những nền văn hóa khác nhau thể hiện ở sự khác biệt về truyền thống, phong tục tập quán, nhận thức và lối sống do đó, cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau, ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền con người Đối với một số dân tộc thiểu số thì tiếng nói của già làng, trưởng bản rất có trọng lượng được người dân coi trọng Do đó, trong quá trình thi hành án dân sự, Chấp hành viên cần

có sự hiểu biết về các phong tục tập quán của mỗi dân tộc để vận dụng vào quá trình thi hành án, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Trang 22

1.3 Cơ chế bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành

cơ quan THADS đều bị xử lý theo quy định của pháp luật

Để bảo đảm tốt quyền của đương sự cần cơ chế phối kết hợp giữa cơ quan thi hành án với Tòa án và các cơ quan hữu quan khác Tuy đóng vai trò

Trang 23

trung tâm, nhưng để tổ chức thi hành án thành công cơ quan thi hành án cần phải phối hợp chặt chẽ với nhiều chủ thể khác Đó có thể là cơ quan, tổ chức

đã ban hành bản án, quyết định - cơ sở để tổ chức thi hành án Với tư cách là

cơ quan xét xử, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm bản án, quyết định đã tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thực tế Việc Tòa án thực hiện tốt vai trò của mình sẽ tạo điều kiện để công tác thi hành án diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Đó cũng có thể là Kho bạc, Bảo hiểm xã hội, các tổ chức tín dụng nơi giữ tiền, tài sản là đối tượng được thi hành án Hay đơn giản là những cá nhân, tổ chức có quyền lợi về tài sản liên quan đến người phải thi hành án (trường hợp có tài sản thuộc sở hữu chung, nhận chuyển nhượng tài sản là đối tượng thi hành án ) Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp Chấp hành viên và người được thi hành án không thể nắm hết được thông tin về tài sản bảo đảm thi hành án của người phải thi hành án Trong trường hợp này vai trò của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp thông tin là rất quan trọng, giúp Chấp hành viên có thể thu thập thông tin về tài sản của người phải thi hành án, qua đó đưa ra các quyết định kịp thời, bảo đảm quyền lợi cho đương sự

Để một bản án, quyết định được tổ chức thi hành thành công trên thực

tế, bảo đảm tối đa quyền lợi hợp pháp của đương sự thì không thể thiếu sự phối hợp của các chủ thể này

Nhằm tăng cường hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự thì không thể thiếu được đội ngũ Chấp hành viên Điều 17 Luật THADS đã quy định: Chấp hành viên là người được giao trách nhiệm thi hành án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật Qua đó cũng có thể hiểu được vai trò vô cùng quan trọng của Chấp hành viên trong việc tổ chức thi hành án nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

Trang 24

và quyền hạn của mình, Chấp hành viên chỉ và phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án được giao và được pháp luật bảo vệ Điều đó cho thấy hoạt động của Chấp hành viên vừa mang tính quyền lực nhà nước, vừa thể hiện tính chuyên trách trong việc thực hiện pháp luật

Quyền hạn và nhiệm vụ của Chấp hành viên được quy định cụ thể tại Điều 20 Luật THADS như sau:

- Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định của Toa án; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của đương sự

- Triệu tập đương sự để giải quyết việc thi hành án

- Ấn định thời hạn để người phải thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định của pháp luật

- Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án

- Quyết định áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật trong từng trường hợp cụ thể

- Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành án, quyết định xử phạt hành chính theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan thi hành

án cùng cấp kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

Bên cạnh việc quy định những quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể đối với Chấp hành viên, Luật THADS cũng quy định trách nhiệm của Chấp hành viên khi không thi hành đúng bản án, quyết định của Tòa án, trì hoãn thi hành án hoặc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án trái với pháp luật, vi phạm đạo đức Chấp hành viên thì sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường

Trang 25

Như vậy, về cơ bản, Chấp hành viên có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích của đương sự không bị xâm phạm Đặc biệt Chấp hành viên là người ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án Nếu áp dụng đúng các biện pháp bảo đảm hoặc biện pháp cưỡng chế sẽ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án nhưng nếu áp dụng sai sẽ làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án

Tóm lại, bảo đảm quyền của đương sự là nguyên tắc cơ bản và có tầm quan trọng lớn trong pháp luật thi hành án dân sự nước ta hiện nay Tất cả các nguyên tắc còn lại đều có quan hệ gắn bó mật thiết với nguyên tắc trên, ngoài việc tạo tính công bằng, minh bạch trong hoạt động thi hành án thì còn đều hướng tới bảo vệ quyền lợi cho đương sự

Tiểu kết chương 1

Bảo đảm quyền con người nói chung và quyền của đương sự nói riêng trong hoạt động thi hành án dân sự là bảo đảm các yếu tố, điều kiện cần và đủ cho quá trình thực hiện quyền con người trong lĩnh vực thi hành án dân sự, hiệu quả cao nhất Cho nên ngoài các yếu tố bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự, thì vấn đề về tổ chức và hoạt động của các

cơ quan thi hành án dân sự, về cơ sở vật chất kỹ thuật, về cơ chế đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong việc đảm bảo thực hiện quyền con người cũng cần đặc biệt quan tâm

Luận văn đã đưa ra và luận giải được một số quan điểm lý luận cơ bản

về khái niệm, đặc điểm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự; nội dung quyền của đương sự, khái niệm bảo đảm quyền của đương sự và các yếu tố bảo đảm quyền và cơ chế bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

Trang 26

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ

TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH HÒA BÌNH

2.1 Đặc thù của Hòa Bình tác động đến quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự

Hòa Bình có vị trí địa lý ở cửa ngõ vùng Tây Bắc, phía bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía đông giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa, phía tây giáp tỉnh Sơn La; tỉnh có diện tích tự nhiên 4.662 km2; có 10 huyện, 1 thành phố, 210 xã, phường, thị trấn, trong đó

có 95 xã, 116 thôn, bản đặc biệt khó khăn, tỉnh lỵ đặt tại trung tâm thành phố Hòa Bình; dân số toàn tỉnh trên 82 vạn người

Hòa Bình là một tỉnh miền núi, với 7 dân tộc anh em sinh sống gồm: dân tộc Mường; dân tộc Việt (Kinh); dân tộc Thái, dân tộc Dao, dân tộc Tày, dân tộc Mông và các dân tộc khác; mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa và có phong tục tập quán khác nhau, trình độ dân trí thấp dẫn đến việc hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên không tự nguyện thi hành án Là một tỉnh nghèo, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, toàn tỉnh có 02 huyện vùng cao (Mai Châu và Đà Bắc), cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thi hành án còn hạn chế nên ảnh hưởng đến hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh như quốc lộ 6, 12A, 15A, 21, đường Hồ Chí Minh chạy song song với quốc lộ 21 Các tuyến đường chính này nối với hệ thống đường nối liền các huyện, xã trong tỉnh với thị xã và với các huyện, tỉnh bạn rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế - xã hội Vì vậy, tình hình an ninh trật tự diễn ra hết sức phức tạp, nhất là tội phạm ma túy trên tuyến Tây Bắc, trộm cắp tài sản và tranh chấp đất đai kiện tụng dân sự ngày càng gia tăng Do vậy các cơ quan Thi hành án dân sự hoạt động trong phạm

Trang 27

quán khác nhau nên phần nào cũng tác động đến việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự trong quá trình thi hành án

2.2 Thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình

Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948, tại Điều 19 của Tuyên ngôn này quy định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp, cũng như

tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không có giới hạn về biên giới”; và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), tại khoản 2 Điều 19 của Công ước này quy định: “Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi thông tin, ý kiến, bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo

sự lựa chọn của họ”

Điều 25 Hiến pháp 2013 có quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân[21]

Nội dung bảo đảm quyền tiếp cận thông tin bao gồm:

Tìm kiếm thông tin: Người được thi hành án có quyền xác minh, cung

cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án[22] Thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy, kết quả xác minh điều kiện thi hành

án có ý nghĩa hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự Kết quả xác minh điều kiện thi hành án có ý nghĩa như chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên yêu cầu trong vụ án dân sự Tuy nhiên, quyền xác minh điều kiện thi hành án vượt quá

Trang 28

khả năng của người được thi hành án và không tạo điều kiện thuận lợi để bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án

Tiếp nhận thông tin: Cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp

thông tin do mình tạo ra, trừ những thông tin công dân không được tiếp cận Trong hoạt động THADS, quyền tiếp nhận thông tin của đương sự bao gồm: được cấp bản án; được thông báo về thi hành án

- Được cấp bản án, quyết định

Điều 27 Luật thi hành án dân sự quy định: Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “Để thi hành”[22]

Tuy nhiên, trên thực tế tại tỉnh Hòa Bình, quyền được cấp bản án, quyết định mới chỉ được bảo đảm cho người được thi hành án Người phải thi hành

án đa số đều không được cấp bản án, quyết định để thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án Vì vậy không đảm bảo được quyền tiếp nhận thông tin về kết quả xét xử để thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án

Có thể minh họa thực trạng trên bằng vụ việc thực tiễn sau:

Bản án phúc thẩm số 30/2016/DSPT ngày 04/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình tuyên bà Lê Thị Thỏa, trú tại: tổ 13, phường Tân Hòa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình phải trả cho bà Vũ Thúy Phượng, trú tại: tổ 13, phường Hữu Nghị, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) Khi Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình giải quyết thì gặp phải sự chống đối của người phải thi hành án do người phải thi hành án cho rằng mình chưa được ký

và chưa nhận được Bản án của Tòa án nên Bản án chưa có hiệu lực pháp luật Người phải thi hành án thực hiện quyền khiếu nại nhằm trốn tránh, trì hoãn việc thi hành án ảnh hưởng đến quyền được bảo vệ quyền tài sản của người được thi hành án

Trang 29

- Được nhận thông báo về thi hành án

Thông báo về thi hành án dân sự là một hình thức chuyển tải nội dung thông tin nhất định đến đối tượng được thông tin, nhằm làm cho đối tượng được nhận thông tin biết được thông tin để thực hiện những hành vi nhất định liên quan đến việc thi hành án Chấp hành viên chịu trách nhiệm chính trong việc thông báo về thi hành án Thư ký, Chuyên viên và công chức khác được giao giúp việc cho Chấp hành viên có trách nhiệm thực hiện

Hiện nay, thông báo về thi hành án dân sự được quy định cụ thể tại Điều 39 đến Điều 43 Luật Thi hành án dân sự, Điều 2 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật THADS và Điều 2 Thông tư liên tịch số BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2015 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, Quy trình

11/2016/TTLT-tổ chức thi hành án trong nội bộ cơ quan thi hành án dân sự ban hành kèm theo Quyết định số 273/QĐ-TCTHADS ngày 22/02/2017 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, với nhiều việc phải thông báo, như: Thông báo các quyết định về thi hành án; giấy báo, giấy triệu tập; thông báo cưỡng chế thi hành án; thông báo về việc kê biên tài sản; thông báo bán đấu giá tài sản (kể cả thông báo đấu giá quyền sử dụng đất); thông báo về việc giao nhận tài sản (theo văn bản bán đấu giá hoặc biên bản thoả thuận của đương sự); thông báo về việc giải toả kê biên tài sản (theo Điều 105 Luật Thi hành án dân sự); thông báo về việc nhận tiền, tài sản… nhằm đảm bảo các quyền của đương sự được thực hiện một cách công khai, minh bạch

Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày

Trang 30

nhận được kết quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo cho đương sự quyền yêu cầu định giá lại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự

Lựa chọn hình thức thông báo phù hợp là thông báo trực tiếp hoặc qua

cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; niêm yết công khai hoặc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Trường hợp đương sự yêu cầu được nhận thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác thì việc thông báo trực tiếp có thể được thực hiện theo hình thức đó nếu không gây trở ngại cho cơ quan thi hành án dân sự Trường hợp này, Chấp hành viên phải lưu vào hồ sơ thi hành án văn bản thể hiện yêu cầu, văn bản cần thông báo và văn bản thể hiện kết quả thông báo như bức điện tín, thư điện tử, báo cáo bản fax đã được gửi

Riêng đối với thông báo về thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự đăng tải công khai thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành

án của người phải thi hành án trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành

án dân sự và tích hợp trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; gửi quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành

án cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết công khai; thời gian niêm yết công khai quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án là 03 tháng, kể từ ngày niêm yết

Trong tổ chức THADS, việc thông báo thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng Qua thông báo, người được thông báo biết được quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình để thực hiện Vì vậy, để tổ chức THADS thì Chấp hành

Trang 31

viên cơ quan thi hành án phải tiến hành thông báo thi hành án cho các đương

sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tham dự việc thi hành án

Tuy nhiên, nhiều năm nay, khi thực hiện việc thông báo các văn bản về thi hành án đối với những vụ việc hoàn trả tiền tạm ứng án phí, các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình hầu như không thông báo quyết định thi hành án đến người được thi hành án, người được thi hành án chỉ được gửi các thông báo nhận tiền, tài sản, điều đó nhiều khi cũng ảnh hưởng tới quyền khiếu nại của người được thi hành án

Hay đối với các vụ việc dân sự trong bản án hình sự, người phải thi hành án là phạm nhân đang thụ hình tại các Trại giam, Trại tạm giam phải thi hành các khoản tiền lớn chỉ có các tài sản chung của vợ chồng thì Chấp hành viên phải tiến hành kê biên, xử lý tài sản nhưng khi kê biên, xử lý, bán đấu giá tài sản, sau nhiều lần giảm giá thì đã xử lý được tài sản để đảm bảo thi hành án, khi giao các quyết định và thông báo về thi hành án cho người phải thi hành án thông qua các Trại giam, Trại tạm giam; nhưng do sự phối hợp chưa được tốt giữa cơ quan thi hành án dân sự và các Trại tạm giam, Trại giam nên cơ quan thi hành án dân sự không nắm được người phải thi hành án

là phạm nhân hiện đang chấp hành tại trại giam, trại tạm giam nào để thực hiện việc thông báo về thi hành án về các quyền ưu tiên của người phải thi hành án Do đó, việc thực hiện thông báo các quyết định và thông báo về thi hành án hoặc là thông qua người thân hoặc không thực hiện Như vậy cũng ảnh hưởng tới quyền được biết nghĩa vụ, quyền tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, quyền khiếu nại về thi hành án của người phải thi hành án

- Phổ biến thông tin (truyền tin)

Sau khi đương sự tiếp nhận được thông tin thì sẽ có những phản hồi lại đối với cơ quan thi hành án như: đồng ý hoặc không đồng ý đối với bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của cơ quan thi hành án từ đó có những

Trang 32

hành vi trong quá trình thi hành án hoặc là tự nguyện thi hành hoặc là cố ý trây ỳ và tìm mọi cách để chống đối nghĩa vụ phải thi hành án, từ đó quyền của người được thi hành án bị xâm hại Trong quá trình tổ chức thi hành án, các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình thực hiện tương đối tốt bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của đương sự do đó không có trường hợp đương sự khiếu nại tố cáo về việc không nhận được thông tin

2.3 Thực trạng bảo đảm quyền tự do lựa chọn phương thức thi hành án của đương sự trong hoạt động thi hành án tại tỉnh Hòa Bình

- Quyền tự do thỏa thuận của đương sự

Tính chất đặc thù của các quan hệ dân sự là bình đẳng và tự thỏa thuận,

do đó việc Luật THADS ghi nhận quyền thỏa thuận giữa các bên vừa thể hiện đúng bản chất của mối quan hệ vừa tôn trọng ý chí giữa các bên Theo đó:

“1 Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận

đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận

Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án

2 Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định” [22]

Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật THADS nói riêng luôn tôn trọng sự tự định đoạt và thỏa thuận của các đương sự Nó xuất phát từ việc các quan hệ dân sự được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các chủ thể Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định về thỏa thuận cả ở giai đoạn trước khi yêu cầu THA và sau khi đã yêu cầu THA, xác định rõ cách thức thỏa thuận, trách nhiệm thực hiện và hướng giải quyết khi không

Trang 33

thực hiện thỏa thuận Theo đó, việc thỏa thuận THA trước khi yêu cầu THA hoặc đã yêu cầu THA nhưng cơ quan, tổ chức THA chưa ra quyết định THA được lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận Đương sự có nghĩa vụ

tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu THA vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu THA đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định Như vậy, theo quy định này thì việc tự thỏa thuận của các đương sự trước khi yêu cầu THA hoặc đã yêu cầu THA nhưng

cơ quan, tổ chức THA chưa ra quyết định THA hoàn toàn do các đương sự tự quyết định và tự thực hiện

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định trường hợp cơ quan, tổ chức THADS đã ra quyết định THA, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận Thỏa thuận phải thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia Nếu các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan THADS căn cứ nội dung quyết định THA và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành

Tuy nhiên, quyền thỏa thuận của đương sự cũng bị hạn chế theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự

Thực tiễn thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình hiện có nhiều vụ việc đương sự vừa là người được thi hành án, vừa là người phải thi hành án đang

do nhiều cơ quan THADS tổ chức thi hành và nhiều vụ việc khác nhau Đương sự là người được thi hành án trong vụ việc này nhưng là người phải thi hành án trong vụ việc khác Để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án ở vụ việc khác thì các đương sự thỏa thuận với nhau đề nghị cơ quan thi hành án đình chỉ việc thi hành án theo điểm c khoản 1 Điều 50 Luật thi hành án dân sự

Trang 34

Vấn đề đặt ra khi áp dụng quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS về đình chỉ thi hành án: Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp: “Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành

án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”[22] Như vậy, việc xác định người thứ ba theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS có nhiều quan điểm khác nhau: người thứ ba có phải là người có quyền lợi trong cùng một vụ việc hay người thứ ba có thể là bất kỳ ai, có thể

là người khác tại bản án khác hay không? Với quy định chưa cụ thể này đã vi phạm đến quyền được bảo vệ quyền tài sản của đương sự

- Quyền tự do lựa chọn thời điểm thực hiện quyền

Đương sự có quyền lựa chọn thời điểm yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành Bản án, quyết định của Tòa án

Quyền yêu cầu thi hành án không chỉ là quyền của người được thi hành

án mà là quyền của cả người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án

Luật THADS năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS năm 2014 đã quy định theo hướng mở rộng quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đối với cả người phải thi hành án Mục đích của việc bổ sung quy định này là nhằm khuyến khích ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người phải thi hành án cũng như để đảm bảo quyền lợi của họ trong trường hợp cần thiết (ví dụ: Nếu thi hành án xong thì họ sẽ được xác nhận và đảm bảo thủ tục xuất nhập cảnh, hoặc để làm điều kiện xét giảm án phạt tù )

Ngoài việc mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu THADS thì pháp luật cũng đã ghi nhận những cơ chế nhất định để tạo điều kiện cho đương sự có thể bảo vệ quyền lợi của mình Để thi hành được bản án, quyết định dân sự thì

Trang 35

bản án, quyết định tuyên phải chính xác, rõ ràng và các đương sự phải nhận thức được đúng quyền, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu THADS Thực tế, tổ chức THADS cho thấy không phải trường hợp nào việc tổ chức THADS cũng đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đó Do vậy, pháp luật THADS đã có những quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức ra bản án, quyết định phải giải thích cho các đương sự quyền, nghĩa vụ thi hành án của họ, thời hiệu yêu cầu THADS và giải thích bản án, quyết định trong trường hợp không chính xác, rõ ràng Đây là yếu tố cơ bản để các đương sự và những người liên quan thực hiện và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong THADS

Về hướng dẫn quyền yêu cầu THADS, Điều 26 Luật THADS quy định: “Khi

ra bản án, quyết định, Tòa án, Hội đồng xứ lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại phải giải thích cho đương sự, đồng thời ghi rõ trong bản án, quyết định về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án”[19]

Tòa án cần phải thích cho các đương sự rõ khi bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận Trong trường hợp đương sự không thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan THADS thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định Luật THADS không có điều luật quy định về nghĩa vụ thi hành án nhưng ta cần phải hiểu đó là những nghĩa vụ đã được quyết định theo bản án hoặc quyết định của Tòa án Như vậy, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án chọn cách giải thích khác nhau

Quyền yêu cầu THADS được giới hạn bởi thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật THADS Nếu như Pháp lệnh THADS quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 3 năm thì Luật THADS đã kéo dài thời hiệu này là

Trang 36

5 năm Theo quy định tại Điều 30 Luật THADS thì “Trong thời hạn 5 năm, kể

từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án”[19] Việc quy định kéo dài thời hạn 5 năm cũng chính là biện pháp quan trọng của Nhà nước trong việc bảo đảm tốt hơn quyền tự định đoạt của đương sự, tạo điều kiện cho đương sự có quyền chủ động lựa chọn thời điểm phù hợp để yêu cầu thi hành án

Số lượng và tỷ lệ vụ việc thi hành án theo yêu cầu đã được thi hành trong giai đoạn 2014-9 tháng/2017 đã cho thấy rõ về kết quả thực hiện bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của đương sự Có thể thấy được kết quả này qua bảng sau:

Bảng: Kết quả thi hành án theo yêu cầu giai đoạn 2014-2017

Năm Tổng số việc

thụ lý

Số việc có điều kiện thi hành

Số việc đã giải quyết xong

Tỷ lệ (%)

Nguồn: Cục THADS tỉnh Hòa Bình

Trong số lượng án phải thi hành hàng năm của Cục THADS tỉnh Hòa Bình thì số lượng án thi hành theo đơn yêu cầu chiếm hơn 10% và cơ quan thi hành án đã gải quyết được trên 80%, bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án Theo báo cáo của Cục THADS tỉnh Hòa Bình thì trong những năm gần đây quyền yêu cầu thi hành án của đương sự được đảm bảo Trong số những vụ việc được thụ lý theo yêu cầu thì đa phần là của người được thi hành án Số vụ việc người phải thi hành án thực hiện quyền yêu cầu thi hành

Trang 37

án còn hạn chế Theo quy định của Luật THADS thì chỉ người được thi hành

án, người phải thi hành án mới có quyền yêu cầu thi hành án Tuy nhiên trong trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù hoặc vì lý do nào đó mà không thể tự minh yêu cầu thi hành án, cũng không được ủy quyền cho người khác, trong khi đó thời hạn yêu cầu thi hành án chỉ có 5 năm thì không bảo đảm quyền lợi cho đương sự

Điều 26 Luật THADS quy định: khi ra Bản án, quyết định Tòa án phải giải thích cho đương sự, đồng thời ghi rõ trong Bản án, quyết định về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án đã không thực hiện quy định này một cách đầy đủ,

cụ thể: không hướng dẫn đương sự về quyền yêu cầu, thời hiệu yêu cầu, ảnh hưởng đến quyền yêu cầu thi hành án của đương sự, một số vụ việc đương sự mất quyền yêu cầu thi hành án do hết thời hiệu yêu cầu dẫn đến không đảm bảo được quyền sở hữu của đương sự

Năm 2016, với quyết tâm tạo ra chuyển biến để hoạt động của Hệ thống THADS trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn, Tổng cục THADS đã có những nỗ lực và đạt được một số kết quả nhất định trong triển khai thí điểm hỗ trợ trực tuyến yêu cầu thi hành án; triển khai thí điểm

cơ chế một cửa trong tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính Năm

2017, tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, Tổng cục THADS ban hành Quyết định số 536/QĐ-TCTHADS ngày 11/5/2017 về việc triển khai hỗ trợ trực tuyến thi hành án dân sự và Quyết định 537/QĐ-TCTHADS ngày 11/5/2017 về việc ban hành Quy trình và triển khai thực hiện cơ chế một cửa tại các cơ quan thi hành án dân sự Các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bĩnh đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để thực hiện cơ chế một cửa và hỗ trợ trực tuyến trong thi hành án dân sự nhằm hướng dẫn, hỗ trợ đương sự thực

Trang 38

hiện thuận lợi quyền yêu cầu thi hành án, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

2.4 Thực trạng bảo đảm một số quyền dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình

Nhóm quyền dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội chủ yếu liên quan đến người được thi hành án, người phải thi hành án chỉ có quyền giữ lại những tài sản đảm bảo cho cuộc sống tối thiểu của họ và gia đình Nhóm quyền bao gồm:

2.4.1 Quyền được bảo vệ quyền tài sản của đương sự

Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động thực thi phán quyết của Tòa

án liên quan đến các vấn đề về tài sản và nhân thân, trong các bản án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình có thể nói hoạt động thi hành

án dân sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng Hoạt động thi hành án dân sự đối tượng liên quan đến thi hành án là tài sản, nhân thân, trong đó tài sản có tài sản vô hình, tài sản hữu hình, tài sản cố định và tài sản có thể dịch chuyển được; tài sản có thể ở nhiều địa bàn, nhiều địa phương khác nhau; tài sản có tài sản thuộc sở hữu chung, tài sản thuộc sở hữu riêng; có loại tài sản phân chia được, có loại tài sản không thể phân chia, tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau

Quyền được bảo vệ quyền tài sản của đương sự là quyền phổ biến

và cơ bản trong các bản án, quyết định dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình

Để đảm bảo quyền được bảo vệ quyền tài sản, pháp luật quy định người được thi hành án có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án

Việc áp dụng biện pháp bảo đảm THADS nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được thể hiện:

- Ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án nên bảo đảm được hiệu lực của bản án, quyết định, quyền, lợi

Trang 39

ích hợp pháp của người được thi hành án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật

- Đốc thúc người phải thi hành án tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình Bởi vì, khi đã bị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án thì tài sản của người phải thi hành án đã bị đặt trong tình trạng bị hạn chế hoặc cấm sử dụng, định đoạt do vậy, họ không thể tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án và giải pháp có lợi hơn cả đối với họ là tự nguyện thi hành các nghĩa vụ của mình đã được xác định trong bản án, quyết định được đưa ra thi hành

- Việc áp dụng biện pháp bảo đảm THADS là tiền đề, cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS sau này, bảo đảm hiệu quả của việc THADS Sau khi bị áp dụng các biện pháp bảo đảm THADS nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì cơ quan THADS sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện các nghĩa vụ của họ Các tài sản của người phải thi hành án đã bị đặt trong tình trạng bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt hoặc bị cấm định đoạt trước đây sẽ được xử lí để thi hành án

Ngoài việc bảo vệ quyền được thi hành án của người được thi hành án thì pháp luật còn đảm bảo và tôn trọng quyền của người phải thi hành án, người liên quan khi quy định việc người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường

Khoản 3 Điều 66 Luật THADS quy định các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:

- Phong tỏa tài khoản;

Trang 40

- Tạm giữ tài sản, giấy tờ

- Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản Thực tiễn thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình thì biện pháp bảo đảm được áp dụng nhiều nhất là phong tỏa tài khoản Tính đến hết 9 tháng năm

2017, số vụ việc các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là 10 vụ Tuy nhiên khi áp dụng biện pháp bảo đảm này Chấp hành viên gặp không ít khó khăn Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành mới chỉ quy định một cách chung chung về căn cứ để áp dụng biện pháp này là để “ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản” mà chưa có quy định

cụ thể về các hành vi được cho là hành vi tẩu tán tiền trong tài khoản Trong nhiều trường hợp thực tế, Chấp hành viên không thể nắm được thông tin về tài khoản của người phải thi hành án dẫn đến việc người phải thi hành án thực hiện hành vi tẩu tán tiền trong tài khoản hoặc sự thiếu hợp tác từ phía Ngân hàng, tổ chức tín dụng trong việc cung cấp thông tin Trong nền kinh tế thị trường, với khẩu hiệu “khách hàng là thượng đế”, với mong muốn bảo đảm tối đa quyền lợi của khách hàng các tổ chức tín dụng đã cố tình quên, không thực hiện các quy định về cung cấp thông tin hoặc kéo dài thời gian cung cấp thông tin gây khó khăn cho Chấp hành viên trong việc xác minh, thu thập thông tin và áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản của người phải thi hành

án nên chưa đảm bảo được quyền của người được thi hành án

Bên cạnh việc bảo đảm quyền của người được thi hành án, Chấp hành viên các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình cũng đã chú trọng tới việc bảo đảm quyền của người phải thi hành án: Chỉ phong tỏa số tiền tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án của người phải thi hành án, đối với số dư còn lại trong tài khoản thì người phải thi hành án được quyền tự do giao dịch để bảo đảm duy trì sự hoạt động bình thường của mình Việc chỉ phong tỏa một phần tiền cụ thể theo nghĩa vụ thi hành án mà họ phải thực hiện sẽ không ảnh

Ngày đăng: 28/11/2017, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Vũ Ngọc Bình (2000), Quyền con người trong quản lý tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong quản lý tư pháp
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
3. Nguyễn Công Bình (2004), Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Năm: 2004
12. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
16. Trương Thị Hồng Hà (2010), Bảo vệ quyền con người trong thi hành án dân sự, Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, Nxb Khoa học xã hội do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, tập II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người trong thi hành án dân sự
Tác giả: Trương Thị Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên
Năm: 2010
17. Hoàng Thị Thanh Hoa, Bàn về quy định trích lại tiền thuê nhà cho người phải thi hành án khi thi hành án cưỡng chế trả nhà, giao nhà, http://thads.moj.gov.vn, ngày 31/5/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quy định trích lại tiền thuê nhà cho người phải thi hành án khi thi hành án cưỡng chế trả nhà, giao nhà, http://thads.moj.gov.vn
18. Bùi Thị Huyền (2011), Những điểm mới của Luật thi hành án dân sự năm 2008, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của Luật thi hành án dân sự năm 2008
Tác giả: Bùi Thị Huyền
Năm: 2011
33. Đào Anh Tuấn (2014), Bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Lào Cai
Tác giả: Đào Anh Tuấn
Năm: 2014
37. Trung tâm nghiên cứu quyền con người, quyền công dân (2011), Tư tưởng về quyền con người, Nxb lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng về quyền con người
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu quyền con người, quyền công dân
Nhà XB: Nxb lao động xã hội
Năm: 2011
38. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thi hành án dân sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2010
42. Viện ngôn ngữ (1998), Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1998
43. Võ Khánh Vinh (2009), Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
44. Võ Khánh Vinh (2010), Giáo dục quyền con người, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục quyền con người
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
45. Võ Khánh Vinh, Lê Mai Thanh (2014), Pháp luật quốc tế về quyền con người, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật quốc tế về quyền con người
Tác giả: Võ Khánh Vinh, Lê Mai Thanh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2014
46. Võ Khánh Vinh, Lê Mai Thanh (2014), Cơ chế quốc tế và khu vực về quyền con người, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế quốc tế và khu vực về quyền con người
Tác giả: Võ Khánh Vinh, Lê Mai Thanh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2014
47. Võ Khánh Vinh (2011), Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người, Tập II, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2011
48. Võ Khánh Vinh (2011), Quyền con người, Giáo trình giảng dạy sau đại học, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2011
9. Cổng thông tin điện tử Tổng cục THADS - Bộ Tư pháp, http://thads.moj.gov.vn Link
10. Cổng thông tin điện tử tỉnh Hòa Bình, http://hoabinh.gov.vn Link
36. Trang thông tin điện tử Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình, http://thads.moj.gov.vn/hoabinh Link
4. Chính phủ (2015), Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w