1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

TÌM HIỂU HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN XÃ MÃ ĐÀ, HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

65 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 611,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

− Thuận lợi: Đất nông nghiệp gắn với đất thổ cư; Nguồn lao động dồi dào; Sản phẩm dễ tiêu thụ ƒ Nhu cầu sử dụng đất của người dân trước và sau khi thành lập KBT Với tỉ lệ 98,76% số hộ dâ

Trang 1

KHOA LÂM NGHIỆP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CUỐI KHÓA KỸ SƯ

CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP

TP Hồ Chí Minh Tháng 8/2007

Trang 2

KHOA LÂM NGHIỆP

TP Hồ Chí Minh Tháng 8/2007

Trang 3

Xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:

Thầy Nguyễn Quốc Bình đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Quý thầy cô trong khoa Lâm nghiệp và quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm vô cùng quý báu

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm tp Hồ Chí Minh, ban chủ nhiệm khoa đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian thực hiện đề tài

Các anh chị trong ban quản lí khu bảo tồn & cảnh quan Vĩnh Cửu cùng bà con trong xã Mã Đà đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Những người bạn đã luôn quan tâm giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài và trong suốt quá trình học tập

Nguyễn Đức Anh

Trang 4

Tên đề tài: Tìm hiểu hệ thống sử dụng đất có sự tham gia của người dân ở xã

Mã Đà huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng sử dụng đất cũng như nhu cầu sử dụng đất của người dân ở xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

Để đạt được mục đích nêu trên phải tiến hành 4 mục tiêu nghiên cứu chủ yếu sau:

+ Mô tả sinh kế của người dân theo hệ thống sử dụng đất hiện nay

+ Phân tích những thuận lợi, khó khăn của người dân trong việc sử dụng đất hiện nay

+ Xác định nhu cầu sử dụng đất của người dân trước và sau khi thành lập khu dự trữ

+ Đề xuất một số giải pháp về việc quy hoạch sử dụng đất của người dân

Phương pháp được sử dụng chủ yếu để thu thập thông tin là phỏng vấn n từ hai nguồn: Hộ gia đình và nguồn thông tin chủ chốt thu thập từ nhóm các cơ quan quản

lý rừng Ngoài ra, việc thu thập thông tin từ các nguồn thứ cấp gồm bản đồ và tài liệu liên quan phục vụ cho nghiên cứu Phương pháp xử lý và phân tích thông tin bằng máy tính tay

Từ những thông tin nhận được qua tính toán và phân tích đã xác định được:

ƒ Sinh kế của người dân và sự ảnh hưởng cùa các sinh kế lên tài nguyên KBT Với sinh kế SXNN chiếm 79,34%, nghề rừng 10%, làm thuê 7,33%, các sinh kế còn lại là 3,33% Số liệu này cho thấy người ở đây sống chủ yếu dựa vào SXNN Đây là nguyên nhân chính dẩn đến TNKBT sụt giảm

ƒ Thực trạng sử dụng đất của người dân

Trung bình mỗi hộ dân có 1,16 ha,mỗi khẩu 0,24 ha 93% hộ dân sử dung vào việc canh tác nông nghiệp Sản xuất mang tính dộc canh Dẫn đến, thu nhập của các hộ thấpvà làm đất thoái hóa, bạc màu

ƒ Khó khăn và thuận lợi trong quá trình sử dụng đất

Trang 5

− Thuận lợi: Đất nông nghiệp gắn với đất thổ cư; Nguồn lao động dồi dào; Sản phẩm dễ tiêu thụ

ƒ Nhu cầu sử dụng đất của người dân trước và sau khi thành lập KBT

Với tỉ lệ 98,76% số hộ dân cần có thêm đất để sản xuất Trung bình mỗi hộ

có nhu cầu từ 1,5 ha trở lên

Nhu cầu sử dụng đất sau khi thành lập KBTTN&CQ lớn hơn khi chưa thành lập do nguồn thu từ rừng của người dân bị mất

ƒ Các giải pháp mang lại hiệu quả cho việc sử dụng đất của người dân

− Quy hoạch tập trung dân cư, đất sản xuất

− BQLKBT&CQ giao cho chính quyền xã quản lý đất sản xuất nông nghiệp

− Nhà nước có những chính sách đầu tư vốn, xây dựng cơ sở hạ tầng, kỹ thuật canh tác…

Trang 6

Nội dung trang

Danh sách các bảng i

Danh sách các chữ viết tắt ii

Chương 1: MỞ ĐẦU 1

Chương 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN VÀ GIỚI THIỆU ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan 3

2.1.1 Một số chính sách có liên quan đến quản lý bảo vệ, phát triển rừng, giao đất giao rừng và LNXH 3

2.1.2 Lịch sử hình thành khu Bảo Tồn thiên nhiên &cảnh quan Vĩnh Cửu 6

2.2 Điều kiện vùng nghiên cứu 9

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 9

2.2.1.1 Vị trí địa lý 9

2.2.1.2 Địa hình, đất 11

2.2.1.3 Khí hậu- thủy văn 11

2.2.2 Tình hình giao thông vận tải 12

2.2.3 Đặc điểm kinh tế- xã hội 13

2.2.4 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp 14

Chương 3: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu 18

3.2 Nội dung 18

3.3 Phương pháp nghiên cứu 18

3.3.1 Công tác chuẩn bị 18

3.3.2 Ngoại nghiệp 19

3.3.3 Nội nghiệp 19

Trang 7

4.1.1 Sản xuất nông nghiệp 21

4.1.1.1 Người dân canh tác trên diện tích đất chỉ sử dụng sản xuất nông nghiệp 22

4.1.1.2 Người dân canh tác trên diện tích đất hợp đồng ngắn hạn với lâm trường theo mô hình nông lâm kết hợp 24

4.1.2 Nghề rừng 24

4.1.3 Làm thuê 25

4.1.4 Dịch vụ buôn bán, cán bộ công nhân viên, nghề đánh cá 25

4.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của người dân 26

4.2.1 Nguồn gốc đất sản xuất nông nghiệp 26

4.2.2 Quy mô và phạm vi đất sản xuất nông nghiệp 28

4.2.3 Hiện trạng canh tác 33

4.2.3.1 Các loại cây trồng chính 33

4.2.3.2 Các mô hình canh tác chính 33

4.2.4 Quyền sử dụng đất của người dân 38

4.3 Nhu cầu sử dụng đất của người dân 38

4.3.1 Nhu cầu sử dụng chung 38

4.3.2 Nhu cầu sử dụng đất của người dân trước khi thành lập KBT 39

4.3.3 Nhu cầu sử dụng đất của người dân sau khi thành lập khu bảo tồn 40

4.4 Những thuận lợi và khó khăn của người dân trong quá trình sử dụng đất 41

4.4.1 Thuận lợi 42

4.4.1.1 Đất nông nghiệp gắn liền với đất thổ cư 42

4.4.1.2 Nguồn lực lao động khá dồi dào 42

4.4.1.3 Sản phẩm của người dân làm ra dễ tiêu thụ 42

4.4.2 Khó khăn 43

4.4.2.1 Đất sản xuất bạc màu, nghèo dinh dưỡng 43

Trang 8

4.4.2.4 Sự đầu tư của nhà nước còn hạn chế 44

4.4.2.5 Sơ đồ SWOT về sử dụng đất của người dân 45

4.5 Nguyên nhân dẫn đến sử dụng đất chưa có hiệu quả 45

4.5.1 Đất đai chưa được quy hoạch hợp lý 46

4.5.1.1 Quy hoạch chưa tập trung 46

4.5.1.2 Quy hoạch đất đai sử dụng chưa đúng mục đích 46

4.5.1.3 Ranh giới giữa đất Lâm nghiệp và nông nghiệp chưa được quy hoạch rõ 47

4.5.2 Cơ chế quản lý chưa phù hợp 47

4.5.2.1 Người dân chịu sự quản lý chồng chéo 47

4.5.2.2 Đất sản xuất của người dân đang được sở hữu tạm thời 48

4.5.2.3 Cơ cấu quản lý chưa đa dạng 48

4.5.3 Sự đầu tư cho sản xuất chưa đúng mức 48

4.5.4 Đất sản xuất canh tác bạc màu, nghèo dinh dưỡng 49

4.6 Các giải pháp mang lại hiệu quả cho việc sử dụng đất của người dân 49

4.6.1 Giải pháp quy hoạch 49

4.6.2 Giải pháp quản lý 50

4.6.3 Giải pháp đầu tư 50

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận 51

5.2 Kiến nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 9

Nội dung trang

Bảng 4.1 Tỉ lệ % của nhóm sinh kế 21

Bảng 4.2 Tỉ lệ (%) diện tích đất có nguồn gốc khác nhau theo từng giai đoạn 28 Bảng 4.3 Tỉ lệ (%) diện tích đất của các nhóm hộ 30

Bảng 4.4 Tỉ lệ (%) hộ dân có diện tích đất phân bố theo số mảnh 31

Bảng 4.5 Diện tích đất sản xuất phân bố theo từng cụm 32

Bảng 4.6 Tỉ lệ (%) diện tích đất trung bình của từng nhóm hộ 33

Bảng 4.7 Tỉ lệ (%) diện tích đất theo các loại cây trồng 34

Bảng 4.8 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ trong sử dụng đất của người dân 46

Trang 11

Chương 1

MỞ ĐẦU

Nước ta là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cấu trúc hệ sinh thái phức tạp, các loài động thực vật đa dạng và phong phú Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam cũng như nhiều nước nhiệt đới khác trên thế giới đang bị suy giảm nhanh chóng Theo thống kê của viện điều tra quy hoạch rừng, trong thập niên 80-90, trung bình nước ta mất khoảng 200.000 ha rừng Diện tích rừng bị thu hẹp, các hệ sinh thái bị xuống cấp, làm ảnh hưởng tới đồi sống của các loài động thực vật, nhiều loài sinh vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Trước tính cấp bách đó, nhà nước ta đã có những quyết định thành lập nên các loại rừng đặc dụng nhằm bảo vệ các hệ sinh thaí tiêu biểu, đa dạng sinh học đang có chiều hướng suy giảm và biến mất

Trên cơ sở đó, khu bảo tồn thiên nhiên & cảnh quan Vĩnh Cửu (KBTTN&CQVC) được thành lập, dựa vào sự xác nhập của các lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm và một phần của lâm trường Vĩnh An với ý nghĩa bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo vệ phục hồi tài nguyên còn lại cũng như nâng cao chức năng phòng hộ của nó Trong khu vực dự trữ hiện nay có sự đan xen giữa diện tích hiện còn và cụm dân cư đang sinh sống Sinh kế của người dân chủ yếu là sống phụ thuộc vào rừng

và sản xuất lâm nghiệp Hiện nay có 11 cụm với 27 điểm dân cư sinh sống rải rác trong khu dự trữ Sự phân bố dân cư đó đã gây ra không ít khó khăn cho BQLBTTN&CQ trong công tác quản lý bảo vệ (QLBV) tài nguyên rừng (TNR) Thực tế cho thấy, trong những năm qua chính những cụm dân cư này có những tác động vào tài nguyên rừng (TNR) khu vực dẫn đến TNR giảm sút rất lớn Còn một vấn đề quan trọng khác đó là với sự phân bố dân cư như vậy dẫn đến đất canh tác

Trang 12

nông nghiệp và đất lâm nghiệp không có ranh giới rõ ràng, tạo nên sự chồng chéo gây ra khó khăn cho việc quy hoạch sử dụng đất của BQL và chính quyền

Kể từ khi thành lập khu DTTN thì công tác QLBV trở nên nghiêm ngặt, chặt chẽ hơn Từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng đất của người dân sống trong khu vực với công tác QLBV rừng của khu DTTN Cuộc sống của cộng đồng người dân vốn dĩ phụ thuộc vào TNR vì đã cung cấp họ cái ăn, cái mặc bằng cách lấy các sản phẩm của rừng Một khi cửa rừng bị đóng hẹp, họ không còn đủ lương thực, thực phẩm đáp ứng cho nhu cầu hàng ngày Mặt khác, đất nông nghiệp bị thu hẹp nên không có đất để sản xuất Từ những vấn đề trên làm cho cuộc sống của người dân rơi vào tình trạng khó khăn, thiếu thốn, đói nghèo Trong hoàn cảnh đó,

để tiếp tục cuộc sống mưu sinh, cộng đồng người dân không còn cách nào khác ngoài việc tiếp tục tác động vào rừng, phá rừng lấy đất làm nông nghiệp Điều này gây khó khăn, áp lực cho ban quản lý khu bảo tồn (BQLKBT) cũng như tài nguyên rừng (TNR)

Xã Mã Đà nằm trong lâm trường Mã Đà, khi lâm trường trở thành phân khu KBTTN&CQVC thì cuộc sống của người dân ở đây cũng có sự thay đổi lớn như phân tích ở trên Mặt khác, tình hình sử dụng đất còn nhiều bất cập Việc sử dụng đất của người dân ở đây nói chung chưa mang lại hiệu quả cao, năng suất của các loại cây trồng còn thấp do kỹ thuật canh tác cũng như đầu tư còn thấp Vậy nên, thực tế đặt ra cho BQLKBT , chính quyền phải có những giải pháp, quy hoạch sử dụng đất cụ thể và hợp lý

Trước những thực trạng nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Tìm hiểu hệ thống sử dụng đất có sự tham gia của người dân ở xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” Qua đó, có một vài ý kiến đề xuất, góp phần

nhỏ vào việc sử dụng của người dân ngày càng mang lại kết quả cao

Trang 13

Chương 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN VÀ GIỚI THIỆU ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Sử dụng hợp lý các loại rừng phòng hộ, đặc dụng- bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và sản xuất để đáp ứng nhu cầu thông qua chương trình sử dụng và phát triển rừng

+ Phối hợp giữa lâm nghiệp và nông nghiệp để cung cấp gỗ cho ngành công nghiệp, năng lượng và sử dụng gia đình, đồng thời tạo ra sự cân bằng giữa sinh thái và kinh tế

+ Nâng cao và phát triển kinh tế vùng núi và tái định cư các dân tộc thiểu số trên

cơ sở giao đất cũng như phân bố lại dân số lao động trong các vùng khác nhau + Tối ưu hóa việc đóng góp của sản phẩm rừng cho nền kinh tế thông qua phát triển một cách thích hợp các chương trình công nghiệp và trồng lại rừng

+ Ổn định môi trường rừng để bảo vệ đất, nước phục vụ cho các loại hoạt động nông thôn

Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 năm 1986 đến nay, nhà nước ta chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, phát triển hàng hóa gắn liền với cơ chế thị trường với sự quản lí của nhà nước, chú trọng đến sự phát triển kinh tế hộ gia

Trang 14

đình, coi cơ chế hộ gia đình là đơn vị kinh tế cơ bản, tự chủ Trong giai đoạn này, nhiều chủ trương đã mở cửa cho LNXH phát triển Quy đinh 171- quy định về quy chế quản lý các loại rừng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng; Trong quy định này ghi rõ

cơ chế quản lý, quy hoạch 3 loại rừng, chức năng, nhiệm vụ của từng loại rừng trong phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trong cả nước Ngày 15.09.1992, chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng ra QĐ 327/CT về chủ trương chính sách sử dụng đất trống đồi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước, ban hành chính sách đầu tư hỗ trợ vốn vay không lãi 40%

Đặc biệt là sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 năm 1992 đã khẳng định vai trò kinh tế hộ gia đình và kinh tế xã hội miền núi Từ đó hàng loạt chính sách nghiên cứu tập trung vào các vấn đề kinh tế xã hội, phát triển các hệ thống canh tác đã được thực thi như sau:

Nghị định số 64/CP, ngày 27.09.1993 của chính phủ về giao đất nông nghiệp

Nghị định 02/CP về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, các nhân, hộ gia đình sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, ban hành ngày 15.01.1994

+ Nghị định 01/CP về giao khoán đất sử dụng mục đích sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp và thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước ban hành ngày 4/1/1995 Gần đây là việc thực hiện nghị định 163, đất lâm nghiệp thuộc đối tượng sản xuất sẽ dần được giao cho hộ gia đình, và như vậy còn lại đa số diện tích rừng phòng hộ và đặc dụng được thực hiện theo nghị định 01 là giao khoán + Quyết định số 245/1998/QQĐ-TTg ngày 16/1/1999 của thủ tướng chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp + Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày16/11/1999 của chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

+ Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính Trị, QĐ 72/HĐBT, chỉ thị 525 TTg về phát triển kinh tế xã hội miền núi đã làm thay đổi bước đầu về cơ sở hạ tầng tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi cho phát triển NLXH

Trang 15

Với mục tiêu quản lý bảo bảo vệ và sử dụng ngày càng tốt hơn tài nguyên thiên nhiên để xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên Trong những năm gần đây, đã có chính sách được ban hành

có liên quan đến đầu tư và tín dụng trong các hoạt động LNXH, bao gồm:

− Chỉ thị số 202-CT về việc cho vay vốn sản xuất nông lâm ngư nghiệp đến hộ gia đình ngày 28/06/1991

− Quyết định 264/HĐBT ngày 22/07/1992 về chính sách đầu tư và phát triển rừng

− Nghị định số 14/CP về chính sách cho vay vốn để sản xuất nông lâm ngư nghiệp ngày 2/2/1993

− Quyết định 202/TTg ngày 2/5/1994 về quy định khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng

− Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ Tướng chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện dự án về trồng mới 5 triệu ha rừng

− Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ Tướng chính phủ về quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

− Quyết định 18/1999/CT-TTg ngày 1/7/1999 của Thủ Tướng Chính Phủ về một

số biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở nông thôn

− Thông tư liên tịch số 1442/1999/TTLT-TD\CĐT-BTC ngày 12/9/1999 của Tổng cục địa chính và bộ tài chính hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo chỉ thị số 18/1999/CT-TTg của Thủ Tướng Chính phủ

Việc phát triển kinh tế xã hội cũng là một trong những mục tiêu chung của LNXH Chính vì vậy, một số chính sách của Đảng và Nhà nước từ trước tới nay đã ban hành và thực thi về lâm nghiệp đều có liên quan ít nhiều đến phát triển kinh tế

xã hội vùng nông thôn cũng không nằm ngoài mục tiêu chung trên Đó là việc giải quyết các vấn đề của cộng đồng, giữ cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường Những chính sách đó có thể được đề cập đến những nội dung sau:

Trang 16

+ Ngày 6/3/1968 Hội đòng Chính phủ ra nghị quyết số 38 về định canh định cư kết hợp với công tác nông nghiệp ở miền núi

+ Ban chấp hành trung ương Đảng ra chỉ thị 29/CT-TW ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh giao đất giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo hướng nông lâm kết hợp (NLKH)

+ Chỉ thị 100, nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988) về đổi mới tổ chức lâm nghiệp đã thúc đẩy các lâm trường quốc doanh áp dụng chế độ khoán sản phẩm đến hộ gia đình công nhân viên

+ Quyết định số 72-HBĐT về chủ trương chính sách cụ thể phát ttriểnkinh tế xã hội miền núi ngày 13/3/1990

+ Thông tư liên bộ số 01/TT/LB của Bộ Lâm Nghiệp và Tổng cục quản lý ruộng đất ngày 06/12/1991 đã hướng dẫn việc giao rừng vàđất rừng để trồng rừng cho các tổ chức cá nhân để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp

+ Quyết định số 184 ngày 6/11/1992 của Hội đòng bộ trưởng về việc đẩy mạnh giao rừng rừng cho tập thể và cá nhân trồng cây gây rừng

+ Nghị định 178 năm 2002 của Chính phủ về phân chí lợi ích cho người nhận đất, nhận rừng

2.1.2 Lịch sử hình thành khu Bảo Tồn thiên nhiên &cảnh quan Vĩnh Cửu

Khu Dự Trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu được thành lập theo quyết định của UBND tỉnh Đồng Nai số: 4679/2003/QĐ.UBT, ngày 03 tháng 12 năm 2003 trên cơ

sở hợp nhất lâm phần của các lâm trường trên là ba lâm trường lớn nhất của tỉnh Đồng Nai, phân bố liền kế nhau ở phía Bắc sông Đồng Nai thuộc huyện Vĩnh Cửu Lịch sử hình thành và phát triển của các lâm trường đã trải qua thời gian dài gần 30 năm từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay Và theo sự vận động phát triển chung của xã hội, của ngành lâm nghiệp, trong từng giai đoạn nhất định, các lâm trường cũng trải qua nhiều loại hình hoạt động với những mục tiê, nhiệm vụ và biện pháp thực hiện khác nhau Có thể điểm lại những nét chính lâm trường đến nay đã trải qua 4 giai đoạn như sau:

Trang 17

™ Giai đoạn 1 (từ 1977 đến 1992): Lâm trường Mã Đà được thành lập sớm

nhất theo quyết định số: 515/QĐ.UTB ngày 10/6/1997 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc: Thành lập lâm trường quốc doanh Mã Đà thuộc Ty Lâm nghiệp tỉnh Đồng Nai Sau đó đến năm 1981, lâm trường Hiếu Liêm được thành lập trên cơ sở tách ra

từ lâm phận của lâm trường Mã Đà theo quyết định số 768/ QĐ.UTB ngày 22/12/1981 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc: Thành lập lâm trường Hiếu Liêm trực thuộc Ty Lâm nghiệp tỉnh Đồng Nai Lâm trường Vĩnh An được thành lập năm

1978, nằm trên địa giới hành chính huyện Tân Phú, và thuộc sự quản lý của ty lâm nghiệp tỉnh Đồng Nai

Sau khi thành lập, các lâm trường đã đi vào hoạt động với nhiệm vụ chủ yếu: quản lý bảo vệ rừng, khai thác kinh doanh rừng tự nhên, trồng rừng phủ xanh những diện tích đất trống ven các trục đường chính Do lâm trường mơ3í thành lập còn non trẻ, chưa có nhiều những nghiên cứu để xây dựng được kế hoạch, phương án sản xuất hiệu quả, thiếu định hướng và chịu ảnh hưởng bởi hạn chế của cơ chế bao cấp Nên nhìn chhung tất cả các hoạt động của cac lâm trường lúc bấy giờ đều chưa thực sự có hiệu quả Cụ thể như sau:

Công tác quản lý bảo vệ rừng chưa được tổ chức chặt chẽ, công tác trồng rừng chủ yếu để phủ xanh đất trống, chưa chú trọng nhiều đến khâu chọn giống và cac biện pháp thâm canh ; khai thác và kinh doanh rừng manh mún, chắp vá chưa

có quy hoạch tổng thể, lâu dài

Giai đoạn này là thời kỳ đầu và chủ yếu trong việc hình thành dân cư trên địa bàn Chính hoạt động khai thác kinh doanh rừng và đặc biệt việc thi công khai thác trắng, dọn lòng hồ Trị An đã thu hút rất nhiều lao động từ khắp nơi đổ về và sau đó lại định cư trên địa bàn ở khu vực (trừ 11 hộ đồng bào dân tộc thiểu số cụm dân cư Bàu Điền) Ngoài ra đây là giai đoạn nhà nước chủ trương đưa dân đi các vùng kinh

tế mới để mở rộng vùng sản xuất Các lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm, Vĩnh An cũng đã trở thành nơi lập nghiệp cho nhiều đoàn di dân của các tỉnh phía Bắc kết nghĩa với tỉnh Đồng Nai Thời gian này dân cư trong vùng sống bằng nghề rừng: làm thuê cho các đơn vị kinh doanh khai thác và dọn lòng hồ Trị An và một phần

Trang 18

sống dựa vào rừng: hái lượm, săn bắt động vật hoang dã và khai thác trái phép lâm sản Sản xuất nông nghiệp là phụ và chỉ là canh tác cây ngắn ngày ((báp, đậu, mì ) trên những diện tích đất trống gần nơi dân cư

™ Giai đoạn 2 (từ 1992 đến 1997): Năm 1992, UBND tỉnh Đồng Nai ra quyết

định số 1233/QĐ.UTB về việc: Thành lập các doanh nghiệp nhà nước là các lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm, Vĩnh An

Việc trở thành các doanh nghiệp nhà nước đánh dấu giai đoạn mới của các lâm trường chuyển từ cơ chế bao cấp sang doanh nghiệp hạch toán độc lập Từ đó những hoạt động chuyên môn và sản xuất kinh doanh cũng thay đổi theo Trong giai đoạn này các lâm trường đẩy mạnh sản xuất thông qua các hoạt động khai thác và chế biến lâm sản xuất khẩu, hoạt động sản xuất kinh doanh đã có kế hoạch chặt chẽ hơn, khoa học hơn thông qua các phương án điều chế rừng được bộ lâm nghiệp phê duyệt (năm 1994)

Bên cạnh đó, năm 1993 khi nhà nước chủ trương công tác trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc thông qua triển khai dự án 327, có rất nhiều dự án lâm, nông nghiệp trên địa bàn các lâm trường được nhà nước phê duyệt và đầu tư như:

ƒ Dự án nông lâm nghiệp Bà Hào- Suối Boon

ƒ Dự án nông lâm nghiệp Rang Rang – Suối Sai

ƒ Luận chứng kinh tế kỹ thuật nông công nghiệp khu phòng hộ xã (phường) Cây Gáo – thị xã Vĩnh An- tỉnh Đồng Nai

Các dự án được triển khai là đọng lực thúc đẩy nhanhtốc độ phủ xanh đất trống đồi trọc, góp phần đáng kể cải tạo những diện tích đất thoái hóa, bạc màu do chất độc hóa học gây ra Việc giao khoán trồng rừng bằng nguồn vốn hỗ trợcủa chương trình 327 với mô hình nông lâm kết hợp đã gớp phần nào cải thiện cuộc sống cho nhân dân trong vùng cũng như huy động từ người dân cho công tác trồng rừng Song, do vốn hỗ trợ của nhà nước cho công tác trồng rừng vẫn còn thấp trong điều kiện dân cư đa phần là nghèo và tập quán canh tác lạc hậu, sản xuất cũng mang tính quản canh, trình độ lâm nghiệp thấp, sản phẩm thu được còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Do vậy đời sống kinh tế còn bấp bênh, nghèo khó Từ đó có rất nhiều

Trang 19

ngườiu thường lén lút vào rừng săn bắt trái phép và lấy cắp lâm sản để cải thiện cuộc sống Ngoài ra do các khu dân cư nằm sâu và xen kẽ giữa rừng, nên tình trạng lấn rừng để mở rộng nương rẫy diễn ra rất phức tạp, gây áp lực lớn cho công tac quản lý bảo vệ rừng của đơn vị sở tại

™ Giai đoạn 3 (từ 1997đến 2003): năm 1997, trước tình hình diện tích rừng tự

nhiên trên toàn tỉnh suy giảm mạnh cả về diện tích lẫn chất lượng Nguyên nhân là

do việc khai thác kinh doanh của các đơn vị với cường độ cao để chạy theo sản lượng kế hoạch xuất khẩu Bộ máy quản lý bảo vệ rừng chưa được tổ chức chặt chẽ, công tác bảo vệ chưa được chú trọng Nên UBND tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định

số: 631QĐ.UBT ngày 24/12/1997 về việc: “Đóng tất cả các laọi rừng tự nhiên

trong tỉnh” và các quyết định số: 4931/1997/QĐ.UBT, 4919/1997/QĐ.UBT,

4922/QĐ.UBT về việc: chuyển các lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm, Vĩnh An thành loại hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Nhiệm vụ của nó là quản lý bảo vệ rừng và phát triển xây dựng vốn rừng

™ Giai đoạn 4 (từ 2004 đến nay): Được sự đồng ý của Bộ Nông nghiệp & Phát

triển nông thôn, UBND tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định số: 4679/2003/QĐ.UBT ngày 3/12/2003 về việc: thành lập khu dự trữ thiên nhiên trên cơ sở hợp nhất 3 lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm và một phần lâm trường Vĩnh An thành khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu với những mục tiêu, nhiệm vụ như sau:

Bảo tồn các sinh cảnh rừng và cảnh quan tự nhiên để tạo ra khu bảo tồn thiên nhiên như là nơi cư trú và di trú của các động vật hoang dã

Khôi phục hệ sinh thái rừng, bảo tồn di tích llịch sử vănhóa, phục vụ

nghiên cứu khoa học, tuyên truyền, giáo dục bảo vệ môi trường và phát triển rừng sinh thái

2.2 Điều kiện vùng nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

2.2.1.1 Vị trí địa lý

¾ Lâm trường Mã Đà có vị trí địa lý như sau:

+ Từ 107058’ đến 107058’ kinh độ Đông

Trang 20

+ Phía Bắc giáp: tỉnh Bình Phước (chiều dài 35 km)

+ Phía Nam giáp: Hồ Trị An ( chính và phụ)

+ Phía Đông giáp: Hồ Trị An (chiều dài 50 km), xã Phú Lý (chiều dài

20 km)

+ Phía Tây giáp: Lâm trường Hiếu Liêm thuộc xã Trị An

¾ Diện tích các loại rừng cá loại đất đai

Theo số liệu thống kê rừng và đất rừng năm 2002, LT Mã Đà có tổng diện tích tự nhiên và hiện trạng sử dụng đất đai như sau:

+ Đất chuyên dùng, suối, đường…: 1.873 ha

Với tổng diện tích rừng tự nhiên 21.643 ha, LT Mã Đà có hệ thực vật khá phong phú (trên 120 loài) Trong đó có nhiều loài thực vật gỗ lớn như Dầu, Vên vên, Chò chai, Sao đen Nhiều loài cây quý hiếm như: Gõ Đõ, Cẩm lai…

Hệ động vật khá cũng phong phú, là nơi cư ngụ của nhiều laòi động vật lớn như Nai, Bò, Voi, Hồ… và nhiều loài động vật khác

Trang 21

Tổng trữ lượng gỗ cây đứng, theo kết quả kiểm kê năm 1999 là 1.522.302

m3 gỗ các loại Bên cạnh ưu thế về độ che phủ của rừng tự nhiên (78,7% diện tích tự nhiên), hệ thực vật, hệ động vật khá phong phú, rừng của LT Mã Đà còn là lá phổi xanh cho khu công nghiệp Biên Hòa, TP Hồ Chí Minh và là nơi có di tích lịch sử chiến khu D cần được tôn tạo bảo vệ

2.2.1.2 Địa hình, đất

ƒ Địa hình:

ƒ Lâm trường nằm trong vùng có các dạng địa hình đồi thấp, bán bình nguyên, và tương đối bằng phẳng hoặc có dạng gợn sóng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Độ dốc nhỏ, không quá 150, phổ biến là từ 8-10 0

ƒ Độ cao lớn nhất 125 m, trung bình từ 70-80 m địa hình nhìn chung rất thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp (đưa cơ giới vào sản xuất) song lại là điều bất lợi trong công tác bảo vệ rừng vì rất thuận lợi cho các phương tiện cơ giới tiếp cận và đi lại

ƒ Đất :

Theo kết quả điều tra đất năm 2002, do phân viện Khoa học lâm nghiệp Nam

Bộ thực hiện trên địa bàn LT và tham khảo tài liệu điều tra thổ nhưỡng của Trường Đại học Nông Lâm TP HCM (1998), thì đất trong LT chủ yếu là Feralit đỏ vàng phát triển trên đá mẹ sa phiến thạch, tầng đất canh tác mỏng, kết von nhiều, nghèo chất dinh dưỡng, đặc biệt là rất nghèo các nguyên tố vi lượng

Ngoài ra một số đất khác như nhóm Feralit hình thành trên đá badan, nhóm đất phù sa ven suối chiếm diện tích nhỏ

2.2.1.3 Khí hậu- thủy văn

™ Khí hậu:

− Lâm trường Mã Đà nằm trong vùng khí hậu Đông Nam Bộ có hai mùa rõ rệt:

− Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

− Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 12

− Lượng mưa bình quân trong năm lớn trên 2000 mm, tập trung vào tháng 7, 8, 9 (60%)

Trang 22

− Nhiệt độ trung bình 26,40C đến 26,50C

− Cao nhất 380C vào tháng 4

− Thấp nhất 16.50C vào tháng1

− Ẩm độ tương đối: 80-82%

− Hướng gió thịnh hành: Đông Bắc- Đông Nam

− Ít bị ảnh hưởng gió bão và sương muối

™ Thủy văn

Nguồn nước mặt: Lâm trường nằm trong tiếp giáp với mép nước của lòng hồ Trị An về hướng Nam và tiếp giáp suối Mã Đà về phía Bắc, nguồn nước tương đối dồi dào cần được tận dụng trong sản xuất nông nghiệp Ngoài ra trong phạm vi Lâm trường có suối cây Sung, suối Rộp, suối Trau, suối Bà Hào, suối Sai,…nhưng lưu lượngkhông đáng kể, mùa khô thường cạn nước

Nguồn nước ngầm: Theo bản đồ địa chất ngầm tỉnh Đồng Nai của Liên Đoàn địa chất Thủy văn cho thấy phức hệ chứa nước trong các đá trầm tích có tuổi Jura nước có ngầm thuộc loại kép phong phú nước trong phạm vi Lâm trường, với lưu lượng nguồn lộ Q: 0,01- 2,54 lít/s, độ khoáng hóa M: 0.06- 1,7 m 0/ Nhìn chung nguồn nước mặt và nước ngầm là yếu tố hạn chế đến sản xuất nông nghiệp tại Lâm Trường, cần xây dụng hồ chứa nước nhỏ trong các khu vực sản xuất nông nghiệp để tưới bổ sung

2.2.2 Tình hình giao thông vận tải

Lâm trường Mã Đà nằm trên trục lộ 322, nối trung tâm huyện Vĩnh Cửu với

xã Phú Lý Đoạn đường 322 đi qua lâm phầm của Lâm trường dài 40 km và trên

150 km đường trục nối từ đường 322 vào các phần trường, cụm dân cư và tỉnh Bình Phước Mật độ đường sá trong phạm vi lâm trường tương đối cao (6,9 km/km2) Về chất lượng đường, ngoài đoạn đường T767 nối từ cầu Chiến khu D đến trạm của LT

là bê tông nhựa, phần còn lại là đường cấp phối, sỏi đỏ

Hiện nay giao thông đáp ứng cơ bản cho việc đi lại và vận chuyển nông sản, hoa quả, lương thực, thực phẩm đến các cụm dân cư Chất lượng đường nhìn chung

Trang 23

là còn tốt, chỉ một số nơi nhất là trong các cụm dân cư cần được nâng cấp để thuận tiện đi lại trong mùa mưa Ngoài ra còn phải nhắc đến là LT Mã Đà chỉ cách Biên Hòa 45 km và TP HCM 80 km, do vậy rất thuận tiện cho việc phát triển kinh tế lâu dài, khi các cụm dân cư được sắp xếp ổn định theo quy hoạch của dự án, chỉ cần cải tạo nâng cấp các đường trục là đáp ứng được nhu cầu đi lại trong và ngoài phạm vi

LT

2.2.3 Đặc điểm kinh tế- xã hội

Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế (năm 2002) phục vụ cho việc xây dụng phương án, CBCNV Lâm trường đã kết hợp với các tổ dân cư tiến hành điều tra phân loại dân cư cho thấy trên địa bàn lâm trường có: 1.568 hộ với 7.532 khẩu sinh sống ( không kể các hộ vãng lai, ngoài LT)

Tỷ lệ tăng dân số tựï nhiên: 1,14% và tăng cơ học là 9,5% (trước năm 2002) Phân theo dân tộc: Đa phần lao động có trình độ văn hóa cấp 1 hoặc cấp 2, không có lao động trình độ văn hóa cấp 3 trình độ chuyên môn với 100% lao động không có tay nghề chuyên môn kỹ thuật, lao động tay chân là chính

ƒ Hiện trạng phân bố các cụm dân cư

Qua biểu thống kê dân cư cho thấy có 11 cụm lớn với 27 điểm dân cư, có điểm dân cư chỉ có 11 hộ (khu Đồi Ba, khu người dân tộc tại Bàu Điền) Đa phần các cụm dân cư sinh sống giáp rừng tự nhiên hoặc rừng trồng của lâm trường Nhiều cụm dân cư đang gặp khó khăn về các điều kiện an sinh và sản xuất (Rang Rang, Suối Sai)

Dân cư gồm nhiều thành phần, từ nhiều địa phương trong cả nước đến, chưa

có tổ chức bộ máy quản lí lãnh đạo dân tham gia bảo vệ rừng Lâm trường lo sản xuất lâm nghiệp có kết hợp với giao rừng tự nhiên cho hộ dân bảo vệ, song không

có kết quả Chính quyền địa phương (thị xã Vĩnh An) mới chỉ quản lí về mặt hành chính, chưa có đủ điều kiện lãnh đạo dân nơi nay phát triển sản xuất, phát triển kinh

tế

Trang 24

2.2.4 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp

Hiện trên toàn địa bàn có 1.730 ha đất nông nghiệp được Lâm trường hợp đồng với các hộ để sản xuất nông nghiệp và vườn rừng, chiếm 6,3% quỹ đất đai toàn lâm trường, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 1,05 ha/hộ (thấp nhất là 0,7 ha/hộ, cao nhất là 2,2 ha/hộ) và 0,22 ha/người Các loại cây trồng lâu năm chủ yếu

là điều, các loại xoài ( xoài Hòa Lộc, xoài ba mùa, xoài cát), một số cây ăn quả khác

có diện tích nhỏ như nhãn, chôm chôm, sầu riêng, cà phê, tiêu, cam, quýt… cây màu chủ yếu là khoai mì; cây công nghiệp ngắn ngày có mía vớii diện tích không nhiều Đất nông nghiệp sản xuất theo hợp đồng giao khoán của lâm trường

Số hộ dân có đất sản xuất nông nghiệp là 1.232 hộ (chiếm 65,9% tổng dố hộ dân thường trú và vãng lai tại LT (1.870 hộ), trong đó số hộ thường trú là 992 hộ và

số hộ vãng lai + CBCNV LT là 240 hộ Số hộ dân không có đất sản xuất nông nghiệp là 638 hộ (chiếm 34,1%), trong đó hộ thường trú là 566 hộ và hộ vãng lai + CBCNV là 69 hộ

Năng suất và hiệu quả kinh tế một số cây trồng nông nghiệp phổ biến

Kết quả điều tra cây trồng nông nghiệp theo phương pháp PRA các hộ dân thuộc 4 khu vực Suối Rộp, Cây Sung, Cai Nha và Suối Boon, Bàu Điền như sau:

Các loài cây trồng lâu năm phổ biến là điều, xoài ( xoài thường, xoài 3 mùa, xoài cát Hòa Lộc) Một số laòi cây trồng lâu năm khác có diện tích nhỏ không phổ biến là nhãn, mãng cầu, cam, chanh, quýt… Cây ngắn ngày có khoai mì, mía, các loại đậu màu, trong đó mì là cây trồng ngán ngày phổ biến nhất Phương thức trồng phổ biến là trồng xen điều + xoài, điều+ xoài + mì, điều + mì, điều + cây rừng ( Sao, Dầu, Keo lá tràm)

ƒ Năng suất cây trồng bình quân:

+ Điều: 0,9- 1,1 tấn/ha

+ Xoài thường: 2,1- 5,1 tấn/ha

+ Xoài 3 mùa: 6,7- 9,5 tấn/ha

+ Mì: 4,8- 7 tấn/ha

+ Mẵng cầu: 2,5- 4 tấn/ha

Trang 25

Năng suất của điều tương đối cao so với bình quân của Đông Nam Bộ (0,7 tấn /ha) Các loài cây khác có năng suất tương đối thấp do trồng xen và mật độ trồng thưa

ƒ Mức sống và thu nhập các hộ dân trên địa bàn lâm trường:

Kết quả điều tra mức sống và thu nhập của LT năm 1999 và bổ sung năm

2002 như sau:

Hộ có thu nhập bình quân loại trung bình ( theo tiêu chuẩn xếp loại của Bộ Lao Động và Thương Binh Xã Hội name 2000) có 1.223 hộ (chiếm 78% tổng số hộ) tập trung ở khu vực lâm trường bộ, Suối Rộp, Bà Cai, Suối Trau (nơi dân cư có lao động tham gia ở các khu công nghiệp hoặc CBCNV Lâm trường có phương pháp kinh doanh khá tổng hợp, đặc biệt khâu chăn nuôi gà thả vườn và nuôi heo kết hợp với ao cá) Các khu vực còn lại bình quân thu nhập nằm trong diện nghèo (chiếm 21% tổng số hộ), cá biệt có nơi đói như Suối Tượng, khu 11 hộ dân tộc (khu Bàu Điền), chiếm 1% tổng số hộ

Khối lượng công việc lâm nghiệp ngày càng hạn chế chỉ còn lại chống cháy rừng, chăm sóc rừng hàng năm Do đó phần nào đã làm giảm công việc dẫn đến giảm thu nhập đối với các hộ dan trong tổngthu nhập Bên cạnh việc không có vốn đầu tư sản xuất, trình độ kỹ thuật hạn chế, giá nông sản bấp bênh đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người dân Để giải quyết bữa ăn hàng ngày, họ đã vào rừng để lấy cắp lâm sản, săn bắt động vất rừng và chấp nhận các hình phạt nếu bị cơ quan nhà nước bắt gặp

ƒ Đặc điểm về văn hóa, y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng dân sinh khác:

+ Văn hóa:

Là khu vực xa trung tâm thành phố, dân cư lại phân bố rải rác, lãnh đạo của

bộ máy chính quyền địa phương (TT Vĩnh An) chưa bao quát hết (mới hình thành ban dân cư và chi bộ địa phương được trên ba năm) Khoảng 40% dân số có phương tiện nghe nhìn (TV), trình độ dân trí thấp (đa số trình độ văn hóa cấp I, II) Điều kiện đi lại, tiếp cận với các trung tâm, điểm văn hóa khó khăn do nơi ở xa và thiếu phương tiện… Do vậy tăng dân số tự nhiên khá cao ( bình quân 1 hộ 5 nhân khẩu)

Trang 26

Đó cũng là một trong những nhu cầu can sắp xếp, ổn định lại dân cư để tạo điều kiện nâng cao dân trí, phát triển và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

+ Y tế:

Trừ CBCNV Lâm trường, những cán bbộ về hưu định cư tại chỗ còn lại 100% hộ dân trên địa bàn chưa có thẻ BHYT Tuy được cấp thuốc miễn phí để điều trị các bệnh sốt rét, song chỉ được cấp thuốc đặc trị, còn thuốc bổ và các laọi thuốc khác phải mua điều trị Dân cư lại phân bố rải rác, xa bệnh viện nên bị bệnh rất tốn kém, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em

Toàn lâm trường với trên 1.500 hộ chỉ có 1 trạm y tế (1 y sỹ và 2 giường bệnh) tại cụm lâm trường bộ, khoảng cách trung bình đến các cụm dân cư là 30 km, cụm xa nhất là 40 km (Rang Rang), cụm gần nhất 2km (Bà Cai, Đồi Mỹ)

Với cơ sở hạ tầng hiện có (1,3 m2/ học sinh) là quá thấp ( định mức nhà nước là 3

m2/ học sinh) và đội ngũ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại khu vực lâm trường (64 người), cũng như số em không có điều kiện đến trường khá lớn (18,7%), cho thấy việc học hànhcho con em chưa đảm bảo Nguyên nhân chính là:

− Cơ sở vật chất thiếu

− Dân cư ở rải rác không tập trung do vậy rất khó bố trí giáo viên ( do trường lớp không tập trung)

Trang 27

− Điều kiện đi lại quá xa và kinh tế gia đình không đáp ứng được cho con em học tập

ƒ Điện:

Trên địa bàn LT, các khu vực dân cư có điện lưới quốc gia là khu vực LT Bộ (850 KVA), khu vực đồi Mỹ (25KVA) và Bà Hào (100 KVA), các cụm dân cư khác chưa có điện do chưa có đường dây dẫn nối với lưới điện quốc gia và trạm hạ thế

ƒ Bưu điện, thông tin liên lạc:

Hiện có 2 trạm bưu điện, 1 tại khu vực LT bộ ( 50 m2) và một tại Bà Hào (40m2) Các cụm dân cư khác đều phải đến các trạm này để sử dụng điện thoại và nhận gửi bưu phẩm, cự ly gần nhất các trạm là 2 km và xa nhất là 20 km

Chợ:

Toàn LT chỉ có duy nhất 1 chợ tại khu vực LT bộ với diện tích sàn là 300 m2, kết cấu nhà lồng, khung sắt, mái fibro cement, nền đất Các hộ dân cư ở các cụm Rang Rang, Suối Sai, Bà Hào can mua bán hàng hóa tại chợ nay phải đi lại với cự ly khá xa (20-30 km) do quá xa chợ LT bộ, cac hộ dân các cụm Cây Gùi, C3 thường

đi chợ TT Vĩnh An bằng ghe máy, xuồng chèo tay qua hồ Trị An, các hộ dân cư khu Suối Boon, Bàu Điền đi chợ xã Phủ Lý bằng đường bộ nối Bà Hào – Vĩnh An

Trang 28

Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu

ƒ Mô tả sinh kế của người dân theo hệ thống sử dụng đất hiện nay

ƒ Phân tích những thuận lợi, khó khăn của người dân trong việc sử dụng đất hiện nay

ƒ Xác định nhu cầu sử dụng đất của người dân trước và sau khi thành lập khu dự trữ

ƒ Đề xuất một số giải pháp về việc quy hoạch sử dụng đất của người dân

3.2 Nội dung

- Mô tả hiện trạng các hệ thống sử dụng đất canh tác của người dân theo nhóm sinh

kế Trong nội dung này mô tả:

+ Tình hình canh tác

+ Quy mô và phạm vi

+ Quyền sử dụng đất

- Xác định nhu cầu sử dụng đất của người dân: Nhu cầu khi chưa thành lập khu

DTTN và Nhu cầu sau khi thành lập khu DTTN

- Những thuận lợi, khó khăn của người dân trong quá trình sử dụng đất

- Các giải pháp mang lại hiệu quả cho việc sử dụng đất của người dân:

+ Các giải pháp mang tính quy hoạch

+ Các giải pháp mang tính quản lý

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Công tác chuẩn bị

Công tác chuẩn bị cho nghiên cứu gồm các nội dung sau:

- Sau khi xác định mục tiêu nghiên cứu,

Trang 29

- Xây dựng đề cương nghiên cứu

- Lựa chọn địa điểm nghiên cứu

Sau khi hoàn thành các nội dung này, với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn để hoàn thành đề cương nghiên cứu chi tiết Đề cương nghiên cứu chi tiết được phê duyệt, chúng tôi tiến hành các bước sau:

- Khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu để thu thập một số tài liệu thứ cấp

- Phân tích các tài liệu thứ cấp để xây dựng bảng phỏng vấn hộ, bảng câu hỏi định hướng đề phỏng vấn các người cung cấp thông tin theo chốt và các cơ quan liên quan

- Tham khảo ý kiến giáo viên hướng dẫn về nội dung bảng hỏi và các câu hỏi

để đối chiếu với các mục tiêu và nội dung trong đề cương chi tiết về tính thích ứng

và tính khả thi khi điều tra thực hiện

+ Xuống những hộ dân có sinh kế phụ thuộc vào rừng, những hộ dân đang sử dụng đất nông lâm nghiệp để canh tác; dùng các công cụ trong PRA để thu thập thông tin Các công cụ được thực hiện như phân nhóm nông hộ, phỏng vấn nhóm, phân tích SWOT,

+ Điều tra nông hộ theo bảng câu hỏi đã được xây dựng, hiểu chỉnh những câu hỏi cho thích hợp với từng nhóm đối tượng Số hộ được chọn để phỏng vấn là 150

hộ

Trang 30

- Tổng hợp các thông tin điều tra hộ theo nhóm nôi dung và theo nhóm hộ

- Phân tích tổng hợp thông tin từ các nguồn vừa tổng hộp để xủ lý bằng excel theo các nội dung theo đề cươgn chi tiết

Tổng hợp, xử lý, phân tích số liệu bằng công cụ, máy tính tay

Trang 31

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Những sinh kế của người dân ảnh hưởng tới tài nguyên khu bảo tồn

Hiện nay trên toàn xã Mã Đà người dân sinh sống bằng nhiều sinh kế khác nhau, mỗi sinh kế đó có sự tác động gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến tài nguyên KBT ở các mức độ lớn nhỏ tùy thuộc vào thời điểm và đặc trưng của từng sinh kế Căn cứ vào tình hình thực tế các sinh kế đươc phân chia như sau:

4.1.1 Sản xuất nông nghiệp

Với tỉ lệ 79,34% đã cho thấy sinh kế chủ yếu của người dân ở đây là sản xuất

nông nghiệp Trong đó sản xuất nông nghiệp được thể hiện dưới hai hình thức:

Trang 32

4.1.1.1 Người dân canh tác trên diện tích đất chỉ sử dụng sản xuất nông nghiệp

Kết quả điều tra cho thấy có 93 % số hộ có diện tích đất canh tác chỉ sử dụng SXNN Tuy nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiêp của các hộ dân khác nhau dẫn đến sự ảnh hưởng tới TNKBT của các hộ dân cũng không giống nhau Sự ảnh hưởng này lên TNKBT được phân tích theo hai phương diện:

1) Sự ảnh hưởng của người dân do trực tiếp lấy các loại lâm sản từ rừng

Ở phương diện này, ngoài công việc sản xuất nông nghiệp người dân còn tranh thủ những thời gian rãnh rỗi để vào rừng thu hái các loại lâm sản nhằm tăng thu nhập cho gia đình Tùy vào diện tích đất của mỗi hộ mà ta xem xét các mức độ gây ảnh hưởng như sau:

Nhóm hộ có diện tích đất sản xuất nông nghiệp ít (từ 1 ha trở xuống,nhóm hộ

này chiếm khoảng 56,67%): Đối với nhóm hộ này do diện tích đất sản xuất nhỏ,

không có vốn đầu tư sản xuất nên năng suất cây trồng thấp dẫn đến thu nhập thấp (trung bình khoãng 2.500.000/hộ /năm).Với mức thu nhập này không đủ đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống của gia đình hàng ngày Nhóm hộ dân này có cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn thiếu thốn Bên cạnh đó, công ăn việc làm không có, nên ngoài thời gian làm mùa, họ vào rừng thu hái, săn bắt, khai thác các loại lâm sản được phép cũng như trái phép để trang trải cho cuộc sống hàng ngày Trung bình thu nhập của nhóm hộ này từ rừng chiếm 35% so với tổng thu Như vậy, mức độ tác động của nhóm hộ này là rất lớn

Nhóm hộ có diện tích đất trung bình (từ 1 -2,5 ha, nhóm hộ này chiếm

khoảng 36,66%).: Nhóm hộ này tuy có diện tích đất lớn hơn nhóm trên, thu nhập từ

SXNN có cao hơn (trung bình khoãng 12.000.000/hộ/năm), nhưng nhìn chung cuộc

sống của họ vẫn còn khó khăn Vì vậy, giống như nhóm ít đất họ vẫn vào rừng lấy lâm sản nhằm cải thiện bữa ăn cũng như tăng thêm thu nhập cho cuộc sống Trung bình thu nhập của nhóm hộ này từ rừng chiếm 20% so với tổng thu nhập Mức độ

tác động của nhóm hộ này thấp hơn)so với nhóm trên

Nhóm hộ có diện tích đất lớn (từ 2,5ha trở lên,nhóm hộ nàychiếm

khoãng4,67%): khác với hai nhóm hộ trên vì nhóm hộ nay diện tích đất sản xuất

Ngày đăng: 28/11/2017, 15:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w