1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA1 TẠI TIỂU KHU 104 THUỘC THÔN BỜ HÀO – XÃ MÃ ĐÀ HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI

71 301 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 725,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM KHOA LÂM NGHIỆP CAO THẾ HIỆP BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA1 TẠI TIỂU KHU 104 THUỘC THÔN BỜ HÀO – XÃ MÃ ĐÀ HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CUỐI KHÓA KỸ SƯ CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP TP.HCM 082007 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM KHOA LÂM NGHIỆP CAO THẾ HIỆP BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA1 TẠI TIỂU KHU 104 THUỘC THÔN BỜ HÀO – XÃ MÃ ĐÀ HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI LUẬN VĂN CUỐI KHÓA KỸ SƯ LÂM NGHIỆP Người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Minh Cảnh TP.HCM 082007 LỜI CẢM ƠN  Gặt hái được thành quả như hôm nay tôi chân thành cảm ơn quý Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, quý Thầy Cô giáo Khoa Lâm nghiệp, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn tất chương trình học. Nhân dịp này tôi xin chân thành gửi lời cám ơn đến: Quý Thầy, Cô giáo Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, quý Thầy, Cô giáo Khoa Lâm nghiệp đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường. Chân thành cám ơn Thầy Nguyễn Minh Cảnh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này. Xin chân thành cám ơn các anh trong Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng phía Nam và tập thể Ban Giám đốc Lâm trường Mã Đà đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và các tài liệu liên quan đến đề tài. Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Xin chân thành cám ơn Tp.HCM, tháng 08 năm 2007 Sinh viên thực hiện Cao Thế Hiệp SUMMARY Cao The Hiep, student of forestry faculty of Nong Lam University, Thu Duc District, Ho Chi Minh City. The thesis “First step research on some structural characteristics of natural forest (IIIA1 type) at 104 sub area – Bo Hao Hamlet – Ma Da Village – Vinh Cuu District – Dong Nai Province” has been carried out from February to July 2007. Scientific Advisor: MSc. Nguyen Minh Canh The main research methods of the thesis are mensurement and collection of the data in the study fields. The software Excel 2003 was used to treat data and establish the correlation models. The research results could be summarized with some main contents as follows: 1. Structure of botanic species: The number of species in natural forest (IIIA1 type) at study area is 59 species; Sapindaceace has the highest ratio (16.07 percent) with species Xerospermun noronhianum. 2. Distribution of stem number according to tree height – rank (NHVN) Correlation of (N) according to height rank (H) of natural forest (IIIA1 type) at study area is well fitted by Weibull equation with  = 1,5 and  = 0,052. 3. Distribution of stem number according to diameter at breast height (ND1.3) Correlation of (N) according to diameter (D1,3), to be a mathematical model with an Meyer equation as: LnN% = 4,3582 – 0,1207D1,3 or N% = 78,11.e0,1207D1,3 4. Distribution of mass according to diameter at breast height (MD1.3) MD1.3 of natural forest (IIIA1 type) at study area is not continuous; the mass decreases gradually when the diameter increases, M = 109,6 m3. 5. Correlative equation between the tree height and the diameter (HVND1.3) At study area, the best mathematical equation to model the correlation of the tree height (HVN) with the diameter (D1,3) with an equation as: H = 0.8474 + 11,3361 LogD1,3 with r = 0,66 6. Forest reproductive situation Density of reproductive tree of natural forest (IIIA1 type) at study area is about 8.590 trees per ha. The number of trees with H < 2 m has a high ratio (H < 1 m has 30.6 percent; 1 m < H < 2 m has 42.5 percent). The number of prospect trees has 6923 trees per ha (80.6 percent). 7. Crown density of the forest at study area The thesis has calculated the crown density of the forest at study area is 0.68. PHẦN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN PHẦN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN PHẦN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN i MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn Tóm tắt Phiếu nhận xét của giáo viên hướng dẫn Phiếu nhận xét của giáo viên phản biện Mục lục i Danh sách các chữ viết tắt iii Danh sách các bảng iv Danh sách các hình v CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU 1 1.1. Đặt vấn đề 1 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2 1.3. Giới hạn phạm vi và địa điểm vùng nghiên cứu 2 CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 4 2.1. Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới 4 2.2. Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam 6 2.3. Khái niệm và nguyên tắc chính trong phân chia trạng thái rừng 9 CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11 3. 1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 11 3.2. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 12 3.3. Đặc điểm kinh tế xã hội 17 CHƯƠNG 4. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 4.1. Nội dung nghiên cứu 24 4.2. Phương pháp nghiên cứu 24 4.2.1. Cơ sở phương pháp luận 24 4.2.2. Phương pháp thu thập số liệu 25 ii 4.2.3. Nội dung điều tra và các biện pháp kỹ thuật 26 4.2.4. Phương pháp phân tích số liệu 27 CHƯƠNG 5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33 5.1. Kết cấu tổ thành loài thực vật trạng thái rừng IIIA1 tại tiểu khu 104, thôn Bà Hào – xã Mã Đà – huyện Vĩnh Cửu – tỉnh Đồng Nai 33 5.2. Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao (NHvn) của lâm phần IIIA1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai 35 5.3. Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (ND1,3) của lâm phần IIIA1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai38 5.4. Phân bố số cây theo cấp tiết diện ngang (NG) của lâm phần IIIA1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai 41 5.5. Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (MD1,3) của lâm phần IIIA1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai 43 5.6. Tương quan giữa chiều cao và đường kính (HvnD1,3) 45 5.7. Tình hình tái sinh dưới tán rừng 47 5.8. Xác định độ tàn che của rừng 49 CHƯƠNG 6. KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 51 6.1. Kết luận 51 6.2. Tồn tại 52 6.3. Kiến nghị 53 Tài liệu tham khảo Phụ biểu iii DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT QLBVR: Quản lý bảo vệ rừng UBND: Ủy ban nhân dân Bộ NN PTNT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn VAC: Vườn ao chuồng CBCNV: Cán bộ công nhân viên D 1,3 Đường kính thân cây tại tầm cao 1,3 m, cm D 1,3_tn Đường kính 1,3 m thực nghiệm D 1,3_lt Đường kính 1,3 m tính theo lý thuyết H Chiều cao của cây, m H vn Chiều cao vút ngọn, m H_tn Chiều cao thực nghiệm, m H_lt Chiều cao lý thuyết, m log Logarit thập phân (cơ số 10) ln Logarit tự nhiên (cơ số e) P Mức ý nghĩa (xác suất) 5.1. Số hiệu của bảng hay hình theo chương r Hệ số tương quan R Biên độ biến động R2 Hệ số xác định mức độ tương quan S Độ lệch tiêu chuẩn S2 Phương sai mẫu SK Hệ số biểu thị cho độ lệch của phân bố SYX Sai số của phương trình hồi quy iv DANH SÁCH CÁC BẢNG Trang Bảng 3.1. Bảng tổng hợp dân cư trên địa bàn Lâm trường Mã Đà .................. 18 Bảng 5.1. Bảng tổ thành loài thực vật tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào xã Mã Đà – huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai. ...................................................................... 34 Bảng 5.2. Bảng phân bố % số cây theo cấp chiều cao trạng thái rừng IIIA1 và các thông số thống kê ............................................................................................. 36 Bảng 5.3. Bảng phân bố (ND1,3) trạng thái rừng IIIA1 và các thông số thống kê .................................................................................................................................. 39 Bảng 5.4. Phân bố % số cây theo cấp tiết diện ngang ........................................ 42 Bảng 5.5. Phân bố trữ lượng (M) theo cấp đường kính ..................................... 44 Bảng 5.6. Phân bố cây tái sinh theo chiều cao trạng thái IIIA1......................... 48 v DANH SÁCH HÌNH Hình 5.1. Phân bố % số cây theo cấp chiều cao trạng thái rừng IIIA1 ...................37 Hình 5.2. Phân bố % số cây theo cấp đường kính trạng thái rừng IIIA1 .............40 Hình 5.3. Biểu đồ phân bố % số cây theo cấp tiết diện ngang (%NG)........... 42 Hình 5.4. Biểu đồ phân bố trữ lượng theo cấp đường kính D1,3 trạng thái IIIA1 44 Hình 5.5. Biểu đồ mô tả tương quan giữa chiều cao và đường kính ................ 46 Hình 5.6. Biểu đồ phân bố % số cây tái sinh theo cấp chiều cao ...................... 48 1 Chương 1 MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Rừng là tài sản vô giá đối với con người và cuộc sống, là một hệ sinh thái vô cùng phức tạp. Rừng giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực như bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện điều kiện khí hậu, bảo tồn nguồn gen, bảo vệ đa dạng sinh học … Bởi thế mà rừng được coi như là một lá phổi của trái đất. Cùng với sự phát triển hiện nay của nhiều ngành công nghiệp, áp lực dân số ngày càng gia tăng, cộng với sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân về tầm quan trọng và các chức năng của rừng đã dẫn đến sự suy giảm về diện tích cũng như chất lượng rừng một cách nghiêm trọng, làm giảm tác dụng của rừng đối với môi trường, làm cho đất bị suy thoái do quá trình rữa trôi, xói mòn ngày càng cao, lụt lội, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn đã góp phần phá hủy môi trường sống của con người. Theo Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO, 1990), ở các nước nhiệt đới, tổng số diện tích rừng bị tàn phá và mất đi hàng năm là 16,8 triệu ha mỗi năm, chiếm khoảng 1,2 % tổng số diện tích rừng của các nước thuộc vùng nhiệt đới. Trong đó, Việt Nam là một nước thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, chủ yếu là rừng nhiệt đới. Năm 1945, diện tích rừng nước ta còn khoảng 14,3 triệu ha, chiếm 43 % tổng diện tích tự nhiên thì đến năm 1990 chỉ còn 9,3 triệu ha, chiếm 28,4 % tổng diện tích tự nhiên. Bên cạnh đó, tốc độ mất rừng ngày càng tăng trong khi tốc độ trồng rừng còn rất hạn chế, tình trạng này đã làm cho rừng thoái hóa rất nhanh cả về chất và lượng. Vấn đề này đã đặt ra cho các nhà lâm nghiệp một nhiệm vụ cấp bách là phải nhanh chóng khôi phục lại rừng, đáp ứng nhu cầu về gỗ, củi của con người và môi trường sinh thái, bảo đảm tính ổn định và phát triển bền vững vốn rừng. 2 Trong những năm gần đây, công tác phục hồi và khoanh nuôi rừng tự nhiên đang được các nhà lâm nghiệp đặc biệt quan tâm. Vì vậy, để công tác tổ chức, quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả cần phải có những hiểu biết sâu sắc về các đặc trưng của cấu trúc rừng nhằm lựa chọn và đề xuất một số biện pháp lâm sinh phù hợp và hiệu quả, đạt được các mục tiêu kinh doanh đã đề ra. Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự đó, được sự đồng ý và phân công của Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Minh Cảnh, trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp cuối khóa, đề tài “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIIA1 tại tiểu khu 104, thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 03 đến tháng 08 năm 2007. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (a) Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản nhất về cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIIA1 tại tiểu khu 104, thuộc thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. (b) Góp phần đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với tình hình thực tế của rừng tại khu vực nghiên cứu. 1.3. Giới hạn phạm vi và địa điểm vùng nghiên cứu 1.3.1. Giới hạn về nội dung Đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tổ thành loài, phân bố số cây theo cấp đường kính ngang ngực, phân bố số cây theo cấp chiều cao, phân bố trữ lượng theo cấp đường kính, tương quan giữa chiều cao với đường kính ngang ngực, đánh giá tình hình tái sinh dưới tán rừng, độ tàn che của rừng… 1.3.2. Giới hạn về khu vực và đối tượng nghiên cứu Do điều kiện trình độ và thời gian có hạn, đề tài chỉ thực hiện ở một số diện tích rừng trạng thái IIIA1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện 3 Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Do vậy đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót khi đưa ra những nhận định chung về cấu trúc rừng tại khu vực nghiên cứu, vì vậy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn. Mặc dù đã cố gắng hết sức trong cuộc điều tra, khảo sát, tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan để thực hiện đề tài, nhưng do những hạn chế nhất định, nhất là sự phức tạp và phong phú về mặt lâm học của rừng nhiệt đới, nên đây chỉ là những kết quả bước đầu nhằm đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. 4 Chương 2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1. Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới Khái niệm về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp nên các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật theo không gian và thời gian. Phân bố của quần thể thực vật trong không gian có thể biểu hiện ở hai khía cạnh: theo chiều thẳng đứng (tính thành tầng, tầng phiến) và theo chiều nằm ngang của rừng (trạng thái khảm). Đó là sự chọn lọc mang tính quy luật trong tự nhiên. Cấu trúc là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng về hình thái quần thể sinh vật. Trên thế giới, thuật ngữ cấu trúc được sử dụng và phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau và nó có ý nghĩa khác nhau đối với từng tác giả. Theo PW.Richards (1939) “cấu trúc” nghĩa là phân bố cây rừng theo chiều thẳng đứng. Năm 1952, với tác phẩm “Rừng mưa nhiệt đới” mà điểm đặc trưng ở đây là tuyệt đại bộ phận thực vật thân gỗ đều có lá rộng thường xanh; ưa ẩm; thân có bạnh vè; hoa quả; ngoài ra còn có một số thực vật của rừng ôn đới. Theo Meyer (1952), Turnbull (1963), Rollet (1969) thì “cấu trúc” dùng để chỉ rõ sự phân bố của thành phần cây gỗ theo các cấp đường kính hoặc phân bố của tiết diện ngang thân cây theo cấp đường kính. Theo Golley và cộng tác viên (1969), “cấu trúc” là phân bố sinh khối theo gỗ, thân, lá, rễ, ... Theo T.A.Rabotnov (1978), “cấu trúc” quần xã thực vật đó là đặc điểm phân bố của các cơ quan thành phần tạo nên quần xã theo không gian và thời gian. 5 Đối với mỗi tác giả thì việc nghiên cứu các quy luật cấu trúc lâm phần theo các phương pháp khác nhau ứng với từng mục đích do chính tác giả đề ra. Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này từ rất lâu, một số nhà bác học và một số nhà nghiên cứu về điều tra như: Weise (1880); Prodan (1951); V.S.Moisew (1966, 1969, 1971)… và còn nhiều tác giả khác nữa. Xác định cấu trúc của một loại hình rừng được Wenk (1995) nghiên cứu nhằm mục đích không những đánh giá được nhiều hiện trạng và động thái sinh trưởng của cây rừng qua các quy luật phân bố cây theo chiều cao Hvn (cấu trúc đứng), theo đường kính D1,3, đường kính tán, tổng diện ngang G (cấu trúc ngang), mà còn có thể xác định được chính xác kích thước bình quân của lâm phần phục vụ công tác điều tra quy hoạch rừng. Ở loại hình rừng trồng thuần loại đều tuổi, phân bố số cây theo H, D1,3 khi mới trồng thường có quy luật chính thái, sau đó lệch trái khi đã bước vào khép tán và dần chuyển sang lệch phải khi rừng lớn tuổi hơn. Theo Weise, trong việc nghiên cứu vị trí của cây rừng có đường kính bình quân. Đối với rừng thuần loại, đều tuổi, một tầng, ông đã xác định đường kính bình quân là cỡ đường kính của cây nằm ở vị trí thứ 57,5% tính từ cỡ nhỏ trong cột số cây (ni) từ số liệu điều tra đo đếm. Theo Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố của cây rừng, chủ yếu theo đường kính D1,3 có liên hệ với giai đoạn phát dục của lâm phần và các biện pháp kinh doanh. Theo ông , sự phân bố cây theo đường kính có giá trị tiêu biểu nhất cho lâm phần. Những quy luật phân bố mà ông xác định được ở rừng tự nhiên được chấp nhận và kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Đó là phân bố đường kính của rừng tự nhiên có quy luật một đỉnh lệch trái, số cây tập trung rất nhiều ở các cấp đường kính nhỏ. Do bởi có nhiều loài, nhiều thế hệ cùng tồn tại. Song ở các cỡ đường kính lớn, chỉ có một số loài nhất định do bởi đặc tính sinh học hay do bởi vị trí thuận lợi trong rừng chúng ta mới có khả năng tồn tại và phát triển. Về phân bố chiều cao, rừng tự nhiên thường có dạng nhiều đỉnh, rừng có nhiều thế hệ hay bởi các biện pháp chặt chọn không quy tắc nên phân bố 6 chiều cao của rừng thường có nhiều đỉnh và giới hạn của đường cong phân bố nhiều đỉnh là phân bố giảm đặc trưng cho rừng chặt chọn không đều tuổi. Giáo sư N.V. Tretiakov đã đi đến kết luận, quy luật cấu trúc của những phân tử rừng thường xuyên mang những đặc điểm đặc trưng hiện tại, không phụ thuộc vào tuổi rừng, loài cây, điều kiện sinh trưởng và thậm chí điều này cũng được chỉ ra đúng ngay cả lâm phần phức và hỗn loài. Rutkowski Boleslaw (1963) đã nghiên cứu bằng phương pháp biểu đồ sự phân bố cây theo đường kính trên một hecta theo đại lượng tương đối. Cách dùng đường biểu thị đường kính và số cây theo đơn vị đã cho phép so sánh những lâm phần khác nhau. Qua những nghiên cứu của rất nhiều tác giả cũng đã chỉ rõ ra rằng, các biểu đồ mặt cắt đứng chỉ minh họa được cách sắp xếp trên hướng thẳng đứng của cây gỗ trong một diện tích riêng và có hạn. Một dãy kề ngay bên cạnh có thể biểu lộ những đặc điểm hoàn toàn khác biệt; và vì lý do này, dãi càng dài thì càng có thêm cơ hội để thu thập được những mẫu về sự biến động trong cấu trúc của quần lạc. 2.2. Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam Việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu lâm nghiệp hết sức quan tâm. Trong đó, đáng kể nhất là cuốn “Lâm Nghiệp Đông Dương” của Paul Maurand (1943), “Rừng thưa ở Nam Đông Dương” của Rollet (1969); “Kiểu rừng thưa vùng Đông Nam Á” của R. Champsoloix (1959). Về cấu trúc và trạng thái rừng ở Miền Bắc Việt Nam phải kể đến công trình nghiên cứu của M. Loeschau (1962, 1964, 1966). Dựa trên cơ sở cấu trúc về các đặc điểm lâm sinh và trữ lượng rừng… các tác giả đã đề xuất ra các chỉ tiêu định lượng để phân loại các trạng thái rừng tự nhiên ở Miền Bắc Việt Nam và được áp dụng trong việc điều tra quy hoạch và điều chế rừng khá rộng rãi. 7 Cho đến nay, tuy những nghiên cứu về lĩnh vực lâm nghiệp được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nhưng các công trình nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều. Trong đó có một số tác giả như công trình nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1961) về thảm thực vật rừng ở Việt Nam, Trần Ngũ Phương (1965) cùng những người cộng tác đã cho ra tập “Bước đầu nghiên cứu rừng Miền Bắc Việt Nam”. Song việc xác định loại cấu trúc ở các kiểu rừng của các tác giả trên chỉ mang tính chất mô phỏng định tính, thuyết minh cho kết quả phân loại của mình mà thôi. Việc đi sâu nghiên cứu về cấu trúc rừng trong những năm gần đây thông qua việc nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo chiều cao, đường kính nhưng kết quả này lại phục vụ cho mục tiêu tương đối khác. Năm 1974, Đồng Sĩ Hiền khi lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng gỗ hỗn loài ở Miền Bắc nước ta, tác giả đã nghiên cứu phân bố đường kính, phân bố chiều cao và phân bố của các nhân tố hình dạng thân cây. Qua kết quả nghiên cứu ,tác giả đã rút ra kết luận là: quy luật cấu trúc của rừng tự nhiên hỗn loài nước ta có dạng phân bố giảm theo đường kính và dạng phân bố nhiều đỉnh theo chiều cao và sự phân bố của các chỉ tiêu hình dạng f0,1 và f1,3 của các loài cây trong rừng tự nhiên hỗn loài có dạng phân bố tiệm cận với phân bố chuẩn và các quy luật này khác hẳn so với rừng thuần loại đều tuổi. Nguyễn Ngọc Lung và những cộng sự (1986) đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng, tác giả đã tổng kết các quy luật khí hậu vùng Thông và đã xây dựng bản đồ phân hạng đất trồng rừng, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp kinh doanh. Về mặt cấu trúc rừng Thông ba lá , tác giả đã sơ kết trên những cơ sở dữ liệu lớn, đã đo đạc trên những ô tiêu chuẩn có kích thước khác nhau từ 1.000 m2 – 10.000 m2 đều thấy sự phân bố số cây theo cỡ đường kính, chiều cao theo thời gian và trong không gian, đồng thời xây dựng các phân bố đỉnh của hàm Pearson cho số cây theo cỡ kính. Quy luật chỉ tồn tại một tầng phiến, tiêu biểu cho những lâm phần đều tuổi. Quy luật phân bố theo đám trên mặt đất theo cách mọc, điểm này có liên quan đến quy cách khai thác, 8 tái sinh lại, và điều chỉnh mật độ trong nuôi dưỡng nhằm nâng cao năng suất rừng trong tương lai. Nguyễn Văn Trương (1983) trong phương pháp nghiên cứu đã sử dụng ô tiêu chuẩn có diện tích từ 0,25 ha đến 1 ha để đo đếm các chỉ tiêu cần thiết về D 1,3, Hvn, Dtán,… của các cây có D1,3  1 cm. Cự ly cấp kính là 4 cm, chiều cao là 2 m, cấp tiết diện ngang là 0,025 m2. Trần Văn Con (1990) đã sử dụng mô hình Weibull để mô phỏng cấu trúc số cây theo cấp đường kính (ND1,3) của rừng khộp và đã cho rằng khi rừng con non thì phân bố có dạng giảm, và khi rừng càng lớn thì càng có xu thế chuyển sang phân bố đỉnh và lệch dần từ trái sang phải. Đó là sự biến thiên về lập địa có lợi hay không có lợi cho quá trình tái sinh. Về sau này, có rất nhiều các luận án thạc sĩ chuyên ngành Lâm nghiệp, đề tài tốt nghiệp của sinh viên Khoa Lâm nghiệp có nghiên cứu hoặc đề cập đến cấu trúc rừng như: Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng IIIA2 làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp điều chế rừng tại lâm trường Bù Đăng, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước của Nguyễn Kim Anh (1998). Cấu trúc kiểu rừng kính thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và kiểu rừng kín nữa rụng lá ẩm nhiệt đới tại Vườn Quốc gia Cát Tiên của Nguyễn Khoa Thảo (2002). Bước đầu tìm hiểu cấu trúc về kiểu rừng rụng lá tại khu vực Bầu Sấu – Vườn Quốc gia Cát Tiên của Lê Thanh Hồng (2003). Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng khộp và đặc điểm sinh trưởng loài Dầu đồng của rừng khộp tại lâm trường Chư Phả Đăk lăk của Phạm Văn Đến (2003). Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trạng thái IIIA1 tại phân khu phục hồi sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của Trần Anh Tú (2005). 9 Nhìn chung, việc nghiên cứu cấu trúc dựa trên phương pháp nghiên cứu đường cong phân bố là phương pháp tổng quát nhất, dựa vào nó có thể xác định vị trí của cây bình quân lâm phần và phạm vi biến động, phương pháp biểu đồ vừa đơn giản rõ ràng, cho hình ảnh sinh động về quy luật phân bố, đáp ứng yêu cầu về tính quy luật phân bố và các vấn đề khác trong nghiên cứu cấu trúc rừng. Những kết quả nghiên cứu đạt được của một số tác giả về cấu trúc rừng sẽ là tài liệu tham khảo quý báu cho tôi học tập và đi theo hướng nghiên cứu đã định để thực hiện đề tài tốt nghiệp này. 2.3. Khái niệm và nguyên tắc chính trong phân chia trạng thái rừng Theo Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng 1984 (QPN684) các trạng thái rừng chính được phân theo hệ thống phân loại của Loschaus (1962) như sau: Nhóm kiểu I: Đất không có rừng hoặc hiện tại chưa hình thành rừng, chỉ có cây cỏ, cây bụi hoặc cây gỗ, tre nứa có độ che phủ dưới mức 0,3. Tùy theo hiện trạng nhóm này được chia thành: Kiểu hiện trạng rừng Kiểu IA: Trảng cỏ Kiểu IB: Trảng cỏ, cây bụi Kiểu IC: Trảng cỏ, cây bụi có cây gỗ rải rác Nhóm kiểu II: Kiểu rừng phục hồi cây tiên phong có đường kính nhỏ. Tuỳ theo hiện trạng, nguồn gốc mà chia ra: Kiểu IIA: Rừng phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi lớp cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh đều tuổi, một tầng. Kiểu IIB: Rừng phục hồi sau khai thác kiệt, phần lớn kiểu này gồm những quần thụ non với những loài cây tương đối ưa sáng, thành phần loài phức tạp không đều tuổi, độ ưu thế không rõ ràng. Vượt lên khỏi tán rừng kiểu này có thể còn sót lại một số cây của quần thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể. Nhóm kiểu III: Kiểu rừng thứ sinh đã bị tác động. 10 Các quần thụ đã bị tác động khai phá bởi con người ở những mức độ khác nhau làm cho kết cấu ổn định của rừng ít nhiều đã có sự thay đổi khác nhau. Tùy theo mức độ tác động và khả năng cung cấp sản phẩm mà nhóm này được chia làm 2 kiểu: Kiểu IIIA: Được đặc trưng bỡi những quần thụ đã bị khai thác nhiều, khả năng khai thác hiện tại bị hạn chế. Cấu trúc ổn định của rừng bị phá vỡ hoàn toàn hoặc thay đổi về cơ bản. Kiểu này được chia làm 3 kiểu phụ: Kiểu phụ IIIA1: Rừng bị khai thác kiệt quệ, tán rừng bị phá vỡ từng mảng lớn. Tầng trên có thể còn sót lại một số cây cao to nhưng phẩm chất xấu, nhiều dây leo, bụi rậm, tre nứa xâm lấn. Kiểu phụ IIIA2: Rừng đã bị khai quá mức nhưng đã có thời gian phục hồi tốt. Đặc trưng của kiểu này là hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế sinh thái với lớp cây gỗ đại bộ phận đường kính 2030 cm. Rừng có hai tầng trở lên, tầng trên tán không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây của tầng giữa trước đây, rãi rác còn một số cây to khỏe vượt tán của tầng rừng cũ để lại. Kiểu phụ IIIA3: Rừng đã bị khai thác vừa phải hoặc phát triển từ IIIA2 lên. Quần thụ tương đối khép kín với 2 hoặc nhiều tầng. Đặc trưng của kiểu này khác với IIIA2 ở chỗ số lượng cây nhiều hơn và đã có một số cây có đường kính lớn (trên 35cm) có thể khai thác sử dụng gỗ lớn. Kiểu IIIB: Được đặc trưng bởi những quần thụ đã bị chặt chọn lấy ra một ít gỗ quý, gỗ tốt nhưng chưa làm thay đổi đáng kể về kết cấu ổn định của rừng, khả năng cung cấp của rừng còn nhiều, rừng giàu về trữ lượng với thành phần gỗ lớn cao. Rừng hỗn giao Gỗ + Lồ ô Rừng gỗ xen tre nứa, lồ ô: (Tầng cây gỗ phải đạt tiêu chuẩn là rừng như quy định ở trên và chiếm ưu thế so với tầng tre nứa): Tầng cây gỗ chia theo tiêu chuẩn rừng gỗ, tầng tre nứa để nguyên. 11 Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1. Tổng quan về khu vực nghiên cứu Tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thuộc sự quản lý của Lâm trường Mã Đà . 3.1.1. Giới thiệu chung Lâm trường Mã Đà được thành lập năm 1977 khi đó là một Lâm trường quốc doanh với diện tích khá lớn bao gồm cả Lâm trường Hiếu Liêm và lòng hồ Trị An ngày nay. Nhưng sau đó một thời gian, UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết định chia cắt ra thành Lâm trường Mã Đà và Lâm trường Hiếu Liêm và một phần diện tích bị khai thác trắng làm lòng hồ Trị An. Kể từ năm 1997 Lâm trường chuyển sang thành một Lâm trường hoạt động công ích và hiện nay đã sát nhập cùng hai Lâm trường Vĩnh An và Hiếu Liêm thành một khu Bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu. Lâm trường Mã Đà có diện tích tự nhiên là 27.497 ha và có địa bàn nằm trên hai xã: xã Mã Đà và xã Phú Lý thuộc huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai, nhưng đa phần là thuộc xã Mã Đà và một diện tích rất nhỏ (220 ha) nằm trên địa bàn xã Phú Lý. Lâm trường Mã Đà nằm ở phía Bắc sông Đồng Nai thuộc huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai quản lý. Trong diện tích tự nhiên của Lâm trường bao gồm có diện tích rừng tự nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp và khu dân cư, diện tích đất trống, diện tích ao hồ, diện tích rừng trồng và một số diện tích khác … Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 21.642,6 ha chiếm 78,7 % tổng diện tích tự nhiên của Lâm trường. Rừng tự nhiên của Lâm trường Mã Đà chủ yếu là rừng nghèo và rừng non đang được phục hồi, khoanh nuôi và xúc tiến tái sinh tự nhiên sau khi bị chiến tranh tàn phá và hậu quả của việc khai thác quá mức trước kia. Rừng trồng của Lâm trường bao gồm rất nhiều loài như: Tếch, Keo lá tràm, Sao 12 đen, Dầu, Bằng lăng … và diện tích rừng trồng này chủ yếu được trồng trên những diện tích đất trống do bị chiến tranh tàn phá không thể tái sinh rừng tự nhiên được. Rừng của Lâm trường Mã Đà ngoài mục đích là phòng hộ, bảo tồn thiên nhiên còn là di tích lịch sử chiến khu Đ. Do vậy Lâm trường xác định công tác QLBVR – Xây dựng và phát triển vốn rừng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Lâm trường. 3.1.2. Mục tiêu chung Mục tiêu chung của Lâm trường là quản lý tốt diện tích rừng tự nhiên hiện có. Sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả diện tích rừng và đất rừng. Ngày càng nâng cao độ che phủ của rừng tự nhiên và rừng trồng. Ngày càng năng cao chất lượng rừng cũng như trữ lượng rừng. Ổn định dân cư và phát triển kinh tế trong vùng nhằm giảm thiểu sự tác động của người dân vào rừng. Hạn chế tối đa các vụ vi phạm về rừng đặc biệt là các vụ cháy rừng. 3.2. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 3.2.1. Vị trí địa lý Lâm trường Mã Đà nằm trong vùng có vị trí địa lý như sau: Từ 107o18’ đến 107o58’ kinh độ đông. Từ 11o28’ đến 11o58’ vĩ độ bắc 3.2.2. Phạm vi ranh giới Với tổng diện tích tự nhiên là 27.497 ha (theo số liệu kiểm kê năm 1999) thuộc phạm vi quản lý hành chính. Xã Mã Đà: 27.277 ha Xã Phú Lý: 220 ha. Nằm ở phía Bắc sông Đồng Nai Lâm trường Mã Đà giáp các khu vực sau: + Phía Bắc giáp: tỉnh Bình Phước và Lâm trường Vĩnh An. 13 + Phía Nam giáp: hồ Trị An. + Phía Đông giáp: hồ Trị An và xã Phú Lý. + Phía Tây giáp: Lâm trường Hiếu Liêm thuộc xã Trị An. 3.2.3. Địa hình – Đất đai Lâm trường Mã Đà nằm trong vùng núi thấp bán bình nguyên, tương đối bằng phẳng. Địa hình có dạng gợn sóng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Độ dốc không quá 15o, trung bình vào khoảng 8o đến 10o. Độ cao lớn nhất là 125 m, trung bình vào khoảng từ 70 m đến 80 m. Với địa hình trên rất thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp song lại là điều kiện bất lợi trong công tác QLBVR vì lâm tặc có thể xâm nhập vào rừng trái phép bất kỳ lúc nào. Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng của trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh thì đất trong Lâm trường chủ yếu là đất feralit đỏ vàng phát triển trên nền đá mẹ sa phiến thạch, tầng đất canh tác từ mỏng đến trung bình, kết von nhiều, nghèo chất dinh dưỡng, ít nguyên tố vi lượng. Tuy vậy, trong phạm vi Lâm trường có hai khu vực là: đồi Mỹ (đất đỏ bazan) với diện tích khoảng 100 ha và dọc sông Mã Đà giáp tỉnh Bình Phước với bề rộng dọc sông khoảng 50 ha là phù sa ven sông có khả năng trồng cà phê và cây ăn quả cho năng suất và chất lượng cao. 3.2.4. Khí hậu thủy văn Lâm trường Mã Đà nằm trong vùng khí hậu Đông Nam Bộ có hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 10. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa hàng năm khá lớn trên 2000 mm tập trung vào các tháng 7, 8, 9 (chiếm 60%). Nhiệt độ trung bình cả năm là 26,4oC cao nhất 35oC (vào tháng 4) và thấp nhất là 16,5oC (vào tháng 1). Độ ẩm tương đối : 80 % đến 82 %. Hướng gió chính là Đông Bắc – Đông Nam. 14 Ít có gió bão và sương mù. 3.2.5. Tài nguyên rừng Thực vật rừng Rừng của Lâm trường Mã Đà nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới. Tổ thành loài cây rất phong phú đa dạng với 120 loài 61 họ trong đó tầng cây gỗ có 62 loài 32 họ, tầng cây bụi có 23 loài 19 họ, tầng thảm tươi có 15 loài 10 họ. Trong tổ thành cây thì họ Sao Dầu chiếm ưu thế, nhiều loài có giá trị kinh tế cao như: Dầu (Dipterocarpus alatus, Dipterocarpus dyeri), Chai (Shorea guiso), Vên Vên (Anisoptera costatus), Gỏ mật (Sindora cochichinensis)… Theo số liệu kiểm kê rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp tháng 101999 của ban kiểm kê Trung Ương và kết quả phúc tra đất sản xuất nông nghiệp và rừng trồng của Lâm trường năm 2001 và cập nhật diễn biến tài nguyên năm 2003, Lâm trường có tổng diện tích tự nhiên là 27.494 ha với hiện trạng sử dụng đất như sau: 1 Đất có rừng 23.247,3 (chiếm 84,5% tổng diện tích) a) Rừng tự nhiên 21.642,6 (chiếm 78,7%) b) Rừng trồng 1.604,7 (chiếm 5,8%) 2 Đất chưa có rừng 4.249,7 (chiếm 15,5%)  Tình hình phân bố và đặc tính xung yếu: Tổng diện tích rừng và đất rừng Lâm trường quản lý là 27.497 ha với tổng chiều dài đường ranh giới là 222 km, trong đó 2 phía: phía Nam và phía Đông tiếp giáp với hồ Trị An có chiều dài trên 157 km, đây là khu vực xung yếu nhất. Vì trên vành đai này theo quy hoạch tổng quan của lâm nghiệp tỉnh Đồng Nai và phương án điều chế rừng của Lâm trường có 7.543 ha được quy hoạch cho phòng hộ đầu nguồn, trong đó có 4.041 ha rừng tự nhiên và 594,3 ha rừng trồng. Toàn bộ đường bờ hồ Trị An giáp ranh với các khu rừng là một dãi đất vùng bán ngập. 15  Đặc điểm về rừng và đất chưa có rừng: Rừng tự nhiên: + Diện tích: theo kết quả kiểm kê rừng tháng 101999 tổng diện tích rừng tự nhiên của Lâm trường là 21.642,6 ha chiếm 78,7% diện tích tự nhiên của Lâm trường. + Trữ lượng: ở thời điểm kiểm kê rừng tháng 101999 tổng trữ lượng rừng tự nhiên của Lâm trường là: 1.521.302 m3. Theo đề án nghiên cứu về rừng của Phân viện Điều tra Quy hoạch II thuộc Bộ NN PTNT thì lượng tăng trưởng về sinh khối hàng năm đối với rừng tự nhiên khu vực miền Đông Nam Bộ là 2% trữ lượng rừng, trong đó đã trừ đi lượng hao hụt do đào thải hàng năm của rừng. Như vậy nếu QLBVR tốt thì hàng năm trữ lượng rừng của Lâm trường tăng thêm được 30000 m3. Rừng trồng: Lâm trường thực hiện nhiệm vụ trồng rừng mới từ năm 1978 tính đến nay, diện tích của Lâm trường đã trồng được: 1.604,7 ha trong đó: + Rừng trồng theo chương trình 661 (R.327): 273,9 ha + Rừng trồng theo chương trình 661 (vốn dân): 60,4 ha + Rừng trồng theo chương trình 661 (R. PH): 594,3 ha + Rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách cấp từ thuế tài nguyên là 369,8 ha. + Rừng trồng bằng nguồn vốn liên doanh liên kết: 127,3 ha + Rừng TTTH: 179 ha Trong đó diện tích rừng trồng cây gỗ lớn chu kỳ kinh doanh là: 1.087,2 ha, còn lại: 517,5 ha là rừng trồng nguyên liệu giấy. Phần lớn diện tích rừng trồng của Lâm trường trồng theo phương thức quản canh trên các loại đất hoang hóa bạc màu, do nhiểm chất độc hóa học. Từ năm 2000 đến nay, lâm trường áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật đưa vào trồng loài: cây Keo lai (nhân giống vô tính) có năng suất và chất lượng cao, rút ngắn chu kỳ sản xuất. 16 Đất chưa có rừng: + Đất sản xuất nông nghiệp: thực hiện nghị định 01CP ngày 04011995 của chính phủ Vv: “Giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp – lâm nghiệp – nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước”. Từ năm 1996 đến nay Lâm trường tiến hành giao được: 1.698,7 ha đất sản xuất nông nghiệp và 29,4 ha giao cho: 1.112 hộ dân nhận khoán để sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. + Hồ: 445 ha, bao gồm: 421 ha hồ Bà Hào; 21,6 ha hồ vườn ươm và 2,6 ha đầm Suối Sai. + Đất trồng cây gỗ rải rác (Ic): 274,4 ha, diện tích này Lâm trường sẽ áp dụng giải pháp khoanh nuôi mới, phục hồi rừng bằng tái sinh tự nhiên phân tán của hạt giống cây rừng. + Đất trống trảng cỏ và đất trống cây bụi (Ia – Ib): 407 ha, Lâm trường sẽ tiến hành trồng rừng hàng năm theo các chương trình và dự án của chính phủ. Động vật rừng Lâm trường Mã Đà rất đa dạng và phong phú về thành phần thực vật, động vật. Mặt khác lại gần với Vườn Quốc gia Cát Tiên thông qua rừng của Lâm trường Vĩnh An nên thành phần động vật rừng rất đa dạng và phong phú, nhất là từ khi UBND tỉnh Đồng Nai có chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên đã thấy xuất hiện trở lại các loài động vật rừng quý hiếm như: Voi, Bò rừng…cùng với sự định cư thường xuyên của Heo rừng, Nai, Mễn, Chồn, Cheo và một số động vật hoang dã khác. Tuy nhiên việc săn bắn, bẩy các loài động vật rừng vẫn còn xảy ra mặc dù lực lượng QLBVR Lâm trường thường xuyên truy quét phá hủy hàng trăm bẩy mỗi năm. Đây mà vấn đề mà Lâm trường sẽ đề ra biện pháp khắc phục ngăn chặn có hiệu quả hơn trong thời gian tới nhằm bảo đảm tính đa dạng sinh học và bảo tồn các loài động vật rừng quý hiếm trên lâm phần của Lâm trường quản lý. 3.3. Đặc điểm kinh tế xã hội 17 3.3.1. Thực trạng phân bố dân cư Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế của năm 2002 phục vụ cho việc xây dựng phương án quy hoạch di dời ổn định dân cư. Cán bộ công nhân viên (CBCNV) Lâm trường đã kết hợp với các tổ chức dân cư tiến hành điều tra phân loại dân cư cho thấy trên địa bàn Lâm trường có 1.568 hộ với 7.532 nhân khẩu sinh sống. Qua biểu thống kê dân cư cho thấy có 11 cụm dân cư lớn với 27 điểm dân cư nhỏ, có điểm dân cư chỉ có 11 hộ (khu dân tộc). Đa phần các cụm dân cư sinh sống giáp với rừng tự nhiên hoặc rừng trồng của Lâm trường. Hệ thống quản lý chính quyền địa phương chưa thể quản lý hết, Lâm trường trước đây thuộc thị trấn Vĩnh An quản lý dân cư nhưng với ban quản lý dân cư quá ít không thể đảm đương hết công việc. Do vậy trên địa bàn Lâm trường có hai hệ thống lãnh đạo quản lý các hộ dân cư: Hệ thống chính quyền: thông qua ban khu phố theo dõi quản lý hộ, nhân khẩu, an ninh chính trị, y tế, giáo dục. Hệ thống Lâm trường: quản lý chỉ đạo việc sản xuất của các hộ dân nằm trong phạm vi của Lâm trường quản lý và quản lý đất đai tài nguyên của các hộ dân. Theo điều tra được thì thống kê phân loại trình độ dân cư như sau: Trình độ văn hóa: đa phần lao động chỉ có trình độ văn hóa cấp I hoặc cấp II, không có lao động trình độ cấp III. Trình độ chuyên môn: toàn bộ lao động không có tay nghề chuyên môn kỹ thuật mà chỉ có lao động chân tay là chính. Với hiện trạng như trên rất khó khăn trong việc phát triển kinh tế và phối hợp QLBVR. 3.3.2. Nguyên nhân hình thành dân cư Dân cư phát triển theo xã hội nghề rừng, theo chủ trương của Đảng và nhà nước chiếm 20%. 18 Dân tham gia khai thác dọn trắng hồ Trị An sau khi két thúc công việc định cư trên lâm phần của Lâm trường là 30 %. Cán bộ công nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ chế độ và một số dân cư từ nơi khác di dời tới … Bảng 3.1. Bảng tổng hợp dân cư trên địa bàn Lâm trường Mã Đà Cụm dân cư Số hộ Nhân khẩu Lao động Nam Lao động Nữ Đi học Không đi học Mất sức Lao động Tổng Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ LT bộ 278 1.226 602 624 337 325 188 196 7 9 70 94 Rang Rang 27 93 47 46 31 23 1 2 9 8 6 13 Suối sai 15 69 33 36 15 20 9 10 6 2 2 3 Bà Hào 287 1.349 660 689 362 374 157 156 31 45 110 114 Bàu Điền 98 495 265 230 131 126 78 61 19 6 37 37 Suối Boon 94 441 209 232 112 110 60 70 8 9 29 43 Suối Trau 118 546 281 265 141 137 47 43 21 23 72 62 Cai Nha 279 1.592 806 786 339 368 217 181 58 84 123 153 Cây Sung 194 915 483 432 258 231 126 110 26 29 73 62 Bà Cai 45 204 107 97 56 52 23 25 1 1 27 19 Suối 133 602 310 292 145 147 89 78 33 8 43 49 19 Rộp 11 cụm 1.568 7.532 3.803 3.729 1.987 1.913 995 932 219 224 601 659 3.3.3. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Hiện trên địa bàn có 1733 ha đất sản xuất nông nghiệp và có 42 ha ao hồ được Lâm trường hợp đồng giao khoán cho 1112 hộ dân để sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 6,5% quỹ đất toàn Lâm trường. Đất nông nghiệp các hộ bố trí cây trồng như sau: Ao hồ: 42 ha Trồng cây nông nghiệp dài ngày: 1547,6 ha Trồng cây nông nghiệp ngắn ngày: 185,4 ha Tuy diện tích trồng điều và cây ăn trái lớn 1547,6 ha song do không được đầu tư thâm canh và chọn giống tốt, nên năng suất rất thấp, có diện tích chỉ đạt 80 – 100 kgha (điều). Qua thống kê điều tra thu thập cho thấy các khu vực: Lâm trường bộ, Suối Rộp, Bà Cai, Suối Trau có thu thập khá, đời sống người dân tương đối ổn định. Những cụm dân cư có lao động tham gia ở các khu công nghiệp hoặc cán bộ công nhân viên Lâm trường có phương pháp kinh doanh khá tổng hợp, đặc biệt khâu chăn nuôi gà thả vườn và nuôi heo kết hợp với ao cá. Các khu vực còn lại bình quân thu nhập nằm trong diện nghèo, cá biệt có nơi đói như suối Tượng, khu dân tộc có 11 hộ sinh sống. Qua điều tra dân sinh kinh tế của UBND thị trấn Vĩnh An tháng 72001 thì trên địa bàn Lâm trường có 50 % hộ dân nghèo. 3.3.4. Tập quán canh tác Từ những nguyên nhân hình thành dân cư trên địa bàn Lâm trường, chúng ta nhận thấy: Dân cư trên địa bàn có đủ mọi thành phần từ mọi miền đất nước về đây sinh sống. Đa phần là dân di cư theo dòng tộc vào sinh sống tại Lâm trường. Do 20 vậy mà đặc điểm canh tác ở đây mang màu sắc khá đa dạng theo nhiều tập quán của nhiều vùng khác nhau. Tuy nhiên có thể nhận ra một số đặc điểm chung là: dân cư ở đây sản xuất mang tính quảng canh, trình độ thâm canh thấp, kỹ thuật canh tác chưa cao, sản lượng thu hoạch còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Vốn sản xuất còn phụ thuộc vào sự cho vay của ngân hàng, do vậy năng suất không ổn định, mùa màng còn bấp bênh nhiều rủi ro, sản phẩm hàng hóa ít không đủ cạnh tranh trên thị trường. Một số đồng bào thiểu số sống định cư tại Lâm trường vẫn mang nặng thói quen tập quán sống dựa vào thiên nhiên là chủ yếu, kỹ thuật trồng tỉa vẫn mang nặng tính dân gian nên năng suất kém. Hệ thống canh tác trong vùng đang trong quá trình chuyển dịch từ canh tác rẫy thuần túy canh tác nông lâm kết hợp. Từ chổ chỉ sản xuất độc canh với một số cây lương thực như: mì, bắp,…Thời gian gần đây đã xuất hiện mô hình canh tác với sự kết hợp giữa cây ngắn ngày và cây dài ngày, giữa cây lương thực và cây ăn trái. Đặc biệt trên địa bàn Lâm trường đã xuất hiện một số mô hình trang trại đặc trưng VAC song còn quá ít và chưa có tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm. Do vốn đầu tư còn thiếu nên dẫn đến vốn đầu tư cho sản xuất còn hạn chế, chăn nuôi ở các hộ cũng chưa phát triển. Người dân chỉ quen bón phân hóa học vì vậy chất lượng đất ngày càng giảm, bạc màu và kết von nhanh. Việc lựa chọn giống cây trồng, kỹ thuật trồng của các hộ dân còn rất hạn chế, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, sự hỗ trợ của khoa học chưa nhiều. Do vậy dẫn đến năng suất thấp, rủi ro nhiều, kém bền vững. 3.3.5. Cơ sở hạ tầng  Giao thông vận tải Trục lộ chính của Lâm trường là trục lộ 761, nối trung tâm huyện Vĩnh Cửu với xã Phú Lý đi qua lâm phần của Lâm trường 40 km, hai mặt giáp hồ Trị An và trên 100 km đường trục nối vào các phân trường, cụm dân cư và tỉnh Bình 21 Phước. Hiện tại giao thông đáp ứng cơ bản cho việc đi lại và vận chuyển nông sản, hàng hóa đến các khu vực dân cư. Ngoài ra Lâm trường còn có địa thế rất thuận lợi chỉ cách Biên Hòa 45 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 80 km nên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế sau này, khi các cụm dân cư được sắp xếp ổn định theo định hướng, đồng thời nâng cấp các trục đường chính nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông. Tuy nhiên đây cũng tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc dễ dàng vào rừng lấy cắp, vận chuyển các lâm sản và tiêu thụ các lâm sản vi phạm, gây khó khăn cho công tác QLBVR.  Văn hóa Là khu vực xa trung tâm thành phố, dân cư phân bố rải rác, lãnh đạo địa phương chưa quán xuyến được hết, hình thành ban dân cư và chi bộ địa phương chưa được lâu. Người dân chỉ biết tiếp cận thông tin bằng cách xem ti vi là chính (khoảng 40 %) trình độ dân trí thấp, lại sống trong vùng kinh tế nghèo nàn, điều kiện văn hóa còn nghèo hạn chế. Do vậy tỉ lệ tăng dân số tự nhiên cao, bình quân 5 nhân khẩuhộ. Đó cũng là yêu cầu cần quy hoạch dân cư để tạo điều kiện nâng cao dân trí, phát triển và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.  Y tế Trừ CBCNV Lâm trường, những cán bộ về hưu định cư tại chổ còn lại 100 % hộ dân định cư trên địa bàn không có thẻ bảo hiểm y tế. Tuy được cấp thuốc miễn phí điều trị bệnh sốt rét, song chỉ được cấp thuốc đặc trị, còn các loại thuốc khác phải tự mua điều trị. Dân cư lại phân bố rải rác, xa bệnh viện nên rất khó khăn trong việc khám chữa bệnh, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em.  Giáo dục Hiện trên địa bàn Lâm trường có một số cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập trong vùng. Song với đội ngủ giao viên như hiện nay và cơ sở vật chất hiện tại thì không đủ nhu cầu về việc học tập của con em trong vùng như: Cơ sở vật chất thiếu Dân cư phân bố rải rác không tập trung do vậy rất khó bố trí giáo viên 22 Điều kiện đi lại khó khăn và kinh tế không đáp ứng được nhu cầu của con em trong vùng. Trước những đặc điểm trên của khu vực có những đặc điểm thuận lợi và khó khăn về kinh tế cũng như xã hội: Tự nhiên Thuận lợi: rừng tự nhiên ở đây là rừng thường xanh, nhiều tầng tán, rậm rạp nên khó khăn cho bọn lâm tặc muốn khai thác gỗ trộm. Rừng khó xảy ra cháy vào mùa khô. Mặt khác, hệ thống giao thông ở đây cũng khá hoàn chỉnh và địa hình ở đây cũng khá bằng phẳng ít dốc thuận lợi cho việc QLBVR . Hệ thống cấp nước khá nhiều và có dung tích khá lớn như ao, hồ, sông, suối…có thể cung cấp đầy đủ và kịp thời để chửa cháy rừng . Khó khăn: do dịa hình ở đây khá bằng phẳng, ít dốc, hệ thống giao thông khá thuận lợi cho nên lâm tặc có thể xâm nhập vào bất cứ lúc nào dể ăn cấp lâm sản và vận chuyển đi tiêu thụ cũng khá dễ dàng cho lâm tặc khi mà ở đây chỉ cách các thành phố như Biên Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước không xa. Đồng thời với địa hình tiếp giáp với nhiều khu vực nhạy cảm tạo nên rất nhiều ngõ ngách cho bọn lâm tặc xâm nhập khai thác và vận chuyển làm cho lực lượng QLBVR ở đây không quản lý nỗi. Xã hội Thuận lợi: dân cư ở đây đã tạo nên một lực lượng lao động dồi dào có thể phối hợp với lực lượng QLBVR ở đây để cùng tham gia các công tác QLBVR và các hoạt động lâm sinh. Khó khăn: sự phân bố dân cư ở đây khá lớn và ở khắp nơi trong rừng nên đã tạo một áp lực lớn đến nguồn tài nguyên rừng hiện có với một lực lượng dân cư đông đảo như vậy họ có thể tiếp tay cho bọn lâm tặc khai thác lâm sản trái phép. Mặt khác, cùng với nhu cầu sống của họ, họ có thể vào rừng khai thác trộm lâm sản để phục vụ cho cuộc sống của họ. Cùng với áp lực tăng dân số và di dân tăng cao đã làm cho việc quản lý càng khó khăn hơn; và một điều bất cập 23 nữa là trình độ dân trí khá thấp, đời sống nghèo nàn nên họ chưa có ý thức QLBVR. 24 Chương 4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1. Nội dung nghiên cứu Với mục tiêu đề tài đã đề ra nhằm tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản nhất về cấu trúc rừng trạng thái rừng IIIA1, từ đó đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho phù hợp tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy các nội dung nghiên cứu trong luận văn được xác định bao gồm: + Xác định cấu trúc tổ thành loài cây. + Phân bố số cây theo cấp chiều cao (NHvn). + Phân bố số cây theo cấp đường kính (ND1,3). + Phân bố số cây theo cấp tiết diện ngang (NG). + Phân bố trữ lượng rừng theo cấp đường kính (MD1,3). + Tương quan giữa chiều cao và đường kính (HvnD1,3). + Đánh giá tình hình tái sinh dưới tán rừng. + Xác định độ tàn che của rừng theo phương pháp của David và Richards. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Xuất phát từ những mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu được phân ra như sau: 4.2.1. Cơ sở phương pháp luận Trên cơ sở nội dung nghiên cứu cụ thể được xác định như trên, phương pháp sử dụng chủ yếu trong đề tài là khảo sát khu vực nghiên cứu, điều tra, quan sát và thu thập số liệu trên thực địa, thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài, thu thập số liệu tại các ô mẫu và phân tích những hiện tượng thấy được ở rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng 25 Nai trên đối tượng là trạng thái rừng IIIA1 (dựa trên khung phân loại của Loeschau (1962) đã được cụ thể hóa trong quy phạm thiết kế kinh doanh rừng của Bộ Lâm nghiệp ban hành năm 1984) để phân chia trạng thái và thu thập tài liệu. Từ đó, tổng hợp và rút ra những nhận định chung về một số đặc điểm và cấu trúc của rừng tự nhiên IIIA1, qua đó đề xuất ra những biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho phù hợp với tình hình rừng. 4.2.2.Phương pháp thu thập số liệu Trong nghiên cứu về cấu trúc rừng: Có nhiều phương pháp thực hiện thông qua các hệ thống các loại ô điều tra: + Hệ thống ô điều tra định vị + Hệ thống ô điều tra tạm thời:  Ô điều tra với diện tích cố định: Loại ô này có ba dạng được quy định là: 2500m2, 1000m2, 500m2. Việc lựa chọn hình dạng ô và kích thước tùy thuộc vào địa hình, địa thế cũng như kích thước của lô rừng cần tiến hành điều tra.  Ô điều tra theo cự ly cây: Đây là ô điều tra tạm thời không có hình dạng cố định thường được sử dụng để điều tra đo rừng, đặc biệt là các loại hình rừng trồng, rừng ngập mặn và rừng tự nhiên lá kim.  Ô điều tra 6 cây của Prodan: Đây là loại ô điều tra rừng do Prodan đề xuất trên cơ sở kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của không gian sinh trưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng.  Ô điều tra tổng hợp Brunn: Đây là loại ô điều tra tổng hợp để trên cùng một diện tích rừng, cùng một thời điểm điều tra, người ta có thể đo đếm các chỉ tiêu cần thiết của các thế hệ cây rừng (phân chia theo kích thước) từ lớp cây dự trữ, kế cận cho tới lớp cây tạo thành tầng tán chính của rừng mà không cần thiết lập lại ô. (Dẫn nguồn Giáo trình Điều tra rừng – TS. Giang Văn Thắng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM) 26 Tuy nhiên, trong đề tài này, tác giả đã căn cứ vào quy trình điều tra quy hoạch rừng ban hành năm 1998 và kết hợp thêm một số biện pháp kỹ thuật cho phù hợp với tình hình thực tế của rừng. Điều tra lâm học đánh giá cấu trúc rừng, tình hình tái sinh tự nhiên, tổ thành loài thực vật rừng căn cứ vào tình hình cụ thể của khu vực điều tra. Đồng thời áp dụng các quy trình điều tra trong công tác ngoại nghiệp (Giáo trình Điều tra rừng của TS. Giang Văn Thắng) để điều tra trên các ô mẫu điển hình với ô tiêu chuẩn tạm thời có dạng hình chữ nhật diện tích 2000 m2, đại diện cho tình hình sinh trưởng và sinh thái rừng theo phương pháp điều tra lâm học. Số lượng ô mẫu cho trạng thái này là 3 ô. 4.2.3. Nội dung điều tra và các biện pháp kỹ thuật 4.2.3.1. Nội dung thu thập số liệu Số liệu điều tra, thu thập được ghi vào phiếu mẫu biểu theo quy định trong quy trình Điều tra lâm học do Viện Điều tra Quy hoạch rừng ban hành như sau: Mô tả tình hình chung của lâm phần. Đo đếm các chỉ tiêu: D13, Hvn, Dt, phẩm chất cây, tình hình vật hậu. Vẽ trắc đồ dọc, ngang thể hiện cấu trúc tầng tán rừng và phân bố các cá thể trong lâm phần, từ đó xác định độ tàn che của rừng. Điều tra tình tình tái sinh Đề xuất các biện pháp lâm sinh nuôi dưỡng, phục hồi rừng. 4.2.3.2. Biện pháp kỹ thuật Sử dụng địa bàn cầm tay để mở ô tiêu chuẩn, đường quanh ô phát rộng đủ để cắm tiêu và dể dàng nhận ra vị trí 4 góc của ô. Tại 4 góc đóng 4 cọc cao 1 m, cọc mốc có đường kính 10 cm, đỉnh cọc mốc được vót 4 mặt và có ghi ký hiệu ô. Các yếu tố đo đếm và ghi chép thay đổi tùy theo từng loại thực vật.  Đo đếm cây gỗ lớn Tên cây: Xác định đến loài cây không biết ghi theo ký hiệu sp1, sp2, …. Xác định tầng thứ (theo ký hiệu phân tầng của Thái Văn Trừng, 1978). 27 Đo D 1,3 bằng thước mét dây và ghi số hiệu cây ở vị trí 1,3 m. Đo toàn bộ cây đứng có đường kính D1,3  8cm. Đo chiều cao: Đo chiều cao của 5 cây có đường kính bình quân cộng của ô bằng mục trắc chiều cao (có kết hợp với sào đo cao để điều chỉnh sai số). Xác định phẩm chất cây: Phẩm chất cây phân theo 3 loại: a, b, c và ghi chú tình hình dây leo ảnh hưởng trực tiếp cây đứng.  Loại a: Cây thân thẳng, phát triển tốt, tán cân đối không có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh, cụt ngọn,hại thân.  Loại b: Thân cong, phát triển trung bình, tán mất cân đối, không có hiện tượng sam bọng, sam bọng, sâu bệnh.  Loại c: Thân cong queo, phát triển kém, cụt ngọn, có từ hai thân trở lên, có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh.  Đo đếm cây tái sinh Đo đếm toàn bộ cây tái sinh trên 25 ô dạng bản thiết kế ở dạng bàn cờ. Diện tích của mỗi ô dạng bản là 4m2 (22) trên cùng một ô tiêu chuẩn. Nội dung thu thập trong ô tái sinh gồm: Xác định tên cây, chiều cao Hvn, đường kính tán, chất lượng cây, nguồn gốc (đo đếm những cây có D1,3 < 8 cm).  Xác định mật độ cây tái sinh, thành phần loài cây tái sinh.  Cây tái sinh được phân theo 3 cấp chất lượng: khỏe, yếu, trung bình.  Số liệu điều tra được ghi biểu riêng cho từng ô dạng bản.  Vẽ trắc đồ Theo dãi, diện tích 200 m2 (20 m  10 m) trạng thái rừng IIIA1. Đo chiều cao cây vượt tán bằng mục trắc. Trắc đồ vẽ theo phương pháp David và Richards, vẽ trên giấy kẻ ly

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

KHOA LÂM NGHIỆP

CAO THẾ HIỆP

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG

TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA1 TẠI TIỂU KHU 104

THUỘC THÔN BỜ HÀO – XÃ MÃ ĐÀ HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CUỐI KHÓA KỸ SƯ

CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

KHOA LÂM NGHIỆP

CAO THẾ HIỆP

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG

TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA1 TẠI TIỂU KHU 104

THUỘC THÔN BỜ HÀO – XÃ MÃ ĐÀ HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN CUỐI KHÓA KỸ SƯ LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Minh Cảnh

TP.HCM 08/2007

Trang 3

LỜI CẢM ƠN!



Gặt hái được thành quả như hôm nay tôi chân thành cảm ơn quý Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, quý Thầy Cô giáo Khoa Lâm nghiệp, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn tất chương trình học

Nhân dịp này tôi xin chân thành gửi lời cám ơn đến:

Quý Thầy, Cô giáo Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, quý Thầy, Cô giáo Khoa Lâm nghiệp đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Chân thành cám ơn Thầy Nguyễn Minh Cảnh đã tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Xin chân thành cám ơn các anh trong Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng phía Nam và tập thể Ban Giám đốc Lâm trường Mã Đà đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và các tài liệu liên quan đến đề tài

Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cám ơn!!!

Tp.HCM, tháng 08 năm 2007

Cao Thế Hiệp

Trang 4

SUMMARY

Cao The Hiep, student of forestry faculty of Nong Lam University, Thu Duc District, Ho Chi Minh City

The thesis “First step research on some structural characteristics of

natural forest (IIIA 1 type) at 104 sub - area – Bo Hao Hamlet – Ma Da Village – Vinh Cuu District – Dong Nai Province” has been carried out from February to July 2007

Scientific Advisor: MSc Nguyen Minh Canh

The main research methods of the thesis are mensurement and collection of the data in the study fields The software Excel 2003 was used to treat data and establish the correlation models

The research results could be summarized with some main contents as follows:

1 Structure of botanic species:

The number of species in natural forest (IIIA1 type) at study area is 59

species; Sapindaceace has the highest ratio (16.07 percent) with species

Xerospermun noronhianum

2 Distribution of stem number according to tree height – rank (N/HVN)

Correlation of (N) according to height - rank (H) of natural forest (IIIA1 type)

at study area is well fitted by Weibull equation with  = 1,5 and  = 0,052

3 Distribution of stem number according to diameter at breast height (N/D1.3)

Correlation of (N) according to diameter (D 1,3 ), to be a mathematical model

with an Meyer equation as:

LnN% = 4,3582 – 0,1207*D1,3 or N% = 78,11.e-0,1207*D

1,3

4 Distribution of mass according to diameter at breast height (M/D1.3)

Trang 5

M/D1.3 of natural forest (IIIA1 type) at study area is not continuous; the mass decreases gradually when the diameter increases, M = 109,6 m3

5 Correlative equation between the tree height and the diameter (HVN/D1.3)

At study area, the best mathematical equation to model the correlation of the tree height (HVN) with the diameter (D1,3) with an equation as:

H = - 0.8474 + 11,3361* LogD1,3 with r = 0,66

6 Forest reproductive situation

Density of reproductive tree of natural forest (IIIA1 type) at study area is about 8.590 trees per ha The number of trees with H < 2 m has a high ratio (H < 1

m has 30.6 percent; 1 m < H < 2 m has 42.5 percent) The number of prospect trees has 6923 trees per ha (80.6 percent)

7 Crown density of the forest at study area

The thesis has calculated the crown density of the forest at study area is 0.68

Trang 6

PHẦN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 7

PHẦN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 8

PHẦN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 9

MỤC LỤC

Trang

* Lời cảm ơn

* Tóm tắt

* Phiếu nhận xét của giáo viên hướng dẫn

* Phiếu nhận xét của giáo viên phản biện

* Mục lục - i

* Danh sách các chữ viết tắt - iii

* Danh sách các bảng - iv

* Danh sách các hình - v

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU - 1

1.1 Đặt vấn đề - 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - 2

1.3 Giới hạn phạm vi và địa điểm vùng nghiên cứu - 2

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN - 4

2.1 Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới - 4

2.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam - 6

2.3 Khái niệm và nguyên tắc chính trong phân chia trạng thái rừng - 9

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU - 11

3 1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu - 11

3.2 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu - 12

3.3 Đặc điểm kinh tế xã hội - 17

CHƯƠNG 4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 24

4.1 Nội dung nghiên cứu - 24

4.2 Phương pháp nghiên cứu - 24

4.2.1 Cơ sở phương pháp luận - 24

Trang 10

4.2.3 Nội dung điều tra và các biện pháp kỹ thuật - 26

4.2.4 Phương pháp phân tích số liệu - 27

CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN - 33

5.1 Kết cấu tổ thành loài thực vật trạng thái rừng IIIA 1 tại tiểu khu 104, thôn Bà Hào – xã Mã Đà – huyện Vĩnh Cửu – tỉnh Đồng Nai - 33

5.2 Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H vn ) của lâm phần IIIA 1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai 35 5.3 Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D 1,3 ) của lâm phần IIIA 1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai38 5.4 Phân bố số cây theo cấp tiết diện ngang (N/G) của lâm phần IIIA 1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai 41

5.5 Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D 1,3 ) của lâm phần IIIA 1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai 43

5.6 Tương quan giữa chiều cao và đường kính (H vn /D 1,3 ) - 45

5.7 Tình hình tái sinh dưới tán rừng - 47

5.8 Xác định độ tàn che của rừng - 49

CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ - 51

6.1 Kết luận - 51

6.2 Tồn tại - 52

6.3 Kiến nghị - 53

* Tài liệu tham khảo

* Phụ biểu

Trang 11

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

QLBVR: Quản lý bảo vệ rừng

UBND: Ủy ban nhân dân

Bộ NN & PTNT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

CBCNV: Cán bộ công nhân viên

D 1,3 Đường kính thân cây tại tầm cao 1,3 m, cm

D 1,3 _tn Đường kính 1,3 m thực nghiệm

D 1,3 _lt Đường kính 1,3 m tính theo lý thuyết

H vn Chiều cao vút ngọn, m

H_tn Chiều cao thực nghiệm, m

H_lt Chiều cao lý thuyết, m

log Logarit thập phân (cơ số 10)

ln Logarit tự nhiên (cơ số e)

S K Hệ số biểu thị cho độ lệch của phân bố

S Y-X Sai số của phương trình hồi quy

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Bảng tổng hợp dân cư trên địa bàn Lâm trường Mã Đà 18

Bảng 5.1 Bảng tổ thành loài thực vật tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào - xã Mã Đà – huyện Vĩnh Cửu - tỉnh Đồng Nai 34

Bảng 5.2 Bảng phân bố % số cây theo cấp chiều cao trạng thái rừng IIIA 1 và các thông số thống kê 36

Bảng 5.3 Bảng phân bố (N/D 1,3 ) trạng thái rừng IIIA 1 và các thông số thống kê 39

Bảng 5.4 Phân bố % số cây theo cấp tiết diện ngang 42

Bảng 5.5 Phân bố trữ lượng (M) theo cấp đường kính 44

Bảng 5.6 Phân bố cây tái sinh theo chiều cao trạng thái IIIA 1 48

Trang 13

DANH SÁCH HÌNH

Hình 5.1 Phân bố % số cây theo cấp chiều cao trạng thái rừng IIIA 1 37 Hình 5.2 Phân bố % số cây theo cấp đường kính trạng thái rừng IIIA 1 40 Hình 5.3 Biểu đồ phân bố % số cây theo cấp tiết diện ngang (%N/G) 42 Hình 5.4 Biểu đồ phân bố trữ lượng theo cấp đường kính D 1,3 trạng thái

Hình 5.5 Biểu đồ mô tả tương quan giữa chiều cao và đường kính 46 Hình 5.6 Biểu đồ phân bố % số cây tái sinh theo cấp chiều cao 48

Trang 14

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Rừng là tài sản vô giá đối với con người và cuộc sống, là một hệ sinh thái

vô cùng phức tạp Rừng giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực như bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện điều kiện khí hậu, bảo tồn nguồn gen, bảo vệ đa dạng sinh học … Bởi thế mà rừng được coi như là một lá phổi của trái đất

Cùng với sự phát triển hiện nay của nhiều ngành công nghiệp, áp lực dân

số ngày càng gia tăng, cộng với sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân về tầm quan trọng và các chức năng của rừng đã dẫn đến sự suy giảm về diện tích cũng như chất lượng rừng một cách nghiêm trọng, làm giảm tác dụng của rừng đối với môi trường, làm cho đất bị suy thoái do quá trình rữa trôi, xói mòn ngày càng cao, lụt lội, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn đã góp phần phá hủy môi trường sống của con người

Theo Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO, 1990), ở các nước nhiệt đới, tổng số diện tích rừng bị tàn phá và mất đi hàng năm là 16,8 triệu ha mỗi năm, chiếm khoảng 1,2 % tổng số diện tích rừng của các nước thuộc vùng nhiệt đới Trong đó, Việt Nam là một nước thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, chủ yếu là rừng nhiệt đới Năm 1945, diện tích rừng nước ta còn khoảng 14,3 triệu ha, chiếm 43 % tổng diện tích tự nhiên thì đến năm 1990 chỉ còn 9,3 triệu ha, chiếm 28,4 % tổng diện tích tự nhiên Bên cạnh đó, tốc độ mất rừng ngày càng tăng trong khi tốc độ trồng rừng còn rất hạn chế, tình trạng này đã làm cho rừng thoái hóa rất nhanh cả về chất và lượng Vấn đề này đã đặt ra cho các nhà lâm nghiệp một nhiệm vụ cấp bách là phải nhanh chóng khôi phục lại rừng, đáp ứng nhu cầu

về gỗ, củi của con người và môi trường sinh thái, bảo đảm tính ổn định và phát triển bền vững vốn rừng

Trang 15

Trong những năm gần đây, công tác phục hồi và khoanh nuôi rừng tự nhiên đang được các nhà lâm nghiệp đặc biệt quan tâm Vì vậy, để công tác tổ chức, quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả cần phải có những hiểu biết sâu sắc về các đặc trưng của cấu trúc rừng nhằm lựa chọn và đề xuất một số biện pháp lâm sinh phù hợp và hiệu quả, đạt được các mục tiêu kinh doanh đã đề ra

Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự đó, được sự đồng ý và phân công của Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Minh Cảnh, trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp cuối khóa, đề tài “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái

IIIA1 tại tiểu khu 104, thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai”

được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 03 đến tháng 08 năm 2007

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

(a) Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản nhất về cấu trúc rừng tự nhiên trạng

thái IIIA1 tại tiểu khu 104, thuộc thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

(b) Góp phần đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với tình hình thực tế của rừng tại khu vực nghiên cứu

1.3 Giới hạn phạm vi và địa điểm vùng nghiên cứu

1.3.1 Giới hạn về nội dung

Đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tổ thành loài, phân bố số cây theo cấp đường kính ngang ngực, phân bố số cây theo cấp chiều cao, phân bố trữ lượng theo cấp đường kính, tương quan giữa chiều cao với đường kính ngang ngực, đánh giá tình hình tái sinh dưới tán rừng, độ tàn che của rừng…

1.3.2 Giới hạn về khu vực và đối tượng nghiên cứu

Do điều kiện trình độ và thời gian có hạn, đề tài chỉ thực hiện ở một số diện tích rừng trạng thái IIIA1 tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện

Trang 16

Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Do vậy đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót khi đưa ra những nhận định chung về cấu trúc rừng tại khu vực nghiên cứu, vì vậy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Mặc dù đã cố gắng hết sức trong cuộc điều tra, khảo sát, tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan để thực hiện đề tài, nhưng do những hạn chế nhất định, nhất là sự phức tạp và phong phú về mặt lâm học của rừng nhiệt đới, nên đây chỉ là những kết quả bước đầu nhằm đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã

Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

Trang 17

Chương 2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

2.1 Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới

* Khái niệm về cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp nên các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật theo không gian và thời gian Phân bố của quần thể thực vật trong không gian có thể biểu hiện ở hai khía cạnh: theo chiều thẳng đứng (tính thành tầng, tầng phiến) và theo chiều nằm ngang của rừng (trạng thái khảm) Đó

là sự chọn lọc mang tính quy luật trong tự nhiên Cấu trúc là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng về hình thái quần thể sinh vật

Trên thế giới, thuật ngữ cấu trúc được sử dụng và phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau và nó có ý nghĩa khác nhau đối với từng tác giả

Theo PW.Richards (1939) “cấu trúc” nghĩa là phân bố cây rừng theo chiều thẳng đứng

Năm 1952, với tác phẩm “Rừng mưa nhiệt đới” mà điểm đặc trưng ở đây

là tuyệt đại bộ phận thực vật thân gỗ đều có lá rộng thường xanh; ưa ẩm; thân có bạnh vè; hoa quả; ngoài ra còn có một số thực vật của rừng ôn đới

Theo Meyer (1952), Turnbull (1963), Rollet (1969) thì “cấu trúc” dùng để chỉ rõ sự phân bố của thành phần cây gỗ theo các cấp đường kính hoặc phân bố của tiết diện ngang thân cây theo cấp đường kính

Theo Golley và cộng tác viên (1969), “cấu trúc” là phân bố sinh khối theo

gỗ, thân, lá, rễ,

Theo T.A.Rabotnov (1978), “cấu trúc” quần xã thực vật đó là đặc điểm phân bố của các cơ quan thành phần tạo nên quần xã theo không gian và thời gian

Trang 18

Đối với mỗi tác giả thì việc nghiên cứu các quy luật cấu trúc lâm phần theo các phương pháp khác nhau ứng với từng mục đích do chính tác giả đề ra

Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này từ rất lâu, một số nhà bác học và một số nhà nghiên cứu về điều tra như: Weise (1880); Prodan (1951); V.S.Moisew (1966, 1969, 1971)… và còn nhiều tác giả khác nữa

Xác định cấu trúc của một loại hình rừng được Wenk (1995) nghiên cứu nhằm mục đích không những đánh giá được nhiều hiện trạng và động thái sinh trưởng của cây rừng qua các quy luật phân bố cây theo chiều cao Hvn (cấu trúc đứng), theo đường kính D1,3, đường kính tán, tổng diện ngang G (cấu trúc ngang), mà còn có thể xác định được chính xác kích thước bình quân của lâm phần phục vụ công tác điều tra quy hoạch rừng Ở loại hình rừng trồng thuần loại đều tuổi, phân bố số cây theo H, D1,3 khi mới trồng thường có quy luật chính thái, sau đó lệch trái khi đã bước vào khép tán và dần chuyển sang lệch phải khi rừng lớn tuổi hơn

Theo Weise, trong việc nghiên cứu vị trí của cây rừng có đường kính bình quân Đối với rừng thuần loại, đều tuổi, một tầng, ông đã xác định đường kính bình quân là cỡ đường kính của cây nằm ở vị trí thứ 57,5% tính từ cỡ nhỏ trong cột số cây (ni) từ số liệu điều tra đo đếm

Theo Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố của cây rừng, chủ yếu theo đường kính D1,3 có liên hệ với giai đoạn phát dục của lâm phần và các biện pháp kinh doanh Theo ông , sự phân bố cây theo đường kính có giá trị tiêu biểu nhất cho lâm phần Những quy luật phân bố mà ông xác định được ở rừng tự nhiên được chấp nhận và kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới Đó là phân bố đường kính của rừng tự nhiên có quy luật một đỉnh lệch trái, số cây tập trung rất nhiều ở các cấp đường kính nhỏ Do bởi có nhiều loài, nhiều thế hệ cùng tồn tại Song ở các cỡ đường kính lớn, chỉ có một số loài nhất định do bởi đặc tính sinh học hay do bởi vị trí thuận lợi trong rừng chúng ta mới có khả năng tồn tại và phát triển Về phân bố chiều cao, rừng tự nhiên thường có dạng nhiều đỉnh, rừng

có nhiều thế hệ hay bởi các biện pháp chặt chọn không quy tắc nên phân bố

Trang 19

chiều cao của rừng thường có nhiều đỉnh và giới hạn của đường cong phân bố nhiều đỉnh là phân bố giảm đặc trưng cho rừng chặt chọn không đều tuổi

Giáo sư N.V Tretiakov đã đi đến kết luận, quy luật cấu trúc của những phân tử rừng thường xuyên mang những đặc điểm đặc trưng hiện tại, không phụ thuộc vào tuổi rừng, loài cây, điều kiện sinh trưởng và thậm chí điều này cũng được chỉ ra đúng ngay cả lâm phần phức và hỗn loài

Rutkowski Boleslaw (1963) đã nghiên cứu bằng phương pháp biểu đồ sự phân bố cây theo đường kính trên một hecta theo đại lượng tương đối Cách dùng đường biểu thị đường kính và số cây theo đơn vị đã cho phép so sánh những lâm phần khác nhau

Qua những nghiên cứu của rất nhiều tác giả cũng đã chỉ rõ ra rằng, các biểu đồ mặt cắt đứng chỉ minh họa được cách sắp xếp trên hướng thẳng đứng của cây gỗ trong một diện tích riêng và có hạn Một dãy kề ngay bên cạnh có thể biểu lộ những đặc điểm hoàn toàn khác biệt; và vì lý do này, dãi càng dài thì càng có thêm cơ hội để thu thập được những mẫu về sự biến động trong cấu trúc của quần lạc

2.2 Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam

Việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu lâm nghiệp hết sức quan tâm Trong đó, đáng kể nhất là cuốn “Lâm Nghiệp Đông Dương” của Paul Maurand (1943), “Rừng thưa ở Nam Đông Dương” của Rollet (1969); “Kiểu rừng thưa vùng Đông Nam Á” của R Champsoloix (1959) Về cấu trúc và trạng thái rừng ở Miền Bắc Việt Nam phải

kể đến công trình nghiên cứu của M Loeschau (1962, 1964, 1966) Dựa trên cơ

sở cấu trúc về các đặc điểm lâm sinh và trữ lượng rừng… các tác giả đã đề xuất

ra các chỉ tiêu định lượng để phân loại các trạng thái rừng tự nhiên ở Miền Bắc Việt Nam và được áp dụng trong việc điều tra quy hoạch và điều chế rừng khá rộng rãi

Trang 20

Cho đến nay, tuy những nghiên cứu về lĩnh vực lâm nghiệp được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nhưng các công trình nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều Trong đó có một số tác giả như công trình nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1961) về thảm thực vật rừng ở Việt Nam, Trần Ngũ Phương (1965) cùng những người cộng tác đã cho ra tập “Bước đầu nghiên cứu rừng Miền Bắc Việt Nam” Song việc xác định loại cấu trúc ở các kiểu rừng của các tác giả trên chỉ mang tính chất mô phỏng định tính, thuyết minh cho kết quả phân loại của mình mà thôi

Việc đi sâu nghiên cứu về cấu trúc rừng trong những năm gần đây thông qua việc nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo chiều cao, đường kính nhưng kết quả này lại phục vụ cho mục tiêu tương đối khác

Năm 1974, Đồng Sĩ Hiền khi lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng gỗ hỗn loài ở Miền Bắc nước ta, tác giả đã nghiên cứu phân bố đường kính, phân bố chiều cao và phân bố của các nhân tố hình dạng thân cây Qua kết quả nghiên cứu ,tác giả đã rút ra kết luận là: quy luật cấu trúc của rừng tự nhiên hỗn loài nước ta có dạng phân bố giảm theo đường kính và dạng phân bố nhiều đỉnh theo chiều cao và sự phân bố của các chỉ tiêu hình dạng f0,1 và f1,3 của các loài cây trong rừng tự nhiên hỗn loài có dạng phân bố tiệm cận với phân bố chuẩn và các quy luật này khác hẳn so với rừng thuần loại đều tuổi

Nguyễn Ngọc Lung và những cộng sự (1986) đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng, tác giả đã tổng kết các quy luật khí hậu vùng Thông và đã xây dựng bản đồ phân hạng đất trồng rừng, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp kinh doanh Về mặt cấu trúc rừng Thông ba lá , tác giả đã sơ kết trên những cơ sở dữ liệu lớn, đã đo đạc trên những ô tiêu chuẩn có kích thước khác nhau từ 1.000 m2 – 10.000 m2 đều thấy sự phân bố số cây theo cỡ đường kính, chiều cao theo thời gian và trong không gian, đồng thời xây dựng các phân bố đỉnh của hàm Pearson cho số cây theo cỡ kính Quy luật chỉ tồn tại một tầng phiến, tiêu biểu cho những lâm phần đều tuổi Quy luật phân bố theo đám trên mặt đất theo cách mọc, điểm này có liên quan đến quy cách khai thác,

Trang 21

tái sinh lại, và điều chỉnh mật độ trong nuôi dưỡng nhằm nâng cao năng suất rừng trong tương lai

Nguyễn Văn Trương (1983) trong phương pháp nghiên cứu đã sử dụng ô tiêu chuẩn có diện tích từ 0,25 ha đến 1 ha để đo đếm các chỉ tiêu cần thiết về

D1,3, Hvn, Dtán,… của các cây có D1,3  1 cm Cự ly cấp kính là 4 cm, chiều cao

là 2 m, cấp tiết diện ngang là 0,025 m2

Trần Văn Con (1990) đã sử dụng mô hình Weibull để mô phỏng cấu trúc

số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) của rừng khộp và đã cho rằng khi rừng con non thì phân bố có dạng giảm, và khi rừng càng lớn thì càng có xu thế chuyển sang phân bố đỉnh và lệch dần từ trái sang phải Đó là sự biến thiên về lập địa có lợi hay không có lợi cho quá trình tái sinh

Về sau này, có rất nhiều các luận án thạc sĩ chuyên ngành Lâm nghiệp, đề tài tốt nghiệp của sinh viên Khoa Lâm nghiệp có nghiên cứu hoặc đề cập đến cấu trúc rừng như:

- Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng IIIA2 làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp điều chế rừng tại lâm trường Bù Đăng, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước của Nguyễn Kim Anh (1998)

- Cấu trúc kiểu rừng kính thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và kiểu rừng kín nữa rụng lá ẩm nhiệt đới tại Vườn Quốc gia Cát Tiên của Nguyễn Khoa Thảo (2002)

- Bước đầu tìm hiểu cấu trúc về kiểu rừng rụng lá tại khu vực Bầu Sấu – Vườn Quốc gia Cát Tiên của Lê Thanh Hồng (2003)

- Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng khộp và đặc điểm sinh trưởng loài Dầu đồng của rừng khộp tại lâm trường Chư Phả - Đăk lăk của Phạm Văn Đến (2003)

- Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trạng thái IIIA1 tại phân khu phục hồi sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của Trần Anh Tú (2005)

Trang 22

Nhìn chung, việc nghiên cứu cấu trúc dựa trên phương pháp nghiên cứu đường cong phân bố là phương pháp tổng quát nhất, dựa vào nó có thể xác định

vị trí của cây bình quân lâm phần và phạm vi biến động, phương pháp biểu đồ vừa đơn giản rõ ràng, cho hình ảnh sinh động về quy luật phân bố, đáp ứng yêu cầu về tính quy luật phân bố và các vấn đề khác trong nghiên cứu cấu trúc rừng

Những kết quả nghiên cứu đạt được của một số tác giả về cấu trúc rừng sẽ

là tài liệu tham khảo quý báu cho tôi học tập và đi theo hướng nghiên cứu đã định để thực hiện đề tài tốt nghiệp này

2.3 Khái niệm và nguyên tắc chính trong phân chia trạng thái rừng

Theo Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng 1984 (QPN6-84) các trạng thái rừng chính được phân theo hệ thống phân loại của Loschaus (1962) như sau:

Nhóm kiểu I: Đất không có rừng hoặc hiện tại chưa hình thành rừng, chỉ

có cây cỏ, cây bụi hoặc cây gỗ, tre nứa có độ che phủ dưới mức 0,3 Tùy theo hiện trạng nhóm này được chia thành:

Kiểu hiện trạng rừng

Kiểu IA: Trảng cỏ

Kiểu IB: Trảng cỏ, cây bụi

Kiểu IC: Trảng cỏ, cây bụi có cây gỗ rải rác

Nhóm kiểu II: Kiểu rừng phục hồi cây tiên phong có đường kính nhỏ Tuỳ theo hiện trạng, nguồn gốc mà chia ra:

Kiểu IIA: Rừng phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi lớp cây tiên phong

ưa sáng, mọc nhanh đều tuổi, một tầng

Kiểu IIB: Rừng phục hồi sau khai thác kiệt, phần lớn kiểu này gồm những quần thụ non với những loài cây tương đối ưa sáng, thành phần loài phức tạp không đều tuổi, độ ưu thế không rõ ràng Vượt lên khỏi tán rừng kiểu này có thể còn sót lại một số cây của quần thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể

Nhóm kiểu III: Kiểu rừng thứ sinh đã bị tác động

Trang 23

Các quần thụ đã bị tác động khai phá bởi con người ở những mức độ khác nhau làm cho kết cấu ổn định của rừng ít nhiều đã có sự thay đổi khác nhau Tùy theo mức độ tác động và khả năng cung cấp sản phẩm mà nhóm này được chia làm 2 kiểu:

Kiểu IIIA: Được đặc trưng bỡi những quần thụ đã bị khai thác nhiều, khả năng khai thác hiện tại bị hạn chế Cấu trúc ổn định của rừng bị phá vỡ hoàn toàn hoặc thay đổi về cơ bản Kiểu này được chia làm 3 kiểu phụ:

Kiểu phụ IIIA1: Rừng bị khai thác kiệt quệ, tán rừng bị phá vỡ từng mảng lớn Tầng trên có thể còn sót lại một số cây cao to nhưng phẩm chất xấu, nhiều dây leo, bụi rậm, tre nứa xâm lấn

Kiểu phụ IIIA2: Rừng đã bị khai quá mức nhưng đã có thời gian phục hồi tốt Đặc trưng của kiểu này là hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế sinh thái với lớp cây gỗ đại bộ phận đường kính 20-30 cm Rừng có hai tầng trở lên, tầng trên tán không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây của tầng giữa trước đây, rãi rác còn một số cây to khỏe vượt tán của tầng rừng cũ để lại

Kiểu phụ IIIA3: Rừng đã bị khai thác vừa phải hoặc phát triển từ IIIA2 lên Quần thụ tương đối khép kín với 2 hoặc nhiều tầng Đặc trưng của kiểu này khác với IIIA2 ở chỗ số lượng cây nhiều hơn và đã có một số cây có đường kính lớn (trên 35cm) có thể khai thác sử dụng gỗ lớn

Kiểu IIIB: Được đặc trưng bởi những quần thụ đã bị chặt chọn lấy ra một

ít gỗ quý, gỗ tốt nhưng chưa làm thay đổi đáng kể về kết cấu ổn định của rừng, khả năng cung cấp của rừng còn nhiều, rừng giàu về trữ lượng với thành phần gỗ lớn cao

Rừng hỗn giao Gỗ + Lồ ô

Rừng gỗ xen tre nứa, lồ ô: (Tầng cây gỗ phải đạt tiêu chuẩn là rừng như quy định ở trên và chiếm ưu thế so với tầng tre nứa): Tầng cây gỗ chia theo tiêu chuẩn rừng gỗ, tầng tre nứa để nguyên

Trang 24

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

Tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thuộc sự quản lý của Lâm trường Mã Đà

3.1.1 Giới thiệu chung

Lâm trường Mã Đà được thành lập năm 1977 khi đó là một Lâm trường quốc doanh với diện tích khá lớn bao gồm cả Lâm trường Hiếu Liêm và lòng hồ Trị An ngày nay Nhưng sau đó một thời gian, UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết định chia cắt ra thành Lâm trường Mã Đà và Lâm trường Hiếu Liêm và một phần diện tích bị khai thác trắng làm lòng hồ Trị An Kể từ năm 1997 Lâm trường chuyển sang thành một Lâm trường hoạt động công ích và hiện nay đã sát nhập cùng hai Lâm trường Vĩnh An và Hiếu Liêm thành một khu Bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu

Lâm trường Mã Đà có diện tích tự nhiên là 27.497 ha và có địa bàn nằm trên hai xã: xã Mã Đà và xã Phú Lý thuộc huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai, nhưng đa phần là thuộc xã Mã Đà và một diện tích rất nhỏ (220 ha) nằm trên địa bàn xã Phú Lý

Lâm trường Mã Đà nằm ở phía Bắc sông Đồng Nai thuộc huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai quản lý Trong diện tích tự nhiên của Lâm trường bao gồm

có diện tích rừng tự nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp và khu dân cư, diện tích đất trống, diện tích ao hồ, diện tích rừng trồng và một số diện tích khác

… Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 21.642,6 ha chiếm 78,7 % tổng diện tích

tự nhiên của Lâm trường Rừng tự nhiên của Lâm trường Mã Đà chủ yếu là rừng nghèo và rừng non đang được phục hồi, khoanh nuôi và xúc tiến tái sinh tự nhiên sau khi bị chiến tranh tàn phá và hậu quả của việc khai thác quá mức trước kia Rừng trồng của Lâm trường bao gồm rất nhiều loài như: Tếch, Keo lá tràm, Sao

Trang 25

đen, Dầu, Bằng lăng … và diện tích rừng trồng này chủ yếu được trồng trên những diện tích đất trống do bị chiến tranh tàn phá không thể tái sinh rừng tự nhiên được Rừng của Lâm trường Mã Đà ngoài mục đích là phòng hộ, bảo tồn thiên nhiên còn là di tích lịch sử chiến khu Đ Do vậy Lâm trường xác định công tác QLBVR – Xây dựng và phát triển vốn rừng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Lâm trường

3.1.2 Mục tiêu chung

- Mục tiêu chung của Lâm trường là quản lý tốt diện tích rừng tự nhiên hiện có

- Sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả diện tích rừng và đất rừng

- Ngày càng nâng cao độ che phủ của rừng tự nhiên và rừng trồng

- Ngày càng năng cao chất lượng rừng cũng như trữ lượng rừng

- Ổn định dân cư và phát triển kinh tế trong vùng nhằm giảm thiểu sự tác động của người dân vào rừng

- Hạn chế tối đa các vụ vi phạm về rừng đặc biệt là các vụ cháy rừng

3.2 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu

Trang 26

+ Phía Nam giáp: hồ Trị An

+ Phía Đông giáp: hồ Trị An và xã Phú Lý

+ Phía Tây giáp: Lâm trường Hiếu Liêm thuộc xã Trị An

3.2.3 Địa hình – Đất đai

Lâm trường Mã Đà nằm trong vùng núi thấp bán bình nguyên, tương đối bằng phẳng Địa hình có dạng gợn sóng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Độ dốc không quá 15o, trung bình vào khoảng 8o đến 10o Độ cao lớn nhất là 125 m, trung bình vào khoảng từ 70 m đến 80 m Với địa hình trên rất thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp song lại là điều kiện bất lợi trong công tác QLBVR vì lâm tặc có thể xâm nhập vào rừng trái phép bất kỳ lúc nào

Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng của trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh thì đất trong Lâm trường chủ yếu là đất feralit đỏ vàng phát triển trên nền đá mẹ sa phiến thạch, tầng đất canh tác từ mỏng đến trung bình, kết von nhiều, nghèo chất dinh dưỡng, ít nguyên tố vi lượng Tuy vậy, trong phạm vi Lâm trường có hai khu vực là: đồi Mỹ (đất đỏ bazan) với diện tích khoảng 100 ha và dọc sông Mã Đà giáp tỉnh Bình Phước với bề rộng dọc sông khoảng 50 ha là phù sa ven sông có khả năng trồng cà phê và cây ăn quả cho năng suất và chất lượng cao

3.2.4 Khí hậu thủy văn

Lâm trường Mã Đà nằm trong vùng khí hậu Đông Nam Bộ có hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô

- Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 10

- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

- Lượng mưa hàng năm khá lớn trên 2000 mm tập trung vào các tháng 7,

Trang 27

- Ít có gió bão và sương mù

3.2.5 Tài nguyên rừng

Thực vật rừng

Rừng của Lâm trường Mã Đà nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Tổ thành loài cây rất phong phú đa dạng với 120 loài 61 họ trong đó tầng cây gỗ có 62 loài 32 họ, tầng cây bụi có 23 loài 19 họ, tầng thảm tươi có 15 loài 10 họ Trong tổ thành cây thì họ Sao Dầu chiếm ưu thế, nhiều loài có giá trị kinh tế cao như: Dầu

(Dipterocarpus alatus, Dipterocarpus dyeri), Chai (Shorea guiso), Vên Vên (Anisoptera costatus), Gỏ mật (Sindora cochichinensis)…

Theo số liệu kiểm kê rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp tháng 10/1999 của ban kiểm kê Trung Ương và kết quả phúc tra đất sản xuất nông nghiệp và rừng trồng của Lâm trường năm 2001 và cập nhật diễn biến tài nguyên năm 2003, Lâm trường có tổng diện tích tự nhiên là 27.494 ha với hiện trạng sử dụng đất như sau:

1/ Đất có rừng 23.247,3 (chiếm 84,5% tổng diện tích)

a) Rừng tự nhiên 21.642,6 (chiếm 78,7%)

b) Rừng trồng 1.604,7 (chiếm 5,8%)

2/ Đất chưa có rừng 4.249,7 (chiếm 15,5%)

 Tình hình phân bố và đặc tính xung yếu:

Tổng diện tích rừng và đất rừng Lâm trường quản lý là 27.497 ha với tổng chiều dài đường ranh giới là 222 km, trong đó 2 phía: phía Nam và phía Đông tiếp giáp với hồ Trị An có chiều dài trên 157 km, đây là khu vực xung yếu nhất

Vì trên vành đai này theo quy hoạch tổng quan của lâm nghiệp tỉnh Đồng Nai và phương án điều chế rừng của Lâm trường có 7.543 ha được quy hoạch cho phòng hộ đầu nguồn, trong đó có 4.041 ha rừng tự nhiên và 594,3 ha rừng trồng Toàn bộ đường bờ hồ Trị An giáp ranh với các khu rừng là một dãi đất vùng bán ngập

Trang 28

 Đặc điểm về rừng và đất chưa có rừng:

- Rừng tự nhiên:

+ Diện tích: theo kết quả kiểm kê rừng tháng 10/1999 tổng diện tích rừng tự nhiên của Lâm trường là 21.642,6 ha chiếm 78,7% diện tích tự nhiên của Lâm trường

+ Trữ lượng: ở thời điểm kiểm kê rừng tháng 10/1999 tổng trữ lượng rừng tự nhiên của Lâm trường là: 1.521.302 m3 Theo đề án nghiên cứu về rừng của Phân viện Điều tra Quy hoạch II thuộc Bộ NN & PTNT thì lượng tăng trưởng về sinh khối hàng năm đối với rừng tự nhiên khu vực miền Đông Nam

Bộ là 2% trữ lượng rừng, trong đó đã trừ đi lượng hao hụt do đào thải hàng năm của rừng Như vậy nếu QLBVR tốt thì hàng năm trữ lượng rừng của Lâm trường tăng thêm được 30000 m3

Trong đó diện tích rừng trồng cây gỗ lớn chu kỳ kinh doanh là: 1.087,2

ha, còn lại: 517,5 ha là rừng trồng nguyên liệu giấy Phần lớn diện tích rừng trồng của Lâm trường trồng theo phương thức quản canh trên các loại đất hoang hóa bạc màu, do nhiểm chất độc hóa học Từ năm 2000 đến nay, lâm trường áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật đưa vào trồng loài: cây Keo lai (nhân giống vô tính) có năng suất và chất lượng cao, rút ngắn chu kỳ sản xuất

Trang 29

- Đất chưa có rừng:

+ Đất sản xuất nông nghiệp: thực hiện nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 của chính phủ V/v: “Giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp – lâm nghiệp – nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước”

Từ năm 1996 đến nay Lâm trường tiến hành giao được: 1.698,7 ha đất sản xuất nông nghiệp và 29,4 ha giao cho: 1.112 hộ dân nhận khoán để sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

+ Hồ: 445 ha, bao gồm: 421 ha hồ Bà Hào; 21,6 ha hồ vườn ươm và 2,6 ha đầm Suối Sai

+ Đất trồng cây gỗ rải rác (Ic): 274,4 ha, diện tích này Lâm trường sẽ

áp dụng giải pháp khoanh nuôi mới, phục hồi rừng bằng tái sinh tự nhiên phân tán của hạt giống cây rừng

+ Đất trống trảng cỏ và đất trống cây bụi (Ia – Ib): 407 ha, Lâm trường

sẽ tiến hành trồng rừng hàng năm theo các chương trình và dự án của chính phủ Động vật rừng

Lâm trường Mã Đà rất đa dạng và phong phú về thành phần thực vật, động vật Mặt khác lại gần với Vườn Quốc gia Cát Tiên thông qua rừng của Lâm trường Vĩnh An nên thành phần động vật rừng rất đa dạng và phong phú, nhất là

từ khi UBND tỉnh Đồng Nai có chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên đã thấy xuất hiện trở lại các loài động vật rừng quý hiếm như: Voi, Bò rừng…cùng với sự định cư thường xuyên của Heo rừng, Nai, Mễn, Chồn, Cheo và một số động vật hoang dã khác

Tuy nhiên việc săn bắn, bẩy các loài động vật rừng vẫn còn xảy ra mặc dù lực lượng QLBVR Lâm trường thường xuyên truy quét phá hủy hàng trăm bẩy mỗi năm Đây mà vấn đề mà Lâm trường sẽ đề ra biện pháp khắc phục ngăn chặn có hiệu quả hơn trong thời gian tới nhằm bảo đảm tính đa dạng sinh học và bảo tồn các loài động vật rừng quý hiếm trên lâm phần của Lâm trường quản lý

3.3 Đặc điểm kinh tế xã hội

Trang 30

3.3.1 Thực trạng phân bố dân cư

Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế của năm 2002 phục vụ cho việc xây dựng phương án quy hoạch di dời ổn định dân cư Cán bộ công nhân viên (CBCNV) Lâm trường đã kết hợp với các tổ chức dân cư tiến hành điều tra phân loại dân cư cho thấy trên địa bàn Lâm trường có 1.568 hộ với 7.532 nhân khẩu sinh sống

Qua biểu thống kê dân cư cho thấy có 11 cụm dân cư lớn với 27 điểm dân

cư nhỏ, có điểm dân cư chỉ có 11 hộ (khu dân tộc) Đa phần các cụm dân cư sinh sống giáp với rừng tự nhiên hoặc rừng trồng của Lâm trường

Hệ thống quản lý chính quyền địa phương chưa thể quản lý hết, Lâm trường trước đây thuộc thị trấn Vĩnh An quản lý dân cư nhưng với ban quản lý dân cư quá ít không thể đảm đương hết công việc Do vậy trên địa bàn Lâm trường có hai hệ thống lãnh đạo quản lý các hộ dân cư:

- Hệ thống chính quyền: thông qua ban khu phố theo dõi quản lý hộ, nhân khẩu, an ninh chính trị, y tế, giáo dục

- Hệ thống Lâm trường: quản lý chỉ đạo việc sản xuất của các hộ dân nằm trong phạm vi của Lâm trường quản lý và quản lý đất đai tài nguyên của các hộ dân

Theo điều tra được thì thống kê phân loại trình độ dân cư như sau:

- Trình độ văn hóa: đa phần lao động chỉ có trình độ văn hóa cấp I hoặc cấp II, không có lao động trình độ cấp III

- Trình độ chuyên môn: toàn bộ lao động không có tay nghề chuyên môn

kỹ thuật mà chỉ có lao động chân tay là chính

Với hiện trạng như trên rất khó khăn trong việc phát triển kinh tế và phối hợp QLBVR

3.3.2 Nguyên nhân hình thành dân cư

Dân cư phát triển theo xã hội nghề rừng, theo chủ trương của Đảng và nhà nước chiếm 20%

Trang 31

Dân tham gia khai thác dọn trắng hồ Trị An sau khi két thúc công việc định cư trên lâm phần của Lâm trường là 30 %

Cán bộ công nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ chế độ và một số dân

cư từ nơi khác di dời tới …

Bảng 3.1 Bảng tổng hợp dân cư trên địa bàn Lâm trường Mã Đà

Lao động

Nữ

Đi học Không đi

học

Mất sức Lao động Tổng Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ

Trang 32

Rộp

11

cụm 1.568 7.532 3.803 3.729 1.987 1.913 995 932 219 224 601 659

3.3.3 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Hiện trên địa bàn có 1733 ha đất sản xuất nông nghiệp và có 42 ha ao hồ được Lâm trường hợp đồng giao khoán cho 1112 hộ dân để sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 6,5% quỹ đất toàn Lâm trường

Đất nông nghiệp các hộ bố trí cây trồng như sau:

- Ao hồ: 42 ha

- Trồng cây nông nghiệp dài ngày: 1547,6 ha

- Trồng cây nông nghiệp ngắn ngày: 185,4 ha

Tuy diện tích trồng điều và cây ăn trái lớn 1547,6 ha song do không được đầu tư thâm canh và chọn giống tốt, nên năng suất rất thấp, có diện tích chỉ đạt

80 – 100 kg/ha (điều) Qua thống kê điều tra thu thập cho thấy các khu vực: Lâm trường bộ, Suối Rộp, Bà Cai, Suối Trau có thu thập khá, đời sống người dân tương đối ổn định Những cụm dân cư có lao động tham gia ở các khu công nghiệp hoặc cán bộ công nhân viên Lâm trường có phương pháp kinh doanh khá tổng hợp, đặc biệt khâu chăn nuôi gà thả vườn và nuôi heo kết hợp với ao cá Các khu vực còn lại bình quân thu nhập nằm trong diện nghèo, cá biệt có nơi đói như suối Tượng, khu dân tộc có 11 hộ sinh sống Qua điều tra dân sinh kinh tế của UBND thị trấn Vĩnh An tháng 7/2001 thì trên địa bàn Lâm trường có 50 %

Trang 33

vậy mà đặc điểm canh tác ở đây mang màu sắc khá đa dạng theo nhiều tập quán của nhiều vùng khác nhau Tuy nhiên có thể nhận ra một số đặc điểm chung là: dân cư ở đây sản xuất mang tính quảng canh, trình độ thâm canh thấp, kỹ thuật canh tác chưa cao, sản lượng thu hoạch còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Vốn sản xuất còn phụ thuộc vào sự cho vay của ngân hàng, do vậy năng suất không ổn định, mùa màng còn bấp bênh nhiều rủi ro, sản phẩm hàng hóa ít không đủ cạnh tranh trên thị trường

- Một số đồng bào thiểu số sống định cư tại Lâm trường vẫn mang nặng thói quen tập quán sống dựa vào thiên nhiên là chủ yếu, kỹ thuật trồng tỉa vẫn mang nặng tính dân gian nên năng suất kém

- Hệ thống canh tác trong vùng đang trong quá trình chuyển dịch từ canh tác rẫy thuần túy canh tác nông lâm kết hợp Từ chổ chỉ sản xuất độc canh với một số cây lương thực như: mì, bắp,…Thời gian gần đây đã xuất hiện mô hình canh tác với sự kết hợp giữa cây ngắn ngày và cây dài ngày, giữa cây lương thực

và cây ăn trái Đặc biệt trên địa bàn Lâm trường đã xuất hiện một số mô hình trang trại đặc trưng VAC song còn quá ít và chưa có tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm

- Do vốn đầu tư còn thiếu nên dẫn đến vốn đầu tư cho sản xuất còn hạn chế, chăn nuôi ở các hộ cũng chưa phát triển Người dân chỉ quen bón phân hóa học

vì vậy chất lượng đất ngày càng giảm, bạc màu và kết von nhanh Việc lựa chọn giống cây trồng, kỹ thuật trồng của các hộ dân còn rất hạn chế, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, sự hỗ trợ của khoa học chưa nhiều Do vậy dẫn đến năng suất thấp, rủi ro nhiều, kém bền vững

3.3.5 Cơ sở hạ tầng

 Giao thông vận tải

Trục lộ chính của Lâm trường là trục lộ 761, nối trung tâm huyện Vĩnh Cửu với xã Phú Lý đi qua lâm phần của Lâm trường 40 km, hai mặt giáp hồ Trị

An và trên 100 km đường trục nối vào các phân trường, cụm dân cư và tỉnh Bình

Trang 34

Phước Hiện tại giao thông đáp ứng cơ bản cho việc đi lại và vận chuyển nông sản, hàng hóa đến các khu vực dân cư Ngoài ra Lâm trường còn có địa thế rất thuận lợi chỉ cách Biên Hòa 45 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 80 km nên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế sau này, khi các cụm dân cư được sắp xếp ổn định theo định hướng, đồng thời nâng cấp các trục đường chính nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông Tuy nhiên đây cũng tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc dễ dàng vào rừng lấy cắp, vận chuyển các lâm sản và tiêu thụ các lâm sản vi phạm, gây khó khăn cho công tác QLBVR

 Văn hóa

Là khu vực xa trung tâm thành phố, dân cư phân bố rải rác, lãnh đạo địa phương chưa quán xuyến được hết, hình thành ban dân cư và chi bộ địa phương chưa được lâu Người dân chỉ biết tiếp cận thông tin bằng cách xem ti vi là chính (khoảng 40 %) trình độ dân trí thấp, lại sống trong vùng kinh tế nghèo nàn, điều kiện văn hóa còn nghèo hạn chế Do vậy tỉ lệ tăng dân số tự nhiên cao, bình quân

5 nhân khẩu/hộ Đó cũng là yêu cầu cần quy hoạch dân cư để tạo điều kiện nâng cao dân trí, phát triển và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

 Y tế

Trừ CBCNV Lâm trường, những cán bộ về hưu định cư tại chổ còn lại

100 % hộ dân định cư trên địa bàn không có thẻ bảo hiểm y tế Tuy được cấp thuốc miễn phí điều trị bệnh sốt rét, song chỉ được cấp thuốc đặc trị, còn các loại thuốc khác phải tự mua điều trị Dân cư lại phân bố rải rác, xa bệnh viện nên rất khó khăn trong việc khám chữa bệnh, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em

 Giáo dục

Hiện trên địa bàn Lâm trường có một số cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập trong vùng Song với đội ngủ giao viên như hiện nay và cơ sở vật chất hiện tại thì không đủ nhu cầu về việc học tập của con em trong vùng như:

- Cơ sở vật chất thiếu

- Dân cư phân bố rải rác không tập trung do vậy rất khó bố trí giáo viên

Trang 35

- Điều kiện đi lại khó khăn và kinh tế không đáp ứng được nhu cầu của con

- Khó khăn: do dịa hình ở đây khá bằng phẳng, ít dốc, hệ thống giao thông khá thuận lợi cho nên lâm tặc có thể xâm nhập vào bất cứ lúc nào dể ăn cấp lâm sản và vận chuyển đi tiêu thụ cũng khá dễ dàng cho lâm tặc khi mà ở đây chỉ cách các thành phố như Biên Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước không xa Đồng thời với địa hình tiếp giáp với nhiều khu vực nhạy cảm tạo nên rất nhiều ngõ ngách cho bọn lâm tặc xâm nhập khai thác và vận chuyển làm cho lực lượng QLBVR ở đây không quản lý nỗi

Xã hội

- Thuận lợi: dân cư ở đây đã tạo nên một lực lượng lao động dồi dào có thể phối hợp với lực lượng QLBVR ở đây để cùng tham gia các công tác QLBVR và các hoạt động lâm sinh

- Khó khăn: sự phân bố dân cư ở đây khá lớn và ở khắp nơi trong rừng nên đã tạo một áp lực lớn đến nguồn tài nguyên rừng hiện có với một lực lượng dân cư đông đảo như vậy họ có thể tiếp tay cho bọn lâm tặc khai thác lâm sản trái phép Mặt khác, cùng với nhu cầu sống của họ, họ có thể vào rừng khai thác trộm lâm sản để phục vụ cho cuộc sống của họ Cùng với áp lực tăng dân số và

di dân tăng cao đã làm cho việc quản lý càng khó khăn hơn; và một điều bất cập

Ngày đăng: 28/11/2017, 15:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Văn Đến, 2003. Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng khộp và đặc điểm sinh trưởng của loài dầu đồng của rừng khộp tại lâm trường Chư Phả – ĐắkLắk. Luận văn tốt nghiệp Đại Học Nông Lâm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng khộp và đặc điểm sinh trưởng của loài dầu đồng của rừng khộp tại lâm trường Chư Phả – ĐắkLắk
3. Hoàng Sĩ Động, 2002. Rừng lá rộng rụng lá ở miền Nam Việt Nam và quản lý bền vững. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng lá rộng rụng lá ở miền Nam Việt Nam và quản lý bền vững
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội
4. Bùi Việt Hải, 2003. Bài giảng thống kê trong lâm nghiệp. Tủ sách Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng thống kê trong lâm nghiệp
6. Nguyễn Thượng Hiền, 2002. Bài giảng thực vật rừng. Tủ sách Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng thực vật rừng
7. Lê Thanh Hồng, 2003. Bước đầu tìm hiểu cấu trúc về kiểu rừng rụng lá tại khu vực Bầu Sấu - Vườn Quốc Gia Cát Tiên. Luận văn tốt nghiệp Đại Học Nông Lâm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu cấu trúc về kiểu rừng rụng lá tại khu vực Bầu Sấu - Vườn Quốc Gia Cát Tiên
10. Nguyễn Thị Ái Nhi, 2006. Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIIA 2 tại lâm trường Lộc Bắc - huyện Bảo Lâm - tỉnh Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIIA"2
11. Giang Văn Thắng, 2003. Giáo trình Điều tra rừng. Tủ sách Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra rừng
12. Giang Văn Thắng, 2001. Bài giảng Sản lượng rừng dành cho học viên cao học Lâm nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản lượng rừng dành cho học viên cao học Lâm nghiệp
13. Nguyễn Văn Thêm, 1995. Bài giảng Kỹ thuật lâm sinh. Tủ sách Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật lâm sinh
14. Thái Văn Trừng, 1978. Thảm thực vật rừng Việt Nam, Nxb KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật rừng Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHKT
15. Nguyễn Văn Trương, 1983. Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loài, Nxb KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loài
Nhà XB: Nxb KHKT
1. Đĩa sinh vật rừng Việt Nam 2.0 (2000) – Cty TNHH tin học Hoàng Lực Khác
5. Võ Đại Hải – Một số phương pháp bố trí thí nghiệm và quản lý, lưu trữ, xử lý số liệu trên máy vi tính. Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam Khác
8. Trần Hợp, Cây gỗ Việt Nam, nhà xuất bản nông nghiệp Khác
16. Sổ tay điều tra quy hoạch rừng (1995) – nhà xuất bản nông nghiệp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm