Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TIẾN VINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TIẾN VINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” của luận văn này là kết quả của sự cố gắng nghiên
cứu, tìm tòi và sáng tạo của bản thân tôi Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, tháng 08 năm 2017
Học viên
Trần Tiến Vinh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 7 1.2 Nội dung thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 14 1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 19 1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 26
2.1 Các đặc điểm tự nhiên của thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 26 2.2 Hệ thống thể chế chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành phố Tam
Kỳ, tỉnh Quảng Nam 28 2.3 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 30 2.4 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 48
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 55
3.1 Mục tiêu tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 55 3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 58
KẾT LUẬN 72
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển đô thị là qui luật của tất cả các nước muốn phát triển nhằm tiến tới một xã hội văn minh và hiện đại Đặc biệt trong thời gian qua, tốc độ đô thị hóa trên toàn cầu đã tăng lên đáng kể theo số liệu thống kê là 35% Hệ thống đô thị là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt gắn bó hữu cơ với các cuộc cách mạng phát triển công nghiệp, cách mạng khoa học và kỹ thuật Vì vậy,vai trò của hệ thống đô thị trong quá trình phát triển lãnh thổ thể hiện khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử Tại Việt Nam, từ 450 đô thị lớn nhỏ đến nay đã phát triển thành gần 800 đô thị Trong đó, có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh), 13 đô thị loại 1 trong đó có 03 thành phố trực thuộc Trung ương (Hải Phòng,
Đà Nang, Cần Thơ) và 10 thành phố trực thuộc tỉnh, 10 đô thị loại II còn lại là các
đô thị loại III, IV và V Tuy vậy, việc xếp loại đô thị vẫn còn nhiều tiêu chí chưa đáp ứng như quy mô đô thị, kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế, hệ thống kết cấu hạ tầng
kỹ thuật
Thành phố Tam Kỳ là một đô thị trực thuộc tỉnh Quảng Nam Tam Kỳ trong những năm qua đã thực hiện chủ trương gắn phát triển kinh tế với phát triển quy hoạch đô thị, giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách an sinh xã hội, quan tâm nhân tố con người , và đã đạt được những kết quả tích cực Lãnh đạo thành phố Tam Kỳ luôn coi trọng công tác quản lý, phát triển quy hoạch đô thị Thành phố Tam Kỳ đang xây dựng thành phố môi trường nhằm hướng tới phát triển đô thị bền vững, thành phố đang ra sức thực hiện xây dựng thành phố xanh, có nếp sống văn minh đô thị- đạt được một số kết quả bước đầu đã góp phần vào việc hiện thực hóa
mục tiêu phấn đấu xây dựng Tam Kỳ trở thành “một thành phố xanh và đáng sống”[7], một thành phố có môi trường đô thị văn minh và giàu tính nhân văn, có
thiên nhiên trong lành và đời sống văn hóa cao, làm giàu bằng kinh tế tri thức; một trong những thành phố hài hòa, thân thiện,
Thành phố Tam Kỳ nằm cách thành phố Đà Nẵng 70 Km về phía Nam, cách
Trang 8sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà 25Km và cách khu công nghiệp lọc dầu Dung Quất khoảng 40 Km về phía Bắc Thành phố Tam Kỳ có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam Với tiềm năng địa thế đặc thù, gần các vùng kinh tế trọng điểm và sân bay Chu Lai, Tam Kỳ có được điều kiện thuận lợi để phát triển một đô thị lớn với vai trò là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam
Do chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Quảng Nam định hướng "đô thị hướng ra biển, kéo dài bờ sông và bờ biển”, thành phố Tam Kỳ có địa thế 03 núi, 03 sông và giáp biển nên định hướng phát triển đô thị bền vững thành phố Tam Kỳ rất quan trọng vì
nó có tính bao trùm và quyết định tính bền vững đô thị trong phát triển Mặc dù đô thị ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong xã hội văn minh, nhưng sự hiểu biết của con người về đô thị và đô thị hóa vẫn còn ít ỏi Và trong bối cảnh đó, vấn đề phát triển đô thị bền vững vẫn còn nằm ở phía trước, đặt ra những vấn đề cần giải quyết với thế giới quan khoa học.Và thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề đang tồn tại trong các khu đô thị Đó là tình trạng hệ thống hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ, mật độ xây dựng quá dày, thiếu các tiện ích xã hội như siêu thị, trung tâm chăm sóc sức khỏe, công viên, trường học, hệ thống giao thông công cộng, ô nhiễm môi trường nước, không khí, thu gom và xử lý rác thải và nhiều vấn đề khác liên quan đến công tác quản lý
Xuất phát từ thực tế phát triển các đô thị hiện nay, còn rất nhiều vần đề bất cập như đã nêu Chỉ có con đường duy nhất để cải thiện tình trạng trên là phát triển đô thị bền vững Phát triển đô thị bền vững là mục tiêu mà các quốc gia đang hướng tới trong đó có Việt Nam
Để các đô thị thực sự phát triển bền vững, cần có những nghiên cứu, đánh giá hiện trạng phát triển, từ đó tìm ra các vấn đề còn bất cập để có hướng phát triển trong tương lai Do đó, việc nghiên cứu thực trạng phát triển bền vững các đô thị để
từ đó đề xuất các giải pháp, biện pháp phát triển đô thị bền vững trên địa bàn thành phố Tam Kỳ là hết sức cần thiết Với mong muốn đóng góp vào việc giải quyết một vấn đề cấp bách của thực tiễn hiện nay về phát triển đô thị bền vững mà tác giả lựa
Trang 9chọn đề tài “ Thực hiện chính sách phảt triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công trải qua quá trình học tập tại Học viện Khoa học xã hội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách phát triển đô thị bền vững không phải là một vấn đề mới mẻ mà được nhắc đến nhiều đề tài nghiên cứu, đặc biệt là trong những năm gần đây việc đô thị hoá trên cả nước ngày càng mở rộng Diện tích độ thị của thành phố Tam Kỳ liên tục mở rộng với tốc độ đô thị hóa cao, diện mạo đô thị ngày một khang trang với hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội được đầu tư cả về số lượng lẫn chất lượng, đem lại cho Tam Kỳ một tầm vóc mới cả về không gian lẫn chất lượng đô thị, thay da đổi thịt nhờ tốc độ đô thị hóa trong những năm qua và hiện nay vẫn còn tiếp tục thay đổi để phát triển vươn lên
Đến nay đã có nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu về vấn đề quản lý phát triển
đô thị Dưới đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
Bài viết của PGS TS Trần Việt Tiến (2012), " Chính sách phát triển đô thị ở Việt Nam:Thực trạng và định hướng hoàn thiện ” bài viết đã góp phần làm rõ thực trạng chính sách phát triển đô thị ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra định hướng các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển đô thị tới năm 2020
Đinh Văn Ân (chủ biên), Chính sách phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2011
Vụ Quản lý Kiến trúc Quy hoạch - Bộ Xây dựng: Định hướng quy hoạch tổng thể phái triển đô thị Việt Nam đến năm 2020, Nxb Xây đựng, Hà Nộỉ 1998
pháp"
và kinh nghiệm của thế giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Phạm Thị Bích Yên (2011), Đô thị hóa Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2011
Nhìn chung, các tác phẩm sách, báo, công trình khoa học đã phản ánh rất
Trang 10nhiều góc độ khác nhau về tình hình quản lý quy hoạch phát triển đô thị cả nước nói chung và ở Quảng Nam nói riêng Đặc biệt nó đã phản ánh sự cấp thiết cần có cơ chế, chính sách, giải pháp giải quyết vấn đề quản lý quy hoạch phát triển đô thị trong tiến trình tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương trong cả nước, đặc biệt
là tại các đô thị lớn Mặc dù các tác phẩm, tác giả đã phản ánh tình trạng cấp thiết về quản lý quy hoạch phát triển đô thị và đề xuất được những giải pháp để ổn định đời sống của người dân trong tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hoá
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sát, đầy đủ về cơ chế, chính sách về quản lý quy hoạch phát triển đô thị trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của minh Đề tài luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển những thành quả của các tài liệu liên quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương phát triển kỉnh tế - xã hội của Thành phố trong những năm đến
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển đô thị và chính sách phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam, ở tỉnh Quảng Nam, luận văn phân tích thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, chỉ ra nhu cầu và xu hướng phát triển đô thị bền vững ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững, tổng quan và nhận xét chính sách hiện hành về phát triển đô thị ở Việt Nam
- Vận dụng lý thuyết về chính sách công để nghiên cứu chính sách phát triển
đô thị bền vững qua thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
- Nghiên cứu đưa ra giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát
Trang 11triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam phù hợp với điều kiện thực tế đáp ứng nhu cầu phát triển, cũng như yêu cầu và vị trí, vai trò của thành phố đối với tỉnh, đối với vùng và quốc gia
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách phát triển đô thị, cụ thể là nghiên cứu giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp phân tích và tổng hợp, thống
kê và so sánh được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, Nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát triển đô thị bền vững ở nước ta nói chung và thực tế thành phố Tam Kỳ nói riêng Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua
- Phương pháp phỏng vấn sâu, điều tra bằng bảng hỏi (nếu có): Phỏng vấn sâu
Trang 12là là phương pháp đối thoại với một đối tượng nhằm thu thập thông tin Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (nếu có) đối với đối tượng là nhà quản lý, giới chức, cán bộ, doanh nghiệp, người dân sở tại
- Phương pháp thực địa: Khảo sát tình hình thực tế hoạt động đô thị tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
6 Ý nghĩa của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững làm cơ sở định hình cho việc đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng các lý thuyết
về chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam để từ đó nâng cao hiệu quả chất lượng của chính sách phát triển đô thị trong thực tiễn những năm tiếp theo
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu bao gồm 3 chương, 10 tiết
Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Đô thị được hiểu “Nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể
cả công nghiệp; thành phố hoặc thị trấn”.[34]
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện, một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện
Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế xã hội, hệ thống dân cư mà mỗi nước có quy định riêng tuỳ theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình Song phần nhiều đều thống nhất lấy hai tiêu chuẩn cơ bản:
- Quy mô và mật độ dân số: Quy mô trên 2000 người sống tập trung, mật độ
- Cơ cấu lao động: Trên 65% lao động là phi nông nghiệp
Như vậy, đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ có số dân từ 2000 người trở lên và trên 65% lao động là phi nông nghiệp
Việt Nam quy định đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn Điều đó xuất phát từ đặc điểm nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp
Đô thị Việt Nam được hiểu "là một khu dân cư, trong đó lực lượng lao động
Trang 14chủ yếu là phi nông nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị" [27] Ngày
nay,đô thị không chỉ đơn thuần là nơi tập trung dân cư đông đúc với các hoạt động mang tính chất phi nông nghiệp; các trung tâm đơn chức năng về hành chính hoặc
thương mại, mà đô thị đã trở thành một không gian cư trú của dân cư, là kết quả
tất yếu của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đóng vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc về một số mặt : hành chính, kinh tế - xã hội của một vùng hoặc quốc gia, biểu hiện của nó là sự tập trung dân cư với mật độ cao với lối sống đô thị và các hoạt động phi nông nghiệp chiếm ưu thế, có cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hiện đại,
Nếu Phát triển là khái niệm dùng để sự tăng lên về quy mô, sự thay đổi tích
cực về cơ cấu, tạo ra các khả năng khai thác nguồn lực cho phát triển và qua đó cải
thiện cuộc sống của con người; thì Phát triển bền vững (PTBV) là khái niệm dùng
để chỉ sự phát triển đồng bộ về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Theo Tổ chức ngân hàng phát triển Châu Á
(ADB): "Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá
trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng cùa chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ trong tương lai" Ba lĩnh vực quan trọng nhất của phát triển bền vững, đó là : kinh tế; xã hội và
môi trường thiên nhiên
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền
vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát
triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa
3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát
triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải
quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi
và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Tiêu chí để đánh giá sự phát
Trang 15triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng
xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống
Trên cơ sở khái niệm chung về phát triển bền vững: phát triển đô thị bền vững
là một đối tượng và vật thể quan trọng trong xã hội phát triển và phát triển bền vững Đô thị phát triển bền vững vẫn được dựa trên nguyên tắc: Kinh tế đô thị - môi trường đô thị và văn hoá xã hội đô thị Phát triển đô thị bền vững được dựa trên một
hệ thống nhóm các tiêu chí (Criteria) trong đó có rất nhiều tiểu tiêu chí (Sub - criteria) cụ thể khác Như vậy, có thể thấy mối quan hệ giữa các tiêu chí phát triển
đô thị bền vững là một thể thống nhất, chặt chẽ, hữu cơ với nhau Thiếu một trong các nhóm tiêu chí cũng như các tiểu tiêu chí trong các nhóm tiêu chí, đều có thể dẫn tới đô thị sẽ không thể phát triển lành mạnh, tăng trưởng kinh tế, quản lý môi trường, tiến bộ xã hội và càng không thể phát triển đô thị bền vững
Từ đó có thể nhận định rằng, một đô thị bền vững trong quá trình phát triển, theo quan niệm đầy đủ là : khi nó đạt được sự thống nhất trong một khuôn khổ bền vững cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng sống của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng tới các nhu cầu phát triển của thế hệ lương lai Khuôn khổ đó phải thể hiện thống nhất giữa kế hoạch, qui hoạch, quản lý phát triển và hành động thực hiện với sự đồng thuận của mọi thành phần xã hội : nhà nước, tư nhân, cộng đồng; mọi cấp độ : địa phương, thành phố và quốc gia
Việc “ Khủng hoảng đô thị” đặt ra vấn đề phải có đường lối, chính sách phát triển tổng hợp để định hướng, dẫn dắt và đảm bảo các tiến bộ về cả kinh tế, xã hội, văn hóa và cải thiện môi trường đô thị phát triển hài hòa, cũng như dự báo được xu hướng phát triển tương lai của đô thị Phát triển đô thị bền vững đồng nghĩa đó là :
"Cải thiện chất lượng sống trong đô thị bao gồm các thành phần cấu thành: Sinh thái, văn hóa, chính trị, chính thể, xã hội và kinh tế mà không trở thành gánh nặng cho thế hệ tương lai”
Chính sách công là sự cụ thể hóa từ chủ trương, quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các quyết định về
Trang 16chính sách là những quyết định chính trị bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối quan hệ biện chứng đang đặt
ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện nhằm
giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”[11] Như vậy,
chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp hành động để thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội nhằm đạt một mục đích nhất định, góp phần thực hiện mục tiêu tổng thể đã xác định
Chính sách phát triển đô thị bền vững được hiểu là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước về phát triển đô thị bền vững nhằm lưạ chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề về phát triển đô thị bền vững theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định
Về mặt bản chất, chính sách là kết tinh ý chí của chủ thể về phương thức tác động đến các đối tượng Tuy nhiên, chính sách chỉ được hiện thực hóa khi nó tham gia vào quá trình vận động, triển khai thực hiện trong đời sống xã hội
Tổ chức thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính sách công Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng, nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả
Như vậy, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể bằng các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước về phát triển đô thị bền vững, với các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề về phát
Trang 17triển đô thị bền vững theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định thành hiện thực trong đời sống xã hội
* Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững có những đặc điểm sau: Thứ nhất, tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, chính sách phát triển
đô thị bền vững nói riêng là khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại Tổ chức thực hiện chính sách công là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách công thành một
hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực hiện có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội
Thứ hai, quá trình tổ chức thực hiện chính sách vào thực tiễn cuộc sống là quá
trình phức tạp, đầy biến động, chịu sự tác động của một loạt yếu tố, thúc đẩy hoặc cản trở việc thực hiện chính sách
Thứ ba, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là toàn bộ quá trình
hoạt động của các chủ thể với số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện rất lớn, bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và bộ máy
tổ chức thực hiện trên lĩnh vực đô thị của nhà nước Không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen nhau, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật
Thứ tư, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững bằng những cách thức
khác nhau nhằm hiện thực hóa các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước
về phát triển đô thị bền vững là một quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động hoàn toàn, có phân công, phối hợp để thực hiện
có hiệu quả các nội dung chính sách trong đời sống xã hội
1.1.2 Vai trò của thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Nếu đưa vào thực hiện một chính sách phát triển đô thị bền vững tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần
Trang 18làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã hội cũng như phát triển đô thị một cách bền vững Tuy nhiên, để có được một chính sách phát triển đô thị bền vững tốt, các nhà hoạch định phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm rất công phu Nhưng dù tốt đến đâu thì chính sách cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện Những phân tích trên đây giúp chúng ta nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững, từ đó chủ động tích cực thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững một cách có hiệu quả
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện thực, biến thái độ ứng xử của nhà nước với các đối tượng quản lý thành hiện thực Qua tổ chức thực hiện còn để khẳng định tính đúng, sai của chính sách cũng như giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện Tổ chức thực hiện chính sách không tiến hành tốt dễ dẫn đến thiếu tin tưởng thậm chí chống đối của nhân dân đối với nhà nước, chẳng hạn việc thực hiện chính sách đền bù đất đai trong thời gian qua
Hoạt động thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững có vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển xã hội, phát triển đất nước, cụ thể như sau:
Thứ nhất, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm biến ý đồ chính
sách thành hiện thực Trong quản lý xã hội, quản lý đô thị công cụ được nhà nước và chính quyền địa phương dùng để chuyển tải thái độ ứng xử của mình đến các đối tượng quản lý là chính sách Tùy theo yêu cầu quản lý phát triển nền kinh tế, phát triển đô thị ở từng thời kỳ, nhà nước và chính quyền địa phương chủ động ban hành các chính sách để thể hiện ý chí trong quan hệ với các thành phần kinh tế theo định hướng Như vậy có thể nói, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là giai đoạn biến thái độ ứng xử của nhà nước với các đối tượng quản lý thành hiện thực
Thứ hai, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm từng bước thực
hiện các mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững và mục tiêu chung Mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững có liên quan đến nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội theo những cấp độ khác nhau, nên không thể cùng một lúc giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan và cũng không thể đốt cháy giai đoạn của mỗi
Trang 19quá trình Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững để giải quyết các vấn đề của đô thị trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu cơ bản nhất để thúc đẩy qúa trình vận động của cả hệ thống đô thị đến mục tiêu chung
Thứ ba, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm khẳng định tính
đúng đắn của chính sách trong phát triển đô thị Một khi chính sách phát triển đô thị bền vững được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của nó được khẳng định ở mức cao hơn, tức là được cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính sách phát triển đô thị bền vững
Thứ tư, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm giúp cho chính
sách ngày càng hoàn chỉnh Do ảnh hưởng của ý chí chủ quan và sự vận động, phát triển của môi trường nên giữa chính sách phát triển đô thị bền vững và thực tế xã hội trong giai đoạn tổ chức thực hiện chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằng những điều chỉnh về chính sách hay các biện pháp tổ chức thực hiện chính sách Những điều chỉnh bổ sung về mục tiêu hay biện chính sách phát triển đô thị bền vững trong qúa trình thực hiện, chính là hoạt động hoàn chỉnh những chính sách phát triển đô thị bền vững đang có và góp phần đúc rút kinh nghiệm cho hoạch định
các chính sách giai đoạn sau [15]
* Vấn đề tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Bảo đảm thực hiện mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững Để có thể
thực hiện, mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững phải cụ thể, rõ ràng, chính xác Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên để thu hút mọi hoạt động thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững theo một định hướng Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước
và các đối tượng chính sách nhằm đạt được những mục tiêu trực tiếp Ứng với mỗi mục tiêu trực tiếp này là những chương trình, dự án cụ thể Kết quả thực hiện chính sách theo quá trình hoạt động trong từng thời kỳ được lượng hóa bằng những thước
đo cụ thể Tổng hợp kết quả thực hiện mục tiêu của các chương trình, dự án và các
Trang 20hoạt động thực thi khác thành mục tiêu chung của chính sách
- Bảo đảm tính hệ thống trong thực hiện chính sách.Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là một bộ phận cấu thành trong chu trình chính sách,
nó kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống nhất Nói như vậy không có nghĩa là thực hiện một cách máy móc lộ trình và phương thức thực hiện chính sách của nhà nước mà cần tùy theo những điều kiện cụ thể để tiến hành thực hiện các bước cho hợp lý
- Bảo đảm tính khoa học và pháp lý trong tổ chức thực hiện chính sách Đòi hỏi hệ thống bộ máy quản lý nhà nước phải gọn, nhẹ, đủ năng lực tổ chức thực hiện chính sách theo quy trình khoa học Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là việc phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý chính sách phát triển đô thị, việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh vào thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả một chính sách Tính pháp lý được thể hiện trong tổ chức thực hiện chính sách là việc chấp hành các chế định về thực hiện chính sách như: trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức, các cá nhân được giao thực hiện chính sách, thủ tục giải quyết các mối quan hệ trong thực hiện chính sách, cưỡng chế thực hiện chính sách trong trường hợp cần thiết
- Bảo đảm hài hòa lợi ích cho các đối tượng thụ hưởng Trong xã hội thường tồn tại nhiều nhóm lợi ích, các nhóm lợi ích lại biến động theo không gian và thời gian Nhà nước thường bảo vệ và chuyển lợi ích đến các đối tượng thụ hưởng trong
xã hội bằng chính sách Để công cụ này phát huy tác dụng, cần phải có sự hưởng ứng thực hiện một các tự giác trên cơ sở lòng tin của nhân dân vào chính sách của nhà nước Kết quả trên có được chỉ khi chính sách thật sự mang lại lợi ích cho mỗi đối tượng thực hiện và toàn xã hội
1.2 Nội dung thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
1.2.1 Vấn đề chính sách phát triển đô thị bền vững ở nước ta hiện nay
Sự phát triển đô thị nhanh tại Việt Nam đang bộc lộ những hạn chế, đặc biệt là thiếu đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, vấn đề giao thông, nhà ở và tình trạng ô nhiễm
Trang 21môi trường đô thị Quy hoạch đô thị hiện vẫn chưa đạt được vai trò quan trọng trong dẫn đường cho phát triển, bởi các đô thị có xu hướng phát triển tự phát nhiều hơn là dựa theo đúng quy hoạch Công tác lồng ghép các nội dung quy hoạch và bảo vệ môi trường trong quy hoạch vùng, quy hoạch chung đô thị còn yếu kém Việc phối hợp quản lý, điều hành và quản lý hệ thống đô thị trong vùng đô thị hoá, vùng phát triển kinh tế xã hội còn yếu kém, nhất là việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên vào phát triển đô thị như đất, sông, bờ biển, hồ, rừng, núi còn gây ra lãng phí tài nguyên thiên nhiên, mất cân bằng các hệ sinh thái, cũng như làm giảm hiệu quả của công cuộc phát triển kinh tế đô thị và vùng Tình trạng phát triển đô thị và
đô thị hoá hiện nay chưa thể hiện rõ bản sắc địa phương của vùng, miền và đặc điểm khí hậu và ít nhiều tạo sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn
Trước thực trạng phát triển đô thị và đô thị hóa hiện nay, có thể thấy, hiện vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế, yếu kém làm ảnh hưởng tới phát triển chung của toàn xã hội Do đó, cần có những giải pháp để tiếp tục phát huy những cái tốt, những mặt tích cực mà chúng ta đã đạt được đồng thời cũng khắc phục những hạn chế trong quá trình đô thị hóa
1.2.2 Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị số CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các cấp, các ngành,
36-là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"
Theo hệ tiêu chí Phát triển đô thị bền vững thuộc Chương trình Thiên niên kỷ
21 do UNPD tài trợ, đã đề xuất 10 nhóm tiêu chí bền vững trong quá trình đô thị
hóa [17]:
Phân bố và quy hoạch đô thị phù hợp với các vùng địa lý và điều kiện sinh thái
tự nhiên, bảo vệ môi trường;
Trang 22Nền kinh tế đô thị phát triển ổn định và bền vững nhằm tạo sự phát triển đô thị bền vững, ổn định cho mọi thành phần kinh tế và mọi người dân đô thị;
Trình độ dân trí đô thị và nguồn lực phát triển đủ mạnh;
Trình độ quản lý phát triển đô thị đủ mạnh và bền vững;
Dịch vụ đô thị đáp ứng yêu cầu cuộc sống đô thị ngày càng cao;
Cơ sở hạ tầng xã hội đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững;
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững;
Lồng ghép quy hoạch môi trường trong quy hoạch đô thị;
Huy động sự tham gia của cộng đồng người dân đô thị trong công tác qui hoạch, phát triển và quản lý đô thị;
Hợp tác, phối hợp điều hành vùng hợp lý, hiệu quả, cùng có lợi và phát triển
1.2.3 Chủ thể thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước để điều hành hoạt động kinh tế - xã hội Vì vậy chủ thể ban hành chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững là Nhà nước, cụ thể là các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, đồng thời các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách công, và đặc biệt là có sự tham gia của các tầng lớp nhân dân là những đối tượng thực hiện chính sách Người dân vừa là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích mang lại từ chính sách
Về phía Nhà nước, chủ thể ban hành chính sách đồng thời là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững gồm có các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính Phủ, Bộ Xây dựng và các Bộ có liên quan như
Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, UBND các tỉnh, thành, UBND các thành phố, huyện của các tỉnh, thành phố trực
thuộc TW Nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với đô thị được pháp luật qui định [22]
chức năng, thẩm quyền quản lý đối với bộ máy công quyền trên địa bàn đô thị: Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển đô thị bao gồm các văn bản pháp quy, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy chế quản lý quy hoạch, quản lý phát triển đô thị;
Trang 23Lập quy hoạch, kế hoạch thực hiện chương trình đầu tư phát triển đô thị; tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ trong quyền hạn và phạm vi quản lý đảm bảo cho các hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn;
-Xây dựng hệ thống kiểm soát và phát triển đô thị theo quy hoạch và pháp luật vì mục tiêu phát triển bền vững, chủ yếu về quản lý và sử dụng đất đô thị; quản
lý phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nhà ở; quản lý tài chính đô thị;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về quản lý phát triển
Thẩm tra»
Giám sát
Quan tâm, Hỗ trợ
phạm vi cả nước; ban hành văn bản QPPL, cơ chế, chính sách cụ thể để đảm bảo PTĐTBV
Quản lý trong phạm vi
cả nước
Quan tâm, Hỗ trợ Cấp TW Bộ Xây dựng Là Cơ quan của Chính phủ thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về PTĐT (Quy hoạch XD;kiến trúc;
hoạt động đầu tư XD, phát triến đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị và KCN;
Khu KT; Khu CN cao; nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật lỉệu
Quản lý cấp Trung ương
Ảnh hưởng
Trang 24dịch vụ công trong lĩnh vực theo Bộ quản lý theo quy định pháp luật) Các Bộ, cơ
Quản lý PTĐT theo ngành, lĩnh vực
1.2.4 Môi trường thể chế chính sách phát triển đô thị bền vững
Thể chế giúp cho mọi hoạt động của đời sống xã hội diễn ra có trật tự theo một
hệ thống nhất định, Vì vậy, hệ thống thể chế thống nhất từ Trung ương đến địa phương là nền tảng tạo lập môi trường thể chế chính sách PTĐTBV Hệ thống thể chế chính sách PTĐTBV phải tuân thủ thể chế chung về quy trình ban hành văn bản
Trang 25quy phạm pháp luật Quá trình thẩm định, phê chuẩn và ban hành phải tuân theo luật định
Thể chế chính sách PTĐTBV dựa trên hệ thống cơ quan quản lý nhà nước ban hành theo thẩm quyền:
- Thể chế do cấp Trung ương quản lý bao gồm các văn bản Luật do Quốc hội ban hành, các văn bản pháp quy do Chính phủ và các Bộ ngành ở Trung ương ban hành
- Thể chế do chính quyền địa phương quản lý bao gồm các văn bản quy phạm
do HĐND, UBND và các cơ quan chức năng các cấp ở địa phương ban hành
thuộc Chính phủ có liên quan
Quyêt định; Chỉ thị Thông tư; TT liên tịch
Cấp Tỉnh,
thành phổ
HĐND các tỉnh, thành phô trực thuộc Trung ương
thuộc tỉnh, thành phố), phòng Kinh tế và
hạ tầng (huyện)
- Quyết định
Trang 261.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Để tổ chức, điều hành có hiệu quả công tác thực hiện chính sách công cũng như thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững cần phải thực hiện nhiều nội dung quản lý khác nhau, nhưng cần tuân thủ các bước tổ chức thực hiện sau đây:
1.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung và chính sách phát triển đô thị bền vững nói riêng là quá trình phức tạp, diễn ra trong thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động hoàn toàn Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực hiện chính sách từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện
1.3.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển đô thị bền vững
Việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và người dân tham gia thực hiện hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước
1.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững được thực hiện trên phạm vi rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương-vì thế số lượng cá nhân và
tổ chức tham gia thực hiện chính sách là rất lớn, tối thiểu cũng là một địa phương Các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật Vì vậy, để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa
Trang 27phương, các yếu tố tham gia thực hiện chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách
1.3.4 Duy trì chính sách phát triển đô thị bền vững
Duy trì chính sách công, chính sách phát triển đô thị bền vững nói riêng là hoạt động bảo đảm cho chính sách tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế Nếu gặp phải khó khăn do môi trường biến động các cơ quan nhà nước nhà nước cần sử dụng các công cụ quản lý tác động tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách
1.3.5 Điều chỉnh chính sách phát triển đô thị bền vững
Điều chỉnh để chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Với tốc độ đô thị hóa hiện nay ở Việt Nam, đòi hỏi việc đánh giá thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững cần được thực hiện thường xuyên và theo định kỳ Việc điều chỉnh, bổ sung chính sách phát triển đô thị bền vững phải được cơ quan
có thẩm quyền ban hành chính sách xem xét, quyết định; có thể điều chỉnh biện pháp, cơ chế thực hiện và các nội dung khác, nhưng không được làm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu thay đổi mục tiêu coi như chính sách thất bại
1.3.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách giúp kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách; là hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao
ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách
1.3.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung cũng như chính sách phát triển
đô thị bền vững phải được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình đó người ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực hiện chính sách được hiểu là quá trình
Trang 28xem xét, kết luận về chỉ đạo-điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách
Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, còn xem xét, đánh giá việc thực hiện của đối tượng tham gia thực hiện chính sách công bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả thành viên xã hội với tư cách là công dân
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển
đô thị bền vững
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững sẽ chịu ảnh hưởng của những yếu tố trực tiếp như sau:
Thứ nhất, tính chất của vấn đề chính sách phát triển đô thị bền vững
Đây là yếu tố gắn liền với mỗi vấn đề chính sách, có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng chính sách và tổ chức thực hiện chính sách Nếu vấn đề chính sách công đơn giản, liên quan đến ít đối tượng chính sách thì công tác tổ chức thực hiện chính sách sẽ thuận lợi hơn nhiều so với các vấn đề phức tạp có quan hệ lợi ích với nhiều đối tượng trong xã hội, đặc biệt là trong thực hiện chính sách phát triển đô thị do liên quan tới nhiều đối tượng nên sẽ không tránh khỏi những vấn đề phức tạp, thậm chí là thách thức Tính chất của vấn đề chính sách công là yếu tố khách quan có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn
Thứ hai, môi trường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Môi trường là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và môi trường quốc tế Các hoạt động này diễn ra theo quy luật trong những điều kiện cụ thể, nên nó độc lập với quá trình thực hiện chính sách Một xã hội ổn định, ít biến động về chính trị sẽ đưa đến
sự ổn định về hệ thống chính sách, cũng góp phần thuận lợi cho thực hiện chính sách
Thứ ba, mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Trang 29Nội hàm chủ yếu mối quan hệ này thể hiện sự thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong qúa trình thực hiện mục tiêu chính sách công Không chỉ do mâu thuẫn lợi ích giữa các đối tượng chính sách làm ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện, mà còn do sự không đồng nhất về những tiện ích giữa các cơ quan chỉ đạo điều hành chính sách
Thứ tư, tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách phát triển đô thị bền vững
Yếu tố này được hiểu là thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của nhóm lợi ích được thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội về cả quy mô và trình độ
Thứ năm, đặc tính của đối tượng chính sách chính sách phát triển đô thị bền
vững
Đây là những tính chất đặc trưng mà các đối tượng có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên qua quá trình vận động mang tính lịch sử Những đặc tính này thường liên quan đếntính tự giác, tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống Đặc tính gắn liền với mỗi đối tượng thực hiện chính sách, nên các chủ thể tổ chức điều hành cần biết cách khơi gợi hay kiềm chế nó để có được kết quả tốt nhất cho quá trình tổ chức thực hiện chính sách
Thứ sáu, năng lực thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững của cán bộ,
công chức
Đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách Năng lực thực hiện chính sách của cán bộ, công chức là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, về năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong tương lai
Thứ bảy, mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính
sách phát triển đô thị bền vững
Quy trình thực hiện chính sách công được coi là những nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống Việc tuân thủ quy trình cũng là một nguyên tắc hành động của các nhà quản lý Mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, ý nghĩa to
Trang 30lớn đối với quá trình thực hiện chính sách Kết hợp các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách với vận động thực hiện sẽ giúp cho các đối tượng chính sách nêu cao tinh thần tự nguyện, tự giác trong thực hiện chính sách Đồng thời họ còn vận động lẫn nhau chấp hành chính sách, tạo thành những phong trào thi đua thực hiện chính sách
Thứ tám, các điều kiện vật chất để thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững
Yếu tố này ngày càng có ý nghĩa quan trọng để cùng nhân sự và các yếu tố khác thực hiện thắng lợi chính sách của nhà nước Để quản lý mọi mặt hoạt động trong điều kiện phát triển hiện nay, nhà nước luôn phải tăng cường các nguồn lực vật chất cả về số lượng và chất lượng Việc đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện hiện đại đã trở thành một nguyên lý phát triển Trong thực tế, nếu thiếu các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thì các cơ quan nhà nước khó có thể chuyển tải những nội dung chính sách đến với đối tượng một cách thường xuyên
Thứ chín, sự đồng tình, ủng hộ của người dân
Đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của một chính sách Mục tiêu chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững của các quốc gia là làm thay đổi trạng thái kinh tế, xã hội hiện tại theo nhu cầu của đời sống xã hội Đây là vấn đề lớn, cần có sự đóng góp sức người, sức của trong một thời gian đủ để các yếu tố cấu thành trạng thái kinh tế - xã hội vận động phát triển lên trình độ cao hơn, làm thay đổi được về chất của xã hội Vì thế việc thực hiện các mục tiêu chính sách không thể chỉ do các cơ quan quản lý nhà nước, mà phải có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Nếu một chính sách không thiết thực với đời sống nhân dân, không phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có của nhân dân thì sẽ bị tẩy chay hoặc “bỏ rơi” không thực hiện Tóm lại, một chính sách muốn được triển khai thực hiện tốt vào đời sống xã hội cần phải có sự đồng tình,
ủng hộ của nhân dân [15]
Trang 31Kết luận chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững, trong chương 1 của luận văn tác giả đã nghiên cứu, phân tích đưa ra các khái niệm về đô thị, phát triển bền vững, phát triển đô thị bền vững, chính sách phát triển đô thị bền vững và làm rõ hơn lý luận về tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững Trong chương 1, tác giả cũng đã nghiên cứu, làm rõ đặc điểm, vai trò, nội dung thực hiện đặc biệt là quan điểm, mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam Trên cơ sở đó nhận thức đúng đắn về vai trò, mục tiêu thực phát triển phát triển đô thị bền vững từ đó xác định các giải pháp, công cụ cũng như các bước để tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở nước ta, đồng thời trong quá trình tổ chức thực hiện cần phải quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách để kịp thời rà soát các chỉ tiêu hay xem xét, điều chỉnh bổ sung các giải pháp, công cụ phù hợp với sự vận động, phát triển của các quá trình kinh tế, xã hội và của môi trường nhằm đảm bảo cho việc biến ý đồ chính sách thành hiện thực, khẳng định tính đúng đắn của chính sách và giúp cho chính sách phát triển đô thị bền vững ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với thực tiễn của từng đô thị Đây là bước quan trọng trong nhận thức về vị trí, vai trò của giai đoạn thực hiện chính sách PTĐTBV, nó có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách PTĐTBV trong đời sống xã hội, trong phát triển bền vững đô thị Làm rõ vai trò của các chủ thể trong quá trình thực hiện chính sách PTĐTBV, đặc biệt là giải quyết hài hòa lợi ích của nhà nước, tổ chức và các đối tượng thụ hưởng trong quá trình phát triển đô thị bền vững, yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của một chính sách Những vấn đề nghiên cứu, phân tích và làm rõ của chương 1 sẽ làm tiền đề cho việc phân tích thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam ở chương 2
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN
VỮNG TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Các đặc điểm tự nhiên của thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh, nằm về phía nam của tỉnh Quảng Nam cách thành phố Đà Nẵng 70 km, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà 25 Km và cách khu công nghiệp và nhà máy lọc dầu Dung Quất khoảng 40 km về phía Bắc, có địa hình thiên nhiên khá phong phú vừa có sông, vừa có núi, vừa giáp biển Phía Bắc giáp huyện Thăng Bình và Phú Ninh, phía Nam giáp huyện Núi Thành, phía Tây giáp huyện Phú Ninh, phía Đông giáp biển Đông Thành phố Tam Kỳ có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Với tiềm năng, địa thế đặc thù, gần các vùng kinh tế trọng điểm và sân bay Chu Lai, Tam Kỳ có được các điều kiện thuận lợi để phát triển một đô thị lớn với vai trò là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam và có vị trí khá thuận lợi cho giao lưu kinh tế và phát triển
Về mặt khí hậu, thành phố Tam Kỳ nằm trong phân vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa
và mùa khô do đó có nhưng hạn chế cơ bản là: mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8 thường thiếu nước, những đợt gió khô, nóng kéo dài vào mùa hạ gây ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân Tam Kỳ; mùa mưa thường kéo dài và chịu tác động trực tiếp khi có các cơn bão đổ bộ vào đất liền Quảng Nam, bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12 trung bình hàng năm có 0,5 cơn bão đổ trực tiếp và 2-3 cơ bão hoặc áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến khu vực, thêm vào đó là các hiện tượng thời tiết đặc biệt khác của khu vực Duyên hải miền Trung Đây là đặc điểm cần chú ý trong quy hoạch phát triển đô thị trên địa bàn thành phố
phố Tam Kỳ là 9.281,9 ha, được phân bổ như sau:
Trang 33Bảng 2.1 Diện tích đất phân theo mục đích sử dụng
(Nguồn thống kê thành phố Tam Kỳ)
Nhìn vào cơ cấu sử dụng đất theo mục đích ở biểu trên của thành phố Tam Kỳ tương đối hợp lý, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
- Tài nguyên biển:
Tam Kỳ có bờ biển dài khoảng 8 km, có nhiều bãi tắm đẹp nước trong xanh với đặc điểm của biển ngang kết hợp cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và giá trị được nâng lên nhiều lần bởi các bãi tắm không xa trung tâm thành phố, có vai trò rất lớn cho phát triển du lịch và nghỉ dưỡng Nguồn lợi thủy sản dồi dào, phong phú bao gồm nhiều loài cá nổi, cá đáy có giá trị kinh tế cao như: chim, thu, ngừ, nục, hồng phèn, mú, bạc má và nhiều loại hải sản quý hiếm như : tôm, cua, ghẹ Tài nguyên biển và ven biển của Quảng Nam sẽ là những nguồn tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế-xã hội của Tam Kỳ
- Tài nguyên du lịch:
Điều kiện tự nhiên, thiên nhiên cũng ưu đãi đặc biệt cho thành phố Tam Kỳ với hệ sinh thái khá đa dạng, phong phú; các sông, hồ, đầm, đồi núi, rừng cây tự nhiên xanh tươi bao quanh như: sông Đầm, Bàn Thạch, Tam Kỳ, Trường Giang; núi Trà Cai, An Hà, núi Cấm và các dãy đồi nằm ở phía đông cùng với bờ biển dài 8
km thoải dài còn nguyên sơ Ngay giữa thành phố có nhiều công trình văn hóa, di sản quốc gia cấp tỉnh như: Văn thánh Khổng miếu, địa đạo Kỳ Anh, tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng
- Dân số:
Theo niên giám thống kê, thành phố Tam Kỳ đến năm 2015, dân số trung bình thành phố có 112.801 người, bao gồm 9 phường và 4 xã Thành thị có 84.600 người
Trang 34chiếm 75,5% tổng dân số thành phố; nông thôn có 28.201% chiếm 24,5% tổng dân
(Nguồn thống kê thành phố Tam Kỳ)
Phân bố dân cư theo đơn vị hành chính không đồng đều Dân cư tập trung chủ yếu hai bên phố chính khu vực nội thị, còn các khu vực khác dân cư rất thưa thớt, nhất là khu vực phía đông của thành phố
Biến động dân số thành phố Tam Kỳ giai đoạn 2007-2015 tăng không lớn lắm Với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn thành phố hàng năm khoảng 0,7% Dân số trung bình năm 2006 khi mới thành lập thành phố là 105.876 người, đến năm 2015 tăng lên 112.801 người Mật độ dân số thành phố năm 2006 là 1.150 người/km2, đến
năm 2015 tăng lên là 1.215 người/km2
2.2 Hệ thống thể chế chính sách phát triển đô thị bền vững tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Trên nền tảng cơ bản đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 và 2013 cùng với hệ thống pháp luật nước ta đã đặt cơ sở pháp lý cho thể chế chính sách phát triển đô thị tại tỉnh Quảng Nam và thành phố Tam Kỳ được thiết lập Nghị quyết Trung ương 4(khóa XI) của Đảng về “ Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”, Chương trình hành động số 15-CTr/TU ngày 24/8/2012 của Tỉnh
ủy Quảng Nam thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI)
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thấy được tầm quan trọng của vấn đề phát triển đô thị nên đã ban hành khung pháp luật liên quan như Luật Xây Dựng- 2003, Luật Đất đai 2003; Luật Bảo Vệ Môi Trường - 2005; Luật Đầu tư - 2005; Luật Quỵ hoạch đô thị -2009 Các nghị định, thông tư đã hoàn thiện khung pháp lý góp phần phát triển đô thị ngày càng đi vào khuôn khổ Trên cơ sở thể chế hóa và cụ thể hóa hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển đô thị nói chung, tỉnh
Trang 35Quảng Nam, đặc biệt là thành phố Tam Kỳ đã ban hành và triển khai chính sách liên quan phát triển đô thị bền vững Điển hình có:
- Nghị quyết số 07-NQ/TU, ngày 02/4/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thị xã Tam Kỳ và Hội An đến năm 2020
- Quyết định số 62/QĐ-UBND ngày 10/01/2013 của UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt Chương trình phát triển đô thị thành phố Tam Kỳ đến 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
- Quyết định số 3500/QĐ-UBND ngày 06/11/2014 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng thành phố Tam Kỳ đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2050
- Nghị quyết số 03/2011/NQ-HĐND ngày 06/10/2011 của HĐND thành phố
về Chương trình phát triển đô thị Tam Kỳ giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến
2020
- Nghị quyết số 151/NQ-HĐND ngày 20/10/2015 của HĐND thành phố Tam
Kỳ về Chương trình phát triển đô thị giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
- Nghị quyết số 02/2012/NQ-HĐND ngày 18/7/2012 về nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thành phố Tam Kỳ giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020
- Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐND ngày 11/10/2012 về Đề án phát triển thương mại – dịch vụ, du lịch và công nghiệp trên địa bàn thành phố Tam Kỳ giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến 2020
Trang 36- Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐND ngày 14/5/2013 về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố Tam Kỳ
- Nghị quyết số 03/2014/NQ-HĐND ngày 25/9/2014 về Đề án phát triển sự nghiệp Văn hóa – Thông tin, Thể dục – Thể thao thành phố Tam Kỳ giai đoạn 2015 – 2020
- Nghị quyết số 04/2014/NQ-HĐND ngày 25/9/2014 về Đề án nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn thành phố Tam Kỳ giai đoạn 2015 –
Kỳ và Hội An đến năm 2010 đã xác định : Mục tiêu xây dựng Tam Kỳ là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng nam; là một trong những trung tâm dịch vụ công nghiệp, thương mại, du lịch của miền trung; là một đầu mối giao thông của vùng; tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế; phát triển sâu lĩnh vực văn hóa và xây dựng vững chắc an ninh – quốc phòng; nâng cao đời sống nhân dân; phát triển theo hướng đô thị sinh thái, có nhiều không gian xanh, gìn giữ môi trường tự nhiên và có kiến trúc phù hợp
Trong những năm qua, Tam Kỳ đã được đầu tư nâng cấp, mở rộng cả về quy
mô, tính chất, chất lượng đô thị đáp ứng yêu cầu phát triển Kết cấu hạ tầng được quan tâm đúng mức, nhiều công trình trọng điểm xây dựng hoàn thành và đưa vào
sử dụng, đã có những công trình tạo điểm nhấn về kiến trúc và cảnh quan Hệ thống giao thông đô thị không ngừng được mở rộng, hoàn thiện nhất là các trục giao thông
Trang 37đối ngoại, các trục chính của thành phố như: Quốc lộ 1A, đường ven biển, đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, Quốc lộ 40B, đường Điện Biên Phủ, Tam Kỳ - Tam Thanh, cầu Kỳ Phú 1 & 2 Bên cạnh việc đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, hệ thống công viên, tiểu hoa viên, cây xanh cũng được chú trọng Công viên Quảng trường 24/3, các công viên ven hồ điều hòa, hệ thống cây xanh đường phố đang được tăng cường chăm sóc, trồng mới, thay thế bước đầu đã hình thành các không gian xanh, thảm xanh công cộng phục vụ sinh hoạt của người dân thành phố Hạ tầng đô thị được đầu tư và cải thiện đáng kể từng bước đáp ứng nhu cầu đời sống của nhân dân Thành phố
* Về phát triển kinh tế:
Kể từ năm 2006-2015, kinh tế thành phố Tam Kỳ duy trì tốc độ tăng trưởng qua từng năm và đạt khá 10,18%, cơ cấu kinh tế thành phố trong 10 năm qua chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ ngành thương mại-dịch vụ cùng công nghiệp giữ vai trò chủ đạo phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH và điều kiện, vị trí của một thành phố trung tâm của tỉnh Quảng Nam Trong 10 năm qua với sự tăng trưởng nhanh về kinh tế đã góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, năm 2015 thu nhập bình quân đầu người đạt 31,5 triệu/người/năm, GRDP/ người đạt 2.557 USD tăng gấp 2,59 lần so với năm 2010 Trong giai đoạn 2010 -2015, kinh tế thành phố có tốc độ tăng trưởng khá năm
2010 tổng GTSX (giá 2010) đạt 7.171 tỷ đồng; năm 2015 đạt 13.947, 8 tỷ đồng, tăng 1,94 lần so với năm 2010); chuyển dịch cơ cấu theo đúng định hướng thương mại dịch vụ (chiếm 72,8%), công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (chiếm 24,5%) và nông nghiệp (chiếm 2,7%); hoạt động xúc tiến đầu tư có nhiều chuyển biến tích cực,
thu hút được nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư, như: Tập đoàn Mường Thanh, Công ty
cổ phần Phước Kỳ Nam, Công ty du lịch - dịch vụ Hội An, Công ty Shing chang, Young do, Tập đoàn Panko, công ty Duck San Enterprise (Hàn Quốc), công ty Fashion Garments (Srilanka)
Công tác thu ngân sách trên địa bàn những năm qua đạt được nhiều kết quả tích cực Tổng thu ngân sách từ năm 2010 – 2015 do thành phố quản lý trên 3.728
Trang 38tỷ đồng, bình quân trong 5 năm tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 8,84%, đáp ứng tương đối kịp thời các nhiệm vụ kinh tế- xã hội của thành phố Tam
Kỳ Tổng chi ngân sách nhà nước trong 5 năm (2010-2015) là 2.947 tỷ đồng, tăng bình quân 9,98%/năm Nhờ tăng thu, nên các khoản chi ngân sách được cải thiện đáng kể, nhất là chi cho đầu tư phát triển đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo
Tổng giá trị thương mại, dịch vụ (giá năm 2010) giai đoạn 2010-2015 đạt trên 43.794 tỷ đồng, năm 2015 đạt 10.102 tỷ đồng tăng gấp 2 lần so với năm 2010, tăng bình quân 13,9%/năm
Biểu đồ tăng trưởng giá trị Thương mại-Dich vụ năm 2010-2015
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2015 đạt 7.874 tỷ đồng (trong đó: Thương mại chiếm 77,58%; Khách sạn, nhà hàng: 12,35% tỷ đồng; Du lịch, dịch vụ: 10,07%); tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ giai đoạn 2010-2015 tăng bình quân hàng năm 23,3%
Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 379,9 triệu USD tăng bình quân 16,8%/năm Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là hàng may mặc, giầy da…, Thị trường xuất khẩu chính EU, Nhật Bản …Giá trị nhập khẩu hàng hóa đạt 288,5 triệu USD tăng bình quân 5,39%/năm
Ngành du lịch đã có những chuyển biến tích cực Công tác quy hoạch, phát triển hạ tầng du lịch được quan tâm, các loại hình dịch vụ lưu trú ngày càng phát
Khu sinh thái và bãi tắm Tam Thanh, Khách sạn ven sông Bàn Thạch, Khu dịch vụ khách sạn Mường Thanh, Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng, Quảng trường 24/3,
Trang 39địa đạo Kỳ Anh
Tổng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng giai đoạn 2010-2015 đạt trên 15.139 tỷ đồng, năm 2015 đạt 3.493,7 tỷ đồng tăng gấp 2,1 lần so với năm 2010 (đạt 1.640,4 tỷ đồng), tốc độ tăng trưởng bình quân GTSX đạt 16,3%/năm Cơ cấu sản xuất ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn 98,2%, chủ yếu là công nghiệp may mặc và giày da
Biểu đồ tăng trưởng giá trị Công nghiệp – xây dựng 2010-2015
Tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 6,5%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 4,3%/năm, thủy sản tăng 9,2%/năm Cơ cấu kinh tế nội
bộ ngành chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng thuỷ sản, giảm tỷ trọng nông nghiệp Năm 2010, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 55,5%, đến năm
2015 chỉ còn chiếm 47,4%; trong khi đó tỷ trọng của ngành thủy sản tăng từ 43,8% năm 2010 lên 52,4% năm 2015 Sản lượng lương thực ước đạt 12.417,7 tấn; giá trị
thu nhập trên đơn vị diện tích tăng lên trên 67,5 triệu đồng/ha
*Về phát triển xã hội:
Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố giai đoạn 2010 – 2015 đạt trên 7.000.000 triệu đồng, trong đó đầu tư xây dựng cơ bản trong 5 năm là
5.021.000 triệu đồng cho 300 dự án, công trình
Khi được phỏng vấn về phát triển đô thị trên địa bàn thành phố, một công
chức công tác nhiều năm ở thành phố cho rằng “ phát triển đô thị trên địa bàn thành
phố trong những năm qua đã làm thay đổi bộ mặt đô thị, ngày càng khởi sắc hơn
Từ một thị xã nhỏ với một số tuyến phố được thảm nhựa có tên đường, còn lại chỉ là đường đất, nhà không có biển số, tên đường nay đã trở thành những con phố khang trang sạch đẹp, hầu hết các tuyến đường đều được thảm nhựa hoặc bê tông hóa,
Trang 40hơn 90% nhà dân và cơ quan có biển số nhà” (PVS, công chức nam 56 tuổi)
Lĩnh vực giáo dục – đào tạo: Đến năm 2015, toàn thành phố có 30/38 trường
từ mầm non đến trung học cơ sở và 02 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia với tỷ lệ 79%; có 84,2% trường học được tầng hóa; 100% xã, phường đạt phổ cập giáo dục bậc trung học Trên địa bàn thành phố có 01 trường đại học, 06 trường cao đẳng và 01 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
Lĩnh vực văn hóa, các thiết chế văn hóa được đầu tư sửa chữa, xây mới cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân Đến nay, 100% thôn, khối phố có nhà văn hoá; 13/13 xã, phường có hội trường kết hợp dùng làm nơi sinh hoạt văn hoá xã, phường Đến năm 2015, thành phố có 28/41 tộc họ văn hóa, 87% gia đình văn hóa, 58% thôn, khối phố văn hóa, 23% xã, phường văn hóa, 93% cơ quan, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa Nếp sống văn hóa, văn minh đô thị từng bước được hình thành, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày được cải thiện
Công tác thông tin tuyên truyền, cổ động trực quan được đầu tư đổi mới, nâng cao hiệu quả Đài Truyền thanh - Truyền hình của thành phố được đầu tư nâng cấp quy mô hoạt động; chương trình truyền thanh - truyền hình tăng cả về số lượng và chất lượng Hệ thống trạm truyền thanh cơ sở từng bước hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả Hoạt động văn học - nghệ thuật ngày càng đi vào chiều sâu
Lĩnh vực khoa học – công nghệ, các hoạt động khoa học – công nghệ có nhiều chuyển biến tích cực, tiềm lực khoa học – công nghệ, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng Công tác quản lý nhà nước về khoa học – công nghệ luôn được chú trọng; sự nghiệp khoa học –công nghệ và hoạt động của trung tâm ứng dụng, chuyển giao khoa học-công nghệ của thành phố ngày càng hiệu quả góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố Lĩnh vực y tế, dân số: các cơ sở y tế từ thành phố đến xã, phường được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất và đội ngũ y, bác sỹ Mạng lưới y tế của thành phố được củng cố và tăng cường, đến nay trên địa bàn thành phố 06 bệnh viện công cấp tỉnh, 02 bệnh viện tư, 01 bệnh viện cấp thành phố và 13 trạm y tế xã, phường, với 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế; bảo hiểm y tế toàn dân được mở rộng