BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LÂM NGHIỆP ---ý ¯--- NGUYỄN THỊ PHƯỢNG HUYỀN TÌM HIỂU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP VÀ XÁC ĐỊN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÂM NGHIỆP
-ý ¯ -
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG HUYỀN
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP VÀ XÁC ĐỊNH CÁC KHU VỰC RỪNG
CÓ NGUY CƠ BỊ LẤN CHIẾM CAO TẠI XÃ
LONG MÔN, HUYỆN MINH LONG,
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN CUỐI KHÓA KỸ SƯ CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 08/2007
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÂM NGHIỆP
-ý ¯ -
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC GIAO ĐẤT LÂM
NGHIỆP VÀ XÁC ĐỊNH CÁC KHU VỰC RỪNG
CÓ NGUY CƠ BỊ LẤN CHIẾM CAO TẠI XÃ
LONG MÔN, HUYỆN MINH LONG,
Trang 3MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING NONG LAM UNIVERSITY HO CHI MINH CITY
FORESTRY FACULTY
-ý¯ -
LEARNING ABOUT FOREST LAND ALLOCATION REAL SITUATION AND DEFINE INVATED DANGEROUS FOREST AREA IN LONG MON COMMUNE,
MINH LONG DISTRICT, QUANG NGAI PROVINCE
Thesis Advisor: MSc Nguyen Quoc Binh Executorial Student: Nguyen Thi Phuong Huyen
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng việc quản lý quá trình giao đất lâm nghiệp và xác định khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm cao tại xã Long Môn, huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi Nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của việc giao đất và sử dụng đất lâm nghiệp tại địa phương Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên các cơ sở sau:
- Tìm hiểu việc quản lý quá trình giao đất tại xã Long Môn
- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến việc đất lâm nghiệp bị lấn chiếm
- Xác định những khu vực đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và dự kiến những khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm cao
Để đạt được những mục tiêu này, phương pháp sử dụng chủ yếu là phỏng vấn từ hai nguồn: hộ gia đình và nguồn thông tin chủ chốt thu thập từ nhóm các
cơ quan quản lý rừng Ngoài ra, việc thu thập thông tin từ các nguồn thứ cấp gồm bản đồ và tài liệu liên quan phục vụ cho nghiên cứu Phương pháp xử lý và phân tích thông tin thực hiện bằng phần mềm Excel và Arcview Gis 3.3
Dựa trên các nguồn thông tin thu được để xác định hình thức giao đất, việc quản lý của các cơ quan sau khi giao và tình hình sử dụng đất của người dân Kết quả nghiên cứu sẽ giúp tìm ra được những bài học kinh nghiệm trong việc quản
lý quá trình giao đất Đây là cơ sở để xác định các biện pháp quản lý bảo vệ rừng hợp lý đồng thời đẩy mạnh công tác khuyến nông khuyến lâm nhằm cải thiện canh tác đối với người nghèo nhận đất
xâm chiếm và điều kiện tự nhiên tại những nơi đã bị xâm chiếm để xác định các khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm cao Sản phẩm của quá trình này là bản đồ phân bố khu vực rừng có nguy cơ dựa trên nguyên tắc chồng lớp từ các bản đồ khác nhau Tổng diện tích có nguy cơ bị lấn chiếm cao là 2.081,55 ha phân theo hai cấp độ dốc dễ bị xâm phạm Thông tin này sẽ rất hữu ích trong việc cảnh báo đối với các cơ quan quản lý bảo vệ rừng để có sự điều chỉnh kịp thời nhằm bảo
vệ, phát triển rừng một cách hiệu quả và qui hoạch đất lâm nghiệp hợp lý
Trang 5SUMMARY
The study is aimed to learning about forest land entrusting management real situation and define invated dangerous forest area in Long Mon commune, Minh Long district, Quang Ngai province It is especially important in process entrust land and forest landuse effect asessment at this local The specific objectives of this study are as follow
- Learning about forest lands entrusting process management situation in Long Mon commune
- Analysis the cause go to invated forest land
- Define invated forest lands area and predict hight invated dangerous forest area
To reach these objectives, interview is important (essential) method, include information from two source: households and forest management agency Instead
of, the information gathering are as maps and interrelationship data for service studying Using Excel and Arview Gis 3.3 software to analysis and manage information
agency after land entrusting and landuse situation of entrusted person
Result of studying will help finding the experience lessons in this process management This is basic to define safeguard and management method reasonably, promote operation to improve cultivation for the poor person who got land
Cross the cause analysis go to invates forest land and define natural conditional at the invated area to pridiction dangerous forest area, base on overlay different maps method Product of this process is dangerous area distribute map with sum area: 2.081,55 hectares forest lands of two elevation layer This information will be useful in warning to get manage in time, aims to safeguard and development reasonably
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Tóm tắt i
Summary ii
Danh sách từ viết tắt iii
Danh sách các bảng và hình iv
Chương 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Lý do chọn địa điểm nghiên cứu 2
Chương 2 TỔNG QUAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan 2.1.1 Kinh nghiệm phát triển LNXH ở các nước trong khu vực châu Á 4
2.1.2 Khái quát về giao đất lâm nghiệp 6
2.1.3 Tình hình giao đất và sử dụng đất lâm nghiệp ở một số tỉnh ở nước ta 8
2.1.4 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp tại xã Long Môn 10
2.1.4.1 Hiện trạng tự nhiên 10
2.1.4.2 Tình hình quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn 12
2.1.5 Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp bằng hệ thống thông tin địa lý (Geomatic Information System, GIS) 12
2.1.5.1 Giới thiệu phần mềm ArcView GIS 3.3 13
2.1.5.2 Mô hình dữ liệu dạng Vector và Raster 13
2.2 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 14
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 14
2.2.1.1 Vị trí địa lý 14
2.2.1.2 Địa hình 15
2.2.1.3 Khí hậu 15
2.2.1.4 Đất đai 15
2.2.1.5 Thủy văn 16
2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 16
2.2.2.1 Dân số và dân tộc 16
2.2.2.2 Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp 16
2.2.2.3 Giao thông – Thủy Lợi 17
2.2.2.4 Giáo dục – Y tế – Văn hóa và tín ngưỡng 17
Trang 72.2.3 Đánh giá chung về địa điểm nghiên cứu 18
2.2.4 Các chính sách và nghiên cứu đã thực hiện tại địa phương 19
2.3 Những nghiên cứu đã thực hiện 20
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 3.1 Nội dung nghiên cứu 22
3.2 Phương pháp nghiên cứu 22
3.2.1 Ngoại nghiệp 22
3.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
3.2.2 Nội nghiệp 24
3.2.2.1 Xử lý thông tin 24
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Quá trình thực hiện giao đất tại xã Long Môn 27
4.1.1 Hình thức giao đất lâm nghiệp 27
4.1.1.1 Tiến trình giao đất tại địa phương 27
4.1.1.2 Cơ cấu tổ chức thành lập việc giao đất 29
4.1.1.3 Tiến trình triển khai kế hoạch giao đất 29
4.1.1.4 Kết quả việc đo đạc, giao đất lâm nghiệp đến năm 2006 31
4.1.2 Hình thức quản lý đất của các cơ quan sau khi giao 32
4.1.3 Tình hình sử dụng đất của người dân trên đất rừng được giao 33
4.1.4 Phân tích những thuận lợi và khó khăn của tiến trình giao đất 35
4.2 Các nguyên nhân dẫn đến việc đất lâm nghiệp bị lấn chiếm 37
4.2.1 Các nguyên nhân dẫn đến việc đất lâm nghiệp bị lấn chiếm từ phía các cơ quan quản lý 37
4.2.2 Các nguyên nhân dẫn đến việc lấn chiếm đất từ phía người được giao đất 40 4.3 Những khu vực đất lâm nghiệp bị lấn chiếm 41
4.3.1 Điều kiện tự nhiên tại các khu vực lựa chọn để lấn chiếm 41
4.3.2 Các yếu tố về xã hội dẫn đến các khu vực bị lấn chiếm 43
4.4 Dự đoán những khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm 43
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 51
Tài liệu tham khảo A
Trang 8GĐLN: Giao đất lâm nghiệp QSDĐ: Quyền sử dụng đất
SX: Sản Xuất
TN SX: Tự Nhiên Sản Xuất UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Hiện trạng đất rừng xã Long Môn 11
Bảng 4.1: Kết quả hiện trạng giao đất lâm nghiệp đến năm 2006 32
Bảng 4.2: Hình thức sử dụng đất được giao của người dân trên địa bàn 34
Bảng 4.3: Phân tích thuận lợi, khó khăn của các bên tham gia 36
Bảng 4.4: Tổng hợp diện tích và đối tượng giao đất đến năm 2005 38
Bảng 4.5: Thống kê diện tích đất chưa có rừng năm 2005 42
Bảng 4.6: Hiện trạng tự nhiên tại nơi lấn chiếm ở 4 thôn 42
Bảng 4.7: Khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm ở cấp độ dốc 100 - 250 48
Bảng 4.8: Khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm ở cấp độ dốc 250 - 350 49
Bảng 4.9: Thành phần các loại rừng có nguy cơ bị lấn chiếm 49
DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình 2.1: Nhà nghỉ trên đất rừng Sóc Sơn 8
Hình 2.2: Phá rừng trồng keo lai 9
Hình 2.3: Dữ liệu không gian lưu trữ dưới dạng số 14
Hình 2.4: Sơ đồ ranh giới hành chính 15
Hình 3.1: Sơ đồ thực hiện xác định vùng nguy cơ 26
Hình 4.1: Sơ đồ ven thể hiện mức độ tham gia của các bên liên quan 27
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện mức độ tham gia họp giao đất 30
Hình 4.3: Sơ đồ thực hiện giao đất tại thực địa 31
Hình 4.4: Biểu đồ phân tích sử dụng đất 35
Hình 4.5: Tình hình xử lý vi phạm 39
Hình 4.6: Bản đồ phân bố các cấp độ dốc 44
Hình 4.7: Bản đồ phân bố loại đất 45
Hình 4.8: Sự phân bố đất nâu đỏ và nâu vàng theo cấp độ dốc 46
Hình 4.9: Bản đồ phân bố kiểu rừng 47
Hình 4.10: Bản đồ phân bố kiểu rừng theo cấp độ dốc 100 - 250 48
Hình 4.11: Bản đồ phân bố kiểu rừng theo cấp độ dốc 250 - 350 49
Trang 10và trình độ thấp kém, thu nhập bình quân chỉ đạt 51.600đ/người/tháng (Niên giám thống kê năm 2006 - UBND huyện Minh long )
Những năm gần đây, phong trào trồng keo lai diễn ra khá sôi động tại huyện Minh Long Nhiều hộ gia đình đua nhau trồng keo dẫn đến tình trạng phá rừng trái phép, chưa có sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan chức năng Theo thống
kê của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Minh Long có 23/219 hộ gia đình được giao đất rừng thuộc xã Long Môn đã chuyển nhượng đất được giao cho người Kinh trong chương trình giao đất giao rừng tính từ năm 2000 đến năm
2005 Tình trạng này dẫn đến việc xâm chiếm đất lâm nghiệp trái phép của người dân trong nhiều năm qua Hàng trăm hec-ta đất lâm nghiệp đã bị lấn chiếm làm đất sản xuất nông nghiệp và canh tác nương rẫy ( theo ước tính quy hoạch ba loại rừng năm 2006 - Trung tâm tư vấn nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi ) Hậu quả nghiêm trọng mà các cơ quan chức năng nhận định là việc tích lũy đất lâm nghiệp tập trung vào một số ít nhóm hộ khá giả, trong khi quỹ đất đai ngày càng bị thu hẹp, người dân địa phương thiếu đất canh tác phải khai hoang ở những vùng mới Đặc biệt, thực trạng canh tác nương rẫy do áp lực dân số và nhu cầu lương thực dẫn đến nhu cầu đất đai ngày càng cao
Sở dĩ xảy ra tình trạng trên là do trong những năm trước đây, việc quản lý quá trình giao đất chưa chặt chẽ, thiếu sự quan tâm và phối hợp quản lý giữa các cơ
Trang 11quan chức năng Việc đo vẽ, giao đất chưa phân định rạch ròi ranh giới của từng chủ rừng và ranh giới giữa rừng của nhà nước và rừng của các hộ gia đình, cá nhân, hồ sơ quản lý đất chưa hoàn chỉnh Việc cấp GCNQSDĐ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã thực hiện chậm trễ, nhưng lại không có sự kiểm soát tình hình sử dụng đất của người dân Bên cạnh đó công tác quản lý rừng chưa thật sự nghiêm túc, chưa giải quyết triệt để những hành vi vi phạm về QSDĐ lâm nghiệp
Do đó, việc tìm hiểu thực trạng giao đất lâm nghiệp giúp tìm ra được những bài học kinh nghiệm trong việc quản lý quá trình giao đất, nhằm giúp cho công tác quản lý rừng và đất rừng mang lại hiệu quả Trên cơ sở đó, việc tìm ra được các giải pháp để qui hoạch lại đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, đảm bảo phát triển vốn rừng và sử dụng hợp lý đất lâm nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất của người dân với mục đích tăng thu nhập và ổn định đời sống
Xuất phát từ những vấn đề thực tế của địa phương, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Tìm hiểu thực trạng quản lý việc giao đất lâm nghiệp và xác định các khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm cao tại xã Long Môn, huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi”
1.2 - Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên các cơ sở sau
- Tìm hiểu việc quản lý quá trình giao đất lâm nghiệp tại xã Long Môn
- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến việc đất lâm nghiệp bị lấn chiếm
- Xác định những khu vực đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và dự kiến những khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm cao
1.3 - Lý do chọn địa điểm nghiên cứu
Xã Long Môn là nơi tập trung dân cư chủ yếu là người dân tộc H’re, đời sống còn nhiều khó khăn, tình trạng du canh còn phổ biến Thực trạng GĐLN trong nhiều năm qua đã từng bước lôi kéo được sự tham gia của nhiều đối tượng Tuy nhiên, hiện trạng sử dụng đất của người dân tại địa phương tham gia nhận đất chưa mang lại hiệu quả đáng kể Hiện trên địa bàn xã vẫn còn có 278,3641 ha (năm 2005) đất lâm nghiệp được sử dụng để canh tác nương rẫy, chiếm 4,75%
Trang 12diện tích đất rừng Như vậy, tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp tại đây vẫn còn xảy ra Việc lựa chọn địa phương này làm địa điểm nghiên cứu chính là để làm sảng tỏ sự mâu thuẫn giữa quá trình thực thi GĐLN và lấn chiếm đất lâm nghiệp
Trang 13Chương 2
TỔNG QUAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan
2.1.1 - Kinh nghiệm phát triển LNXH ở các nước trong khu vực châu Á
Các nước đang phát triển châu Á cũng như ở Việt Nam đều có một thực tiễn
xã hội gần giống nhau: du canh du cư, dân số tăng nhanh, nhiều vùng miền núi
và nông thôn chưa tự cấp tự túc được nhu cầu lương thực thực phẩm do năng suất cây trồng vật nuôi còn thấp, thiếu củi đốt nhất là ở nông thôn Những đặc điểm trên là nguyên nhân dẫn đến việc tàn phá tài nguyên rừng Trong khi đó, các chính sách lâm nghiệp của các chính phủ mới chỉ nhằm mục tiêu sản xuất và bảo
vệ tài nguyên rừng, và trong chừng mực nào đó đối lập với quyền lợi của người dân Nhận thức được những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến tài nguyên rừng bị suy giảm, nhiều nước trên thế giới nhất là các nước châu Á đã tiếp cận sang lĩnh vực LNXH nhằm ngăn chặn và khắc phục tình trạng này
Đặc điểm mô hình LNXH của một số nước trong khu vực châu Á
+ Ở Philippin: Từ những năm 70 họ đã quan tâm phát triển LNXH, nhà nước đã xác định được những dự án LNXH Trong mỗi vùng có các giám đốc phụ trách, xây dựng mạng lưới LNXH đến các huyện, chú trọng chuyển giao kỹ thuật nông lâm kết hợp và kỹ thuật canh tác trên đất dốc đến tận người dân nhằm phát triển mạng lưới LNXH trên toàn quốc Năm 1982, chính phủ Philippin đã xây dựng dự án phát triển LNXH quốc gia, hình thành và phát triển công nghệ canh tác nông nghiệp trên đất dốc
+ Ở Thái Lan: Trong hai thập kỷ qua đã chú trọng phát triển lâm nghiệp, nhất là ở các vùng Đông Bắc Thái Lan Mục tiêu đề ra là giải quyết ổn định vấn
đề kinh tế xã hội đối với những người du canh du cư, thông qua sử dụng đất để làm chất đốt, lương thực thực phẩm đồng thời giải quyết một cách hợp lý mối quan hệ giữa phát triển LNXH với vấn đề bảo vệ nguồn nước, bảo vệ tài nguyên
Trang 14thiên nhiên và cải thiện môi trường, kinh tế xã hội đối với những người nghèo có đất hoặc không có đất Ngày nay, làng lâm nghiệp là một mô hình rất thành công
ở Thái Lan và đang được nhân rộng tại những cộng đồng dân cư sống gần rừng + Ở Indonesia: LNXH là một chương trình phát triển nông thôn nhằm tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống của người dân, bảo vệ tài nguyên môi trường, có nhiều mô hình LNXH rất phát triển như vườn rừng hỗn hợp hay rừng làng bản, rừng tự nhiên hay rừng cộng đồng… chính những mô hình này đang trở thành một hiện thực và đặc trưng của Indonesia
Sự phát triển LNXH ở các nước đã giúp cho các nhà khoa học ở Việt Nam nghiên cứu về LNXH Họ đã xây dựng được nhiều mô hình LNXH bước đầu thu được những thành công đáng kể và nhận thức được tầm quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình Trong những thập kỷ qua, chính phủ Việt Nam đã quan tâm sâu sắc về vấn đề phát triển LNXH
Sự phát triển LNXH ở Việt Nam
nhà nước quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang LNXH sản xuất hàng hóa dựa trên cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, lấy hộ nông dân làm đơn
vị kinh tế tự chủ lực, lực lượng quốc doanh giữ vai trò chủ đạo hỗ trợ dân làm nghề rừng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thích hợp về sử dụng đất trống đồi núi trọc, khuyến khích phát triển rừng, phát triển kinh tế xã hội miền núi, giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Trên cơ sở này, các mô hình LNXH đã được xây dựng ở Việt Nam
+ Thôn Bồ Các, xã Lạng Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
Thực hiện chính sách GĐGR của nhà nước, từ năm 1990, lâm trường Hữu Lũng đã tiến hành GĐGR cho các hộ gia đình trong thôn Từ đó, rừng và đất rừng đã có chủ thực sự, nhân dân không còn phá rừng như trước đây Các hộ gia đình trong thôn đã nhận bảo vệ khoanh nuôi 33,3 ha rừng phục hồi, có 19 hộ gia đình đã khoanh nuôi các khu rừng gần gia đình, hình thành vườn rừng cho từng
hộ, diện tích bình quân mỗi vườn rừng là 1,75 ha Nhờ có các vườn rừng, các gia
Trang 15đình có nơi thu nhặt củi khô để giải quyết nhu cầu chất đốt Ngày nay, người dân thôn Bồ Các không chỉ bảo vệ được rừng mà còn trồng thêm được rừng mới, chỉ sau 3 năm (1990 – 1992) nhân dân thôn Bồ Các đã trồng được 71 ha rừng cung cấp gỗ trụ mỏ
+ Bản Hìn thuộc xã Chiềng An, thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La
Từ khi có chính sách GĐGR của nhà nước, hợp tác xã bản Hìn đã được trực tiếp quản lý bảo vệ 150 ha rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp, tổ chức khoanh nuôi, bảo vệ và chăm sóc rừng, chỉ trong 2 năm 1990 và 1991 hợp tác xã đã triển khai trồng 50 ha rừng trên đất nương rẫy với sự tham gia của 106 hộ gia đình trong bản, thông qua đó đã nâng cao nhận thức của người dân về sự cần thiết phải bảo
vệ rừng
+ Xóm Rãnh thuộc xã Toàn Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Năm 1990, Ban định canh định cư và Chi cục kiểm lâm đã thực hiện dự án GĐGR cho các hộ gia đình, phát triển kinh tế hộ gia đình, làm cơ sở cho định canh định cư Kết quả giao được 26,4 ha diện tích đất bãi bằng để trồng mía và hoa màu, 60 ha đất trống để các hộ trồng rừng và làm vườn rừng, 50 ha đất nương cố định cho các hộ Kết quả là từ năm 1990 không còn hộ nào làm nương rẫy trái phép Rừng và đất rừng đã có chủ thực sự Việc GĐGR cho các hộ gia đình đã tạo tiền đề rất quan trọng để phát triển LNXH
2.1.2 - Khái quát về giao đất lâm nghiệp
Tổng quan về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định, lâu dài được phản ánh rõ nét trong hai giai đoạn phù hợp với những thay đổi cơ bản về đường lối, chủ trương của Đảng và nhà nước về quản lý đất đai Giai đoạn từ năm 1994 - 2000 và giai đoạn từ năm 2000 đến nay, hai giai đoạn này gắn liền với việc ban hành hai nghị định của chính phủ về giao đất lâm nghiệp là nghị định 02/CP năm 1994 và nghị định 163/CP năm 1999
Từ năm 1994 – 2000 : Việc giao đất lâm nghiệp được thực hiện theo nghị định số 02/CP, ngày 15/01/1994 của chính phủ Chỉ đạo và chịu trách nhiệm chính việc giao đất là Chi cục kiểm lâm tại cấp tỉnh và Hạt kiểm lâm cấp huyện Sản phẩm của quá trình này giao nhận trên thực địa, bản đồ giao đất và cấp sổ lâm bạ,
Trang 16chưa làm thủ tục cấp GCNQSD đất cho các hộ (Sổ Đỏ) Việc giao đất trong giai đoạn này còn một số tồn tại như
- Các hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức mới được giao ở thực địa, chưa được cấp GCNQSDĐ nên chưa có đủ điều kiện để sử dụng các quyền sử dụng đất như thế chấp, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế …
- Hồ sơ giao đất còn nhiều tồn tại như: diện tích giao không chính xác, không xác định được vị trí đất đã giao, thiếu biên bản xác minh ranh giới, mốc giới
- Ranh giới sử dụng đất của các tổ chức nhận đất như lâm trường chưa rõ ràng, tranh chấp, xen lấn giữa đất của lâm trường với các hộ chưa được giải quyết
- Quá trình giao đất lâm nghiệp trước đây, ngoài ngành kiểm lâm còn do các đơn vị khác thực hiện như Ban định canh định cư, Phòng nông nghiệp huyện … nên dẫn đến sự chồng chéo, hồ sơ vừa thiếu vừa không đồng bộ
- Việc giao đất lâm nghiệp giai đoạn này một số tỉnh còn chưa có quy hoạch
ba loại rừng, chưa có quy hoạch sử dụng đất của xã nên sau này khi có quy hoạch
ba loại rừng được UBND tỉnh phê duyệt thì dẫn đến tình trạng là đất giao cho hộ gia đình lại là đất rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng
Từ năm 2000 đến nay: Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 163/1999/NĐ - CP về giao đất lâm nghiệp thay thế cho Nghị định 02 nêu trên, các tỉnh căn cứ vào nghị định này, đã giao cho ngành địa chính chủ trì tổ chức thực hiện việc đo đạc, giao đất lâm nghiệp và cấp GCNQSDĐ Thông qua nghị định này nhà nước qui định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất lâm nghiệp như sau
Trang 17- Được tham gia và hưởng lợi từ các dự án khuyến nông khuyến lâm trên địa bàn và được hỗ trợ cây giống;
- Được hướng dẫn kĩ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước
để bảo vệ và phát triển rừng;
- Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất khi nhà nước thu hồi
2 Nghĩa vụ
- Sử dụng đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất;
- Đăng kí QSDĐ, làm đầy đủ thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế;
- Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất;
- Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường Không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan;
- Trả lại rừng và đất rừng được giao khi cơ quan chức năng có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật
2.1.3 - Tình hình giao đất và sử dụng đất lâm nghiệp ở một số tỉnh ở nước ta
Từ khi chính phủ có quyết định giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài thì tình hình sử dụng đất của người dân đã có những thay đổi đáng kể Theo kết quả thanh tra của chính phủ tại Sóc Sơn, tổng diện tích đất lâm nghiệp đã chuyển
đổi sai mục đích sử dụng ở Sóc Sơn
là 7,75 ha Trong đó có 4,1 ha là
chuyển đổi mục đích trên đất chuyển
nhượng Còn lại 3,74 ha là đất lâm
nghiệp của chủ rừng đã xây dựng nhà
và công trình trên đất được giao
(chưa chuyển nhượng) Tổng số có
516 trường hợp chuyển nhượng với diện tích 421,06 ha đất lâm nghiệp Trong đó
có 202 trường hợp nhận chuyển nhượng với diện tích 167,67 ha đất lâm nghiệp,
Hình 2.1:Nhà nghỉ trên đất rừng Sóc Sơn
Trang 18nhưng người nhận chuyển nhượng vẫn tiếp tục sử dụng đúng mục đích trồng rừng
Từ đầu năm 1990, ở Sóc Sơn đã diễn ra việc mua bán đất lâm nghiệp, giao dịch thực hiện chủ yếu bằng sổ lâm bạ Tại Lâm trường Sóc Sơn và 9 xã lân cận
đã có gần 340 hộ dân chuyển nhượng đất lâm nghiệp với diện tích khoảng 300
http://www.vnexpress.net - 21/11/2006)
Tại huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi, gần 100 hộ dân đã phá hơn 56 ha rừng đặc dụng, phòng hộ đầu nguồn Sông Vệ để trồng keo lai Trong đó, hầu hết là người dân tộc H’re trực tiếp phá rừng để trồng cây keo lai, sau đó bán lại với giá 2 triệu
đồng/ha (Nguồn: 19/06/2006 -
Tại Tây Ninh, đất lâm nghiệp sử dụng không hiệu quả, rừng trồng và rừng
tự nhiên bị tàn phá, lấn chiếm ngày càng nhiều Hiện toàn tỉnh còn trên 1.000 ha đất lâm nghiệp bị người dân bao chiếm trồng mía, sắn, cây cao su … không trả lại cho nhà nước để trồng rừng Trong tháng 9 năm 2006, toàn tỉnh đã phát hiện
183 vụ vi phạm, trong đó có 47 vụ lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp trái phép trên diện tích 77,4 ha; 29 vụ phá rừng làm rẫy gây hại 33,28 ha rừng
Hình 2.2: Phá rừng trồng keo lai http://www.tintuc.timnhanh.comxa_hoi )
Trang 19trồng Trong đó, vi phạm lấn chiếm đất lâm nghiệp xảy ra khá cao trên 30 vụ (Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn - Rừng phòng hộ Trị An (Bình Thuận): Đất lâm nghiệp đang dần bị lấn chiếm, 20/06/2005 )
Tại tỉnh Lâm Đồng, với các chương trình xây dựng vườn hộ, hỗ trợ phát triển sản xuất…cho đồng bào thiểu số được triển khai hàng chục năm qua, có thể nói số hộ đồng bào thiểu số không có đất sản xuất ở Lâm Đồng hiện nay gần như không còn mà chỉ còn hộ thiếu đất (tính theo định mức chung trước đây là 1 ha/hộ) Nguyên nhân chính dẫn đến thiếu đất là do đồng bào sang nhượng lại đất
tự có hoặc đất do Nhà nước cấp
Nhìn chung công tác giao đất giao rừng ở nhiều địa phương trong cả nước
đã tương đối hoàn thành, nhưng kết quả đạt được không phải đều tốt như nhau Những điều bất cập trong quá trình sử dụng đất vẫn thường xảy ra Rừng không được bảo vệ tốt hơn trước mà ngược lại tài nguyên vẫn bị suy giảm do người nhận bảo vệ cố ý sử dụng lâm sản không đúng qui định, hoặc thiếu sự chăm sóc
để rừng tái sinh Đất rừng được giao không được sử dụng vào mục tiêu lâm nghiệp Trước khi chưa nhận đất, người dân đã phải phá rừng để lấy đất canh tác nông nghiệp, việc sử dụng đất được giao để trồng cây nông nghiệp thường xảy ra
ở những vùng dân cư đông, thiếu đất Nhưng ở những nơi đất xấu không cho phép canh tác nông nghiệp thì dân nghèo cũng không có điều kiện để trồng rừng Trồng rừng đòi hỏi có nhiều vốn, công sức và thời gian, ít nông dân dám đầu tư vào công việc này Mặt khác, nếu năng suất rừng thấp, rủi ro xảy ra như sâu, bệnh hoặc cháy thì trồng rừng không có hiệu quả kinh tế Thực tiễn cho thấy, chủ trương và chính sách xã hội hoá nghề rừng được người dân đồng tình và thực hiện, song không ít vấn đề còn tồn tại, mà chủ yếu là các yếu tố về điều kiện xã hội đòi hỏi những biện pháp cụ thể để đảm bảo cho mục tiêu không chệch hướng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất
2.1.4 - Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp tại xã Long Môn
2.1.4.1 - Hiện trạng tự nhiên
Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp trước khi thực hiện quy hoạch ba loại rừng
Bảng 2.1 Hiện trạng đất rừng xã Long Môn
Trang 20Loại đất, loại rừng Diện tích (ha)
(Nguồn: Biên bản thống nhất kết quả quy hoạch 3 loại rừng năm 2006)
Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo kết quả quy hoạch năm 2006 là 4.908
ha (diện tích đất lâm nghiệp giảm 558 ha so với trước khi quy hoạch) Trong đó
- Diện tích đất có rừng là 3.499 ha, gồm
+ Rừng tự nhiên: 3.281 ha
+ Rừng trồng :218 ha
- Diện tích đất trống đồi núi trọc: 1.409 ha
- Diện tích qui hoạch rừng phòng hộ: 3.691 ha
- Diện tích qui hoạch rừng sản xuất: 1.217 ha
Trang 21Tổng diện tích rừng đề nghị chuyển đổi sang mục đích khác là 78 ha Trong đó, chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp là 78 ha
2.1.4.2 - Tình hình quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn
Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, đề ra nhiều biện pháp để bảo vệ và phát triển rừng, triển khai nhiều dự án
về lâm nghiệp để tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số Việc giao đất, khoán rừng và đất lâm nghiệp cho các
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý, bảo vệ và hưởng lợi đã từng bước đem lại hiệu quả, rừng thực sự có chủ Tuy nhiên, công tác quản lý bảo vệ rừng chưa được quan tâm đúng mức; việc giao đất không phù hợp, có chủ rừng được giao diện tích lớn, trong khi nhu cầu về đất sản xuất của người dân ngày càng tăng nhưng không có đất để sản xuất; quy hoạch lâm nghiệp không phù hợp, chậm điều chỉnh về việc phân định ranh giới các loại đất, loại rừng ngoài thực địa theo quy hoạch không thực hiện được, do đó khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ
Tổ chức chính quyền địa phương và chủ rừng chưa nhận thấy vai trò của mình trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, còn buông lỏng, phó thác trách nhiệm, chưa chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng để ngăn chặn các hành vi xâm hại đến rừng và đất lâm nghiệp; việc phân định ranh giới rừng
và đất lâm nghiệp giữa chủ rừng với chủ rừng và với UBND xã chưa thực hiện được, do đó còn đùn đẩy trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ, nguy cơ xâm hại rừng cao, giảm chức năng phòng hộ của rừng, đe dọa đến môi trường sinh thái
2.1.5 - Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp bằng hệ thống thông tin địa lý (Geomatic Information System, GIS)
Hệ thống thông tin địa lý được định nghĩa như là một hệ thông tin mà nó sử dụng đầu vào, dữ liệu, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu ra liên quan về mặt địa lý không gian để hỗ trợ việc ra các quyết định cho việc quy hoạch phát triển đô thị, quản lý sử dụng đất, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, giao thông…Ngày nay, hệ thống thông tin địa lí đã trở thành hệ thống quản lí thông
Trang 22tin không gian có khả năng lưu trữ, thống nhất, phân tích, mô hình hoá và mô tả được nhiều loại dữ liệu, đặc biệt là khả năng phân tích và liên kết dữ liệu thuộc tính với dữ liệu không gian
GIS là công cụ mạnh trong quản lý và phân tích không gian GIS có khả năng thực hiện truy vấn không gian dựa trên dữ liệu bản đồ để chọn lựa những vị trí thích hợp phục vụ cho nhiều mục đích của con người Hiện nay có rất nhiều phần mềm GIS được sử dụng để phân tích không gian như: Mapinfo, ArcView GIS, Arc Info… Riêng đối với ngành lâm nghiệp, cục kiểm lâm đã thống nhất sử dụng phần mềm Mapinfo để biên tập, xử lý, phần mềm hỗ trợ theo dõi diễn biến rừng DBR và phần mềm cơ sở dữ liệu: thống kê do Cục Kiểm Lâm cung cấp cho các tỉnh Tuy nhiên, những phần mềm này được sử dụng hạn chế về mặt phân tích không gian và tốn nhiều công sức trong việc phân tích dữ liệu Các phần mềm được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay là: Arcview GIS, ArcGis … Ở nước ta, hiện nay đang sử dụng phổ biến phần mềm Arview Gis vì giao diện rất thân thiện với người sử dụng và chức năng phân tích không gian hiệu quả
2.1.5.1 - Giới thiệu phần mềm ArcView GIS 3.3
Arcview GIS là một trong số các phần mềm GIS hàng đầu thế giới, Arcview GIS không chỉ cho phép người sử dụng trình bày dữ liệu địa lý trên màn hình máy tính hoặc in ra giấy mà còn cho phép người sử dụng thực hiện các thao tác tạo dữ liệu, tìm kiếm dữ liệu, xử lý dữ liệu và đặc biệt là phân tích dữ liệu Cấu trúc dữ liệu không gian trong Arcview được tổ chức theo mô hình vector và raster Điều này giúp cho Arcview có khả năng phân tích không gian rất thuận lợi
2.1.5.2 - Mô hình dữ liệu Vector và Raster
Hệ thống thông tin địa lý làm việc với hai dạng mô hình dữ liệu địa lý khác nhau về cơ bản là mô hình vector và mô hình raster Trong mô hình Vector, thông tin về điểm, đường và vùng được mã hóa và lưu dưới dạng tập hợp các tọa
độ x,y, tại mỗi giá trị tọa độ sẽ có cùng lúc nhiều giá trị thuộc tính Mô hình Raster lưu trữ và biểu diễn dữ liệu địa lý dưới dạng ma trận lưới ô, không gian
Trang 23được chia nhỏ thành những lưới ô vuông (cell hay pixel) Mỗi cell hay pixel chỉ
có một giá trị thuộc tính được gán cho chúng Độ chính xác của dữ liệu Raster tùy thuộc vào kích cỡ pixel Sự khác nhau giữa hai mô hình này được thể hiện ở hình 2.3
Dựa vào ma trận lưới ô, mô hình Raster có thể thực hiện phân tích không gian bằng các thuật toán đơn giản và lợi thế hơn so với mô hình Vector, cung cấp thông tin chính xác nhờ vào các mô hình toán học giữa hai hay nhiều lớp thông tin chuyên đề trên cùng một đơn vị địa lý Chức năng quan trọng của mô hình Raster là khả năng tổng hợp và chồng xếp nhiều lớp thông tin chuyên đề trên cùng một khu vực, kể cả những dữ liệu thuộc các kiểu khác nhau (số, kí tự, ngày tháng, logic) và có mẫu tin lớn nhằm tạo ra sự liên hệ giữa các lớp thông tin dựa trên các vùng địa lý
2.2 - Giới thiệu khu vực nghiên cứu
2.2.1 - Điều kiện tự nhiên
- Phía Nam giáp xã Ba Điền, Ba Dinh huyện Ba Tơ
- Phía Bắc giáp xã Long Sơn – huyện Minh Long
- Phía tây giáp xã Sơn Dinh, Sơn Cao, Sơn Kỳ – huyện Sơn Hà
- Phía Đông giáp xã Thanh An – huyện Minh Long
Hình 2.3: Dữ liệu không gian được lưu trữ dưới dạng số
Trang 24Sôn Kyø
Ba Dinh
Sôn Linh Long Sôn
Ba Ñieàn Long Moân
Sôn Cao
Thanh An
N E W
S
Ghi chuù
Ba Dinh
Ba Ñieàn Long Moân Long Sôn Sôn Cao Sôn Kyø Sôn Linh Thanh An
Địa hình xã Long Môn phức tạp có nhiều đồi núi cao, độ dốc lớn, thấp dần
từ Đông Bắc xuống Tây Nam Độ cao trung bình 700 – 800 m so với mực nước biển, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và suối sâu
Sơ Đồ Ranh Giới Hành Chính Xã Long Môn
Hình 2.4: Sơ đồ ranh giới hành chính
2.2.1.2 - Địa hình
Trang 25- Đất phù sa ngòi suối (Py)
- Đất dốc tụ (D)
- Đất Feralit đỏ vàng (FS)
64% với đặc điểm: thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, có độ dày 40 -
60 cm Đây là loại đất thích hợp trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả như quế, chè, dứa, chuối …
2.2.1.5 - Thủy văn
Trên địa bàn xã có nhiều suối tự nhiên nhỏ, ngắn, dốc, có nước quanh năm Trong đó có suối Tầm Linh Nước Năng, Nước Lang đầu nguồn Thạch Nham Sông Phước Giang phát sinh từ những suối làng Ren (xã Long Môn) đi qua các
xã Thanh An, Long Hiệp, Long Mai, Long Sơn với chiều dài 18 km chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc Trên đầu nguồn suối có nhiều thác nước cao từ 20 -
50 m Có nguồn nước ngầm nhưng không dồi dào về trữ lượng, các suối nhỏ ở hai bên sườn núi cung cấp nước tưới và sinh hoạt chính cho người dân
2.2 2 - Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.2.1 - Dân số và dân tộc
hộ /1.079 nhân khẩu, bình quân mỗi hộ có 4 nhân khẩu (theo thống kê 6 tháng đầu năm 2006)
- Thành phần dân tộc : 95% là người dân tộc H’re
- Tỷ lệ tăng dân số trung bình là: 2,13%
2.2.2.2 - Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp
Trồng trọt: nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa một vụ, lúa rẫy và hoa màu Ngoài ra, nhân dân địa phương còn trồng được cây công nghiệp lâu năm như chè, cau, cây ăn quả và cây dược liệu như sa nhân Tuy nhiên, sản lượng thu hoạch chủ yếu là chè và cau nhưng giá cả không ổn định nên cuộc sống đồng bào chủ yếu vẫn dựa vào lúa và hoa màu là chính
Trang 26 Chăn nuôi: chăn nuôi gia súc gia cầm như trâu, bò, heo, gà… chủ yếu là thả rông nên năng suất không cao
Lâm nghiệp: Diện tích đất lâm nghiệp là 5.013 ha chiếm 78.34% diện tích
tự nhiên Trong đó, diện tích đất có rừng 1.039 ha chiếm 20,73% diện tích đất lâm nghiệp Toàn bộ diện tích rừng nằm trong khu phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham, có 305 ha rừng giàu, 285 ha rừng trung bình, 175 ha rừng nghèo, 274 ha rừng non, còn lại 394 ha là đất trống đồi núi trọc Việc GĐGR còn chậm, nhiều rừng không có người làm chủ nên trong thời gian qua tình trạng phá rừng làm nương rẫy, làm nơi chăn thả gia súc, nhất là đối với những khu rừng giàu và rừng trung bình Nhìn chung đời sống của người dân vẫn còn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp là chính
2.2.2.3 - Giao thông và Thủy lợi
+ Giao thông: chỉ có một tuyến đường từ xã Long Hiệp đi làng Trê thuộc
xã long Môn dài 14 km, ô tô chỉ có thể đi được trong mùa khô còn những tháng mưa lũ không đi được Ngoài ra còn có các đường mòn đến các thôn xóm dài 30
km, không có cầu cống nên mùa mưa thường bị ách tắc
+ Thủy lợi: có 23 đập tạm phục vụ tưới cho 50 ha lúa nước
2.2.2.4 - Giáo dục, Y tế, Văn hóa và Tín ngưỡng
+ Giáo dục: trước đây số lượng các em đến tuổi đi học rất ít, nay tăng lên rõ rệt Về cơ sở vật chất có 4 phòng học kiên cố và 4 phòng học tạm bợ Nói chung, trình độ văn hóa của người dân còn thấp là nguyên nhân cơ bản làm hạn chế đến tất cả các lĩnh vực sản xuất và đời sống của người dân
giường bệnh, 1 y sĩ và 1 y tá, cơ sở vật chất còn nghèo nàn Do đó công tác chăm sóc sức khỏe cho dân đều tập trung ở trung tâm y tế huyện Minh Long
+ Văn hóa và tín ngưỡng: cộng đồng người H’re có phong tục tập quán riêng, một số phong tục tập quán mang tính truyền thống của dân tộc tiếp tục được phát triển Tuy vậy, một số phong tục lạc hậu, mê tín dị đoan vẫn có xu hướng phát triển, chưa được ngăn chặn triệt để
Trang 27Long môn là một xã vùng cao, vùng xa, căn cứ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ Nhân dân trung thành với Đảng và đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp thống nhất tổ quốc
+ Đời sống cộng đồng dân cư: tổng lương thực bình quân đầu người trong tháng qui ra thóc là 6.9 Kg/người/tháng và hoa màu qui ra thóc là 10 Kg/người/tháng Thu nhập bình quân đầu người rất thấp 51.600đ/tháng Ngoài lương thực còn có các nguồn khác như: chè, cau… không đáng kể Đại bộ phận dân cư xã Long Môn ít có điều kiện tích lũy để tái sản xuất mở rộng hoặc tái tạo sức lao động do mức thu nhập thấp
2.2.3 - Đánh giá chung về địa điểm nghiên cứu
Thuận lợi
+ Nguồn đất rừng phong phú, nếu thực hiện tốt việc GĐGR cho hộ gia đình, thực hiện công tác khoanh nuôi, tái sinh bảo vệ và khai thác rừng hợp lý sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
+ Có điều kiện tốt để phát triển chăn nuôi gia súc
+ Nhà nước có chủ trương phát triển kinh tế xã hội ở trung du miền núi
+ Kinh tế tự cung tự cấp, tỉ lệ gia tăng dân số ở mức cao
+ Tập quán du canh du cư vẫn còn tiếp tục phát triển, chưa có biện pháp khắc phục nên rừng bị tàn phá nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
+ Đội ngũ cán bộ vừa thiếu vừa yếu lại tập trung chủ yếu vào lĩnh vực quản lý xã hội, hầu như chưa có cán bộ khoa học kỹ thuật hoạt động trong các ngành kinh tế
Trang 28+ Đời sống người dân còn nghèo khổ, nạn đói thường xảy ra hàng năm (thiếu ăn từ 3 - 4 tháng), đời sống văn hóa xã hội còn nghèo nàn, lạc hậu
2.2.4 - Các chính sách và dự án đã thực hiện tại địa phương
+ Quyết định 327/ TTg của chính phủ về trồng rừng phòng hộ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc
+ Quyết định 661/QĐ-TTg năm1998 của chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng 5 triệu ha rừng
+ Dự án trồng quế của Ban Định Canh Định Cư huyện Minh Long
+ Thực hiện các chủ trương, chính sách về đầu tư, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh theo nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sản xuất trong ngành lâm nghiệp + Quyết định 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ
và Quyết định số 222/2003/QĐ-UB ngày 24/11/2003 của UBND tỉnh Quảng Ngãi “về việc thực hiện phân cấp quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp” + Công văn số 2240/UBND-NNTN ngày 17 tháng 8 năm 2006 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc đẩy nhanh tiến độ giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSD đất
+ Nghị định số 163/1999/NĐ - CP ngày 16/11/1999 của chính phủ về giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
+ Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của thủ tướng chính phủ về việc ban hành khung hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao được thuê khoán rừng và đất lâm nghiệp
+ Quyết định 138/2004/QĐ-UB của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc ban hành khung hưởng lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
+ Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC của tổng cục địa chính
và bộ tài chính hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp GCNQSDĐ
Trang 292.3 - Những nghiên cứu đã được thực hiện
Nghiên cứu đã thực hiện tại địa phương:
(1) Luận văn tốt nghiệp, năm 2004 - khoa Lâm Nghiệp, đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh “Sự tham gia trồng quế và chế độ hưởng lợi ở một cộng đồng H’re tại thôn 2, xã long Môn, huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi”, tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Hòa Đề tài phân tích hình thức tham gia và những lợi ích nhận được của người dân trong dự án trồng quế do Ban Định Canh Định Cư huyện Minh Long thực hiện năm 2000 Tác giả chỉ tập trung phân tích ở khía cạnh hưởng lợi, chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu thực trạng sản xuất của những người tham gia, nghĩa là chưa đánh giá được sự tham gia vào dự án này có ảnh hưởng như thế nào đến thực tế sản xuất của người dân
Nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài:
(1) Luận văn tốt nghiệp, năm 2006 - khoa lâm nghiệp, đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh “Tìm hiểu tiến trình giao đất giao rừng và mức độ tham gia của người dân ở xã Bảo Thuận, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng”, tác giả: Vũ Văn Nam Đề tài đã mô tả tiến trình giao khoán bảo vệ rừng, cơ cấu thành lập và
tổ chức thực hiện dự án giao khoán; xác định được vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý bảo vệ rừng Tác động của các cơ quan chức năng đối với các hộ nhận khoán Đánh giá nhận thức tham gia của người dân nhận khoán trong việc quản lý bảo vệ rừng Ngoài ra, đề tài đã phân tích tình hình sản xuất của các hộ gia đình để chỉ ra mức độ phụ thuộc vào rừng của người dân Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích được ảnh hưởng của sự phụ thuộc vào rừng đến tài nguyên rừng, sự tác động của người dân đến tài nguyên rừng sau khi nhận giao khoán là tích cực hay tiêu cực, chưa có phân tích về tình hình tài nguyên rừng (2) Luận văn tốt nghiệp, năm 2001 - khoa lâm nghiệp, đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, “Tìm hiểu sự biến đổi hệ thống sử dụng đất , sự phân
bố đất trống, sự mở rộng nông nghiệp (giai đoạn 1992 – 2000) dưới tác động của tập quán canh tác nương rẫy của các cộng đồng hiện hữu tại địa phương”, tác giả Phan Minh Sơn Đề tài đã phân tích được sự chuyển đổi của các loại hình sử dụng đất trong giai đoạn 1992 – 2000, ảnh hưởng của tập quán canh tác nương
Trang 30rẫy dẫn đến việc mất rừng Sự lấn chiếm đất lâm nghiệp để mở rộng đất sản xuất nông nghiệp Tác giả xác định các yếu tố về điều kiện tự nhiên dẫn đến việc lấn chiếm đất lâm nghiệp của người dân, dự báo những khu vực đất lâm nghiệp có nguy cơ bị lấn chiếm dựa trên một tiêu chí là độ dốc nên không có tính thuyết phục Bởi vì, việc lấn chiếm đất còn do bởi rất nhiều yếu tố khác như loại đất, hiện trạng rừng, khoảng cách dân cư đến nơi lấn chiếm …
(4) “Những bài học kinh nghiệm từ chương trình GĐGR thí điểm cho các hộ gia đình ở tỉnh Đăk Lăk”, tác giả ReginaBirner – Viện nghiên cứu và phát triển nông thôn Đại học Goettingen, Đức Nghiên cứu phân tích các bên tham gia trong quá trình thực hiện GĐGR và phân tích các rủi ro xảy ra sau khi GĐGR
Từ đó, tác giả rút ra các bài học để tránh rủi ro và tăng hiệu quả nhận đất nhận rừng trong quá trình phát triển nông thôn và bảo vệ môi trường Nghiên cứu này
đã đánh giá được hiệu quả của tiến trình giao đất có sự tham gia của người dân
và đúc kết thành những bài học kinh nghiệm về việc giao đất có sự tham gia, hiệu quả sử dụng đất sau khi giao
(5) “Báo cáo nghiên cứu tham vấn hiện trường khu vực Tây Nguyên về:
“Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn ở Việt Nam””, chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác, tháng 8/2005, tác giả: Bảo Huy và Cộng sự đã thực hiện đánh giá hiện trạng hoạt động lâm nghệp và mối quan hệ của nó với sự tham gia và hưởng lợi của người dân, cộng đồng được tiến hành thông qua bảng hỏi hộ gia đình Nghiên cứu này không đề cập đến những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tham gia bảo vệ rừng và sử dụng đất của người dân
Phần lớn các nghiên cứu trên đều chỉ dừng lại ở việc phân tích tiến trình việc GĐGR, sự tham gia và hưởng lợi của người dân trong tiến trình này Các tác giả chưa đề cập đến hiệu quả sử dụng đất và thực trạng sử dụng đất sau khi giao đất Vì vậy, chúng tôi mong muốn thực hiện đề tài này để phân tích về tình hình
sử dụng đất được giao và thực trạng đất rừng sau khi giao cho người dân quản lý,
sử dụng lâu dài Qua đó, chúng tôi có được những bài học kinh nghiệm, đồng thời khắc phục được những hạn chế và biện pháp sử dụng đất hợp lý trong việc quản lý quá trình GĐLN tại địa điểm nghiên cứu
Trang 31Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 - Nội dung nghiên cứu
nội dung nghiên cứu được đưa ra như sau:
(1) - Việc quản lý quá trình giao đất giao rừng tại xã Long Môn Nội dung này được làm sáng tỏ các khía cạnh sau:
Hình thức giao đất lâm nghiệp của các cơ quan sau năm 2000
Cách thức quản lý và thực hiện việc giao đất lâm nghiệp của các cơ quan chủ quản và người được giao đất
Tình hình sử dụng đất của người dân trên đất và rừng được giao
(2) - Các nguyên nhân dẫn đến việc đất lâm nghiệp bị xâm chiếm
Các nguyên nhân dẫn đến việc rừng và đất rừng bị lấn chiếm từ phía các
cơ quan quản lý
Các nguyên nhân dẫn đến việc rừng và đất rừng bị lấn chiếm từ phía người nhận đất
(3) - Dự kiến những khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm cao
Để dự đoán được những khu vực này, chúng tôi thực hiện tìm hiểu những nội dung sau
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên dẫn đến các khu vực bị lấn chiếm
Các yếu tố về con người dẫn đến các khu vực bị lấn chiếm
Xác định những khu vực rừng có nguy cơ bị lấn chiếm cao
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 32 Hạt kiểm lâm : Bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ địa hình, bản đồ ranh giới hành chính tỉ lệ 1:25.000, kế hoạch quản lý rừng và đất rừng trên địa bàn xã Long Môn, số liệu thống kê ba loại rừng
Phòng tài nguyên - môi trường UBND huyện Minh Long: Bản đồ giao đất lâm nghiệp, số liệu thống kê về số hộ được giao đất, cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp, diện tích giao cho mỗi hộ, các tài liệu văn bản cơ sở pháp lý về vấn đề giao đất, kế hoạch thực hiện tiến trình giao đất tại xã Long Môn
UBND xã Long Môn: thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, tình hình dân sinh kinh tế, niên giám thống kê năm 2006, kế hoạch thực hiện giao đất giao rừng, kế hoạch quản lý rừng và đất rừng trên địa bàn xã
Ban phát triển nông thôn (quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn - thuộc xã Long Môn ): kế hoạch thực hiện quản lý bảo vệ rừng
Ban định canh định cư: báo cáo tổng kết công tác khuyến nông lâm năm
Phỏng vấn cấu trúc đại diện một số hộ ở mỗi thôn bằng bảng hỏi đã được xây dựng sẵn, cách thức lựa chọn hộ là ngẫu nhiên và phỏng vấn người then chốt
là chủ hộ Số hộ chọn phỏng vấn là 72 hộ ( tổng số hộ trong toàn xã là 179 hộ ), mẫu điều tra chiếm 40,2% so với tổng dung lượng mẫu Trên cơ sở những thông tin phỏng vấn hộ sẽ tiến hành làm sạch thông tin trên thực địa bằng cách tiếp nhận những thông tin mới để mở rộng hướng điều tra giúp tìm hiểu rõ hơn về vấn
đề nghiên cứu
Phỏng vấn theo nhóm các cơ quan bằng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, có những câu hỏi định hướng đã chuẩn bị trước Đối tượng chọn để phỏng
Trang 33vấn là những người trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và thực hiện GĐGR
để nắm thông tin về hình thức GĐGR của các cơ quan, cách thức thực hiện quản
lý bảo vệ rừng, các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến việc mất rừng Các thông tin này hỏi theo nhóm tổ chức gồm: UBND xã, Phòng Tài Nguyên Và Môi Trường, Ban quản lý rừng phòng hộ, Hạt kiểm lâm huyện Minh Long
Ngoài ra, tiến hành điều tra thực địa để lấy thông tin về nơi lấn chiếm và lấy thông tin về loại đất trong toàn xã Cách thực hiện như sau:
Theo chỉ dẫn những nơi đã bị lấn chiếm đất lâm nghiệp (thông tin này khai thác từ BQL rừng phòng hộ và hạt kiểm lâm huyện) và phối hợp với thông tin được cung cấp từ những người đã phỏng vấn để tiến hành khảo sát thực địa Chọn mẫu điều tra theo từng thôn, mỗi thôn sẽ chọn nơi đã lấn chiếm để thu thập những thông tin về điều kiện tự nhiên và các yếu tố về xã hội dẫn đến nơi lấn chiếm Sự lựa chọn nơi lấn chiếm ở mỗi thôn được xác định là hai khu vực tương ứng với số điểm được bấm tọa độ là hai điểm Tại thực địa sẽ xác định tọa độ bằng máy định vị GPS (Global Position Systems) và mô tả các thông tin dẫn đến nơi lấn chiếm gồm: đường đi (thuận lợi hay khó khăn), khoảng cách dân cư (số giờ đi bộ), độ dốc, loại đất, hình thức sử dụng đất
Việc lấy thông tin về sự phân bố các loại đất trong xã bằng cách xác định tọa
độ loại đất dùng máy định vị GPS, ở mỗi thôn sẽ xác định sự phân bố của từng loại đất và bấm tọa độ tương ứng Các điểm được bấm ngẫu nhiên theo sự phân
bố của loại đất ở mỗi thôn, số lượng điểm càng nhiều thì sẽ càng tốt cho việc phân tích thông tin
3.2.2 - Nội nghiệp
3.2.2.1 - Xử lý thông tin
Tài liệu thứ cấp: Dựa vào tài liệu thu được rút ra những vấn đề chung về tiến trình giao đất, cách quản lý và thực hiện việc GĐLN tại địa phương; phân tích các nguyên nhân dẫn đến đất lâm nghiệp bị lấn chiếm cho phía nhà quản lý trong quá trình triển khai việc giao đất và quản lý đất sau khi giao
Từ tài liệu sơ cấp:
+ Những dữ liệu từ phỏng vấn hộ: mã hóa, dùng phần mềm Excel để lọc ra
Trang 34những câu trả lời giống nhau Từ đó, tổng hợp thông tin về tình hình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp được giao để xác định và phân tích các nguyên nhân dẫn đến việc lấn chiếm đất lâm nghiệp từ phía người dân và nhà quản lý
+ Những dữ liệu từ phỏng vấn nguồn thông tin chủ chốt: Xác định hình thức giao đất, cách thức quản lý đất sau khi giao và phân tích nguyên nhân lấn chiếm
từ phía nhà quản lý, rút ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện
và quản lý GĐGR
+ Trên cơ sở phân tích dữ liệu từ điều tra thực địa và phỏng vấn hộ để xác định các yếu tố dẫn đến các khu vực bị lấn chiếm như: độ dốc, loại đất, trạng thái rừng, trình độ dân trí và xác định các tiêu chí lấn chiếm tương ứng với từng yếu
tố Các yếu tố này có thể bao gồm cả yếu tố về tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, trong giới hạn đề tài chỉ có thể dự đoán vùng có nguy cơ lấn chiếm dựa trên các yếu tố về điều kiện tự nhiên dựa trên tham khảo ý kiến của người dân và từ điều tra thực địa Các tiêu chí này sẽ được mã hóa và đưa vào xử lý bằng phần mềm ArView Gis 3.3
Các bước tiến hành dự đoán vùng có nguy cơ lấn chiếm chủ yếu dựa trên bản đồ địa hình, bản đồ ranh giới hành chính, tọa độ điểm tại nơi lấn chiếm, tọa độ điểm xác định loại đất và bản đồ hiện trạng rừng tỷ lệ 1:25.000 Dữ liệu đầu ra của các lớp bản đồ này là lớp dữ liệu về phân bố theo độ dốc, loại đất và kiểu rừng Các lớp dữ liệu trên đều được chuyển sang dạng Raster để thực hiện phân tích được dễ dàng Các bước thực hiện như sau:
+ Từ bản đồ địa hình chuyển sang mô hình số độ cao DEM (Digital Elevation Model) để nội suy ra độ dốc Sau đó lựa chọn vùng phân bố theo độ dốc để xác định tiêu chí về độ dốc
+ Từ bản đồ hiện trạng rừng: mã hóa cho từng đối tượng rừng dưới dạng các
số chẵn (2k + 2) và lựa chọn đối tượng có khả năng bị lấn chiếm để có lớp dữ liệu về phân bố theo kiểu rừng
+ Từ lớp dữ liệu tọa độ điểm xác định của các loại đất sẽ mã hóa loại đất dưới dạng các số lẻ ( 2k + 1) và kết hợp với bản đồ ranh giới hành chính để nội suy ra bản đồ phân bố theo loại đất